ĐẶNG TIỂU BÌNH TRONG CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG 1979!

Bài 86: ĐẶNG TIỂU BÌNH TRONG CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG 1979

*
Trong chuyến công du các quốc gia Á Châu để chuẩn bị hậu thuẫn dư luận trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.
Câu “Việt Nam là côn đồ” được các đài truyền hình Trung Cộng phát đi và chính Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Quảng Châu, đã xem đoạn phóng sự truyền hình đó “Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” – tức du côn, côn đồ.”
Tại sao Đặng Tiểu Bình nói câu “lỗ mãng” đó?
Đảng CS Trung Quốc “hy sinh” quá nhiều cho đảng CSVN. Không nước nào viện trợ cho CSVN nhiều hơn Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ). Trong cuộc chiến Việt Nam, Trung Cộng không chỉ viện trợ tiền của mà còn bằng xương máu.
Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam:
Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã lần nữa can thiệp. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiễn địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiễn phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Cộng giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm gởi nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.
Trong số năm nhân vật hàng đầu lãnh đạo Trung Cộng giai đoạn 1977 đến 1980 gồm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng và Đặng Tiểu Bình thì Đặng Tiểu Bình là người có hoạt động gần gũi nhất với phong trào CSVN. Hơn ai hết, họ Đặng đã tiếp xúc, làm việc với các lãnh đạo CSVN, biết cá tính từng người và cũng biết một cách tường tận và chính xác những hy sinh của Trung Cộng dành cho đảng CSVN.
Trong thập niên 1960, CSVN sống bằng gạo trắng của Trung Cộng nhưng cũng ngay thời gian đó quê hương Tứ Xuyên của Đặng Tiểu Bình chết đói trên 10 triệu người.
Trong thời gian hai đảng CS cơm không lành canh không ngọt, bộ máy tuyên truyền CSVN ca ngợi Lê Duẩn như một nhân vật kiên quyết chống bành trướng Bắc Kinh nhưng đừng quên tháng 4, 1965, chính Lê Duẩn đã sang tận Bắc Kinh cầu khẩn Đặng Tiểu Bình để gởi quân trực tiếp tham chiến.
Xung đột biên giới và xô đuổi Hoa Kiều
Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, các đụng độ quân sự trong khu vực biên giới giữa các lực lượng biên phòng hai nước đã gia tăng đáng kể sau 1975, gồm 752 vụ trong 1977 đến 1,100 vụ trong 1978. Không chỉ về số lượng mà cả tầm vóc của các vụ đụng độ cũng gia tăng. Dù không phải là lý do chính, những đụng độ quân sự cũng là cách gợi ý cho Bắc Kinh thấy giải pháp có thể phải chọn là giải pháp quân sự. Tháng 11, 1978 Phó Chủ Tịch Nhà nước Uông Đông Hưng và Tướng Su Zhenghua, Chính Ủy Hải Quân, đề nghị đưa quân sang Cambodia và Tướng Xu Shiyou, Tư lịnh Quân Khu Quảng Châu đề nghị đánh Việt Nam từ ngã Quảng Tây. Chính sách xô đuổi Hoa Kiều vào sáu tháng đầu 1978 cũng làm Trung Cộng khó chịu về bang giao và khó khăn về kinh tế.
Đánh Việt Nam để củng cố quyền lực
Đặng Tiểu Bình được phục hồi lần chót vào tháng 7, 1977 với chức vụ Phó Chủ Tịch BCH Trung Ương Đảng, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, Phó Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả chức vụ này không đồng nghĩa với việc tóm thu quyền lực. Hoa Quốc Phong vẫn là Chủ Tịch Nước và Chủ Tịch Đảng. Các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Uông Đông Hưng, người ủng hộ Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm, Phó Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Đảng CSTQ đều còn nhiều quyền hành. Sự đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng CSTQ ngày càng căng thẳng.
Ảnh hưởng của họ Đặng chỉ gia tăng sau chuyến viếng thăm Đông Nam Á và đặc biệt sau Hội Nghị Công Tác Trung Ương từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, 1978 cũng như Hội Nghị Trung Ương Đảng kỳ III, trong đó các kế hoạch hiện đại hóa kinh tế được đề xuất như chiến lược của Trung Cộng trong thời kỳ mới. Trong nội dung chiến lược này, Mỹ được đánh giá như nguồn cung cấp khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ các hiện đại hóa.
Nỗi sợ bị bao vây
Tuy nhiên, câu nói của họ Đặng không phải phát ra từ cá lý do trên mà chính từ nỗi sợ bị bao vây. Học từ những bài học cay đắng của mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa, nỗi sợ lớn nhất ám ảnh thường xuyên trong đầu các thế hệ lãnh đạo CSTQ là nỗi sợ bị bao vây. Tất cả chính sách đối ngoại của đảng CSTQ từ 1949 đến nay đều bị chi phối bởi nỗi lo sợ đó.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Cộng của họ Phạm vào năm 1968.
Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp lại: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nghĩ thế là đúng ”.
Chính sách của Đặng Tiểu Bình đối với Liên Xô kế thừa từ quan điểm của Mao, qua đó, sự bành trướng của Liên Xô được xem như “một đe dọa đối với hòa bình”. Khi Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô sau Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Việt-Xô được ký ngày 3 tháng 11, 1978, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng không còn là một ám ảnh đầy đe dọa mà là một thực tế đầy nguy hiểm.
Cambodia, giọt nước tràn ly
Không những Trung Cộng sợ bao vây từ phía nam, vùng biên giới Lào mà còn lo sợ bị cả khối Việt Miên Lào bao vây. Để cô lập Việt Nam và ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, ngay từ tháng 8 năm 1975, Đặng Tiểu Bình cũng đã chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.
Họ Đặng kêu gọi đảng CS Campuchia đoàn kết với Trung Cộng trong việc ngăn chận Việt Nam bành trướng. Hoa Quốc Phong cũng lập lại những lời tương tự khi tiếp đón phái đoàn của Tổng bí thư đảng CS Lào Kaysone Phomvihane nhân chuyến viếng thăm Trung Cộng của y vào tháng Ba, 1976.
Tháng Sáu, 1978, Việt Nam chính thức tham gia COMECON và tháng 11 cùng năm Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác có bao gồm các điều khoản về quân sự với Liên Xô.
Tháng 12 năm 1978, Việt Nam xâm lăng Campuchia đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng và thiết lập chế độ Heng Samrin thân CSVN. Đặng Tiểu Bình xem đó như giọt nước tràn ly và quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”. Đặng Tiểu Bình chọn phương pháp quân sự để chọc thủng vòng vây.
Quyết định của Đặng Tiểu Bình
Hầu hết tài liệu đều cho thấy, mặc dầu có sự chia rẽ trong nội bộ Bộ Chính Trị đảng CSTQ, quyết định tối hậu trong việc đánh Việt Nam là quyết định của Đặng Tiểu Bình.
Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị thông qua kế hoạch tấn công “trừng phạt” Việt Nam. Các thành viên tham dự chẳng những đồng ý với kế hoạch đầu tiên tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai mà cả kế hoạch được sửa đổi trong đó có việc phối trí hai binh đoàn có thể tấn công vào Điện Biên Phủ từ ngã Mengla và Vân Nam qua đường Lào để đe dọa trực tiếp đến Hà Nội. Cũng trong phiên họp này Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lịnh cánh quân từ hướng Quảng Tây, Tướng Dương Đắc Chí, đương kiêm Tư Lịnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân từ hướng Vân Nam.
Soạn kế hoạch trên giấy tờ thì dễ nhưng với một người có đầu óc thực tiễn như Đặng Tiểu Bình, y biết phải đối phó với nhiều khó khăn. Trong điều kiện kinh tế và quân sự còn rất yếu của Trung Cộng vào năm 1979, đánh Việt Nam là một quyết định vô cùng quan trọng. Đặng Tiểu Bình nắm được Bộ Chính Trị CSTQ nhưng về mặt đối ngoại, Đặng Tiểu Bình phải thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và nhất là Mỹ.
Lên đường thuyết khách tìm đồng minh
Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình, 74 tuổi, thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Cộng để vừa thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa và vừa dọn đường đánh Việt Nam.
Họ Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á.
Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978:
Hiệp ước [Việt Xô] này không chỉ nhắm đến riêng Trung Quốc… mà là một âm mưu Sô Viết tầm thế giới. Các bạn có thể nghĩ hiệp ước chỉ nhằm bao vây Trung Quốc. Tôi đã trao đổi một cách thân hữu với nhiều nước rằng Trung Quốc không sợ bị bao vây. Thỏa hiệp có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa.”
Ngoại trừ Singapore, họ Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á. ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản cũng lên án Việt Nam.
Trong các chuyến công du nước ngoài, việc viếng thăm Mỹ đương nhiên là quan trọng nhất. Trong phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSTQ ngày 2 tháng 11, 1978, Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao Trung Cộng thông báo cho Mỹ biết ý định bình thường hóa ngoại giao.
Đầu tháng 12, Đặng báo cho các bí thư đảng ủy một số tỉnh và tư lịnh các quân khu rằng Mỹ có thể thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng vào đầu năm Dương Lịch 1979. Chính bản thân Đặng đàm phán trực tiếp bốn lần với Leonard Woodcock, Giám Đốc Văn Phòng Đại Diện Mỹ tại Bắc Kinh trong hai ngày 13 và 15 tháng 11, 1978. Trong các buổi đàm phán, Đặng đã nhượng bộ Mỹ bằng cách không đưa vấn đề Mỹ bán võ khí cho Đài Loan như một điều kiện tiên quyết để tiến tới bình thường hóa vì Đặng nóng lòng giải quyết quan hệ với Mỹ trước khi xăm lăng Việt Nam.
Chính thức viếng thăm Hoa Kỳ
Ngày 28 tháng Giêng 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ. Ông ta nghĩ rằng Mỹ và Trung Cộng đang tiến tới một đồng minh chiến lược chống Sô Viết trên phạm vi toàn cầu nhưng không chắc chắn Mỹ sẽ ủng hộ ra mặt trong cuộc chiến chống Việt Nam sắp tới.
Trong thời gian ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng Thống Jimmy Carter ba lần. Chỉ vài giờ sau khi hạ cánh xuống Washington DC, Đặng yêu cầu được gặp riêng với Tổng thống Carter để thảo luận về vấn đề Việt Nam. Đề nghị của họ Đặng làm phía Mỹ ngạc nhiên. Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp TT Carter tại Tòa Bạch Ốc. Phía Mỹ, ngoài TT Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho TT Mỹ biết Trung Cộng đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ. Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, TT Carter không trả lời ngay, ngoài trừ việc yêu cầu họ Đặng nên “tự chế khi đương đầu với tình trạng khó khăn”.
Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình nhận lá thư viết tay của TT Carter, trong đó ông có ý cản ngăn họ Đặng vì theo TT Carter dù Trung Cộng có đánh Việt Nam, Việt Nam cũng không rút quân khỏi Cambodia mà còn làm Trung Cộng sa lầy. TT Carter cũng nhắc việc xâm lăng Việt Nam có thể làm cản trở nỗ lực của Trung Cộng cổ võ cho một viễn ảnh hòa bình trên thế giới.
TT Carter viết lại trong nhật ký Jimmy Carter, Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ngô Bắc dịch:
Sáng sớm hôm sau, họ Đặng và tôi một lần nữa hội kiến tại Văn Phòng Bàu Dục, chỉ có một thông dịch viên hiện diện. Tôi đã đọc to và trao cho ông ta một bức thư viết tay tóm tắt các lý luận của tôi nhằm ngăn cản một cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam. Ông ta đã nhấn mạnh rằng nếu họ quyết định chuyển động, họ sẽ triệt thoái các bộ đội Trung Quốc sau một thời gian ngắn – và các kết quả của một cuộc hành quân như thế nhiều phần có lợi và có hiệu quả lâu dài. Hoàn toàn khác biệt với tối hôm trước, giờ đây ông ta là một lãnh tụ cộng sản cứng rắn, quả quyết rằng dân tộc ông không xuất hiện với vẻ yếu mềm. Ông ta tuyên bố vẫn còn đang cứu xét vấn đề, nhưng ấn tượng của tôi là quyết định đã sẵn được lấy. Việt Nam sẽ bị trừng phạt.
Ngày 30 tháng Giêng, trong một buổi họp khác với TT Carter, Đặng Tiểu Bình cho biết việc đánh Việt Nam đã được quyết định và sẽ không có gì làm thay đổi. Tuy nhiên, họ Đặng cũng nhấn mạnh chiến tranh sẽ xảy ra trong vòng giới hạn.
Đặng Tiểu Bình không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ để đánh Việt Nam nhưng ít ra không phải về tay trắng.
Tổng thống Carter để lấy lòng “khách hàng khổng lồ” và “đồng minh chiến lược chống Liên Xô” đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Mỹ cũng dùng vệ tinh để theo dõi trận đánh biên giới và cũng nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông biết ai đã dạy ai bài học trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979. Trong buổi họp riêng với Tổng thống Carter trước khi lên máy bay, Đặng khẳng định “Trung Quốc vẫn phải trừng phạt Việt Nam”.
Chuyến viếng thăm Mỹ là một thành công. Dù Mỹ không ủng hộ nhưng chắc chắc Đặng biết cũng sẽ không lên án Trung Cộng xâm lược Việt Nam. Trên đường về nước, Đặng ghé Tokyo lần nữa để vận động sự ủng hộ của Nhật.
Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2, 1979, Đặng triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam.
Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam.
Lãnh đạo CSVN ở đâu trong ngày quân Trung Cộng tràn qua biên giới?
Trong khi Đặng Tiểu Bình chuẩn bị một cách chi tiết từ đối nội đến đối ngoại cho cuộc tấn công vào Việt Nam, các lãnh đạo CSVN đã bị CSTQ tẩy não sạch đến mức nghĩ rằng người Cộng Sản đàn anh dù có giận cỡ nào cũng không nỡ lòng đem quân đánh đàn em CSVN.
Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự tại Quảng Châu nhắc lại “Trong tận đáy lòng chúng tôi vẫn hy vọng, có thể một cách ngây thơ rằng, Việt Nam và Trung Cộng từng quá gần gũi và hữu nghị, họ [Trung Cộng] chẳng lẽ thay đổi hoàn toàn với Việt Nam quá nhanh và quá mạnh như thế.”
Khi hàng trăm ngàn quân Trung Cộng tràn sang biên giới, Thủ Tướng CS Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vẫn còn đang viếng thăm Campuchia.
Tình báo Việt Nam không theo dõi sát việc động binh ồ ạt của Trung Cộng và cũng không xác định được hướng nào là trục tiến quân chính của quân Trung Cộng. Tác giả Xiaoming Zhang viết trong Tái đánh giá cuộc chiến Trung Việt 1979 “Rõ ràng tình báo Việt Nam thất bại để chuẩn bị cho việc Trung Quốc xâm lăng” và “Mặc dù Trung Quốc nhiều tháng trước đó đã có nhiều dấu hiệu chiến tranh, các lãnh đạo Việt Nam không thể nào tin “nước xã hội chủ nghĩa anh em” có thể đánh họ.
Dù bị bất ngờ, hầu hết các nhà phân tích quân sự, kể cả nhiều tác giả người Hoa, cũng thừa nhận khả năng tác chiến của phía Việt Nam vượt xa khả năng của quân đội Trung Cộng.
Tạp chí Time tổng kết dựa theo các nguồn tin tình báo Mỹ, chỉ riêng trong hai ngày đầu thôi và khi các quân đoàn chính quy Việt Nam chưa được điều động đến, dân quân Việt Nam vùng biên giới đã hạ bốn ngàn quân chủ lực Trung Cộng. Tác giả Xiaobing Li, trong bài viết Quân đội Trung Cộng học bài học gì dựa theo khảo cứu A History of the Modern Chinese Army đã mô tả quân Trung Cộng chiến đấu tệ hại hơn cả trong chiến tranh Triều Tiên mấy chục năm trước.
Nếu ngày đó giới lãnh đạo CSVN không tin tưởng một cách mù quáng vào ý thức hệ CS và “tình hữu nghị Việt Trung”, nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã không chết, Lạng Sơn đã không bị san bằng, hai tiểu đoàn bảo vệ thị trấn Đồng Đăng chống cự lại hai sư đoàn Trung Cộng đã không phải hy sinh đến người lính cuối cùng.
Bài học lịch sử từ chiến tranh biên giới 1979
Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng đối với Việt Nam từ chiến tranh biên giới 1979 đến Hội Nghị Thành Đô 1990 vẫn không thay đổi. Trung Cộng bằng mọi phương tiện sẽ buộc Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng và độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.
Đặng Tiểu Bình trước đây và các lãnh đạo CSTQ hiện nay sẳn sàng dùng bất cứ phương tiện gì để thực hiện các chủ trương đó kể cả việc xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một chính sách đánh phủ đầu (preemptive policy).
Đừng quên họ Đặng đã từng chia sẻ ý định này với Tổng thống Jimmy Carter “Bất cứ nơi nào, Liên Xô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi”.
Đặng Tiểu Bình muốn liên minh quân sự với Mỹ như kiểu NATO ở châu Âu để triệt tiêu Liên Xô tại châu Á.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này của họ Đặng trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) của ông:
Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Xô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”.
“Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý Đặng Tiểu Bình tức là Việt Nam và liên kết quân sự theo dạng NATO không phải là để dời vài cột mốc, dở một đoạn đường rầy xe lửa, đụng độ biên giới lẻ tẻ mà là cuộc tấn công phủ đầu, triệt tiêu có tính quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ bà Madeline Albright có câu nói rất hay “Lịch sử chưa bao giờ lập lại một cách chính xác nhưng chúng ta phải gánh lấy tai họa nếu không học từ lịch sử.” Với Chiến Tranh Lạnh đang diễn ra tại Châu Á hiện nay và với nền kinh tế Trung Cộng phát triển nhưng không lối thoát cho bộ máy chính trị độc tài toàn trị đang được chạy bằng nhiên liệu Đại Hán cực đoan, chiến tranh sẽ khó tránh khỏi dù các bên có muốn hay không.
Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay. Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân có mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên, biết chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng.
Lịch sử đã chứng minh, Trung Cộng giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau.
Trần Trung Đạo
* * *
Tham khảo:
– Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam, Xiaoming Zhang, MIT Press 2010
– China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, Xiaoming Zhang
– Henry Kissinger, On China, The Penguin Press, New York 2011
– Graham Hutchings, Modern China, Harvard University Press, 2001
– A Reassessment, China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, The China Quarterly, 2005
– Todd West, Failed Deterrence, University of Georgia
– Reuter, China admits 320,000 troops fought in Vietnam, May 16 1989
– Russell D. Howard, The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs”, USAF Institute for National Security Studies 1999
– Vietnam tense as China war is marked, BBC, 16 February 2009
– A History of the Modern Chinese Armypp. P 255-256, 258-259 , Xiaobing Li (U. Press of Kentucky, 2007)
– Jimmy Carter, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, Ghi nhớ về chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979, Ngô Bắc dịch
////

Hồng Tước – Nồi Bánh Chưng Của mẹ!

Nồi bánh chưng của Mẹ

Hồng Tước

*

  • Tôi không biết Mẹ tôi bắt đầu nấu bánh chưng từ bao giờ, chỉ nhớ rằng khi tôi còn nhỏ chút xíu ở Hà Nội đã thấy Mẹ cứ gần Tết thì sửa soạn nấu bánh. Hồi đó, gia đình tôi còn ít người nên nồi bánh cũng chỉ nhỏ thôi. Nhưng rồi, theo sự “bành trướng” của gia đình, nồi bánh cũng lớn theo. Thế rồi khi chúng tôi di cư vào Nam, không phải chỉ một mà tới ba nồi. Gia đình tôi không đông người , nhưng chúng tôi đều đã lớn.

Cứ đến gần Tết Mẹ tôi lại bận rộn mua thịt về ướp, đãi đậu, ngâm nếp…Tất nhiên chúng tôi phải xúm vào để giúp Mẹ sau giờ học và những ngày nghỉ. Mẹ vừa làm việc vừa dạy chúng tôi.

“Thịt thì phải thịt nách thì bánh mới ướt và mềm. Nạc quá bánh sẽ khô, ăn không dẻo, mất ngon.”

Một chị của tôi liền hỏi :

“Thịt nách thì có cần Lotion Kata không, Mẹ ?”

Mẹ liền ngừng tay, ngửng lên hỏi :

“Lotion Kata là cái gì ?”

Tôi cũng không biết “lotion kata” là món gia vị gì nên lắng tai nghe. Chị tôi vừa cười vừa đáp

“Ðể phòng hờ có con heo nào bị hôi nách đó Mẹ.”

Thế là mấy chị em chúng tôi cùng phá lên cười. Bây giờ tôi mới nhớ đến quảng cáo trên báo hàng ngày. Mẹ cũng cười, nhưng nụ cười nhẹ và ngắn, rồi lại lên tiếng nhắc nhở :

“Này, nhớ cho muối vào nếp rồi xóc đều lên nhé. Năm ngoái, bánh nhạt thếch, ăn vô duyên quá, lại dễ thiu.”

Chị tôi lại nói đùa :

“Làm sao thiu được, hà Mẹ. Bánh chưa kịp giở chứng thì đã hết veo rồi. Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống mà, Mẹ.”

Hình minh họa, chụp cảnh ngồi canh nồi bánh chưng,vào ngày trước Tết.

Lần này thì Mẹ không cười nữa mà có vẻ mặt hơi buồn. Chị tôi nói đúng, nhà đông người, mấy cái bánh chưa hết Tết đã hết veo. Bố tôi chỉ là một công chức hạng trung nên lương bổng cũng chẳng bao nhiêu, đủ tiền cho chúng tôi đi học bằng chị bằng em đã là may rồi. Tết có nồi bánh chưng, có vài cây giò, hộp mứt, vại dưa chua…cũng đã là sang, còn nhiều ít đâu đáng kể. Vì năm nào cũng nấu bánh chưng, chúng tôi coi việc xum họp quanh mẹ để nấu bánh là một hình thức ăn Tết với gia đình. Ðến đúng ngày Tết, chúng tôi lại đi chơi, thăm bạn bè, họ hàng, chỉ có một mình Mẹ ở nhà để tiếp khách đến chúc Tết mà thôi.

Cái lệ xum họp quanh nồi bánh chưng của Mẹ kéo dài khá lâu, suốt thời gian chị em tôi học trung học. Rồi đến ngày chị tôi đi lấy chồng, tôi và em tôi cũng có người yêu, nồi bánh chưng ngày Tết bắt đầu giảm bớt người vây quanh. Nhưng không vì thế mà Mẹ tôi không tiếp tục nấu bánh. Mẹ lại thui thủi một mình ngâm nếp, đãi đậu, ướp thịt…và ngày Tết chúng tôi vẫn được ăn bánh chưng thỏa thích đến độ…”dửng dưng”.

Khi chúng tôi có gia đình riêng, nhà thêm vắng vẻ, thế mà mấy nồi bánh chưng của Mẹ đã không giảm sút, lại tăng thêm nữa. Mẹ không nấu một lần như khi chúng tôi còn ở nhà mà nấu trước Tết nhiều ngày để có đủ bánh cung cấp cho gia đình của các con. Số bánh tăng nhiều mà vẫn chỉ có một mình Mẹ cặm cụi lo hết mọi việc. Khi chúng tôi có con, công việc gia đình riêng lại bận hơn nữa, tất nhiên không ai có thì giờ về giúp Mẹ trong mấy ngày cuối năm. Thế rồi khi nhận được bánh, chúng tôi cũng có chút áy náy trong lòng và thương Mẹ tận tụy với các con. Thật ra, chúng tôi chỉ áy náy xuông thôi vì chuyện gia đình riêng cũng còn ngập đầu ngập cổ. Ðã có lần, chị em chúng tôi bàn nhau xin Mẹ đừng nấu bánh chưng ngày Tết nữa vì người ta đã bán đầy đường đầy chợ, Mẹ đã lớn tuổi cần nghĩ ngơi. Mẹ chỉ cười, không nói gì. Ðến Tết chúng tôi vẫn nhận được bánh. Mẹ giải thích :

“Mẹ không có tiền để lì xì cho các con, chỉ có mấy tấm bánh lấy hên vào ngày Tết. Nếu bỏ cái lệ bánh chưng ngày Tết, Mẹ chẳng còn gì nữa.”

Chúng tôi cảm động, bùi ngùi. Bánh của Mẹ bây giờ đối với chúng tôi là loại bánh ngon nhất mà tất cả các bánh bán ở các tiệm đều thua xa. Mỗi lần đưa miếng bánh lên miệng, tôi lại nhớ tới hình ảnh cần cù vất vả của Mẹ.

Khi miền Nam xụp đổ, chúng tôi trở thành tay trắng hết, cơm chẳng có mà ăn, phải ăn bo bo hoặc sắn hoặc khoai trừ bữa, Mẹ tôi mới chịu bỏ cái lệ bánh chưng ngày Tết. Bố tôi mất việc, nằm nhà, cũng chẳng có gà mà đuổi nữa. Mẹ tôi vất vả chạy ngược chạy xuôi ngoài chợ trời, miếng ăn hàng ngày còn chả đủ, tiền đâu mà mua thịt, mua nếp. Cái Tết đầu tiên không có nồi bánh chưng ấy, Mẹ buồn lắm. Chúng tôi đến chúc Tết, Mẹ chỉ cười gượng. Thế mà khi gia đình chị tôi vượt biên thành công, sang được Mỹ, Tết năm đó Mẹ lại nấu bánh chưng. Mới đầu chúng tôi tưởng chị tôi đã gửi tiền về biếu Mẹ, nhưng không phải, anh chị mới được định cư, cuộc sống chưa ổn định, đã làm gì có tiền gửi về giúp gia đình ngay. Mẹ cho biết Mẹ buôn bán ngoài chợ trời cũng để dành được chút tiền, nay đem hết ra nấu bánh mừng gia đình chị tôi đã tìm được tự do. Thế rồi chị em chúng tôi cũng lần lượt vượt biên. Khi đã được định cư ở Mỹ, chúng tôi lo ngay việc bảo lãnh cho Bố Mẹ sang đoàn tụ. Ðồng thời, chúng tôi cũng gửi tiền về biếu hai Cụ. Cuối năm ấy, tôi viết thư hỏi Mẹ có nấu bánh chưng không ? Mẹ cho biết Mẹ không nấu vì “các con đã đi hết, nấu cho ai ăn ?” Chúng tôi rưng rưng nước mắt nhìn nhau nghẹn ngào. Vừa nhớ vừa thương Bố Mẹ.

Giấy tờ bảo lãnh mới gửi đi được ít lâu thì Bố tôi qua đời sau một cơn bạo bệnh. Mẹ đã định hủy bỏ chuyến đi đoàn tụ với chúng tôi, nhưng mấy chị em chúng tôi cố gắng thuyết phục, Mẹ đành miễn cưỡng sang Mỹ với chúng tôi. Khi gặp Mẹ ở phi trường, tôi muốn bật khóc vì Mẹ gầy ốm và già quá. Nhưng tôi phải cố nén xúc động để vui vơi cuộc đoàn tụ.

Khi Mẹ chưa sang Mỹ, chị em chúng tôi bàn nhau và quyết định không ai được “giữ độc quyền” Mẹ mà mọi người đều phải dành sẵn một phòng riêng để Mẹ muốn ở với ai cũng được và có thể chuyển đến ở với con khác bất cứ lúc nào Mẹ muốn. Nhưng sau mấy ngày ở tạm nhà chị lớn, Mẹ dọn đến ở hẳn nhà cậu em út của tôi. Cậu em này chỉ mới có người yêu và muốn chờ Mẹ sang mới làm đám cưới. Chúng tôi phải tôn trọng sự chọn lựa của Mẹ. Chúng tôi dù rất bận cũng cố gắng một tuần đến thăm Mẹ vài lần. Cuối tuần thế nào chúng tôi cũng tụ họp quanh Mẹ. Dần dần Mẹ cũng vui lên. Rồi chúng tôi thay phiên nhau đưa Mẹ đi đáp lễ những người đã tới thăm Mẹ.

Ngày Mẹ còn bên Hồng Tước

Ngày vui nhất của Mẹ là ngày cưới cô con dâu út. Mẹ được gặp hầu hết họ hàng trong đám cưới. Nhưng sau đám cưới ít lâu, chúng tôi thấy Mẹ bỗng yếu hẳn đi. Chúng tôi lo lắng giục Mẹ đi bác sĩ. Mẹ thoái thác, viện cớ tuổi già, gần chín mươi, thì sức khỏe phải giảm sút, đó là chuyện bình thường, tự nhiên. Chúng tôi không dám ép buộc Mẹ, đành chỉ nhìn nhau lo lắng. Chúng tôi đến thăm Mẹ nhiều hơn, ngay cả những ngày trong tuần. Cho đến một ngày, cô em dâu út tôi thấy Mẹ yếu quá, không thể một mình đứng dậy được, vội gọi 911 để đưa Mẹ vào bệnh viện cấp cứu. Tại đây, sau nhiều thử nghiệm, bác sĩ cho biết Mẹ bị ung thư đã đến giai đoạn cuối cùng, không còn chạy chữa gì được nữa. Trong khi chúng tôi buồn và lo lắm, Mẹ vẫn bình tĩnh, cho rằng sống được đến tuổi này là thọ lắm rồi.

Cho đến một ngày Mẹ đã lâm vào tình trạng lúc tỉnh lúc mê, chúng tôi biết cuộc sống của Mẹ chỉ còn tính từng ngày, cô em sát tôi bỗng đề nghị tất cả mọi người đều xin nghỉ một tuần như nhau để xum họp quanh Mẹ. Chúng tôi đồng ý ngay và trong tuần nghỉ đó, chị em chúng tôi mua nếp, đậu và thịt để nấu nồi bánh chưng dâng Mẹ dù còn nửa năm nữa mới tới Tết. Sau khi đi chợ về, một chị tôi cho biết không mua được thịt nách, chỉ có thịt ba dọi thôi. Mẹ tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh bỗng mở mắt thều thào nói :

“Như thế càng tốt, không phải dùng lotion kata.”

Tất cả chúng tôi ngạc nhiên quay lại nhìn Mẹ. Trên đôi môi héo hắt của Mẹ chúng tôi còn thấy đọng lại một nét cười tinh nghịch. Nụ cười ấy khiến chúng tôi vui như vừa trúng số độc đắc cả trăm triệu Mỹ Kim. Từ lâu lắm, từ ngày Mẹ nửa tỉnh nửa mê, chúng tôi không thấy Mẹ cười bao giờ.

Bánh chúng tôi gói, dù có khuôn, cũng không vuông vức bằng bánh Mẹ gói tay không. Khi bánh đã chín, được nén cho dền và để nguội, chúng tôi mời Mẹ thưởng thức sản phẩm đặc biệt của chúng tôi. Mẹ gượng ngồi dậy, chiều chúng tôi, nếm thử một miếng rồi khen :

“Ngon lắm !”

Chúng tôi biết Mẹ chỉ khen để chúng tôi vui mà thôi…

***

Mẹ sang Mỹ với chúng tôi chưa tới hai năm, nhưng tôi tin rằng trong thời gian đó Mẹ vui vì thấy chúng tôi đã đứng vững ở nơi xứ lạ quê người, vui vì đứa con dâu út thật ngoan và thật hiền. Bây giờ mỗi lần Tết đến, thấy các tiệm bán bánh chưng, tôi lại bùi ngùi nhớ tới Mẹ và những nồi bánh của Mẹ ngày xưa, khi chúng tôi còn nhỏ, quây quần bên Mẹ. Những buổi xum họp ấm cúng đó nay còn đâu.

Hồng Tước

//

“Ra Đi và Trở Về”

“Ra Đi và Trở Về”

Kông Kông

11-2-2018

Hoàng Phủ Ngọc Tường (ngồi). Ảnh: Chử Thu Hằng

Tình thật tôi không đặt nặng về câu chữ trong lá thư ngõ (coi như cuối đời) của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, cho dù một lá thư như vậy chắc chắn là ông đã so đo đến từng cái dấu phẩy, dấu chấm chứ chưa nói đến từng chữ, từng câu. Vấn đề ở đây là qua bao nhiêu năm tháng, từ sau đoạn video nghiệt ngã năm 1981 phổ biến, ông đứng về phe chiến thắng, lý luận hùng hồn để bảo vệ thành quả “cách mạng”, mãi đến bây giờ tại sao ông phải thanh minh?

Dù là thanh minh nhưng ý ông rõ ràng là chỉ có “quân nổi dậy” giết dân Huế. Và, như trong video, ngụ ý là việc giết đó cần thiết như giết loài rắn độc.

Cho đến bây giờ ông vẫn xác nhận giết dân là do “quân nổi dậy”. Đây là cách dùng chữ đúng bài bản tuyên truyền nên khó có thể tin là “nỗi thống thiết tự đáy lòng” của ông Tường. Vì “quân nổi dậy” chỉ sự bộc phát, ô hợp do quần chúng căm thù hình thành. Mà đã là quần chúng thì đương nhiên không có tổ chức hay cá nhân nào chịu trách nhiệm. Vì thế, có hay không có ông Tường hiện diện ở Huế, sự việc cũng phải xảy ra như thế. Ông Tường, người ngoài cuộc, vô can!

Nhưng thực tế quân Bắc Việt, quân Mặt trận Giải phóng cùng với bọn nằm vùng gây ra, tất cả đều do miền Bắc chỉ đạo. Chứng tích đang còn nóng hổi là việc họ vừa tổ chức “hoành tráng” lễ mừng 50 chiến thắng Mậu Thân ngay tại Sài Gòn!

Suốt từ năm 1968 đến nay, cứ mỗi dịp Tết đến, không chỉ riêng người Huế mà cả miền Nam, đều tổ chức lễ giỗ nạn nhân bị thảm sát. Như vậy ngày Tết chỉ có đảng vui còn người miền Nam thì đau đớn xé lòng. Một bên uống rượu mừng Xuân với máu, một bên cạn cả nước mắt. Đã hẵn ông Tường từng nâng ly với đồng chí của ông như thế.

Thế nhưng 37 năm đã trôi qua, từ chính miệng ông Tường xác nhận (thần khẩu buộc xác phàm) sao bỗng dưng ông lại thanh minh với “ngàn lần xin lỗi”?

Mượn câu nói “bất hủ” của một nữ đạo diễn đi làm phóng sự ở Syria “sống sót trở về”, là “động cơ nào” ông Tường đọc cho con gái ghi lại thư ngõ?

Nếu ông Tường là người có tâm Phật thì chỉ cần “khi nghe ai đó kể lại” đi trong đêm tối như bùn vướng dưới chân mới bật đèn bấm và thấy đầy máu thì chắc chắn ông Tường phải nổi da gà, niệm ngay “A Di Đà Phật”. Sự ăn năn thống hối phải thể hiện ngay lúc đó chứ không phải 13 năm sau nói oang oang (trong video) xác nhận mình là người trong cuộc.

Và, đến thời điểm nầy “chẳng mấy hồi nữa phải về trời” lại muốn được “im lặng bằng tâm về cõi Phật”!

Đã thế, ông Tường còn giấu kín tên (những) người kể chuyện! Vì (những) người kể chắc chắn phải thâm giao, được ông tin tưởng nên ông mới vơ vào, xưng tôi, kể công. Vậy thì (những) người kể đó là ai? Đã muốn thanh minh mà giấu tên nhân chứng thì (chính ông Tường) có thể tin được không?

Khi sức khỏe tốt nhìn về phía trước, còn đau đớn, bệnh tật cuối đời thì quay lại quá khứ là chuyện bình thường. Nhưng với quá khứ 37 năm, từ “biến cố video”, ông Tường mới trải lòng là nhận vơ công trạng, phải chăng ông nghĩ như thế là đủ, là phủi sạch hết nợ đời? Hay vì chứng kiến những ngày tàn của chế độ nên cần “phản tỉnh” kiểu Nguyễn Khải (Đi tìm cái tôi đã mất) bỏ “mâm cỗ” cũ để được ngồi vào “mâm” mới?

Hoặc theo chân một ông Giáo sư đã bỏ đảng Nguyễn Phú Trọng để trở lại đảng Hồ Chí Minh vì muốn xác nhận là đảng cộng sản Hồ Chí Minh tốt (!) cho dù nhân loại đã có bia tưởng niệm 100 triệu nạn nhân?

Lẽ ra điều ông Tường nên làm là chấp nhận quá khứ vì không ai có thể thay đổi được quá khứ. Cách thanh minh tốt nhất là phản tỉnh! Xác nhận tội lỗi cũ, dù trực tiếp hay gián tiếp gây ra thảm sát Mậu Thân ở Huế, bằng cách công khai lên án việc đảng vừa tổ chức kỷ niệm “chiến thắng Mậu Thân” và tuyên bố bỏ đảng! Việc làm nầy tự nó sẽ nói lên được phần nào tâm trạng “với tư cách một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về” (ngắt bỏ đoạn kế tiếp) Được như vậy là ông Tường xác nhận đã bỏ Huế “ra đi” vì sự mông muội, còn bây giờ xin “trở về” để làm lại người con của Huế với tất cả ăn năn.

Được như vậy chưa hẳn thân nhân những nạn nhân ở Huế sẽ tha thứ nhưng ít ra lương tâm ông cũng thanh thản được đôi phần.

Còn, thanh minh thì chỉ chứng tỏ tâm địa con người cộng sản là không thể nào có thể thay đổi được, ông Tường đúng như vậy!

//

Kệ Tết ( chuyện ở Việt Nam )

Image may contain: 1 person, smilingVị nầy là người ngoại quốc mà viết tiếng Việt rất đúng văn phạm, vì đài truyền hình không thèm phát cuộc phỏng vấn của anh, nên tôi post lên bà con đọc chơi khi có thì giờ.

Kệ Tết ( chuyện ở Việt Nam )

Thứ ba, 6/2/2018 | 01:36 GMT+7

  • Gần đây tôi tham gia một chương trình trên truyền hình về Tết Tây.
    Tôi tự hỏi liệu ban biên tập có đọc những bài báo của tôi trong hai năm qua không mà họ dám mời tôi tham gia talk show này. Hay họ mời tôi vì tôi là một người nước ngoài biết tiếng Việt?
    Người dẫn chương trình đặt câu hỏi cho tôi: “Chào anh Jesse Peterson. Sắp tới là Tết Tây, anh Jesse có mong đợi ngày đó không?”.
    Họ cứ mong tôi sẽ trả lời “Yes! Tết Tây là một ngày rất vui”, rồi tôi tiếp tục nói, “Cảm ơn đã mời tôi tham gia chương trình ngày hôm nay! Chúc mừngnăm mới các bạn Việt Nam!”.
    Nhưng họ há hốc miệng khi nghe tôi nói: “Không! Năm mới – Tết Tây là một ngày giả! Nó được thiết kế cách đây 2018 năm trước. Đế chế Hy Lạp muốn xoá bỏ phong tục của các dân tộc xung quanh và tạo nên một năm mới giả, ở giữa mùa đông”.
    Thật vô lý khi ngày chào mừng năm mới ở giữa mùa đông. Trong khi, 20 tháng 3 mới là ngày chính giữa của mùa xuân. “Tết Tây” đã được thiết kế bởi Hoàng đế của Rome – Julius Caesar. Ông Caesar đã xâm lược rất nhiều bộ lạc của người châu Âu. Nhằm ngăn chặn việc họ nổi dậy chống lại mình, Caesar làm một ngày lễ mới – ngày đón năm mới ở giữa mùa đông.
    Tôi không mong đợi năm mới theo cách đó. Tôi sẽ thành lập năm mới cho riêng tôi, 20 tháng 3. Và mặc kệ những phong tục của người xưa cũng như mưu đồ của họ. Nhưng khi lên sóng, đài truyền hình kia đã cắt đi phần tôi nói rằng Tết Tây là một ngày giả và tôi không muốn hùa theo nó. Chắc họ cho rằng đó là chủ đề nhạy cảm.
    Tết Ta sắp tới rồi. Nó gần mùa xuân hơn Tết Tây. Điều tôi thích ở Tết Ta là khi người Việt Nam trang trí ở ngoài nhà với hoa mai, hoa đào. Nó có thể là biểu tượng của sự khởi đầu mới và là đại diện của môi trường thay đổi khi xuân tới..
    Nhưng tôi không có ý so sánh các ngày Tết với nhau. Rõ Tết Việt Nam hẳn “có liên quan” với người Việt hơn Tết Tây nhiều. Nhưng tôi cũng thấy Tết Việt Nam bây giờ cũng có nhiều vấn đề quá. Giờ đây nó quá “human centric”, nghĩa là nó tập trung vào sự ích kỷ của con người nhiều hơn là lúc để chúng ta quan sát, hiểu ý nghĩa của sự vận động môi trường, vạn vật. Điều này khiến ta trở nên ích kỷ và quên đi Mẹ Thiên nhiên.
    Có nhiều điều tôi không thích ở cách người Việt đón Tết ngày nay. Đó là người ta quá vất vả những ngày trước Tết. Họ bị stress khi phải chuẩn bị cho Tết, có người còn cãi nhau. Rồi các quan niệm như không được mặc áo đen, người đầu tiên đến nhà bạn phải mang may mắn, ép nhau ăn uống đến mức hệ tiêu hóa không làm việc kịp, không ăn thì bị giận (có lần tôi đã lén ném thức ăn dưới gầm bàn)… Và độc hại nhất với văn hóa truyền thống là họ dùng Tết để lấy cơ hội hối lộ, đút lót, biếu xén nhau. Trong các phần quà Tết ít khi thiếu phong bì tiền. Phong tục lì xì bị lạm dụng quá nhiều. Trẻ con hư sớm theo người lớn vì chúng chỉ mong phong bì lì xì chứ không phải yêu thích Tết..
    Trong Tết mọi thứ đều bị đẩy giá cao hơn. Khi bị hỏi tại sao, họ chỉ nói “Tết mà”, không thèm giải thích sâu sắc hơn. Mấy năm trước, tôi đi phượt ở miền Tây. Đến khách sạn, họ bảo vì tôi là người Tây, tôi phải trả tiền thêm, và vì đây là Tết rồi.
    Tết xong rồi, tôi không thấy mình vui hơn, không thấy là tôi biết nhiều điều hơn về thế giới, không thấy môi trường tốt hơn, không thấy người nghèo khá hơn và có gì tốt đẹp hơn để hy vọng cho năm mới.
    Tôi thấy nó giống như nhiều phong tục của ngày xưa. Ý nghĩa của nó đang bị sự ích kỷ của loài người tiếp tục ăn hiếp hay lợi dụng. Khi có nhiều điều xấu đến thế, làm sao nó có thể đem tới văn hóa đạo đức hơn và điều tốt đẹp hơn cho Việt Nam?
    Nên tôi cố tình kệ Tết. Tôi sẽ đi du lịch hay khóa cửa nhà, không bước ra ngoài trong vòng một tuần cho đến khi tôi đã đọc mười quyển sách và ăn sạch cái tủ lạnh.
    Còn người Việt Nam, nếu còn yêu và trân trọng ngày “Tết Ta”, tôi nghĩ nhiều người cần bày tỏ tình yêu đó theo một cách khác.

//

Jesse Peterson
(Nguyên bản tiếng Việt)

Image may contain: 1 person, smiling

‘MEMORIES OF SAIGON’ (Kỷ niệm Sài-Gòn)!

MEMORIES OF SAIGON

 

Lyrics: Nguyễn Tùng
Music: Hồng Tước
Vocal: Hồng Tước
Keyboard: Quốc Đông

 

MEMORIES OF SAIGON

Sai-Gòn Memories

//

Nhạc sĩ Thanh Trang – “Tóc em vẫn là hương của Mẹ”!

‘Tóc em vẫn là hương của Mẹ’

Dù cho bản nhạc đề cập trong nội dung, được phổ biến từ lâu, đã quá quen thuộc với giới thưởng ngoạn nhạc Việt tại hải ngoại,  lần này, người viết cũng đòi xen vào một vài nhận xét cá nhân để “cho có với người ta”!

Tôi xin viết cô đọng một nhận xét về nhạc phẩm, đề tựa “Tóc em vẫn là hương của Mẹ“, của Nhạc sĩ Thanh Trang, tiếng hát Ca sĩ Quang Tuấn.

(…..)

Trong trí nhớ anh sẽ dành một góc

Có buổi chiều và mái tóc em thương

Đoạn chót với hai câu thơ trên đã kết thúc một sáng tác do Nhạc sĩ  Thanh Trang phổ nhạc, theo ‘ý thơ’ Hà Nguyên Dũng, (bài “Hương Bồ Kếp’), với sự trình bầy của ca sĩ Quang Tuấn.

Bài thơ gồm khoảng gần hai mươi câu (?), mỗi câu 8 chữ; chủ đề đơn giản, ghi nhận ‘mùi hương thơm’ đặc biệt lan toả từ mái tóc thiếu nữ, khiến ‘khứu giác’ bén nhạy của chàng trai đã “bắt gặp” (được) qua làn gió thoảng.

Thôi đúng rồi “Tóc em thơm giống mùi hương tóc của mẹ”!

Chàng thoáng nghĩ, chắc mái tóc huyền mềm mại kia của nàng, cũng đã được thấm đẫm với nước bồ kết (kếp) gội đầu của mẹ chăng (?)

Nội dung lời ca qua ý thơ, xin tạm (hồ đồ) gọi là ‘hoài cổ’, cái hình ảnh của một thuở thân thương đó, bây giờ đã chẳng còn tìm đâu thấy nữa.

Vâng, xin thưa, đó là một bức tranh tả cảnh rất đẹp, một buổi trưa hè của một thời nào, đã cũ (tất nhiên trong quá khứ); mẹ ngồi gội đầu bên chiếc chậu thau đồng, đựng đầy nước Bồ Kết (Kếp) vừa đủ nóng; cạnh mẹ là chiếc võng đong đưa nhẹ theo làn gió, thoảng chốc chợt nghe tiếng gà, buổi trưa, eo óc gáy từ xa vọng lại… Đấy đích thực là một bức họa hiếm quý, của một trong những danh họa thuộc Trường phái Hoài cổ (School of Nostalgic Paintings) ghi nhận lại hình ảnh của một ngày hè nóng, oi bức, bên mái hiên nhà….trong quá khứ.

Cũng do từ hình ảnh đó, mùi thơm của nước nấu từ quả Bồ Kếp; khiến chàng trai chợt thảng thốt nhận ra (ủa) Tóc Em Vẫn (thơm giống mùi) Là Hương (tóc) Của Mẹ”!

…..

Trân trọng giới thiệu với quý vị khán, thính giả từ trong nước lẫn hải ngoại, đã từng mến mộ, thưởng thức giòng nhạc trữ tình của Nhạc sĩ Thanh-Trang.

Nhân đây cũng xin quý vị rộng lượng hiểu dùm cho, cá nhân tôi đã dám mạn phép dùng hai chữ giòng nhạc “Trữ tình” khi đề cập đến các sáng tác của ông; một Nhạc sĩ  thời danh, riêng cá nhân tôi ngưỡng mộ.

Ghi chú: Trong một dịp thuận tiện, người viết xin trở lại với một bài, mà nội dung sẽ chỉ đề cập đến “Nhạc trữ tình” và “Nhạc tình”, qua nhận xét cá nhân về nhạc sĩ này với nhạc sĩ khác!

Nguyễngọc Tùng

//

CHIẾC ĐÒN GÁNH CỦA MẸ – nguyễn minh phúc

CHIẾC ĐÒN GÁNH

chiec đon gánhnguyễn minh phúc

Những người phụ nữ quê tôi không ai không biết đến chiếc đòn gánh vì ai cũng đã từng hơn một lần gánh nó trên vai. Quê tôi miền Trung nghèo lắm. Từ những bé gái mới lớn lam lũ giúp mẹ thổi cơm gánh nước, đôi vai nhỏ như oằn xuống với một cánh tay bấu vào thân đòn nặng trĩu còn tay kia dùng lấy thăng bằng gánh hai thùng nước sóng sánh – đến những bà mẹ già lập cập gánh những bó rau, bụi cải hay con gà con vịt thong dong ra chợ bán. Rồi những đứa em, người chị, hầu như cứ rãnh việc, buông tay ra là động đến chiếc đòn gánh. Gánh lúa, gánh phân, gánh mạ non, gánh nước … Toàn bộ công việc nặng nhọc đặt trên vai người phụ nữ. Đàn ông quê tôi lại ít thấy gánh gồng gìDĩ nhiên là họ làm những việc khác có khi còn nhọc nhằn hơn nhưng ít khi động đến chiếc đòn gánh …

Tôi nhớ như in lúc tôi còn là thằng bé sáu, bảy tuổi, chiều chiều ra đứng trên đầu cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Rướn người trên thành cầu sắt thật cao, tôi đưa mắt hướng về phía chợ. Hễ cứ thấy từ xa ai đó đang quang gánh bước đi là lòng tôi lại thấp thỏm mừng vì nghĩ đó là mẹ mình. Cái dáng tất bật, lam lũ của những người đàn bà quê tôi hầu như ai cũng giống nhau. Cho nên, tôi thường nhìn lầm. Tôi đợi từ xa và dõi mắt nhìn chằm chằm vào dáng đi vất vả cũng với hai cánh tay, một nắm trên thân đòn và một lấy thăng bằng, buông lỏng theo từng bước chân như chạy. Không lẫn vào đâu được, đúng là bước chân của mẹ tôi. Bước chân mẹ lạ lắm, có gì đó như lo toan, vội vã, nhẫn nhục, nhọc nhằn trong mỗi nhịp đi hối hả. Nhưng khi bóng người đàn bà kẽo kịt gánh gồng đến gần, thì lại không phải. Niềm vui biến mất, gương mặt buồn xo, tôi lại ngồi xuống thành cầu đợi mẹ tôi.

Cuối cùng thì mẹ cũng xuất hịên! Từ xa, nhận ra mẹ, tôi đã ba chân bốn cẳng chạy ùa tới mừng rỡ. Tôi chẳng quan tâm gì đến mồ hôi mồ kê trên gương mặt mẹ chảy ròng ròng vì mệt, vì nắng rát mà điều quan trọng nhất là nhìn vào hai cái mẹt đong đưa hai bên đòn gánh dưới cái quang bằng dây thép uốn tròn. Quà của tôi nằm ở đó! Khi thì là chiếc bánh mì, vài viên kẹo dẻo, một lóng mía ghim, có khi là mấy thứ đồ chơi rẻ tiền bằng nhựa … Thích nhất là được mẹ mua cho bánh bò ông ba tàu ngoài cổng chợ. Tôi mê bánh bò ông thì ít mà thích con gái ông thì nhiều! Chẳng là con ông học cùng lớp với tôi. Nó học giỏi nhì lớp, còn tôi hạng nhất. Bọn trẻ con thường cắp đôi tôi với con Lẻm, tên nó. Không biết nó nghĩ gì không chứ riêng tôi thì thích! Mà cũng lạ, không ai như tôi, mới học đến lớp hai, lớp ba mà đã biết mắc cỡ khi gặp nó … Nhưng đó là chuyện hồi con nít …
… Không cần đợi mẹ đồng ý, tôi đã lục mẹt lấy quà của mình vì biết mẹ chỉ mua cho tôi. Nhà có mấy chị em, ba mất sớm mà tôi là con trai duy nhất nên mẹ thương tôi hơn cả. Trăm lần như một, chiều nào mẹ đi chợ về, sau khi bán hết mớ rau cải, bầu bí trồng ở vườn nhà, thế nào mẹ cũng dành tiền ki cóp mua cho tôi ít quà. Tôi cầm gói bánh bò tung tăng chạy trước, mẹ gánh cặp mẹt đi sau. Không nhìn vào mắt mẹ nhưng biết chắc mẹ đang cười nhìn tôi hạnh phúc. Đôi gánh nhẹ hẫng trên vai mẹ và thỉnh thoảng mẹ còn nói vói theo nhắc yêu tôi: Ranh con, chạy vừa vừa chứ, té ngã bây giờ!

oOo

Tôi thật không biết chiếc đòn gánh do ai nghĩ ra và xuất hiện đầu tiên vào lúc nào nhưng quả thật, đó là một dụng cụ tuyệt vời để di chuyển vật nặng từ nơi nầy đến nơi khác bằng sức người ở quê tôi… Nó được làm bằng cây tre già ngâm nước càng lâu càng tốt, để tre dẻo, chắc và khỏi mục. Tôi đã thơ thẩn hàng giờ nhìn người ta đục đẽo chiếc đòn gánh. Thật cũng lắm công phu! Sau khi chỉ lấy đoạn gốc tre già ngâm nước chừng vài tháng, người ta làm hai chiếc máng ở hai thân đòn. Hai cái máng nầy phải giống nhau như một, giữa khắc một cái rãnh sâu dùng để móc quang vào cho khỏi lệch. Cái máng nầy cũng lắm chuyện. Gặp tay thợ đẽo giỏi, nó là hình tròn, hình ô van có khi còn được tạc vào dấu thập hoặc chữ vạn mà tôi không biết để làm gì. Có lẽ lấy hên mua may bán đắt khi gánh trên vai chiếc đòn gánh ấy chăng, hay chỉ là khắc lên cho đẹp … Chưa hết, còn phải gọt đẽo thân đòn cho thật thẳng, đoạn ở giữa mỏng hơn hai bên đầu làm đòn đong đưa cho nhẹ sức hơn khi gánh nặng … Khoảng hơn tiếng đồng hồ đẽo gọt thì chiếc đòn gánh ra đời. Nó có thể dùng hết đời nầy đến đời khác trong một gia đình quê tôi vì hiếm khi bị gãy. Đến khi nước bóng ở thân đòn nổi lên màu đen mun thì không biết chiếc đòn đã thấm biết bao nhiêu mồ hôi từ trên đôi vai những người đàn bà tần tảo …

Nhưng chiếc đòn gánh của mẹ tôi không chỉ có thế. Nó còn là một trời kỳ diệu. Nó mang đến tuổi thơ tôi những niềm vui háo hức tràn trề, cả những giấc mơ đẹp đẽ nhất trên đời. Còn gì sung sướng hơn khi được đặt ngồi vào một đầu quang, đầu bên kia là trái bầu trái bí mẹ gánh suốt dọc đường ra chợ. Tôi cứ ngồi im như thế trên suốt con đường làng, hấp háy đôi mắt hãnh diện nhìn quanh xem có đứa bạn học nào để mà vểnh mặt lên, tự hào được ngồi gánh mẹ. Tôi cũng không buồn khi thấy chỉ mấy con trâu, con bò dọc đường làng chào tôi kêu nghé ọ và những đứa trẻ chăn trâu nhìn theo cười chế giễu. Tôi biết chúng nó ganh tỵ vì không được ngồi gánh như tôi …Và vì tôi nặng hơn mấy trái bầu bí ở gánh bên kia nên mẹ phải đưa vai chệch về phía tôi để giữ thăng bằng. Mệt lắm nhưng mẹ vui. Tôi biết được điều ấy trên đôi mắt long lanh, hài lòng bừng lên trên mặt mẹ …
Đến gần chợ là tôi dứt khoát bảo mẹ cho xuống, có năn nỉ mấy cũng không chịu ngồi thêm. Tôi sợ con Lẻm, con ông ba tàu bán bánh bò đầu cổng chợ nhìn thấy. Vì sao sợ nó cười, tôi không biết nhưng rõ là tôi thích được nhìn nó xuất hiện với hai chiếc nơ xinh xắn, chạy lò cò trước cổng, mắt tròn xoe nhìn tôi và gật đầu chào. Tôi làm như ngó lơ, chạy lúp xúp theo mẹ, mắt liếc thật nhanh vào con Lẻm còn tay thì cứ cầm dây quang phía sau chiếc đòn gánh mà nhắc để khỏi mắc cỡ: Đi nhanh lên mẹ, con đói bụng lắm rồi …
Tuổi thơ tôi và chiếc đòn gánh mẹ như không hề rời nhau.. Cũng có những hôm không bán được hàng, mẹ quảy gánh về mà không có quà cho tôi. Tôi cứ cầm lấy đòn gánh mẹ mà khóc tấm tức, dỗ mấy cũng không nín. Tôi nghĩ mẹ không thương tôi hoặc là quà của tôi mẹ đã cho ai mất rồi. Tôi chẳng nhìn lên mắt mẹ để thấy mẹ buồn như thế nào vì không tiền mua quà cho đứa con cưng. Có hôm mẹ tủi thân cứ nhìn tôi, ôm tôi mà khóc …
Nhưng cũng có lúc, chiếc đòn gánh với tôi là cả một cơn ác mộng! Tôi nhớ có lần đi hái trộm xoài non của bác Hai Trầu cạnh nhà. Bác Hai qua mét mẹ và chuyện đã xảy ra … Tôi mới bước chân về đến cửa, mẹ tìm hoài không thấy roi nên sẵn cây đòn gánh , mẹ phát vào mông tôi mấy cái. Dĩ nhiên là mẹ phát nhẹ thôi vì chiếc đòn gánh thì to bảng mà mông tôi thì nhỏ. Nhưng mà đau thấu trời xanh. Ghê thật là cái vị đòn làm bằng cây tre già ngâm nước! Nó thấm vào thấu bên trong, đau và nhức buốt hơn mọi loại roi nào khác. Tôi chỉ còn cách quỳ xuống đất nức nở mà xin lỗi mẹ vì đau và sợ ăn đòn tiếp . ..

Tối đó, mẹ vừa khóc vừa bôi dầu nhị thiên đường vào mông tôi đã nổi lên mấy vết hằn đỏ. Mẹ dằn vặt mình vì đã giận đánh con. Tôi làm bộ quay mặt vào tường không nhìn mẹ. Tôi giận, mẹ hỏi gì cũng không nói và thiếp đi lúc nào không hay. Khi thức dậy vẫn còn thấy mẹ ngồi chằm chằm nhìn tôi, nghẹn ngào: Mẹ đánh con bậy quá … Nhưng ai bảo con hư …Lúc ấy, với đôi mắt nhạt nhoè, tôi chỉ muốn ôm mẹ mà khóc.Vì hờn, tủi thân hay còn giận mẹ, tôi không biết. Nhưng tôi biết chắc một điều là mẹ yêu thương tôi vô bờ bến!
Chiếc đòn gánh của mẹ, với tôi còn là những kỷ niệm không thể nào quên! Khi tôi đã lớn, nhà nghèo, mẹ hàng ngày trĩu nặng nó trên vai – khi thì gánh phân, gánh gạo đi bán – khi thì gánh nươc , gánh hàng tảo tần nuôi tôi ăn học. Những năm tháng còn là sinh viên, mỗi dịp nghỉ hè về quê, tôi lại ra cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Nhưng mẹ giờ đã yếu lắm! Mẹ không còn gánh nặng được nhưng phải cố, vì tôi. Hình hài mẹ nhỏ quắt lại, đôi vai như muốn run lên theo bước chân, môi mắm chặt mỗi lần mẹ cố sức. Duy đôi mắt mẹ thì không hề thay đổi! Đôi mắt vẫn ánh lên niềm hạnh phúc và tự hào nhìn đứa con trai phổng phao, chững chạc sắp trưởng thành. Tôi đứng lặng trên cầu, rơm rớm nhìn vào thân thể và đôi vai gầy guộc của mẹ oằn xuống dưới mỗi bước đi …Tôi muốn lao vào ôm mẹ mình nhưng đã không làm như vậy. Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn ân hận trách mình vì điều ấy …
Ngày ấy, mẹ vẫn thường nói vui: Chính nhờ chiếc đòn gánh của mẹ nuôi con ăn học đấy! Mẹ mong khi mẹ không còn đụng đến nó nữa thì con đã trưởng thành …Còn giờ thì vì con – mẹ đâu, nó đó …

oOo

… Bây giờ tôi đã thành đạt. Sự nghiệp, công danh đến muộn nhưng cuối cùng cũng đến. Mẹ mừng hơn ai hết. Con Lẻm ông ba tàu bán bánh bò ngoài cổng chợ giờ là vợ sắp cưới của tôi. Ngày tôi lấy vợ, từ dưới quê mẹ lên thăm. Xuống bến xe đón mẹ, tôi thật ngỡ ngàng khi mẹ cứ hi hoáy tìm một vật gì để dưới gầm xe. Tìm mãi, sau cùng mẹ mới lôi được ra cây đòn gánh! Thì ra thói quen, mẹ mua cau trầu mừng đám cưới tôi và cứ nghĩ sẽ đến nhà tôi với đòn gánh trên vai và cặp quang sắt rỉ! Tôi buồn cười và hơi bực bội về sự lẩm cẩm của mẹ. Ai đời lên đến thành phố rồi mà còn đem theo nào quang nào gánh, dáng đi cứ tất bật, lo âu như ngày nào. Ngoài việc mướn xe chở cau trầu, tôi còn phải kêu thêm một chiếc xích lô chở riêng cặp quang và chiếc đòn gánh theo về vì không biết để đâu. Bảy mươi tuổi, có khi mẹ lẩn thẩn rồi cũng nên.Tôi nhủ thầm như vậy …

Mừng đám cưới tôi có mấy ngày, mẹ đòi về nằng nặc. Nhà không ai trông nom, vườn tược, gà heo không ai chăm sóc, mẹ bảo thế! Hầu như đêm nào ở nhà tôi mẹ cũng thức trắng, trằn trọc không ngủ. Mẹ lo những việc không đâu, nào ai biết được. Thỉnh thoảng mẹ lại ngồi dậy, húng hắng ho. Tôi làm sao dỗ giấc ngủ, lo lắng đòi mẹ uống thuốc nhưng mẹ bảo không sao. Me lo chuyện rau mọc nhiều không ai cắt bán, lo gà vịt không ai cho ăn, lo nước trong lu không ai gồng gánh … Đúng mẹ lẩm cẩm thật rồi!

Tôi và con Lẻm mời mẹ ở lại luôn trên thành phố với vợ chồng tôi nhưng mẹ nhất định không chịu… Mẹ ở không quen chốn đông đúc, ồn ào hơn nữa còn phải chăm mộ bà nội, ba con dưới quê, ở lâu làm sao được , mẹ nói cái lý của mẹ. Cái lý của các bà mẹ thì lúc nào cũng thuyết phục được bất kỳ ai trên đời chứ chẳng phải riêng tôi …
Ngày mẹ ra bến xe về quê ngoài quà mừng của vợ chồng tôi gửi bà con lối xóm vẫn là chiếc đòn gánh đã lên nước theo cùng. Nhìn dáng mẹ tất bật, hối hả, lòng tôi trào dâng niềm thương vô bờ bến nhưng biết làm sao giữ mẹ.. Đến lúc nầy, mẹ mới móm mém cười, chắc là muốn chúng tôi đừng buồn khi chia tay:
– Đó, con thấy không? Nhờ đem theo đòn gánh mà khi về, mẹ mới mang hết mấy thứ quà con gửi cho lối xóm … Không có nó, mình mẹ bê sao nổi!
Tôi nhận ra mẹ mình có lý. Một đời mẹ tảo tần đắm đuối vì con với chiếc đòn gánh cùng theo mẹ đi suốt bao năm trời gian khổ mãi cho đến khi con đã trưởng thành vẫn còn mãi lo âu …

oOo

Rồi mẹ tôi qua đời! Tuổi già và những căn bệnh triền miên không cho mẹ ở lại cùng tôi mãi. Cuộc chia ly đớn đau cuối cùng rồi cũng đến! Trong nỗi đau mất mẹ, tôi chỉ còn biết lặng người, xót tím tâm can.
Lúc nhập quan, khi người ta đưa hình hài nhỏ bé, khô quắt của mẹ vào quan tài, ngoài những bộ đồ cũ nát mẹ vẫn thường mặc khi còn sống cùng những vật dụng thường dùng, tôi chợt nhớ đến chiếc đòn gánh đã đi theo suốt đời cùng mẹ. Nó vẫn nằm đó, trong góc nhà kia, vẫn ánh lên thứ nước màu đen tuyền với cái thân đòn hình như cong lên vì vất vả. Chợt nghĩ về những ngày ấu thơ gian khổ, chợt nghĩ về tình yêu bao la, thắm thiết của mẹ, tôi trào dâng nước mắt …
Tôi nhớ đến lời mẹ tôi khi còn sống – mẹ đâu thì nó đó – chiếc đòn gánh ấy! Và cố thuyết phục mọi người xin đưa cây đòn theo cùng mẹ sang thế giới bên kia … Ai cũng cản tôi nhưng cuối cùng thì họ xiêu lòng. Vậy là trong quan tài mẹ tôi lại có thêm chiếc đòn gánh đã từng một thời bôn ba cùng mẹ.
Khi mọi người ra về sau lễ tang, còn một mình ngồi bên mộ mẹ, tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc như thế. Rồi cũng sẽ qua hết mọi khổ đau, hạnh phúc, mọi cao sang, quyền quý kể cả những vụn vặt thấp hèn trên đời nầy nhưng tôi biết, hình ảnh mẹ tôi và chiếc đòn gánh nhọc nhằn ngày xưa sẽ theo mãi tôi đến suốt quãng đời còn lại … 

nguyễn minh phúc