Kẻ đại gian đại ác – Thái Bá Tân

Nhiều người cần biết, để thấy những cái chết nầy thật sự oan uổng.

Tân Thái Bá

FB bác Nguyễn Thông

Kẻ đại gian đại ác

Hai ngày nay không có thông tin gì mới về việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tự đáy lòng mình, tôi thầm cầu mong liệt sĩ sống khôn chết thiêng hãy phù hộ cho đội quy tập sớm tìm thấy các anh, mỗi người dù chỉ một mảnh xương (điều này thật khó bởi chôn không có áo quan, mà đã gần 50 năm rồi) để đưa về nghĩa trang, cho linh hồn các anh có nơi nương náu, chấm dứt cảnh lang thang vật vờ suốt nửa thế kỷ.

Có điều này tôi nghĩ nhiều người biết nhưng ngại nói ra, nhưng tôi thấy cần phải nói: Trong 2 ngày đầu tết Mậu Thân 1968 (mùng 1 và 2 tết), bộ đội hy sinh rất nhiều (không phải là thắng lợi rực rỡ, vẻ vang như lâu nay họ tuyên truyền). Dù những người chết là kẻ thù, là đối phương nhưng người Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã gom các thi thể chiến binh CS lại và chôn cất khá tử tế, dựng hẳn bia mộ rất to, ghi rõ trên bia, dường như để đánh dấu nhằm sau này dễ việc tìm kiếm. Rồi chiến tranh chấm dứt 7 năm sau đó, người CS đã chiến thắng, họ làm chủ miền Nam, tất nhiên làm chủ cả sân bay Tân Sơn Nhất.

Sau ngày 30.4.1975, không phải ai cũng có thể ra vào khu vực sân bay, nhất là nó được quân đội quản lý. Vậy có thể đặt ra câu hỏi: Ai (những ai) đã ra lệnh, đã phá 2 tấm bia mộ đánh dấu mộ tập thể chôn cất hàng trăm liệt sĩ kia. Họ phá đi để làm gì, liệu có phải nhằm xóa một dấu tích không lấy gì hay lắm đối với họ? Cứ cho là phá cũng được đi, nhưng tại sao không tiến hành cất bốc hài cốt liệt sĩ ngay lúc đó? Hàng trăm chiến sĩ mấy năm trời bị vùi trong đất, nếu lúc ấy mà cất bốc đưa về nghĩa trang có thể xương cốt vẫn còn nguyên vẹn. Vậy mà người ta nỡ lòng nào ỉm đi, xóa sạch dấu tích, để các anh nằm mãi trong đất lạnh tới nửa thế kỷ, không nén nhang, không hương khói, không vòng hoa tưởng niệm; để nhiều gia đình hàng mấy chục năm trời ngóng chờ tin tức con em mình. Nhà nước cứ tổ chức đi tìm hài cốt liệt sĩ ở khắp nơi, cả bên Lào và Campuchia nhưng ngay giữa thành phố Sài Gòn, nơi mà người ta biết từng có rất nhiều chiến sĩ hy sinh chưa tìm được thi thể thì người ta lại lờ đi không tìm.

Tôi cho rằng kẻ nào đã ra lệnh phá 2 tấm bia mộ tập thể nói trên, cố tình san lấp mộ phần chiến sĩ là những kẻ đại gian đại ác, trời không dung, đất không tha. Thiết nghĩ dù hơn 40 năm đã trôi qua nhưng tìm ra kẻ đại gian ác đó không phải là khó, để chuộc lỗi với các liệt sĩ, chỉ có điều chế độ này chẳng dại gì vạch áo cho người xem lưng.

Nguyễn Thông

Hồ Chí Minh & đảng Việt gian CSVN….tai họa của dân tộc!

 Hồ Chí Minh & đảng Việt gian CSVN

Tai hoạ lớn nhất cho nhân dân VN !  Kẻ thù lớn nhất của dân tộc VN !

* LS. Nguyễn Văn Chức

Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.
Tôi viết tặng những thế hệ mai sau. Và tri ân thầy mẹ tôi : Phêrô Nguyễn Thiều Quang, Maria Nguyễn Thị Sinh.Sách vở về Hồ Chí Minh có nhiều lắm. Do Việt Cộng viết. Dốt nát, bịp bợm, và làm trò hề.
Một số học giả ngoại quốc cũng viết, nhưng hầu hết viết sai, viết gian, và đầy mặc cảm.

Dưới đây là tiểu sử Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, do tôi viết. Ngắn, và dựa trên tài liệu, sự việc.

 

  • Chương Một
Nguyễn Sinh Cung ; Thời Thơ Ấu & Niên Thiếu ; Đói Khổ, Thất Học
Hồ Chí Minh sinh năm nào ? Sử sách Việt Cộng viết : 1890.
Hồ Chí Minh sinh ngày nào ? Sử sách Việt Cộng viết : ngày 19/05.

Chúng ta hãy nghe :

“Tháng 05/1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội Nghị Trung Ương đảng CS Đông Dương lần thứ Tám. Theo quyết định của hội nghị này, thì ngày 19/05/1941 Mặt Trận Việt Minh chính thức được thành lập. Như vậy là ngày sinh và tháng sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trùng với ngày thành lập của Mặt Trận Việt Minh”. (Hồ Chí Minh, Giải Phóng Dân Tộc Và Đổi Mới. Nxb Hà Nội,1977, trang 40).

Đúng là logic Việt Cộng. Thứ logic đồng hóa bệnh ỉa chảy với cái lỗ đít.

Rất may, lịch sử còn đó.

Ngày 06/03/1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ, chấp nhận cho Pháp mang quân ra đóng ở Bắc Việt.

Chủ Nhật 19/05/1946 Đô Đốc D’Argenlieu của Pháp đến Hà Nội. D’Argenlieu đã được đón rước cực kỳ long trọng. Hà Nội hôm đó tràn ngập cờ đỏ sao vàng.

Tại sao Hà Nội lại treo cờ đỏ sao vàng để đón rước giặc Pháp ? Xin thưa : Hà Nội treo cờ đỏ sao vàng không phải để đón rước giặc Pháp, mà để mừng sinh nhật của Bác. Bởi vì : trước đó hai ngày, ngày 17/05, đài phát thanh Hà Nội đã chính thức công bố ngày 19/05 là sinh nhật của Bác, đồng thời kêu gọi dân chúng hãy treo cờ trong ba ngày (từ ngày 17 đến ngày 20), để mừng sinh nhật của Bác.

Bác đây là Hồ Chí Minh.

Nói tóm lại, ngày 19/05 là ngày Hồ Chí Minh rước giặc Pháp vào Hà Nội. Và để lừa bịp dân chúng cũng như giữ thể diện cho đảng và nhà nước, Việt Cộng đã phải tuyên bố ngày 19/05 là sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Như vậy : 19/05 là ngày sinh của Hồ chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Chứ không phải ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng thị Loan.

Xuân Diệu đã viết bài thơ ghi nhớ ngày sinh của Hồ chí Minh :

Hôm nay Mười Chín tháng Năm
Lòng con vui sướng reo trăm tiếng cười
Lỗi lầm đã nói được vơi
Hồn như mở rộng dưới trời Chí Minh
Ngày sinh nhật Bác quang vinh
Là ngày sinh nhật hồn xanh muôn người

*
Hồ Chí Minh sinh tại đâu ?

Về điểm này, sách vở Việt Cộng đều viết : tại thôn Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Tố Hữu đã viết :

“Nhất vui là thôn Kim Liên
Cảnh tiên có cảnh, nguời tiên có Người”.

Người viết chữ hoa, là Hồ Chí Minh.
*
Ông bà Sắc có mấy người con ?

Thưa : có bốn nguời con. Người con cả là Nguyễn Thị Thanh, người con thứ là Nguyễn Sinh Khiêm. Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh sau này) là người con thứ ba.

Còn người con thứ tư ?

Sách vở Việt Cộng viết : người con thứ tư này tên làø Nguyễn Sinh Xin.

Tại sao ông bà Sắc lại đặt tên con là Xin ? Chúng ta hãy nghe :

“… bà Hoàng Thi Loan sinh thêm người con thứ tư. Sinh trong cảnh túng quẫn, phải nhờ bà con lao động láng diềng giúp đỡ, bà Loan lấy cảnh ngộ ấy đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Xin” (Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Nghệ An 1995, tr. 18).

Quyển “Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ”, (Nxb.Trẻ, 161B Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn, tr. 21) và cả trăm sách vở Việt Cộng đều viết về đứa bé tên Xin này. Đặc biệt, quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” (Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 1997), của Võ Nguyên Giáp cũng viết về đứa bé tên Xin này. Viết rằng : “Đó là nỗi khổ đau của Người phải bế em đi xin sữa” (sđd, tr. 230).

Người đây là Hồ Chí Minh.

Đứa bé tên Xin này – đứa bé mà Nguyễn Sinh Cung đã phải lê lết bế đi hàng xóm xin sữa thừa xin gạo thừa, xin cám thừa, xin cơm thừa, xin cháo thừa, xin khoai thừa, xin sắn thừa, xin ngô thừa để bú mớm – đã chết yểu.

Sự kiện nói trên xác nhận một thực tế : Hồ Chí Minh đã sinh ra trong một gia đình hạ cấp đói rách. Thực tế ấy suốt đời ám ảnh y.
Sau khi vợ chết, ông Sắc đổi tên hai người con trai thành những tên đầy hứa hẹn. Nguyễn Sinh Khiêm đổi là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Sinh Cung đổi là Nguyễn Tất Thành.
*
Hồ Chí Minh có bao nhiêu bí danh và bút hiệu ? Sách vở VC và sách vở ngoại quốc kê khai khoảng hơn 30 bí danh và bút hiệu. Chưa kể bút hiệu Trần Dân Tiên, tác giả quyển “Những Mẩu Chuyện Về Hồ Chí Minh”, trong đó chính Hồ Chí Minh ca tụng Hồ Chí Minh.

Trần Dân Tiên nghe hao hao như Tôn Dật Tiên. Chế Lan Viên đã viết :

“Bác sinh ra làm người hiền
Dân Tiên cùng với Dật Tiên một vần”.

*
Tôi sẽ thiếu sót, nếu không nói thêm về ông Nguyễn Sinh Sắc, bố của Nguyễn sinh Cung, tức bố của Hồ Chí Minh.

Mãi cho đến năm 1990, tất cả tài liệu VC đều ca một luận điệu : thân sinh của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, là một vị quan thanh liêm của triều đình Huế. Vì chống thực dân Pháp, cụ đã treo ấn từ quan về sống với dân nghèo.

Sự thật không phải thế. Sự thật là : Nguyễn Sinh Sắc – một thư lại của Bộ Lễ – đã bị án “truyền nọc đánh trăm trượng trước công đường” vì tội ăn hối lộ. Vì biết hèn hạ lậy lục, Nguyễn Sinh Sắc đã không bị nọc đánh trăm roi, mà chỉ bị cách chức đuổi về làng.
Việt Cộng đã tìm mọi cách phi tang vụ này. Nhưng tài liệu còn đó :

“Ngày 19/05/1910, Hội Đồng Nhiếp Chánh làm xong bản án số 140. Ngày 27/08/1910, bản án mang số 140 được duyệt y, Nguyễn Sinh Sắc bị kết án nọc ra đánh 100 trượng, rồi sau đổi thành giáng cấp 4 chức và bị triệt hồi” (Trần Minh Siêu, Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Trẻ, 161 B Lý Chánh Thắng, quận 3, Sài Gòn, 1996, trang 41).

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Vụ Nguyễn Sinh Sắc được loan truyền khắp nơi, cả Nghệ An không ai là không biết.
Riêng Nguyễn Sinh Cung, tức Hồ Chí Minh, suốt đời không quên vụ của bố, cũng như không quên cảnh nghèo đói của gia đình, với đứa em tên Xin.

  • Chương Hai
Đói, Phải Đi Kiếm Ăn ; Cực Khổ , Và Không Tương Lai, Nạp Đơn Xin Học Trường Thuộc Địa

Ngày 05/06/1911, Nguyễn Tất Thành (lúc đó 20 tuổi ) xin được một chân phụ bếp trên chiếc tầu buôn của hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville.

Theo quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Bác Hồ”, do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng Hồ Chí Minh, thì Bác, lúc đó tên là Ba, “làm đủ mọi việc, từ rửa chén đĩa, đến nhặt rau mổ cá, chặt thịt, đến bày bàn, bưng bê các món ăn, rót rượu …”

Và, tất cả kho tàng sử liệu Việt Cộng đều viết : “Bác đi tìm đường cứu nước”.

Sự thực không phải thế. Bác không đi tìm đường cứu nưóc, mà tìm đường cứu đói cho đời bác.

Lúc đó gia cảnh Nguyễn Tất Thành vô cùng quẫn bách. Bố thì bị đuổi việc. Nguyễn Tất Thành thì mồ côi mẹ, đói khổ và thất học. Hai mươi tuổi mà không có được cái bằng tiểu học “primaire”, cái bằng mà thời ấy nhiều học sinh VN đã có, lúc chưa đầy 12 tuổi.

Cho nên, vụ Nguyễn Tất Thành đi làm bồi trên tầu Amiral La Touche Tréville của Pháp phải được hiểu là đi tìm kế sinh nhai, đồng thời thực hiện giấc mơ mà giai cấp nghèo mạt thời đó hằng ấp ủ. Được đi Pháp, được sống ở Pháp một thời gian, rồi về nước, biết nói tiếng Tây, dù là tiếng Tây bồi. Cái gì, chứ kiếm một chân thông ngôn hay thông phán thì không khó.

Đó chính là chí lớn và quyết tâm của Nguyễn Tất Thành khi bỏ nước ra đi. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y. Cho nên, y phải vươn lên cho bằng được. Vươn lên bằng cách đi Pháp. Đi Pháp với bất cứ giá nào. Điều này, sách vở Việt Cộng cũng đã viết :

“Khi đã có chí, đã quyết tâm, mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mà nhất định phải vượt được. Phải sang tới Pháp. Quyết không vì một sơ sểnh nào mà bị đuổi lên một bến bờ không định trước. Mục tiêu là nước Pháp kia” (Thy Ngọc, Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ, Nxb Trẻ, Hà Nội 1997, trang 48).

Đó chính là giấc mơ của Nguyễn Tất Thành, lúc đóù 20 tuổi, thất học và con nhà nghèo. Giấc mơ được đi Pháp, được học trường Pháp, rồi về nước làm quan cho Pháp. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụï của bố ám ảnh y.

Nhưng, Việt Cộng thì viết khác.

Mãi cho đến cuối năm 1982, tất cả sách vở Việt Cộng đều ca một luận điệu : vì căm thù thực dân Pháp, và vì quyết tâm đi theo tiếng gọi của non sông, Bác đã bỏ con đường học vấn, bôn ba tìm đuờng cứu nước.

Trong cuốn Hồ Chủ Tịch, Trường Chinh còn khẳng định : “vì Người phát giác trường học của Pháp chỉ nhằm đào tạo tay sai cho đế quốc, cho nên Người đã bỏ ra đi tìm đường cứu nước”.

Võ Nguyên Giáp cũng viết thế. Phạm Văn Đồng viết thế. Tố Hữu viết thế. Tất cả văn nô Việt Cộng từ trên xuống dưới đều viết thế.

Chúng nó đã bị Người lừa.|Người đây, là Hồ Chí Minh.

Sự thật là : sau một thời gian làm bồi tầu, Nguyễn Tất Thành lâm vào cảnh cực kỳ quẫn bách, và gần như tuyệt vọng. Chẳng lẽ suốt đời làm bồi tầu, bị bạc đãi, bị chửi bới và không tương lai. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y bèn nạp đơn xin vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) của Pháp.

Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Giấu cả bọn Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn …
Mãi cho đến năm 1983.

Năm 1983, một học giả Người Quốc Gia VN (tiến sĩ Nguyển Thế Anh) tìm thấy tại Thư Khố Đông Dương ở Aix En Provence bên Pháp một tài liệu vô cùng quý giá : lá đơn viết tay của Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thuộc điạ của Pháp. Lá đơn đề ngày 15/09/1911.

Marseille le 15 Septembre 1911

Monsieur le Président de la République
J’ai l’honneur de solliciter de votre haute bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l’Ecole Coloniale comme interne.
Je suis actuellement employé à la Compagnie des Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Trévile” pour ma substance.Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’instruire. Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’Instruction.
Je suis originaire de la province de Nghê An, en Annam.
En attendant une réponse que j’espère favorable, agréez, Monsieur Le Président, l’assurance de ma reconnaissance anticipée.
Nguyễn Tất Thành, né à Vinh en 1892, fils de Mr. Nguyễn Sinh Huy (sous docteur ès- lettres). Etudiant Francais, quốc ngư, caractère chinois.

Lá đơn nổ như một trái bom. Đảng CSVN nhìn nhau, ngơ ngác. Họ đã bị Bác lừa.

Bác đây là Hồ Chí Minh. Dưới đây tôi xin tạm dịch ra tiếng Việt :

Marseille ngày 15 tháng 9, 1911
Kính gửi Tổng Thống Cộng Hoà Pháp
Tôi hân hạnh thỉnh cầu Ngài vui lòng cho tôi đặc ân được vào theo học Trường Thuộc Điạ với tư cách nội trú.
Hiện nay, tôi làm công cho hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville để sinh sống.
Tôi hoàn toàn túng quẫn và ham muốn được học hành. Tôi ước ao trở nên hữu ích cho nước Pháp trong tương quan đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể giúp đồng bào tôi hưởng những lợi ích của học vấn.
Tôi sinh đẻ tại Nghệ An, Trung Kỳ.
Trong khi chờ đợi một sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi cho tôi, Tổng Thống hãy nhận nơi đây lòng biết ơn trước của tôi.
Nguyễn Tất Thành,
sinh tại Vinh năm 1892,
con trai ông Nguyễn Sinh Huy
(phó bảng văn chương),
học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho.

Có nhiều điểm đáng nói.

Điểm 1 : Tiếng Pháp trong lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành quá kém.

Điểm này cần được nêu ra, để chứng minh một sự thực vô cùng quan trọng : những tài liệu viết bằng tiếng Pháp ký tên Le Patriot hay Nguyen Le Patriot tại Paris sau này, như “Mêmorandum Des Reven-dications du Peuple Annamite”, “Le Paria”, “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, v. v. đã không do Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết, mà do nguời khác viết.

Điểm 2 : Trong đơn, Nguyễn Tất Thành xin được làm học sinh nội trú, nghĩa là được ăn ở ngay trong trường.

Nguời ta thấy rõ : Nguyễn Tất Thành nạp dơn xin vào “học nội trú”, là để đỡ đói rét, ngoài giấc mơ sau này được làm quan cho Tây.

Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Điểm 3 : Trong đơn xin học, Nguyễn Tất Thành khai y sinh năm 1892. Y khai gian. Sự thực, y sinh năm 1890.

Điểm 4 : Trong đơn xin học, y khai đã học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho. Chỉ có vậy.
Nói tóm lại : Nguyễn Tất Thành nạp đơn xin vào học nội trú Trường Thuộc Đia Pháp, là để có chỗ ăn chỗ ở, đỡ đói rét, và để sau này được về làm quan cho Tây. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y. Nhưng đơn của y đã bị bác.

Lời Bàn Mao Tôn Cương: Rất Sáng Suốt Của Cụ Víp KK, Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Lời bàn 1 : Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, vì đói rách và không tương lai, đã nạp đơn xin học nội trú trường thuộc điạ của Pháp và đơn đã bị bác. Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Bọn Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng không biết, cho nên cứ mồm loa mép giải rằng : vì ghét cái học của Pháp, Bác đã bỏ học, đi tìm đường cứu nước.

Lời bàn 2 : Tất cả sách vở của đảng đều viết rằng hồi nhỏ Bác đã từng học trường Quốc Học Huế và từng dậy học tại trường Dục Thanh, Phan Rang. Đây là những thành tích văn hóa tốt. Nếu có thật, Nguyễn Tất Thành đã không dại gì mà không kê khai trong lá đơn xin học. Nhưng, trong đơn xin học, y chỉ dám khai là đã “học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho”. Y không dám khai gian, vì sợ người Pháp cóù hồ sơ của trường Quốc Học Huế và trường Dục Thanh.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười của Đảng CSVN, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất hoan nghênh những nhận định rất sáng suốt của cụ VIPKK.

Cựu Tổng bí thư Đỗ Mười còn nói : tất cả đảng CSVN bọn tôi, đứa nhớn đứa nhỏ, nhất là những đứa đã vào được Chính Trị Bộ, đều gian manh bịp bợm. Nhưng, so với Bác Hồ, bọn tôi còn kém xa. |

Về vụ án cụ Nguyễn Sinh Sắc, cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : vụ đó có thiệt. Sở dĩ Trần Minh Siêu có được tài liệu và dám in trong cuốn “Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ” là do sự bảo trợ ngầm của Võ Văn Kiệt, lúc đó đứng thứ 3 trong chính trị bộ.

Vẫn theo Cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì tài liệu ấy đã do bọn phản đảng miền Nam (Bẩy Trấn, Trần Văn Giầu và Nguyễn Hộ) ngầm phổ biến trong cuộc hội thảo của “Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ Sài Gòn”. Cuộc hội thảo này đã diễn ra ngày 07/01/1990, tại Nhà Văn Hoá Lao Động Sài Gòn, tức trụ sở quốc hội cũ thời Mỹ Nguỵ. Cuộc hội thảo ấy mang tên :

“Công Cuộc Cải Tổ, Cải Cách, Đổi Mới Ở Các Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em Và Ở Việt Nam”. Diễn văn khai mạc là của Trần Văn Giầu. Diễn văn bế mạc là của Nguyễn Hộ.

Vẫn theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì cuốn sách của Trần Minh Siêu đã in xong và phân tán trong một đêm tại Hà-nội, dưới sự bảo trợ ngầm của phe cánh Võ Văn Kiệt. Sau đó, nhà nước đã cho cán bộ đi tịch thu, nhưng không kịp. Trong Nam cũng như ngoài Bắc, bọn phản động chuyền tay nhau in lén ra hàng trăm ngàn cuốn và bán chợ đen rất chạy.

  • Chương Ba
Lại đi kiếm ăn ; Đánh Cắp Danh Xưng Nguyễn Ái Quốc.

Sau khi đơn xin vào học Trường Thuộc Điạ bị bác, Nguyễn Tất Thành vô cùng chán nản.Tài liệu của đảng viết : “Bác lại đi tìm đường cứu nước”.Bác lại đi làm bồi tầu.

Vì phải làm việc quá nặng nhọc, Nguyễn Tất Thành mắc bệnh ho lao, sức khỏe trở nên suy nhược, và bị đuổi khỏi hãng.
Y về sống tại Anh, số 10 Orchard Place, Southampton, England. Tại đây, y làm đủ nghề : quét tuyết, bồi khách sạn, bồi ổ điếm, rửa phim ảnh ; đời sống cô đơn và cơ cực. Vì vậy y quyết định rời Luân Đôn để về sống ở Paris.

Y viết thư cho cụ Phan Chu Trinh lúc đó ở Paris. Trong thư, y gọi cụ Phan là Hy Bá Nghi Mã Đại Nhơn, và xưng cháu. “Cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác đi hay không và cháu rất cần một lời …” . Bức thư này do y viết tay, hiện lưu trữ tại thư khố Luân Đôn.

Năm Đinh Tỵ (1917), y rời Luân Đôn, về định cư tại Paris, làm nghề thợ ảnh, đời sống vẫn cơ cực và không tương lai.
Lúc đó, Paris có đông người Việt Nam lưu vong, và là trung tâm của nhiều tổ chức chính trị Pháp thiên tả, đặc biệt Đảng Xã Hội Pháp SFIO (Section Francaise de l’Internationale Ouvrière), một chi nhánh của Đệ Nhị Quốc Tế.

Lúc đó, phong trào Việt Nam chống Pháp dành độc lập lan rộng. Hai nhóm chính được sử sách ghi nhận. Một nhóm, do cụ Phan Chu Trinh lãnh đạo, nhắm vào văn minh Âu Châu. Một nhóm, do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, tức Việt Nam Quang Phục Hội, nhắm vào Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên. Nhóm thứ nhất hoạt động tại Pháp. Nhóm thứ hai hoạt động tại Trung Hoa.
Sách vở Việt Cộng đã triệt để khai thác sự kiện này, khi viết “Bác đi tìm đường cứu nước”, với thâm ý đặt bác Hồ của họ ngang hàng với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, của người quốc gia Việt Nam.
*
Lúc đó, tại Paris có nhóm nhân sĩ Việt Nam của cụ Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, và kỹ sư Nguyễn Thế Truyền. Nhóm nhân sĩ này rất đươc kính nể, vì là tác giả nhiều bài tham luận chính trị có tầm vóc, như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise” (Bản Án Chống Thực Dân Pháp), Le Paria (Việt Cộng dịch là Người Cùng Khổ) và “Mémorandum Des Revendications du Peuple Annamite” (Những Yêu Sách Của Nhân Dân Annam) gửi Hội Nghị Versailles năm 1919.

Những tài liệu này được viết bằng một tiếng Pháp trình độ hàn lâm, và được ký dưới một tên chung : Le Patriote, hoặc Nguyen Le Patriot.

Kẻ được thuê mướn đi phân phát những tài liệu đó tại Paris, là Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành đã không bỏ lỡ cơ hội. Y tự nhận là Nguyen Le Patriot. Y trở thành Nguyễn Ái Quốc. Và y đã vào được đảng Xã Hội Pháp (SFIO). Một vinh dự lớn cho y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa :

Ngày xưa tôi tập sự luật sư tại văn phòng Luật sư Bùi Tường Chiểu, số 148 Pasteur, Sàigòn. Ls Chiểu đã dậy dỗ tôi nhiều về văn chương Pháp, và về khoa hùng biện.

Luật sư Chiểu từng quen thân Ls Nguyễn Mạnh Tường. Theo Ls Chiểu kể lại, thì Ls Nguyễn Mạnh Tường quả quyết : Nguyễn Tất Thành chỉ nói đuợc thứ tiếng Pháp của anh em lính thợ Annam không chuyên nghiệp ONS (Ouvrier Non Spécialisé) được tuyển mộ sang Pháp thời đó. Nguyễn Tất Thành không đủ trình độ để hiểu, chứ chưa nói viết, những bài tham luận có tầm vóc như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, và nhất là bản “Memorandum des Révendications du Peuple Annamite” gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles năm 1919.

Mới đây, bạn tôi, Chủ nhiệm Lê Hồng Long của tờ Thế Giới Ngày Nay, gửi cho tôi tuyển tập “Une Histoire de Conspirateurs Annamites à Paris” của Ls Phan Văn Trường. Tôi đã đọc.

Trong bài tựa của tuyển tập, trang 6, học giả Ngo Van viết : “En 1919, il rédige le ‘Mémorandum des Revendications du Peuple Annamite’ adressé à la Conférence de Paix à Versailles, dont Nguyen Ai Quoc – le futur Ho Chi Minh – revendiquera la paternité. (Tạm hiểu : “Năm 1919, [Phan văn Trường viết] ‘bản văn ngoại giao về những yêu sách của nhân dân Annam’ gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles. Bản văn đó, Nguyễn Ai Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, đã mạo nhận là tác giả).

Tôi muốn kết luận gì đây ? Tôi muốn kết luận : tất cả những bản văn chính trị viết bằng tiếng Pháp tại Paris từ 1910 đến 1940 và ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã do người khác viết, Nguyễn Ái Quôc chỉ là kẻ mạo danh.

Năm 1960, cụ Nguyễn Thế Truyền ra tranh cử tổng thống tại miền Nam Việt Nam. Tôi có đi theo anh em báo chí đến nghe Cụ nói chuyện.

Khi đuợc hỏi về những tài liệu viết bằng tiếng Pháp tại Paris ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhất là bản Mémorandum gửi Hội Nghị Hoà Bình Versailles 1919, cụ Truyền nói : Nguyễn Tất Thành chưa học hết tiểu học Pháp. Lúc đó ở Paris, nhóm chúng tôi mướn anh ta đi phân phát những tài liệu đấu tranh bằng tiếng Pháp do chúng tôi viết. Anh ta đã nhận xằng mình là Nguyễn Le Patriot và nhận xằng mình là tác giả những tài liệu đó.

Đó là Nguyễn Ái Quốc, tức Bác Hồ của đảng CSVN.

  • Chương Bốn
Đói Ăn Và Thèm Danh Vọng ; Trở Thành Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế.
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc trở thành tay sai của Đệ Tam Quốc Tế .

Đệ Tam Quốc Tế là gì ?

Là Cộng Sản Quốc Tế (Komintern) do Lê Nin sáng lập năm 1919, nhằm tách ra khỏi Đệ Nhị Quốc Tế.

Đệ Tam Quốc Tế chủ trương liên minh giai cấp vô sản trên thế giới với các dân tộc bị đàn áp trên thế giới để tiến hành một cuộc cách mạng toàn thế giới do Liên Sô lãnh đạo. Tiến hành bằng đấu tranh giai cấp và bạo lực.

Đệ Tam Quốc Tế – do Liên Sô sáng lập, và lãnh đạo – bao trùm tất cả các đảng CS điạ phương trên thế giới. Những đảng CS điạ phương này chỉ là lũ tôi tớ nằm trong kỷ luật sắt của Liên Sô, và có bổn phận phải đóng góp cho sự lớn mạnh của Liên Sô. Đóng góp bằng tiền bạc cướp được của nhân dân, và đóng góp bằng xương máu, nếu tình thế đòi hỏi.

Đệ Tam Quốc Tế là bản thân Liên Sô, một đế quốc thực dân, bóc lột, tàn bạo và đểu cáng như chưa hề có trong lịch sử nhân loại.
*
Nguyễn Ái Quốc đã đi theo Đệ Tam Quốc Tế. Và y đã trở thành một cán bộ đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế. Y không còn con đường nào khác để giải quyết cái hiện tại “đói rách” của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y được Mạc Tư Khoa trợ cấp hàng tháng một số tiền khá lớn, và được Mạc Tư Khoa xử dụng như một cán bộ nòng cốt trong chiến lược nhuộm đỏ Đông Dương.

Lúc đó là tháng 07/1920. Theo tài liệu Việt Cộng, lúc đó y 30 tuổi.

Tháng 12/1920 Đảng Xã Hội Pháp (SFIO) họp đại hội tại Tours (Pháp quốc), Nguyễn Ái Quốc đứng lên đả kích SFIO. Sau đó, y bỏ SFIO, công khai gia nhâp đảng Cộng Sản Pháp, và trở thành cán bộ chính thức của Liên Sô. Nguyễn Ái Quốc nổi danh từ đó.
*
Tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : con đường giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản thế giới, và vì lòng nhân ái muốn cứu dân cứu nước, Bác đã đi theo con đường cách mạng vô sản.

Sách vở Việt Cộng còn nhắc lại bài ca rất mùi của Nguyễn Ái Quốc, cái đêm y đọc “Bản Luận Cương Lê Nin”. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Ái Quốc ca sáu câu vọng cổ :

“Luận cương của Lê Nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, tin tưởng biết bao ! Tôi vui mừng đến phát khóc. Ngồi một mình trong buồng, tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo : hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ : đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” (Hồ Chí Minh Toàn Tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 127).

Người ta không khỏi lắc đầu.

Thứ nhất : Hồ Chí Minh vô cùng lưu manh. Lưu manh ngay cả đối với những tay chân thân tín nhất của y. Vụ y nạp đơn xin vào học nội trú trường Thuộc Điạ của Pháp, là bằng cớ. Vụ này, cho đến lúc chết, y vẫn giấu. Giấu Đảng, giấu cả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh. Vì vậy tất cả đảng CS Việt Nam đã mắc lỡm khi ca tụng Bác “vì căm thù giặc Pháp, nên đã bỏ học rất sớm”.

Rồi quyển “Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng chính Hồ Chí Minh, là bằng cớ thứ hai ,về cái lưu manh của Hồ Chí Minh.

Tôi vừa đưa ra hai sự việc, để chứng minh một sự thực : Hồ Chí Minh là một tên lưu manh, và có tài đóng kịch.
Bên cạnh cái lưu manh và tài đóng kịch, còn một thực tế phũ phàng : cái nghèo khổ đói rách của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Cho nên : sự kiện y trở thành tay sai Đệ Tam Quốc Tế là điều dễ hiểu.

Đó là con đường duy nhất giúp y thoát khỏi cảnh nghèo đói lúc đó tại Paris. Và đó cũng là con đường có thể đưa y tới danh vọng.
Nói tóm lại, Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì không còn đường tiến thân nào khác. Và nhất là vì nhu cầu cấp bách của y lúc đó tại Paris, nhu cầu có miếng ăn hàng ngày và đỡ đói rách. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì đói, vì tiền. Y không mất mát gì. Y không xuất thân từ một dòng họ danh vọng. Y xuất thân từ một gia đình hạ cấp đói rách, như hầu hết những cán bộ đầu sỏ Việt Cộng sau này. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Bài ca Luận Cương Lê Nin của Hồ Chí Minh chỉ là sáu câu vọng cổ rẻ tiền nhằm biện minh cho sự bán thân và vong thân của y. Bán thân vì đói, vong thân vì tiền.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn và từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, hoàn toàn đồng ý với lời bàn rất sáng suốt này của cụ Vip KK.

  • Chương Năm
Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế ; Thời Kỳ Huấn Luyện Tại Nga Sô.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đuợc CS Pháp thuê mướn đi rải truyền đơn. Bị mật thám Pháp truy nã, y được đảng CS Pháp bố trí cho sang Đức, rồi từ Đức đáp xe lửa đi Mạc Tư Khoa. Giấy thông hành của y (số 1829, đề ngày 16/06/1925 đóng dấu toà đại sứ Nga tại Bá Linh) ghi : Chen Wang, sinh ngày 15/01/1895 tại Đông Dương, làm nghề thợ ảnh. (Nguyên văn : Chen Wang né le 15 Janvier 1895 à Indochine, profession : photographe) .

Nguyễn Ái Quốc được ở lại Mạc Tư Khoa, học tập lý thuyết Marx, học tập chủ nghĩa Marx – Lenin, và học tập sách lược đấu tranh của Lê Nin.

Y được tham dự đại hội đảng Cộng Sản Quốc Tế tại Mạc Tư Khoa, trên tư thế một đảng viên CSQT đại diện nhân dân Viêt Nam. Trước đại hội, y đã lớn tiếng tố cáo tội ác của thực dân Pháp.

Ngoài ra, y cũng được dự một vài hội nghị khác tại Mạc Tư Khoa. Cũng vẫn bài bản cũ : tố cáo thực dân Pháp và bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Liên Sô trong sự nghiệp giải phóng nhân loại khỏi áp bức.

Và y đã trở thành một cán bộ thuần thành của Mạc Tư Khoa.

Nhưng y không thể trở lại Pháp. Vì vậy, Mạc Tư Khoa đã xử dụng y trong tổ chức mang tên Cục Đông Phương CSQT.

  • Chương Sáu
Tay sai đê tam quốc tế ; Thời Kỳ Hoạt Động tại Trung Hoa
Cục Đông Phưong Cộng Sản Quốc Tế (CĐP/ CSQT) là gì ?

Là một phân bộ quan yếu của Mạc Tư Khoa tại Đông Phương lúc đó, với nhiệm vụ lũng đọan Trung Hoa Quốc Gia (Trung Hoa Quốc Gia của Tôn Dật Tiên, và sau này của Tưởng Giới Thạch), đồng thời giúp đỡ đảng CS Trung Quốc của Mao Trạch Đông còn đang trong thời kỳ phôi thai.

Riêng đối với Nguyễn Ái Quốc, CĐP / CSQT còn là chặng đường lý tưởng giúp y du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam.Lúc đó, y lấy tên là Lý Thụy.

Năm Quý Hợi (1923) Lý Thụy được Mạc Tư Khoa phái sang Quảng Châu, phục vụ trong phòng thông tin của Borodin (sách Tầu ghi là Pháo La Đình), môt cán bộ của Mạc Tư Khoa.

Võ Nguyên Giáp đã viết rất rõ “Lý Thuỵ được phái sang Quảng Châu để chỉ đạo phong trào cách mạng và phong trào nông dân ở Trung Quốc và một số nước châu Á”.

Ngoài ra, tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : Quảng Châu, Miền Nam Trung Quốc, là nơi nhiều nhà cách mạng VN yêu nước đang hoạt động, cho nên Người rất quan tâm.

Người đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh. Theo sử gia Trung Hoa Tưởng Vĩnh Kính trong quyển Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, thì lúc đó “Quảng Châu không những là một trung tâm cách mạng của Trung Quốc, mà còn là thánh địa của Á Châu chống đế quốc chủ nghĩa”.

Và Mạc Tư Khoa đã gửi Lý Thụy đến thánh địa đó.
*
Tại Quảng Châu, Lý Thụy có dịp tiếp xúc một số thanh niên VN của Phong Trào Đông Du, thuộc Tâm Tâm Xã, một tổ chức chống Pháp dành độc lập.

Tâm Tâm Xã do cụ Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Châu năm Giáp Dần (1914). Tổ chức này đuợc giới cách mạng Trung Hoa Quốc Gia cũng như giới cách mạng Việt Nam Quốc Gia ngưỡng mộ, nhất là sau vụ liệt sĩ Phạm Hồng Thái.

Chúng ta nên ôn lại lịch sử.

Năm Quý Hợi (tháng 06/1923) Toàn Quyền Đông Dương Merlin ghé qua Sa Diện (Quảng Châu) trên đường sang Nhật Bổn. Phạm Hồng Thái ám sát Merlin, nhưng ám sát hụt. Bị cảnh sát truy nã, họ Phạm gieo mình xuống đầm Bạch Nga. Thi hài họ Phạm đuợc anh em cách mạng Việt Nam tại Trung Hoa vớt lên chôn ở chân đồi Bạch Vân. Năm Ất Sửu (1925), để tôn vinh nhà cách mạng VN, tỉnh truởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã truyền đưa hài cốt họ Phạm vào an táng tại Hoàng Hoa Cương, thánh địa của những vị anh hùng cách mạng Trung Hoa Dân Quốc.

Phạm Hồng Thái được coi là linh hồn của Tâm Tâm Xã.

Lý Thuỵ, tức Hồ Chí Minh, đã xâm nhập đuợc Tâm Tâm Xã, nhân danh cách mạng Việt Nam, và nhân danh tinh thần Phạm Hồng Thái bất diệt. Y đã lừa bịp được tổ chức này và được tổ chức này nhiệt tình ủng hộ. Một vài thành viên ưu tú của Tâm Tâm Xã đã được y móc nối gửi sang học tập tại Mạc Tư Khoa, và trở thành cán bộ CS sau này.

Năm Ất Sửu (1925), trong mưu đồ nắm trọn quyền lãnh đạo Tâm Tâm Xã, và để kiếm một món tiền thưởng rất lớn của thực dân Pháp, Lý Thụy đã cùng với Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viễn) lập mưu bắt cụ Phan Bội Châu trao cho Pháp.

Cụ Phan bị bắt tại Thượng Hải, bị đưa về Hương Cảng, rồi từ đó bị giải về Hải Phòng. Ngày 8 tháng 10 năm Ất Sữu (23/11/1925) , cụ bị đưa ra trước Đại Hội Đồng Đề Hình của Pháp (tại Hải Phòng) và bị lên án tử hình. Sau đó, để trấn an dư luận, toàn quyền Varenne của Pháp đã ra lệnh ân xá, và an trí cụ tại Huế. Cũng năm Ất Sửu (1925), tại Quảng Châu, tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội’ ra đời, gồm phần lớn thành viên của Tâm Tâm Xã. Tổ chức nói trên cũng đã bị Lý Thụy xâm nhập, và trở thành đội ngũ tiền phong của đảng CSVN sau này.

Theo Hoàng Văn Hoan tác giả “Giọt Nước Trong Biển Cả” xuất bản thâp niên 1980, thì suốt thời kỳ hoạt động tại Trung Hoa, Bác đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cụ Hồ Học Lãm, một nhà cách mạng VN có uy tín lớn tại Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.
Bác đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh.

Cũng theo Hoàng Văn Hoan thì cụ Hồ Học Lãm lúc đó vẫn coi Bác là một nhà cách mạng Việt Nam trong truyền thống Phạm Hồng Thái- Nguyễn Thái Học.

(Chú thích của tôi, Nguyễn Văn Chức : Hoàng văn Hoan là Đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đầu tiên tại Bắc Kinh năm 1950 ; Uỷ Viên Trung Ương Đảng năm 1951 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ 1956 về Cải Cách Ruộng Đất, Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Khoá 1 năm 1958, khoá 2 năm 1960, khoá 3 năm 1964, khoá 4 năm 1971 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ đảng CSVN năm 1960, Bí Thư Thành Uỷ Hà-nội năm 1961).
*
Theo tất cả sách vở và tài liệu của Việt Cộng, đặc biệt quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp, thì năm Canh Ngọ (tháng 2 năm 1930), Trần Phú sáng lập Việt Nam Cộng Sản Đảng . Vẫn theo Võ Nguyên Giáp, thì tháng 10 năm đó, thi hành lệnh của Mạc Tư Khoa, Bác đã đổi tên Việt Nam Cộng Sản Đảng thành Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Bác đây là Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh.

Sáu tháng sau, ngày 19/04/1931 Trần Phú, – từng được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa, có tầm vóc hơn Hồ Chí Minh, và là lãnh tụ đầu tiên của phong trào CS tại Đông Dương – đã bị Pháp bắt tại Sàigòn. Dư luận lúc đó quả quyết : Nguyễn Ái Quốc đã chủ mưu vụ này, nhằm loại trừ một đối thủ có tầm vóc.

Lơi Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Tât Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh, là một tên đại lưu manh. Nhờ vậy, y đã thành công rực rỡ. Từ một tên bồi tầu đói rách, y đã trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cờ đỏ sao vàng, và vị lãnh đạo tối cao của đảng CSVN.

Đại hội X (tức đại hội 10, nhân dân trong nước đọc là đại hội Ếch) của đảng CSVN hồi tháng Tư 2006 vừa qua đã khiến cả nước phải lắc đầu. Ngay cả bọn Phan Văn Khải CSVN cũng đã phải ngượng mồm khi lên tiếng tôn vinh Hồ Chí Minh. Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt nói trên của cụ Vip KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : Phan văn Khải, tức tên thủ tướng của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN trong chuyến Úc du tháng 04/2005 và Mỹ du tháng 06/2005 đã bị Người Việt Tỵ Nạn vác cờ vàng ba sọc đuổi chạy vãi cả ra quần, cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK.

Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyẽn Tấn Dũng – bây giờ có trong tay cả trăm triệu Mỹ kim nhờ tham nhũng, trộm cắp buôn lậu – cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK vô vàn mến yêu.
Cựu tổng bí thư Đỗ Mười cũng cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyễn tấn Dũng dự định sang Mỹ vận động cho nhà nước và đảng ta, nhưng sợ bị lũ ngụy hải ngoại đánh đuổi như đã đánh đuổi Phan văn Khải trước đây năm 2005.

Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn chửi địt mẹ cái Nghị Quyết chó đẻ 36-NQ/TU ngày 26/03/2004. Theo cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Phan Văn Văn Khai phàn nàn rằng : chính vì cái nghị quyết chó đẻ 36-NQ/TU ấy, mày đã bị Người Việt Hải Ngoại cầm cờ vàng ba sọc đánh đuổi như con chó, trong chuyến Úc du và Mỹ du của y năm 2005.

  • Chương Bảy
Trốn Khỏi Trung Hoa ; Sang Hoạt Động Bên Xiêm La.

Năm 1927, chính quyền Trung Hoa Quốc Gia mở chiến dịch lùng bắt cộng sản.

Borodin bỏ chạy về Mạc Tư Khoa. Nguyễn Ái Quốc bị bắt giam. Nhờ uy tín của cụ Hồ Học Lãm, y đã được phóng thích. Y trốn về Mạc Tư Khoa, và được Mạc Tư Khoa phái sang Hương Cảng, làm việc dưới quyền một tên CS Pháp : Hilaire Noulens (sách Tầu ghi là Ngưu Lan).

Nguyễn Ái Quốc được Ngưu Lan giao phó công tác vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có đông nguời Việt lưu vong. Chỉ trong mấy năm, y gặt hái đuợc nhiều kết quả, nhờ tài tổ chức và bịp bợm.

Và cũng nhờ thời cuộc.

Ngày 10/02/1930, cuộc khởi nghĩa Yên Báy thất bại. Nhiều anh em VN Quốc Dân Đảng bị Pháp bắt, tra tấn, thủ tiêu. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cồ Việt tỉnh Hải Dương. Ngày 17/07/1930 ông và một số đồng chí bị đưa lên máy chém tại Yên Báy. Trước khi chết, ông đã hô to “Không thành thân thì thành nhân. Việt Nam muôn năm”.

Theo quyển “Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc” của Tưởng Vĩnh Kính, thì Nguyễn Ái Quôc đã vô cùng hoan hỉ truớc tai họa của Việt Nam Quốc Dân Đảng, coi đó là cơ hội ngàn vàng. Y đem đảng CS của y trám vào chỗ trống. Trong thư luân lưu gửi đảng viên, y viết :

“Lần khởi nghĩa Yên Báy giai cấp tư sản đã mất hết ảnh hưởng trong việc vận động giải phóng dân tộc ; đảng ta được tha hồ tổ chức giai cấp công nhân và quần chúng nông dân lao động vào đảng, và đảng ta trở thành lực lượng duy nhất thi hành lãnh đạo cách mạng chống đế quốc chủ nghĩa”.

 

  • Chương Tám
Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Người Quốc Gia Trở Thành Mặt Trận Việt Minh.

Ngày 20/06/1940, Pháp bị Đức đánh bại ở Âu Châu, Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại hội đảng tại Côn Minh, sửa soạn về nước cướp chính quyền.

Tưởng cũng nên nhắc lại : tại Trung Hoa lúc đó, có những tổ chức cách mạng sau đây của người Việt quốc gia lưu vong :

1. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do cụ Hồ Học Lãm chủ trì.
2. Việt Nam Giải Phóng Đồng Minh Hội do cụ Trương Bội Công chủ trì.
3. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, do cụ Nguyễn Hải Thần chủ trì.

Mượn danh nghĩa chống Pháp dành độc lập, Nguyễn Ái Quốc đã xâm nhập được những tổ chức nói trên. Thành công ngoạn mục nhất của y là đã cướp danh xưng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (của cụ Hồ Học Lãm) để đặt tên cho một tổ chức cộng sản của y.

Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm đã bị bỏ mất chữ Hội, để trở thành Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt Việt Minh, một tổ chức võ trang tuyên truyền với võ khí do Trung Cộng cấp phát và cán bộ do Trung Cộng đào tạo.

Về vụ thành lập mặt trận Việt Minh, Võ Nguyên Giáp viết như sau :

“Tháng 05/1941, Người chủ trì Hội Nghị Trung Ương lần thứ 8 […] Hội Nghị đề ra chủ trương thành lập mặt trận rộng rãi lấy tên là Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh” (Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đuờng Cách Mạng VN, tr. 32).

Người đây, là Hồ Chí Minh.

Trước và sau Võ Nguyên Giáp, cả trăm sách vở Viêt Cộng đều cùng một luận điệu đó .

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ VIP KK Chánh Án Tư Quốc Tế Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa

Trong đảng CSVN, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai (bố vợ của y), và Hoàng Minh Giám, là những người có học nhất.
Cả ba từng là cựu giáo sư trường trung học Thăng Long Hà Nội ngày xưa. Cả ba đã đi theo cộng sản. Và cả ba rất hèn. Nhất là Võ Nguyên Giáp.

Trong vụ tên tướng VC Hoàng Văn Thái, người được Võ Nguyên Giáp che chở và cất nhắc (nghe nói còn là thông gia với Võ Nguyên Giáp), bị bọn Lê Đức Thọ Lê Duẩn ám hại, Võ Nguyên Giáp đã không dám hé răng. Năm 2002, bản thân y bị bọn Lê Khả Phiêu công khai hạ nhục. Y cũng không dám hé răng.

Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Muời, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao ruợt vì hoạn chết lợn của nguời ta, rất hoan nghênh nhận định rất sáng suốt này của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : giữa thập niên 1990, Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Khả Phiêu làm nhục. Để vớt vát uy tín, Võ Nguyên Giáp đã viết quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mệnh”. Trong quyển sách ấy (xuất bản năm 1997), Võ Nguyên Giáp kể truyện bác Hồ lúc bé phải bế em đi hàng xóm xin sữa xin ăn, tuởng rằng viết như vậy là đề cao Bác. Võ Nguyên Giáp đã bị cả đảng chửi như con chó. Bọn Lê Khả Phiêu đã xuýt tát vào mặt y.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 247, Võ Nguyên Giáp còn viết rằng các nhà văn hoá của đảng đã phát hiện khoảng 600 (sáu trăm) gương tốt của bác Hồ. Địt mẹ, cả đảng phải bịt mũi. Nịnh Bác, mà nịnh quá, chỉ làm trò hề.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 249, Võ Nguyên Giáp còn viết :

“Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ Chức Văn Hoá Và Giáo Dục Thế Giới (UNESCO) đã tôn vinh Người là Vị Anh Hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá kiệt xuất …”

Theo Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Võ Nguyên Giáp lại viết láo. Năm đó (1990), quả thật UNESCO dự định tôn vinh Bác là nhà văn hoá kiệt xuất, nhưng bị lũ nguỵ hải ngoại chống đối. Lũ Nguỵ hải ngoại kéo nhau đến biểu tình la hét trước Hội Nghị UNESCO tại Giơ Ne Vơ, và hô to đả đảo Hồ Chí Minh. Sau đó, UNESCO đã nhìn thấy sự thật, rút lại ý định tôn vinh Bác, và xin lỗi lũ nguỵ.

Thế mà Võ Nguyên Giáp dám viết rằng bác đã đuợc UNESCO tôn vinh.
|
Ngoài ra, tủ sách giáo khoa của đảng và nhà nước có quyển sách mang tên “Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Những Tác Phẩm Tiêu Biểu (Nxb Giáo Dục, xuất bản ngày 01/01/2000, Sài Gòn). Quyển sách giáo khoa này cũng trích dẫn lời của Võ Nguyễn Giáp, và lớn tiếng ca tụng Bác đã được UNESCO vinh danh là nhà văn hoá kiệt xuất của thế kỷ 20. Trang 14 của quyển sách đó viết như sau (nguyên văn) :

“Năm 1990, Tổ Chức Văn Hoá Giáo Dục Khoa Học Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã trao tặng Chủ Tịch Hồ Chí Minh danh hiệu danh nhân văn hoá thế giới, và đã long trọng kỉ niệm 100 năm sinh của Người”.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : toàn bộ sách giáo khoa và nền giáo dục của đảng CSVN chúng tôi từ hơn 50 năm nay đều là gian manh lừa lọc. Tội nghiệp cho bao nhiêu thế hệ học sinh con em chúng ta.

Vẫn theo Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười, thì đã đi theo Bác, thằng đéo nào cũng hèn, cũng lưu manh bịp bợm. Càng có học, lại càng hèn, càng lưu manh bịp bợm. Võ nguyên Giáp là điển hình.

Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười gửi biếu cụ Vip KK quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” của Võ Nguyên Giáp, kèm hai câu ca dao đuợc truyền tụng trong dân gian khi Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Đức Thọ hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Uỷ Ban Hạn Chế Sanh Đẻ Nhà Nưóc :

Ngày xưa đại tướng công đồn
Bây giờ đại tướng canh l. cản c.
và :
Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em”

 

  • Chương Chín
Bản Chúc Thư Số Hai ; Hồ Chí Minh Chạy Tội Trước Lịch Sử

Hồ Chí Minh chết ngày 02/09/1969, và được phát tang ngày 03/09/1969. Y để lại một bản chúc thư trong đó y kể công lao của y và của đảng CSVN đối với dân tộc. Y vui mừng sắp được về với thánh tổ Các Mác. Y căn dặn đảng viên các cấp phải “giữ gìn đảng như giữ gìn con ngươi của mắt”.

Bản chúc thư nói trên – gọi là bản chúc thư số I – được Việt Cộng trân quý như thánh kinh của đảng.

Ngoài bản chúc thư số I nói trên, cuối thập niên 1980, người ta thấy xuất hiện ở Pháp một bản chúc thư số 2, đề ngày 14-8-1969, nói là do Hồ Chí Minh viết để lại cho đúa con gái lai tại Pháp.

Trong bản chúc thư số 2 này, Hồ Chí Minh phủ nhận bản chúc thư số I. Chẳng những thế, y còn viết rõ : y hối hận đã đi theo cộng sản làm hại đất nước.

Năm 1986, một ngưòi Pháp từ Paris gửi biếu tôi – Nguyễn văn Chức – bản chụp chúc thư số 2 này, kèm bản chụp bút tự của Hồ Chí Minh.

Nếu tôi không lầm, thì bản chúc thư số 2 này cũng đã được phổ biến trên nhiều báo tiếng Việt ở hải ngoại, hồi cuối thập niên 1980.

Dưới đây, tôi xin đăng lại nguyên văn bản chúc thư số 2 ấy, như một tài liệu :

“Thời xưa, ở bên Trung Quốc, người ta thường nói con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, con người trước khi chết thì lời nói phải. Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý họ. Tôi đã viết, mà trong bụng thì tấm tức vô cùng. Nay tôi viết thêm di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không nhận bất cứ di chúc nào khác là của mình. Tôi ước mong một ngày nào đó di chúc tôi đang viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới đuợc thoả lòng.

Tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày Tổ Quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho cả dân tộc về cả hai mặt văn minh và đời sống. Không lượng sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ, nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này dần dần trở thành lạc hậu và phản động, những người theo Mác Xít chỉ là giả bộ, để đánh lưà giai câp nghèo mà cướp lấy chánh quyền cho nước Nga.
Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với mình. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đầu ngờ họ đều là mật thám của Nga, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường nước Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào tôi làm điều gì độc ác thì tôi phải chiụ hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ Cải Cách Điền Điạ ở Bắc Việt bây giờ nhân dân còn nguyền rủa oán trách tôi không biết để đâu cho hết. Dù sao thì tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu nàm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy ông thuộc Uỷ Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam Bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô Đình Diệm, kèm theo một bức thư. Trong bức thư, tôi chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giầu nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.

Truyện này vỡ lở ra, cụ Ngô bị giết ở trong Nam, còn ở ngoài Bắc tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định gì nữa cả. Đáng lẽ ra thì tôi bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tôi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để cho tôi sống thêm. Tôi đã già, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh ngục tù, cứ nghĩ đến điều này là tôi ứa nước mắt. Họ không giết tôi nhưng sai ông bác sĩ Tôn Thất Tùng cho uống thuốc độc, để tôi không thể đi đâu nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết lần chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.

Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối di chúc, tôi xin thú nhận tôi không phải thần thánh gì, nên khi còn sống cũng đủ bẩy tình như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được một đưá con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi khi đọc được tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức Cha Lê Hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hoá. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng Sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng Sản. Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều mượn tạm hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước đấng Cao Xanh :

Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam”.

Ngày 14/08/1969

Hồ Chí Minh

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Đình Tân Kiểng Bên Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Ngày Xưa

Lời bàn một

Trong bản chúc thư số 2 nói trên, Hồ Chí Minh viết : “tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do”.
Hồ Chí Minh viết bản chúc thư đó năm 1969. Nhưng y vẫn dấu nhẹm vụ y nạp đơn xin vào học trường Thuộc Điạ Pháp năm 1911.

Lời bàn hai

Hầu hết – nếu không muốn nói là tất cả – những tên đầu sỏ Việt Cộng cao cấp đều thất học cu ly cu leo, và con nhà khố rách áo ôm. Chúng nó đi theo cộng sản vì không còn con đường tiến thân nào khác. Nhưng trong tiểu sử hoặc chúc thư thì thằng chó nào cũng phét lác rằng mình đi theo cách mạng là để mưu tìm độc lập tự do cho Tổ Quốc. Đó chính là trường hợp Hồ Chí Minh.

Lời bàn ba

Những trại cải tạo rùng rợn Đầm Đùn, Lý Bá Sơ, cuộc tiêu thổ kháng chiến 1945, cuộc đấu tố rưộng đất 1953-1956, cuộc đàn áp văn nghệ sĩ năm 1956, vụ dâng đảo Hoàng Sa cho Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam VN, vụ giết và chôn sống đồng bào hồi Tết Mậu Thân Huế, v. v… Tất cả những tội ác đó cũng như muôn vàn tội ác khác, đều do bàn tay Hồ Chí Minh.

Trong bản chúc thư số 2, Hồ Chí Minh đổ lỗi cho người khác.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười – tức đồng chí Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta – rất đồng ý với những lời bàn rất sáng suốt của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười không dám quả quyết vụ Bác Sĩ Tùng cho bác Hồ uống thuốc độc là có thật. Nhưng cựu tổng bí thư quả quyết chữ viết và luận điệu trong chúc thư là của Bác Hồ. Vụ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đàn áp bác Hồ 2 năm trước khi bác chết, cũng có thật. Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn cho biết : Lê Duẩn đã có lần nói hỗn với Bác, xô Bác té trên giường. Tội nghiệp cho Bác.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : trong bản chúc thứ số 2 này, Bác tạ lỗi với đứa con gái lai Pháp, vì đã không làm bổn phận một người cha. Địt mẹ, làm như Bác chỉ có môt đứa con hoang. Theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì con rơi con rụng của bác, trắng đen, vừa trắng vừa đen, bạch tạng, rỗ chằng rỗ chịt, mắt toét mắt lồi, Marốc, Mễ, Tiêm La, Tầu, Việt Nam, Kampuchia, đếm đuợc cả trung đội.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cũng nhắc đến chuyến đi Phát Diệm của Bác thăm Giám Mục Lê Hữu Từ năm 1946. Năm đó, Võ Nguyên Giáp có đi theo Bác, khi về đã kể chuyện lại.

Võ Nguyên Giáp kể rằng : giữa đám đông tụ tập trước Phương Đình Phát Diệm, Bác giơ cao tay hô to “Hoan Hô Đức Chúa”. Đồng bào công giáo Phát Diệm ôm bụng cười. Thật là vô lễ với Bác. Bác còn lớn tiếng xin Giám Mục Lê Hữu Từ làm phép rửa tội ngay cho Bác, để Bác trở thành người của đạo Chúa. Nhưng Giám Mục Lê Hữu Từ bảo Bác phải học đạo 6 tháng mới được chịu phép rửa. Đồng bào có mặt đã vỗ tay hoan hô Giám Mục. Thật là vô lễ.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn kể : Tết Giáp Ngọ (1954) Bác Hồ gửi biếu Giám Mục Lê Hữu Từ một cành đào và khuyên Giám Mục nên ở lại Phát Diệm, đừng di cư vào Nam. Nhờ Đức Chúa chuẩn bị tư tưởng, Giám Mục Lê đã lãnh đạo con chiên bổn đạo di cư vào Nam. Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười quả quyết : Giám Mục Lê mà ở lại Phát Diệm thì thế nào cũng bị Bác cho đi trại cải tạo Lý Bá Sơ hoặc Đầm Đùn, để trả thù về vụ đồng bào Công Giáo Phát Diệm làm nhục Bác năm 1946.

Cự Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : chúng tôi đã đi theo Bác thì thằng đéo nào mà chả gian ác lưu manh cu ly cu leo tổ mẹ. Nhưng so với Bác thì vẫn còn thua xa.

  • Chương Mười

Kết luận

Quyển tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi, đến đây là hết. Nhưng cần một kết luận.
Trước khi kết luận, tôi thấy cần phải minh xác với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ.

Tôi không phải là sử gia. Sử gia phải khách quan, không được viết theo cái chủ quan của mình.

Riêng tôi, tôi đã viết theo lập trường chủ quan của tôi, lập trường của một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cộng với lập trường của một kẻ suốt đời ôm hoài bão được bước theo gót người xưa : Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu …
*
Viết về Hồ Chí Minh, tôi dựa trên hai loại tài liệu.

Tài liệu của LỊCH SỬ VIẾT HOA, tức tài liệu của ngoại quốc.

Và tài liệu của LỊCH SỬ KHÔNG VIẾT HOA, tức tài liệu của Việt Cộng. Phần lớn những tài liệu hiếm có này đã do người bạn trẻ của tôi, nhà văn Nguyễn Thế Khanh, cung cấp.

Bây giờ, tôi xin trở lại cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi.
*
Một kẻ xuất thân từ gia đình nghèo mạt, đi ăn xin, thất học cu ly cu leo lưu manh đểu cáng, đã trở thành chủ tịch một nước và được nhiều sách vở Tây Phương ca tụng.

Đó là Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận : Hồ Chí Minh thông minh và mưu lược. Rất tiếc : y là một tên vô lại, lưu manh, và cuối cùng phản bội dân tộc.

Quyển Le Prince của Machiavel và quyển Sử Ký Tư Mã Thiên ám ảnh tôi. Lưu manh, vô lại, đểu cáng tàn bạo là phương tiện. Và cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Quyển Les Mains Sales của J. P. Sartre cũng một triết lý đó. Muốn thành công trong chính trị – nghĩa là muốn cướp được chính quyền – phải biết để cho bàn tay mình nhơ bẩn.

Quyển Les Mains Sales nói về trí thức trong hành động. Tôi nghĩ : Les Mains Sales có thể áp dụng cho bất cứ ai bước vào chính trị quyền lực, thứ chính trị bất chấp luân lý đạo đức. Có học cũng như vô học.

Hồ Chí Minh là một kẻ vô học, có lẽ vô học nhất trong hàng ngũ lãnh tụ trên thế giới. Nhưng lưu manh, đểu cáng tàn bạo, có lẽ cũng vào bậc nhất trên thế giới. Y đã chấp nhận để cho bàn tay của mình nhơ bẩn. Chẳng những nhơ bẩn, mà còn đẫm máu đồng bào ruột thịt. Mục đích : để đạt cứu cánh.

Câu hỏi đựợc đặt ra : y và đảng CSVN của y đã đem lại đuợc gì cho đất nước ?

Ba cuộc chiến tranh Đông Dương không cần thiết – đánh Pháp dành độc lập 1947-1954, chống Mỹ cứu nước 1969-1975, đánh Pol Pot 1979 – với hàng triệu người Việt Nam chết thê thảm và bị tàn phế. Hai cuộc đấu tố ruộng đất cực kỳ dã man, và một chế độ cai trị tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc. Chưa kể cả một giang sơn gấm vóc bị tàn phá khủng khiếp. Chưa kể đời sống dân Việt Nam nghèo khổ nhất thế giới. Chưa kể con người Việt Nam bị xuất cảng làm lao nô ở nuớc ngoài. Chưa kể hàng trăm phụ nữ và em bé gái Việt Nam được xuất cảng đi làm nô lệ tình dục ở nuớc ngoài. Chưa kể cắt đất dâng biển cho Trung Cộng. Chưa kể một chế độ cai trị vô cùng tàn bạo đểu cáng trộm cắp mang tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Và chưa kể : hiện nay, Việt Nam vẫn là mảnh đất nghèo khổ nhất trên thế giới, với bọn cu ly cu leo Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, giầu có vào bậc nhất Đông Nam Á. Nhờ tham nhũng bóc lột.

Đó là công nghiệp của Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y đối với Tổ Quôc VN.
*
Hồ Chí Minh là một tên đại lưu manh, đại bịp, đại đểu cáng. Và có bàn tay nhơ bẩn.

Ngoài ra, y còn là một tên hề mặt trơ trán bóng, cái mặt trơ trán bóng không tìm thấy nơi bất cứ một lãnh tụ nào trên thế giới, kể cả những tên tồi tệ nhất.
Quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên làm cho người đọc buồn nôn. Trần Dân Tiên là y, Hồ Chủ Tịch là y. Y kể chuyện Hồ Chủ Tịch, tức y kể truyện chính y. Y ca ngợi Hồ Chủ Tịch, tức y ca ngợi chính y. Sao trên đời lại có đưá vô liêm sỉ đến thế. Câu trả lời là : y là một tên vô học.

Tôi đã đọc tiểu sử Gandhi, Nehru, Tôn Dật Tiên, Ngô Đình Diệm … Tôi cũng đã đọc tiểu sử Lenine, Staline, Hitler, Mao Trạch Đông.

Chính hay tà, đạo đức hay vô đạo đức, những tên tuổi nói trên không làm trò hề như Hồ Chí Minh. Dù sao họ cũng có học. Đang khi đó, Hồ Chí Minh là một đứa vô học.
*
Từ vô học đến đểu cáng vô nhân đạo vô ơn bạc tình bạc nghĩa, không xa. Tôi muốn nói đến vụï y đối xử với những người đàn bà đã hiến thân cho y, hoặc đã cưu mang y.

Vụ nàng Nguyễn Thị Xuân – hiến trinh cho y, và có con với y, bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp cực kỳ dã man nhiều lần, rồi sau đó bị giết thê thảm – đã không thể xẩy ra, nếu không có sự đồng tình mặc nhiên của Hồ Chí Minh.

Rồi vụ cụ Vũ Đình Huỳnh. Và vụ nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm Giữa Ban Ngày – quyển sách gối đầu giừơng của tôi từ nhiều năm nay, cùng với quyển “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ” của Hà Sĩ Phu.

Thời Pháp thuộc, cụ ông và cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã nuôi Hồ Chí Minh trong nhà, bất chấp những hiểm nguy có thể xẩy ra. Riêng nhà văn Vũ Thư Hiên lúc bé từng được ngủ chung giuờng với Bác.

Và Hồ Chí Minh đã trả ơn như thế nào ?

Năm 1967, cụ ông Vũ Đình Huỳnh và nhà văn Vũ Thư Hiên bị còng tay đưa vào khám Hỏa Lò, người cha đi trước người con đi sau. Hồ Chí Minh đã không có được một lời hoặc một cử chỉ, can thiệp.

Cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã không thèm đến kêu oan với Hồ Chí Minh, vì biết rằng kêu oan với một đứa vô ơn cũng vô ích.

Lịch sử nằm ở đó. Cái đẹp nằm ở đó. Và cũng nằm ở đó, cái tồi tệ đểu cáng mất dậy vô học mang tên Hồ Chí Minh.
*
Rất tiếc, Hồ chí Minh đã được một số chính khách tên tuổi ngoại quốc tiếp tay.

Tôi muốn nói : TT Hoa Kỳ John F. Kennedy, kẻ đã chủ mưu cuộc tạo phản ngày 01/11/1963 của bọn Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim. Cuộc tạo phản ấy đã giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và dọn đường cho Việt Cộng thôn tính Miền Nam.

Và tôi muốn nói : cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon, kẻ đã cùng với tên lưu manh Kissinger trao Miền Nam VN cho cộng sản Bắc Việt năm 1975.
Phản bội, gian manh, lá mặt lá trái, phải chăng đó là truyền thống của chính trị Mỹ ?

Riêng tôi, cũng đã học bài học thấm thía. Trong bức điện tín 25/04/1969 gửi về Toà Bạch Ốc, đại sứ Mỹ Bunker đã viết về tôi như sau :

“Những nhà lãnh đạo như Trần Văn Hương và vị trưởng khối Độc Lập tại Thượng Nghị Viện, Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức, tuần này đã công khai bầy tỏ lòng tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Việt Nam” Nguyên văn : Leaders such as Tran Van Huong and the Head of the Senate’s Independance Bloc, Senator Nguyen van Chuc, this week publickly expressed confidence that the US would not abandon Vietnam. (The Bunker Papers, Reports to the President from Vietnam, vol. 2, page 419).

Bunker đã hoàn toàn bịa đặt. Tôi, Nguyễn Văn Chức, không hề tuyên bố như vậy. Có cần phải nói thêm ? Thời Saigon, Bunker nhiều lần mời tôi đến tư dinh, nhưng tôi đã cáo lỗi.
*
Ngoài những tên tuổi chính trị nói trên, những kẻ đã phản bội Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và tiếp tay cho Hồ Chí Minh thôn tính Miền Nam Viêt Nam, còn những kẻ tự nhận là nhà văn hoá, là nhà viết sử. Họ cũng ca tụng và tiếp tay cho Hồ Chí Minh.

Tôi muốn nói : những Jean Lacouture, William J. Duiker, Bernard Fall, David Hamberstam, Stanley Karnow, William Burchett ..
.
Tôi đã đọc họ. Họ ca tụng Hồ Chí Minh. Tôi không trách họ. Nhưng tôi trách họ sau này không đủ trí tuệ để thấy mình sai và nhất là không đủ liêm sỉ để nhìn nhận mình sai.

Họ không đáng xách dép cho Nguyễn Mạnh Tường của “Un Excommunié”, cho những Arthur Koesler, Ignazio Silone, Louis Fisher của “The God That Failed”, cho Trần Dần của “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cho Hà Sĩ Phu của “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, v.v…

Riêng Jean Paul Sartre, một thời đã cùng với Merleau Ponty, Raymond Aaron và Simone de Beauvoir hết lời ca tụng con đường cứu rỗi nhân loại của Liên Sô. Sau vụ Budapest (Hungary) 23/11/1956, Sartre đã tỉnh ngộ. Câu nói để đời của ông “Un anticommuniste est un chien” (thằng nào chống cộng sản, thằng đó là con chó) đã mặc nhiên trở thành “Un pro communiste est un chien”. (Thằng nào đi theo cộng sản, thằng đó là con chó).
Trí thức là ở đó.
*
Tôi đã từng tranh luận tại nhiều diễn đàn Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế (Union Interparlemen- taire), trên thế giới. Tôi đã từng lớn tiếng nói lên chính nghĩa đấu tranh của Người Quốc Gia Việt Nam, đồng thời vạch mặt bọn chó đẻ cộng sản quốc tế và tay sai, trong đó có bè lũ Hồ Chí Minh.
*
Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.

Chính nghĩa đó, là : thiết lập một chính quyền mà cựu tổng thống Liên Sô Gorbachev đã định nghĩa là : “nảy sinh từ một cuộc tổng tuyển cử hợp pháp (legal) chánh đáng (legitimate) và lương thiện (honest).” Dĩ nhiên, cuộc tổng tuyển cử ấy phải được đặt dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc, với sự hiện diện của báo chí quốc tế.

Đó là giải pháp duy nhất và cũng là điều kiện tiên quyết để đem dân tộc vào ổn định và đưa đất nước tiến lên.
*
Tôi viết xong tập sách nhỏ này đêm nay. Mái tóc bạc đối diện với lịch sử.

Trước mặt tôi là hai tấm ảnh đã cũ.

Tấm ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm bên cạnh ba người chiến sĩ QLVNCH hải lục không quân. Với lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Và tấm ảnh các vị anh hùng đã tuẫn tiết cuối tháng Tư 1975 : tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Nguyễn Khoa Nam, tuớng Lê Nguyên Vỹ. Và đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Với lá cờ vàng ba sọc.

(Riêng đại tá Cẩn, theo tôi được biết, đã bị Việt cộng đem ra xử bắn trước công chúng, vì bất khuất và nặng lời thoá mạ Việt Cộng).

Houston tháng 05/2006
Tháng kính Đức Mẹ Maria
Nguyễn Văn Chức

.

 

Nhạc Sầu Tháng Sáu – Hoàng Hải Thủy

NHẠC SẦU THÁNG SÁU

Kỳ Hoa Đất Trích. Tháng Sáu 2017.

Tôi nhớ lại những sáng năm xưa tôi trở dậy trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi nhừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., những sáng trong tù mà không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng xà-lim xưa ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Tại sao những sáng năm xưa ngồi trong xà-lim, với ca nước lanh trước mặt, tôi không buồn, tôi không cảm thấy tôi tuyệt vọng?

Tại vì: Những sáng năm xưa ấy tôi Năm Mươi tuổi. Năm Bó.

Tôi buồn, tôi tuyệt vọng vì năm nay tôi Tám Mươi tuổi. Tám Bó.

Tôi tìm được một số chuyện về Chết trên WEB. Mời quý vị đọc:

Chết (Huy Cận)

Chân quấn quít rồi đến ngày nghỉ bước;
Miệng trao lời rồi đến buổi làm thinh;
Thân có đôi chờ lúc ngủ một mình,
Không bạn lứa cũng không mền ấm nóng;

Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng
Ở trên đời; – đầu ấy ngửng lên cao
Sẽ nằm im! Ôi đau đớn chừng nào;
Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí,

Một dáng điệu suốt trăm nghìn thế kỷ!
Ngày sẽ về, gió sẽ mát, hoa tươi,
Muôn trai tơ đi hái vạn môi cười,
Làn nắng ấm vào khua trong lá sắc;

Nhưng mắt đóng trong đêm câm dằng dặc,
Còn biết gì trời đất ở bên kia;
Bướm bay chi! tay nhậy đã chia lìa;
Tình gọi đó, nhưng lòng thôi bắt mộng.

Bỏ chung chạ để nằm khô một bóng;
Chẳng ai vào an ủi nắm bàn tay:
Khổ bao nhiêu cho một kẻ hằng ngày
Tìm thế giới để làm khuây lẻ chiếc!


Nhạc Sầu (Huy Cận)

Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế !
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu màu khói cũ lên sương
Sương hay chính bụi tàn phai lả tả
Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu úa lá
Chim vui đâu cây đã gãy vài cành
Ôi chiều buồn ! Sao nắng quá mong manh
Môi tái nhạt nào mà cười héo vậy ?

Ai chết đó? trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào ?
Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao
Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó
Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy !

Và ngựa ơi, đi nhịp đằm chớ nhảy
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời
Ai đi đưa, xin đưa tận cuối trời
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi
Người đã chết- Một vài ba đầu cúi
Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ
Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
Còn được thấy trên mặt người ấm áp
Hình dáng cuộc đời từ nay xa tắp

Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh
Không gian ơi, xin hẹp bớt mông mênh
Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !
Và ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết
Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn
Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn
Báo tin xấu, dẫn hồn người đã xế…

Ai chết đó? nhạc buồn chi lắm thế !
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
Của cuộc đời ? ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ !
Sầu chi lắm! trời ơi, chiều tận thế !


CTHĐ tôi đọc bài Thơ Nhạc Sầu năm tôi mười tuổi – 1942, 1943. Trong bẩy mươi năm bài Thơ vẫn sống trong tôi. Nhưng tôi không nhớ toàn bài. Sáng nay tôi tìm được bài Thơ trên Internet. Tôi gửi tặng Bạn – Bạn, người đang đọc những dòng chữ này….

o O o

Điện thư Văn Quang gửi từ Sài Gòn, ngày 20 Tháng Hai 2016.

* Rất buồn nhận được mấy lá thư của mày về tình trạng bà Alice. Bà Ngân nhà tao dân dấn nước mắt khi vừa đọc xong thư mày. Tao an ủi nhưng bà ấy không cầm được nước mắt, chỉ lắc đầu không nói được câu nào. Tao biết tâm trạng rối bời đau thương của mày. Nhưng người đi được ra đi bên chồng con trong lúc tuổi già cũng là một Hạnh Phúc. Tao với vợ chồng mày là bạn thân thiết nửa thế kỷ rồi.  Dù thế nào vợ chồng tao cũng luôn cầu nguyện cho bà Alice.

Văn Quang+Ngân

o O o

Điện thư của Văn Quang, gửi từ Sài Gòn ngày 22/2/2016

Hoàng Hải Thủy ơi,

Hôm nay là Ngày Rằm Tháng Giêng và là Ngày Giỗ Bà Mẹ tao (bà mất ở Mỹ.) Tao nhận được meo này của mày khi tao đang ngồi ở Cafe với mấy đứa cháu. Tao mừng quá vội trả lời cho mày bằng cái iPhone của thằng con út tao cho, iPhone có viber để hai bố con nói chuyện với nhau và nhìn thấy nhau mà không mất xu nào. Mail không có dấu nên tao đánh vội vài câu. Bây giờ về nhà mới gửi meo đàng hoàng này cho mày và cho bà Ngân đọc mail của mày luôn. Bà ấy nói em vừa cúng Mẹ vừa cầu nguyện cho bà Alice. Được biết bà Alice từ bệnh viện về nhà, ăn được, đi lại được, Bà Ngân mừng lắm. Tao thấy Bà Alice còn ăn được mỗi bữa vài muỗng cơm và đi được vài bước là sẽ còn sống mí mày lâu, yên tâm đi, bà Alice sẽ khỏe lại. Tao tin thế.

Văn Quang

*

CTHĐ: Tháng Hai 2016 vợ tôi đau, nằm liệt mấy ngày. Phạm Thông, người chủ trương tờ báo tháng Con Ong, ở Houston, Texas, tưởng vợ tôi đã ra đi vĩnh viễn, gửi điện thư chia buồn với tôi:

* Đau đớn chia buồn cùng anh và các cháu. Chúng tôi cầu nguyện cho chị. Và xin anh bình tĩnh. Trước sau chúng ta cũng ra đi thôi.

Phạm Thông.

o O o

Bây giờ là 4 giờ sáng ngày 22 February 2016 ở Virginia. Câu Thơ về Luật Vô Thường đến với tôi:

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường
Nhưng khó ngăn dòng Lệ Tiếc Thương.

Thơ của ông Trần Văn Khê. Ông làm những lời Thơ này khi người đàn bà ông yêu thương ra đi lần cuối.

Câu Thơ này đến với tôi đã lâu, mấy ngày nay tôi mới thấm nó. Nguyên bài Thơ:

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường
Nhưng khó ngăn dòng Lệ Tiếc Thương.
Những tưởng phượng loan vầy một tổ,
Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường.
Tiễn Em chấp bút lau dòng lệ,
Điếu bạn nâng đàn đốt nén hương.
Cầu nguyện Phật Trời mau tế độ.
Dẫn Em siêu thoát tận Tây Phương.

Đoạn văn ông Trần Văn Khê viết trong Hồi Ký Một Gánh Nhạc, Một Cuộc Đời. Nguyên văn:

Ngày 10 Tháng Ba, 1997, tôi nhận được hung tin Em Đoan từ giã cõi đời. Lúc đó tôi vẫn chưa biết tôi có được thị thực nhập cảnh Mỹ hay không, đành giở lại hình ảnh những buổi cùng nhau du ngoạn ở Pháp, bên Mỹ, đọc lại vài bức thư của Em rối viết bài thơ phúng điếu, thắp nén hương, đờn lại những bản mà lúc sinh tiền Em thích nghe. Tôi đọc bài thơ qua điện thoại cho em gái của Đoan ghi lại để đọc trước lúc tẩm liệm:

Vĩnh Biệt Em
Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường…

o O o

DANH NGÔN VỀ CHẾT

* Chúng ta không thể xóa đi nguy hiểm, nhưng chúng ta có thể xóa đi nỗi sợ. Chúng ta không được hạ thấp sự sống bằng việc đứng ngẩn ngơ nhìn cái Chết.

We cannot banish dangers, but we can banish fears. We must not demean life by standing in awe of death.

David Sarnoff       

* Người bạn công bằng: Cái Chết, vị thần bất tử duy nhất đối xử với chúng ta ai cũng như nhau; lòng thương, sự yên bình và che chở của Ngài dành cho tất cả – dù trong trắng hay vấy bẩn, dù giàu hay nghèo, dù được yêu thương hay bị chối từ.

The Impartial Friend: Death, the only immortal who treats us all alike, whose pity and whose peace and whose refuge are for all–the soiled and the pure, the rich and the poor, the loved and the unloved.

Mark Twain       

* Cuộc sống là một điều lạ lùng. Tại sao người ta lại khát khao cuộc sống như vậy? Đó là trò chơi mà không người nào thắng. Sống là lao lực vất vả và chịu đựng khổ đau, cho tới khi tuổi già trườn tới và chúng ta đặt tay xuống tro lạnh của lửa tàn. Sống thật khó khăn. Đứa trẻ đau đớn hít hơi thở đầu tiên, người già đau đớn hổn hển hơi thở cuối cùng, và tất cả ngày tháng tràn đầy rắc rối và buồn thương; và vậy mà con người tiến vào vòng tay rộng mở của cái chết, loạng choạng, ngã díu, đầu quay về sau, chiến đấu tới giây phút cuối cùng. Và cái chết đầy tử tế. Chỉ cuộc sống và những điều của cuộc sống mới đau đớn. Thế nhưng chúng ta vẫn yêu cuộc sống và căm ghét cái chết. Thật lạ lùng.

Life is a strange thing. Why this longing for life? It is a game which no man wins. To live is to toil hard and to suffer sore, till old age creeps heavily upon us and we throw down our hands on the cold ashes of dead fires. It is hard to live. In pain the babe sucks his first breath, in pain the old man gasps his last, and all his days are full of trouble and sorrow; yet he goes down to the open arms of death, stumbling, falling, with head turned backward, fighting to the last. And death is kind. It is only life and the things of life that hurt. Yet we love life and we hate death. It is very strange.

Jack London       

* I carry Death in my left pocket. Sometimes I take it out and talk to it: “Hello, baby, how you doing? When you coming for me? I’ll be ready.”

Tôi mang cái Chết trong túi áo trái. Đôi khi tôi lấy nó ra và nói với nó: “Chào cưng, dạo này cưng thế nào? Khi nào thì cưng đến với ta? Ta sẽ sẵn sàng.”

Charles Bukowski       

* Con người mù quáng đi trên đường đời, lờ đi cái chết giống như những người dự tiệc ngốn ngấu đồ ăn ngon. Họ không nghĩ đến việc sau đó sẽ phải đi vệ sinh, nên chẳng buồn tìm xem liệu có nhà vệ sinh không. Khi tự nhiên đòi hỏi, họ chẳng biết phải đi đâu, và trở nên rối loạn.

People go through life blindly, ignoring death like revellers at a party feasting on fine foods. They ignore that later they will have to go to the toilet, so they do not bother to find out where there is one. When nature finally calls, they have no idea where to go and are in a mess.

Ajahn Chah       

* Nếu con người bất tử, anh ta chắc chắn sẽ chứng kiến cái ngày mà mọi thứ anh ta tin tưởng sẽ phản bội anh ta, và, nói ngắn gọn, cuối cùng cũng tiến tới đau khổ tuyệt vọng. Anh ta rốt cuộc sẽ sụp đổ, giống như mọi cơ đồ, giống như mọi vương triều, giống như mọi nền văn minh. Thay vì điều này, chúng ta có cái chết.

If man were immortal he could be perfectly sure of seeing the day when everything in which he had trusted should betray his trust, and, in short, of coming eventually to hopeless misery. He would break down, at last, as every good fortune, as every dynasty, as every civilization does. In place of this we have death.

Charles Sanders Peirce       

* Để chống lại cái Chết, bạn không cần quá nhiều ở cuộc sống, chỉ một cuộc sống chưa kết thúc là đủ rồi.

To combat Death you don’t need much of a life, just one that isn’t yet finished.

Herta Müller       

* Linh hồn không mang gì theo nó sang thế giới bên kia, ngoài nền tảng giáo dục và văn hóa. Ở điểm khởi đầu của cuộc hành trình sang thế giới bên kia, nền tảng giáo dục và văn hóa có thể trở thành trợ giúp lớn nhất, hoặc nếu không sẽ thành gánh nặng lớn nhất của người vừa qua đời.

The soul takes nothing with her to the next world but her education and her culture. At the beginning of the journey to the next world, one’s education and culture can either provide the greatest assistance, or else act as the greatest burden, to the person who has just died.

Plato       

* Nếu bạn sợ bệnh, nếu bạn sợ chết thì hãy quán sát xem chúng từ đâu đến. Chúng đến từ sự sinh. Thế nên, đừng buồn khi có người chết. Cái khổ của họ trong đời này đã hết rồi. Chết là một chuyện tự nhiên thôi. Nếu bạn muốn buồn thì hãy buồn khi có người sinh ra đời: “ Tội nghiệp thay! Họ lại đến nữa rồi. Họ sắp phải đau khổ và sẽ phải chết nữa ”.

If you’re afraid of illnesses, if you are afraid of death, then you should contemplate where they come from. Where do they come from? They arise from birth. So don’t be sad when someone dies – it’s just nature, and his suffering in this life is over. If you want to be sad, be sad when people are born: “Oh, no, they’ve come again. They’re going to suffer and die again!”

Ajahn Chah       

* Cái Chết không dập tắt ánh sáng; nó chỉ là việc tắt đèn đi vì bình minh đã đến.

Death is not extinguishing the light; it is only putting out the lamp because the dawn has come.

Rabindranath Tagore       

* Ngay khi bạn sinh ra trên thế giới này, bạn đã đủ già để chết.

Once you are born in this world you’re old enough to die.

Soren Kierkegaard      

* Và tốt hơn biết bao khi chết trong thời gian hạnh phúc của tuổi trẻ còn chưa nản chí, sống hết mình trong ánh sáng rực rỡ, hơn là nhìn thể xác kiệt quệ và già nua và vỡ mộng.

And how much better to die in all the happy period of undisillusioned youth, to go out in a blaze of light, than to have your body worn out and old and illusions shattered.

Ernest Hemingway       

* Người hiểu biết phải ý thức rằng mọi pháp trên thế gian không có bản thể trường cửu. Bởi vậy, Người hiểu biết không vui hay buồn vì họ không bị cuốn trôi theo các pháp thế gian luôn luôn biến đổi này. Trở nên vui là sinh. Trở nên buồn là tử. Chết rồi lại được sinh ra, và sinh ra lại chết nữa. Sống và chết trong từng phút giây là sự luân lưu bất tận của vòng sinh tử.

The “one Who Knows” clearly knows that all conditioned phenomena are unsubstantial. So this “One Who Knows” does not become happy or sad, for it does not follow changing conditions. To become glad , is to be born; to becomes dejected, is to die. Having died, we are born again ; having been born . we die again . This birth and death from one moment to the next is the endless spinning wheel of samsara.

Ajahn Chah       

* Cái chết không phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy đến cho con người.

Death is not the worst that can happen to men.

Plato       

* Trong mỗi cái chết đều có sự hân hoan; trong mỗi khoái lạc đều có chút chết chóc.

In every death is a celebration; in every ecstasy, one little death.

Norman Mailer       

* Sinh và tử của ta chỉ là một. Bạn không thể có cái này mà chẳng có cái kia. Người ta buồn rầu than khóc khi có ai chết, và vui cười hớn hở khi thấy một đứa trẻ sinh ra đời. Thật khôi hài làm sao! Đó chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nếu muốn khóc, hãy khóc lúc có ai sinh ra. Hãy khóc từ cái gốc, vì không có sự sinh thành, cũng sẽ không có cái chết. Bạn hiểu được không?

Our birth and death are just one thing. You can’t have one without the other. It’s a little funny to see how at a death people are so tearful and sad, and at a birth how happy and delighted. It’s delusion. I think if you really want to cry, then it would be better to do so when someone is born. Cry at the root, for if there were no birth, there would be no death. Can you understand this?

Ajahn Chah       

* Ngọt ngào sao tình yêu chân thực được trao đi trong vô vọng, ngọt ngào sao cái chết lấy đi những khổ đau.

Sweet is true love that is given in vain, and sweet is death that takes away pain.

Alfred Tennyson       

* Cái chết chỉ đơn giản là sự lột xác của thể xác cũng như con bướm chui ra khỏi kén. Nó là sự chuyển tiếp sang một trạng thái nhận thức cao hơn, mà ở đó bạn tiếp tục quan sát, nhận thức, cười, có thể trưởng thành, và thứ duy nhất mà bạn mất đi – cái mà bạn không còn cần nữa, đó chính là thể xác bạn. Điều này giống như việc bạn cất áo ấm khi mùa xuân tới và bạn biết cái áo đã trở nên quá mòn sờn và bạn không còn muốn mặc nó nữa.

Death is simply a shedding of the physical body like the butterfly coming out of a cocoon. It is a transition into a higher state of consciousness, where you continue to perceive, to understand, to laugh, to be able to grow, and the only thing that you lose is something that you don’t need anymore, and that is your physical body. It’s like putting away your winter coat when spring comes and you know that the Coat is too shabby and you don’t want to wear it any more.

Elisabeth Kubler-Ross       

* Tôi hy vọng cái chết sẽ là hạnh phúc lớn lao, hạnh phúc lớn lao như tình yêu, tình yêu thỏa nguyện.

I hope death will be a great happiness, a happiness as great as that of love, fulfilled love.

Hermann Hesse       

* Việc dễ nhất trên thế gian này là Chết. Việc khó nhất là Sống.

It is the easiest thing in the world to die. The hardest is to live.

Eddie Rickenbacker       

* Đức Phật dạy Ngài Ananda quán sát sự vô thường, quán tưởng cái chết trong từng hơi thở. Chúng ta phải hiểu sự Chết. Chúng ta chết để được sống. Câu nầy có nghĩa gì? Chết là chấm dứt mọi hoài nghi, mọi vấn đề và sống ngay trong hiện tại. Không phải ngày mai chúng ta mới chết, chúng ta phải chết ngay bây giờ. Bạn có thể làm được điều này không? Nếu làm được, thì chẳng còn vấn đề gì nữa và bình yên tĩnh lặng sẽ đến với bạn.

The Buddha told his disciple Ananda to see impermanence, to see death with every breath. We must know death; we must die in order to live. What does this mean? To die is to come to the end of all our doubts, all our questions, and just be here with the present reality. You can never die tomorrow; you must die now. Can you do it? If you can do it, you will know the peace of no more questions.

Ajahn Chah       

* Cái chết gần gũi với ta như hơi thở.

Death is as close as our breath.

Ajahn Chah       

* Nếu biết tự luyện và thực hành đúng cách thì bạn sẽ không sợ hãi mỗi khi bị bệnh và không còn đau buồn trước cái chết của người thân. Khi phải vào bệnh viện chữa trị thì hãy tự xác quyết rằng: Lành bệnh thì tốt mà không lành bệnh cũng tốt thôi. Nếu bác sĩ cho biết tôi bị ung thư và sẽ chết trong vài tháng thì tôi sẽ nhắn nhủ bác sĩ rằng: “ Hãy cảnh giác, cái chết cũng đang đến tìm ông đó! Vấn đề là ai đi trước và ai đi sau mà thôi! ”. Bác sĩ không thể chữa trị và ngăn ngừa cái Chết. Chỉ có Đức Phật mới làm được việc này. Vậy còn chần chờ gì nữa mà không dùng thuốc của Đức Phật?

If you trained properly, you wouldn’t feel frightened when you fall sick, nor upset when someone dies. When you go into the hospital for treatment, determine in your mind that if you get better, that’s fine, and that if you die, that’s fine, too. I guarantee you that if the doctors told me I had cancer and was going to die in a few months, I’d remind the doctors, “Watch out, because death is coming to get you, too. It’s just a question of who goes first and who goes later.” Doctors are not going to cure death or prevent death. Only the Buddha was such a doctor, so why not go ahead and use the Buddha’s medicine?

Ajahn Chah       

* Chúng ta sợ hãi cái Chết, ta run rẩy trước sự bất ổn định của cuộc đời, ta đau khổ khi thấy hết đóa hoa này đến đóa hoa khác héo tàn, và lá cây rụng xuống, và trong trái tim, ta biết ta cũng chỉ là một thoáng phù du và sẽ sớm tan biến. Khi người nghệ sĩ vẽ tranh và nhà tư tưởng tìm kiếm quy luật và hình thành tư duy, cũng chính là để cướp lấy thứ gì đó từ vũ điệu vĩ đại của cái Chết, để tạo ra thứ gì đó trường tồn hơn bản thân chúng ta.

We fear death, we shudder at life’s instability, we grieve to see the flowers wilt again and again, and the leaves fall, and in our hearts we know that we, too, are transitory and will soon disappear. When artists create pictures and thinkers search for laws and formulate thoughts, it is in order to salvage something from the great dance of death, to make something last longer than we do.

Hermann Hesse       

* Và một ngày nào đó, sẽ chẳng có gì còn lại của những thứ đã vặn vẹo cuộc đời tôi, không ngừng khiến tôi chất đầy đau khổ. Một ngày nào đó, trong cơn mệt mỏi cuối cùng, sự bình yên sẽ đến và đất mẹ sẽ đón tôi về nhà. Đấy không phải là kết thúc, chỉ là một cách để tái sinh, sự đắm chìm và giấc ngủ nơi những người già nua nằm xuống, nơi người trẻ bắt đầu hơi thở. Và rồi, với những suy nghĩ khác, tôi sẽ bước dọc theo những con phố, và lắng nghe các dòng chảy, và nghe điều bầu trời nói vào buổi chiều, không ngừng nghỉ.

And some day there will be nothing left of everything that has twisted my life and grieved it and filled me so often with such anguish. Some day, with the last exhaustion, peace will come and the motherly earth will gather me back home. It won’t be the end of things, only a way of being born again, a bathing and a slumbering where the old and the withered sink down, where the young and new begin to breathe. Then, with other thoughts, I will walk along streets like these, and listen to streams, and overhear what the sky says in the evening, over and over and over.

Hermann Hesse       

* Với sự trang nghiêm bao la, cái Chết là ánh sáng khiến những đam mê lớn lao, cả tốt và xấu, đều trở nên trong suốt, không còn bị giới hạn bởi vẻ bề ngoài.

Because of its tremendous solemnity Death is the light in which great passions, both good and bad, become transparent, no longer limited by outward appearences.

Soren Kierkegaard       

* Khi không hiểu được sự Chết thì cuộc sống này có nhiều lẫn lộn.

When one does not understand Death, life can be very confusing.

Ajahn Chah 

Donald Trump và thông điệp từ Warsaw!

 Donald Trump và thông điệp từ Warsaw

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chọn Ba Lan là quốc gia châu Âu đầu tiên ông chính thức viếng thăm. Đây cũng là chặng khởi đầu trong chuyến công du dự hội nghị G20 lần này của ông ở Hamburg.
 .
Sự lựa chọn này có thể là một bất ngờ hay thậm chí chút ít ‘bất bình’ với những đồng minh lớn của Mỹ ở châu Âu, nhưng nó phù hợp với tình cảm cũng như thực tế mối quan hệ giữa 2 quốc gia trong mấy chục năm qua. Có thể nói, mặc dù các đảng phái chính trị với các quan điểm khác nhau thay nhau nắm quyền ở 2 quốc gia, nhưng chính sách ngoại giao giữa 2 nước lại được duy trì khá nhất quán.
 .
Trước Donald Trump, những người tiền nhiệm của ông như Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, George Bush Senior, Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama cũng đã thăm chính thức Ba Lan và quốc gia này luôn giữ một vị trí chiến lược trong mối quan hệ của Mỹ với châu Âu, trước và sau khi chế độ cộng sản cáo chung.
 .
Lời mời Donald Trump được tổng thống Ba Lan – Andrzej Duda – đưa ra hồi tháng 2/ 2017 trong kế hoạch tổ chức hội nghị thượng đỉnh các nước vùng 3 biển (bao gồm 12 nước trong khu vực địa lý giữa biển Đen, Baltic và Adriatic).
 .
Donald Trump cùng phu nhân con gái và con rể (trong vai trò cố vấn) và đoàn tùy tùng khoảng 20 người đã đáp xuống sân bay Warsaw lúc 22 giờ đêm ngày 5/7/2017.
Trong chương trình nghị sự có cuộc gặp riêng với tổng thống Ba Lan, được đàm đạo trực tiếp bằng tiếng Anh, không thông qua phiên dịch; họp báo chung giữa 2 nguyên thủ; kế đến là giao lưu với lãnh đạo các quốc gia tham hội nghị thượng đỉnh khu vực. Nhưng được chờ đợi hơn cả là buổi diễn thuyết của Trump trước công chúng Ba Lan. Đây là lần nói chuyện đầu tiên của Donald Trump trên cương vị tổng thống Mỹ với dân chúng của một quốc gia bên ngoài nước Mỹ.
 .
Năng lượng và quân sự
 .
Đó là 2 mục tiêu chính của chuyến thăm, ít nhất là về phía chủ nhà. Ba Lan đã nhiều thập niên phụ thuộc vào đường ống dẫn gas từ nước Nga. Quan hệ có chiều hướng căng thẳng giữa 2 nước trong những năm gần đây khiến Ba Lan ráo riết tìm nguồn thay thế trước khi hợp đồng với Nga kết thúc vào năm 2022. Và Mỹ là 1 ứng cử viên nặng ký.
 .
Chuyến tầu chở khí đốt đầu tiên từ Hoa Kỳ đã cập cảng Świnojuście của Ba Lan cách đây ít ngày. Với chuyến thăm này, Ba Lan kỳ vọng sẽ có hợp đồng cung cấp lâu dài nguồn năng lượng này từ phía Mỹ. Mục tiêu dài hạn mà chính phủ Ba Lan đặt ra là giảm 90% lượng cung cấp gas từ phía Nga, một thị trường vốn có nhiều rủi do về chính trị.
 .
Điều quan tâm thứ 2 của Ba Lan đó là vấn đề đồn trú của quân đội Mỹ. Những người lính Mỹ đầu tiên được gửi tới Ba Lan tháng 1 vừa qua và hiện nay theo báo cáo của bộ quốc phòng Ba Lan đã có 3500 binh lính và có khả năng tăng lên tới 6500 trong năm nay.
 .
Quyết định đưa quân tới Ba Lan được đánh giá là mang tính lịch sử, do tổng thống Obama đưa ra vào cuối nhiệm kỳ của ông. Việc tân tổng thống bác bỏ hầu hết các quyết sách của người tiền nhiệm thuộc đảng Dân Chủ đã khiến Ba Lan lo lắng không ít.
 .
Nhưng Donald Trump trong chuyến thăm hôm nay đã khẳng định tiếp tục việc đóng quân tại Ba Lan và coi đây là đồng minh chiến lược của Mỹ và NATO ở khu vực phía Đông, và rằng việc vững mạnh của Ba Lan là quan trọng với an ninh của châu Âu.
Ngay sau đó, bộ trưởng quốc phòng Ba Lan, ông Antoni Macierewicz đưa ra đánh giá: “Liên minh giữa 2 nước được tăng cường hơn bao giờ hết trong 200 năm qua. Đây là 1 ngày tuyệt vời cho Ba Lan và châu Âu”.
 .
Cũng trong ngày hôm nay, song song với cuộc gặp của các nguyên thủ, binh lính Mỹ có buổi giao lưu mở (dành cho tất cả mọi người) tại sân vận động quốc gia Ba Lan với thông điệp “Luôn gần gũi nhau”. Trong buổi tiếp xúc, ngoài giới thiệu 1 số vũ khí, quân trang quân dụng còn có tiệc chiêu đãi các món ăn thường sử dụng trong quân đội Mỹ.
 .
Thông điệp chính trị quan trọng
 .
Nếu nội dung hội đàm giữa 2 tổng thống Donald Trump và Andrzej Duda đã được đồn đoán từ nhiều ngày trước và được tiết lộ ít nhiều thông qua các trao đổi giữa thuộc cấp của 2 bên, thì bài phát biểu của tổng thống Mỹ được cho là rất khó đoán. Không ai biết Trump sẽ nói gì, bởi tính khí thất thường và cách sử dụng ngôn ngữ có phần tùy hứng của ông; nhưng bài diễn thuyết được chờ đợi là sẽ bao hàm những thông điệp chính trị quan trọng không chỉ với riêng Ba Lan mà với cả châu Âu.
Donald Trump đã chọn vị trí nói chuyện ngay trước tượng đài Khởi Nghĩa Warszawa và đây được đánh giá là một chọn lựa khôn ngoan về ngoại giao. Khởi nghĩa Warszawa là trang sử bi hùng, đau thương của dân tộc Ba Lan mà cho tới nay nó vẫn chưa được thế giới đánh gía một cách thật đúng mực.
 .
Bằng sự lựa chọn này, Donald Trump đã dành sự trân trọng cho những người đã nằm xuống và cho một giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước Ba Lan.
Trong bài diễn thuyết của mình, bên cạnh việc hết lời ngợi ca Ba Lan như một dân tộc quả cảm, quật cường, một điển hình của sự tranh đấu và chiến thắng, Trump cũng đề cập nhiều vấn đề quốc tế.
 .
Ông cho rằng, châu Âu không còn phải đối mặt với chủ nghĩa cộng sản nữa, nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt về ý thức hệ. Mỹ cũng như châu Âu bị khủng bố cực đoan tấn công hết đợt này tới đợt khác, nhưng cùng kết hợp với nhau có thể giải quyết được vấn đề này.
.
Trong bài nói chuyện, Trump cũng khuyến cáo Nga ngưng gây bất ổn cho Ucraine cũng như ngừng ngay việc ủng hộ các chế độ thù nghịch như Syria và Iran.
Tổng thống Mỹ cũng khẳng định tầm quan trọng của các đồng minh phía Đông và cho rằng châu Âu cần phải hành động nhiều hơn nữa để đảm bảo sự vững chắc của NATO và an ninh khu vực. Ông cũng khen ngợi quyết định mua tên lửa đạn đạo Patriot của Ba Lan và cho nhận xét đó là loại vũ khí tốt nhất trên thế giới (!).
Trump cũng khẳng định các giá trị phương Tây và việc bảo vệ các giá trị này, không chỉ qua hành động mà từ trong ý thức. Ông cũng nhắc tới điều 5 của hiến chương NATO về phòng vệ tập thể khi một thành viên của khối bị xâm hại. Điều này đã được nhiều đồng minh chờ đợi trong hội nghị thượng đỉnh NATO hồi tháng Năm vừa qua, nhưng Mỹ lại không đả động tới.
 .
Những nhìn nhận khác nhau
 .
Chuyến thăm của Donald Trump được chính giới, nhất là đảng cầm quyền đánh giá tích cực, như một dấu son trong quan hệ ngoại giao, nâng Ba Lan lên một tầm cao mới trên chính trường quốc tế. Thậm chí có những nhận định lạc quan cho rằng, Ba Lan có thể sẽ dần thay thế vị trí của Anh nay mai ở EU sau Brexit!
 .
Donald Tusk, chủ tịch Hội Đồng châu Âu thì coi đó là ‘thắng lợi về mặt ngoại giao không thể chối cãi’, nó sẽ khiến đảng cầm quyền hiện nay – PiS – thêm mạnh, và đảng đối lập PO (mà ông là cựu lãnh đạo) ‘thêm bối rối’. Ông cũng nói đùa đại ý rằng, bỗng dưng tôi được thơm lây khi hàng trăm đảng viên PiS phấn kích hô vang ‘Donald, Donald’.
 .
Tusk nói thêm, chuyến thăm có lợi cho Ba Lan và không làm phương hại tới ích của bất kỳ quốc gia nào.
 .
Trước những ý kiến trên một số trang báo cho rằng, chuyến thăm của Donald Trump và nhất là việc ông gặp gỡ nguyên thủ của 12 quốc gia vùng Tam Hải khiến châu Âu đã chia rẽ càng thêm chia rẽ; bà Merkel lên tiếng trấn an, không có gì phải lo lắng và bà đã có một chương trình nghị sự của riêng mình, rằng trong những bất đồng giữa châu Âu với Trump thì vẫn có thể tìm ra những đồng thuận nhất định.
 .
Chuyến viếng thăm của người đứng đầu nước Mỹ được công chúng Ba Lan nồng nhiệt đón nhận. Hàng ngàn người đã đứng 2 bên đường để đón và tiễn ông, cũng như khoảng 15 ngàn người đã tới quảng trường Krasinskich để nghe diễn thuyết, nhưng cũng không thiếu những cuộc biểu tình nho nhỏ.
 .
Ngay trước khách sạn Marriott và tối qua, chừng vài chục người đã giăng biểu ngữ phản đối và hô vang khẩu hiệu ‘Đế quốc Mỹ xấu xa’, ‘Ba Lan không phải công cụ của Mỹ‘, ‘Chúng tôi không muốn chiến tranh với Nga’, ‘Đừng biến Ba Lan thành Palestine’…
.
Những bình luận ác ý cũng xuất hiện trên các trang mạng, như Donald Trump đến Ba Lan chỉ để ‘rửa mặt’ sau những vết nhọ do rút khỏi hiệp định Paris về khí thải, hay ‘mắng mỏ’ các đồng minh trong cuộc họp NATO…
 .
Chiều 6/7 đoàn tổng thống Mỹ và đoàn tùy tùng của ông đã lên đường qua Đức và tiếp đó ông sẽ thăm chính thức nước Pháp nhân quốc khánh nước này.
Chuyến thăm chỉ kéo dài 1 ngày, nhưng dư âm của nó hẳn sẽ còn đọng lại lâu, nhất là tình cảm mà Trump đã dành cho Ba Lan: “Nước Mỹ yêu Ba Lan, yêu con người Ba Lan, các bạn là một dân tộc vĩ đại”. Chắc hẳn không phải dân tộc nào cũng xứng đáng được nhận những lời như vậy 🙂
 .
(Bài đã đăng trên trang Danchimviet.info ngày 6/7/2017)
———————————————
 .

Nghe toàn văn phát biểu của Donald Trump tại đây

 .
//

Ngôn từ và chữ viết của Vẹm cộng! [tn]

21 hrs ·

NHỮNG CHỮ DÙNG SAI THÔNG DỤNG CỦA VIỆT CỘNG:

Ví dụ:
***Việt cộng viết: Tàu ngầm Kilo không nhận lính con gái (đăng trên điện báo VTC News của việt cộng)
(‘Lính con gái’ là cái chó gì? Chữ dùng đúng phải là ‘nữ quân nhân’)
*** Việt cộng viết: Chiến sĩ nhí (Ðăng trên tờ điện báo VTC News ngày 17 tháng 6 -2015)
(Chữ dùng đúng phải là ‘thiếu sinh quân’. Dùng chữ ‘chiến sĩ nhí’ là không nghiêm túc, là chửi cha chính thằng viết bài, chửi cha tiếng Việt, chửi cha độc giả, coi thường độc giả và chửi cha luôn các cậu bé đang được huấn luyện trong quân đội!!!)
***Việt cộng viết: Chuyên cơ
(Chữ dùng đúng phải là ‘phi cơ riêng’)
***Việt cộng viết: Cơ trưởng, cơ phó
(Chữ dùng đúng phải là ‘phi công chính’, ‘phi công phụ’)
Ðây chính là sự rất ngu dốt của tên cán ngố “tổng biên tập” báo điện tử VTC News của việt cộng!
Theo tự điển Việt Nam của hai tác giả Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ thì: ‘Cơ’, có nghĩa là:”… cơ khí, máy móc …”
‘Phi công chính’ là người phụ trách lái máy bay và chỉ huy luôn toàn bộ phi hành đoàn, gồm phi công phụ và các tiếp viên. Phi công là nghề cao quý vì nghề nghiệp của họ đòi hỏi phải có thể lực tốt, phải có trình độ văn hóa giỏi và nhất là phải có đạo đức tốt, vì họ nắm trong tay hàng trăm sinh mạng của hành khách. Nếu tai nạn xảy ra, toàn bộ người trên máy bay sẽ bị thiệt mạng, và còn có thể làm cho nhiều người dưới đất bị chết.
Do đó, phải dùng chữ ‘phi công chính’ mới lột tả hết được những đặc tính nghề nghiệp của nghề phi công.
Không thể tùy tiện sáng chế ra mấy chữ ‘cơ trưởng’, ‘cơ phó’ để “hiếp dâm”, bôi nhọ tiếng Việt và chửi cha tiếng Việt! Nghề phi công thì phải dùng đúng chữ của nó là ‘phi công’, không thể tùy tiện biến nghề đó thành ra “máy trưởng” (thợ máy)! Nếu cứ tình trạng tùy tiện này thì có lẽ trong tương lai sẽ xuất hiện thêm chữ mới như “nước trưởng” (chủ tịch nước)!!!
Trước đây, việt cộng thường dùng chữ “giặc lái” hoặc “tổ lái” để chỉ các phi công của Việt Nam Cộng Hòa và phi công Mỹ!
Thật là đáng buồn, người ta nói hiện nay, nước Việt Nam đang ở trong thời đại sâu bọ lên làm người là rất đúng. Những thằng ba đời thất học, là bần cố nông thì bây giờ nó đang nắm trong tay những phương tiện truyền thông, cho nên bọn chúng tha hồ làm mưa làm gió, viết láo, viết bậy, chửi cha tiếng Việt, riết rồi đến mức, người Việt đọc tiếng Việt cũng không thể hiểu được gì nữa!!!
Ðây chính là một tội ác rất lớn của bọn việt gian cộng sản, đã dùng những thằng bần cố nông ba đời ngu dốt làm “tổng biên tập” các báo điện tử như TVC News, Kiến Thức, xâm lăng các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại!!!
***Việt cộng viết: Mặt bằng
– Chúng tôi đang tìm kiếm mặt bằng để xây dựng nhà máy
(Chữ dùng đúng là: ‘miếng đất’ hoặc ‘khu đất’)
– Cần thêm mặt bằng để nới rộng phòng khách
(Chữ dùng đúng là: ‘diện tích’)
***Việt cộng viết: Cán bộ giải phóng mặt bằng
– Ðây là sự lươn lẹo về từ ngữ: ‘Cán bộ giải phóng mặt bằng’ chính là bọn cán bộ việt cộng chuyên đi ăn cướp đất, cướp nhà của người dân. Quý vị vào YouTube sẽ thấy bọn “cán bộ giải phóng mặt bằng” ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, đến nhà ông Nguyễn Trung Cang và bà Mai Thị Kim Hương để lập biên bản, “giải phóng mặt bằng” (ăn cướp đất)! Bây giờ người dân miền Nam đã sáng thêm mắt ra chưa về hai chữ GIẢI PHÓNG??? (phỏng dái!)
Có lẽ trên thế giới chỉ duy nhất ở Việt Nam có cái nghề hết sức quái đản này: “cán bộ giải phóng mặt bằng”!!!
***Việt cộng viết: Thể hiện
Ví dụ: Bài hát ‘Ðón Xuân’. Ca sĩ thể hiện: ABC
Dùng chữ ‘thể hiện’ là không đúng. Trong trường hợp này phải dùng chữ ‘trình diễn’ hay ‘trình bày’.
Thể hiện là một cái gì chưa rõ, chưa đủ sức thuyết phục, gây được lòng tin nơi người khác, do đó nó phải được thể hiện thành hành động. Ví dụ:
– Những lời hứa hẹn giúp đỡ người nghèo đều đã được mọi người thể hiện bằng những hành động cụ thể.
– Các thanh niên đã thể hiện lòng ái quốc của mình bằng cách xung phong ra chiến trường.
Trước năm 1975, chúng ta thường dùng chữ ‘trình diễn’ hay ‘trình bày’. Ví dụ:
– Chúng tôi xin giới thiệu: Bài hát ‘Cánh thiệp đầu xuân’ của Lê Dinh, ca sĩ trình bày: Thanh Thúy!
Khi giới thiệu một bản nhạc, người quốc gia luôn luôn giới thiệu tên nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ trình bày.
Trong khi đó, bọn việt cộng bất lương chỉ giới thiệu tên ca sĩ, còn tên nhạc sĩ không bao giờ được giới thiệu, kể cả khi bọn chúng phát hành những video, CD hoặc băng cát xét!!!
Ðiều này cho chúng ta thấy bản chất của bọn việt gian cộng sản là ăn cướp, bóc lột xương máu và những công trình tim óc của giới nghệ sĩ sáng tác!
***Việt cộng viết: Ca từ
Chúng ta thường dùng chữ ‘nhạc và lời’. Ví dụ: – Giới thiệu bài hát ‘Chiều lên bản thượng’, nhạc và lời của Lê Dinh.
Hai chữ ‘ca từ’ hoàn toàn vô nghĩa, chỉ có bọn cán ngố việt cộng mới dùng!
***Việt cộng viết: Kỹ sư dân sự
Ðây là chữ dùng sai và vô nghĩa. Những tên cán ngố việt cộng dịch từ chữ ‘civil engineer’.
Trước năm 1975, chúng ta thường gọi là ‘kỹ sư công chánh’.
*** Việt cộng viết: Gậy tự sướng: công nhân sở điện lực Hà Nội dùng gậy tự sướng để ghi số điện tiêu thụ trong đồng hồ điện. (Ðăng trên báo điện tử VTC News của việt cộng)
Gậy tự sướng là cái chó gì?
Ðại khái, đó là cây gậy có gắn camera, dùng để “đọc” và lưu lại trong bộ nhớ những con số trong đồng hồ điện. Ở Hà nội, những đồng hồ điện thường được gắn trên cao nơi cột điện. Trước khi có gậy tự sướng thì công nhân phải bắc thang, trèo lên và ghi chép bằng tay.
Một lần nữa, đây là một ví dụ về sự dùng chữ bừa bãi của bọn cán ngố việt cộng ngu dốt nhưng thích làm “tổng biên tập”!
***Việt cộng viết: Ðâm xe liên hoàn trên cao tốc TP. HCM – Trung Lương (Báo VTC News online, ngày 13-8-2015)
– Hai xe đâm nhau, hai tàu thủy đâm nhau
Nhận xét:
(Chữ dùng đúng phải là ‘tông’, ‘tung’ hoặc ‘đụng’ chớ không có đâm chém gì ở đây hết! Bọn cán ngố việt cộng lúc nào cũng nghĩ đến chuyện đâm chém, giết chóc!)
Thế nào là liên hoàn?
Liên hòan là thành một vòng tròn. Ví dụ: Xe số một tông xe số hai, xe số hai tông xe số ba, rồi xe số ba lại tông xe số một …
Còn đụng xe trên xa lộ, nhiều xe nối đuôi nhau, tông nhau thì người ta nói là đụng xe giây chuyền. Hiểu chưa mấy thằng “tổng biên tập” cán ngố việt cộng. Dốt mà ưa khoe chữ!!!
***Việt cộng viết: cặp đôi
– Họ là cặp đôi hoàn hảo.
– Cặp đôi siêu mẫu X và Y vừa mới đi nghỉ mát tại Ý
– Cặp đôi tình nhân ôm nhau vỡ òa hạnh phúc!
Nhận xét:
Ðã ‘cặp’ rồi lại còn ‘đôi’, sao mà ngu quá vậy, mấy thằng cán ngố? Trong tiếng Việt, chữ ‘cặp’ tượng trưng cho con số 2, chữ ‘đôi’ cũng tượng trưng cho con số ‘2’. Ví dụ, chúng ta thường nói:
– Làm ơn đưa cho tôi đôi đũa. (Chớ không ai nói ngu là CẶP ÐÔI ÐŨA!)
– Tôi vừa biếu ông ấy một cặp rượu. (Chớ không ai nói ngu là CẶP ÐÔI RƯỢU!)
– Ðôi tình nhân rủ nhau đi nghỉ mát tại Ðà Lạt (Không có ai ngu nói là CẶP ÐÔI tình nhân!)
– Mấy tên cán ngố thường dùng mấy chữ ‘cặp đôi hoàn hảo’ là dịch từ chữ ‘a perfect couple’ trong tiếng Anh. Tiếng Việt chúng ta có câu tương đương: Ðôi tình nhân thật xứng, hoặc xứng đôi vừa lứa. Không có ai nói ngu là CẶP ÐÔI HOÀN HẢO hết! Ngay cả dân hai lúa nó cũng không nói như vậy!
Cũng như trường hợp cán ngố “tổng biên tập” dịch chữ ‘civil engineer’ thành ra ‘kỹ sư dân sự’! Cứ thấy chữ ‘civil’ là máy móc dịch thành ‘dân sự’!
‘Kỹ sư dân sự’ là cái chó gì! Chẳng ai hiểu tụi bay muốn nói cái gì! Do đó, cái đám cán ngố “tổng biên tập” tụi bay dầu có học một ngàn năm nữa cũng không bao giờ có thể bắt kịp được nền văn hóa, văn minh của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa!!! Cái đầu óc khỉ đột của tụi bay làm gì có một chút tế bào não nào trong đó mà học!
***Việt cộng viết: Trại bò Ba Vì, sau khi khám sức khỏe một ngàn CÁ THỂ bò thì phát hiện ra mười CÁ THỂ bò bị bệnh!
– Trong thùng đồ hộp này có chứa hai mươi CÁ THỂ hộp cá mòi.
– Vườn cây ăn trái của tôi có hai mươi CÁ THỂ xoài, mười CÁ THỂ dừa, năm CÁ THỂ mít!
Nhận xét:
Tự nhiên lại làm cho ngôn ngữ thêm phức tạp, rắc rối bằng cách thêm hai chữ ‘cá thể’ vào!
‘Một ngàn CON bò’ dễ hiểu hơn là ‘một ngàn CÁ THỂ bò’!
‘Hai mươi CÂY soài’ dễ hiểu hơn là ‘hai mươi CÁ THỂ soài’
‘Năm cây mít’ chắc chắn phải dễ hiểu hơn là ‘năm CÁ THỂ mít’
‘Hai mươi hộp cá mòi’ là đủ nghĩa rồi, tại sao lại thêm hai chữ ‘CÁ THỂ’ vào?
Ðúng là bọn cán ngố việt cộng ngu dốt , chuyên chửi cha tiếng Việt!!!
***Việt cộng viết: Ðộng thái.
– Trung Quốc đang triển khai ÐỘNG THÁI đưa dàn khoan 981 đến gần Ðà Nẵng.
Nhận xét:
‘Ðộng thái’ là cái chó gì hở thằng cán ngố “tổng biên tập” báo VTC News của việt cộng? Chữ này hoàn toàn không có trong tự điển! Thiếu gì chữ dùng cho câu văn trên, ví dụ như: hoạt động, hành động, kế hoạch ..v..v..
***Việt cộng viết: xuất viện, nhập viện
– Anh ta vừa mới xuất viện (Ý nói ra khỏi bệnh viện!)
– Ông ấy vừa mới nhập viện (Ý nói vào bệnh viện!)
Ở Việt Nam có rất nhiều “viện”. Chẳng hạn như: viện Khổng Tử, viện Mác Lê, viện uốn tóc, viện bảo sanh, viện mồ côi, viện dưỡng lão, viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em ..v..v.. Vậy, ‘nhập viện’ và ‘xuất viện’ là viện nào hở thằng cán ngố ngu dốt? Nếu muốn nói đi bệnh viện hoặc rời bệnh viện thì phải nói cho rõ ràng!
***Việt cộng viết: Hoành tráng
Nhận xét:
‘hoành tráng’ là chữ dùng rất ngu dốt, vô nghĩa, không hề có trong tự điển, mà do bọn cán ngố “tổng biên tập” việt cộng chế ra! Chữ này được bọn chúng dùng bừa bãi, bất cứ cái gì cũng có thể là “hoành tráng”! Ví dụ như: Cô gái đó có cái mông đít thật là … hoành tráng!
***Việt cộng viết: Ấn tượng – Thần tượng
Nhận xét:
Theo Việt Nam tự điển thì hai chữ này là danh từ. Nhưng việt cộng dùng các chữ ‘ấn tượng’, ‘thần tượng’ như một động từ. Ví dụ như:
– Tôi rất “ấn tượng” với lối trình diễn của ca sĩ A
– Tôi rất “thần tượng” ca sĩ A
Ðây là cách dùng chữ bừa bãi và ngu dốt của bọn cán ngố việt cộng. Chủ nào tớ nấy. Tên đại việt gian Hồ Chí Minh đã từng dùng chữ “tốt” như một trạng từ. Ví dụ:
– Học tập tốt, lao động tốt, ca hát tốt, đánh đàn tốt, dạy học tốt ..v..v..
***Việt cộng viết: Bức xúc
– Tôi rất bức xúc khi thấy cảnh tượng công an đánh dân
Nhận xét:
Chữ ‘bức xúc’ do bọn cán ngố việt cộng chế ra, không hề có trong tự điển và nó được dùng như một động từ và dùng bừa bãi trong nhiều trường hợp. Trong tiếng Việt, khi muốn diễn tả tâm trạng không hài lòng, chúng ta có rất nhiều tĩnh từ, ví dụ như:
– Bất mãn, bất bình, bất nhẫn, buồn bực, khó chịu, bực bội, lo lắng, lo âu, bồn chồn, bứt rứt, khó chịu ..v..v..
Tại sao lại dùng chữ “bức xúc” ngu dốt của giặc cộng? Bộ tiếng Việt do ông cha chúng ta để lại nghèo lắm hay sao?
***Việt cộng viết: Trải nghiệm
– Sau một tháng trải nghiệm du lịch ở Việt Nam, du khách quốc tế rất ấn tượng …
Nhận xét:
Ðây cũng là chữ dùng ngu dốt của bọn cán ngố việt cộng. Chữ này không hề có trong tự điển mà nó chui ra từ những bộ não của những con khỉ đột việt cộng. Cả đời bọn khỉ cộng sống chui rúc trong rừng, chưa bao giờ được trông thấy quyển tự điển. Bây giờ được đảng và nhà nước giao phó cho chức vụ “tổng biên tập” thì bọn chúng tha hồ múa may, quay cuồng, hiếp dâm và chửi cha tiếng Việt về mọi mặt!
***Việt cộng viết: Cô ấy ăn mặc rất CHỈN CHU. (Ý nói ăn mặc đẹp. Ðăng trên báo VTC News)
Nhận xét:
Chữ này thối không chịu được. ‘Chỉn chu’ là cái chó gì? Nghe như một tiếng đánh rắm của người đang bị no hơi, đầy bụng! Ðúng là chữ nghĩa của bọn cán ngố việt cộng, hiếp dâm và chửi cha tiếng Việt! Tại sao không viết:
– Ăn mặc đẹp, ăn mặc hợp thời trang, ăn mặc lịch sự, thanh nhã, đúng mốt ..v..v..
*** Việt cộng viết: Khả năng
– Ngày mai có KHẢ NĂNG mưa (Trời có thể mưa)
– Có KHẢ NĂNG Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam (Có thể Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam)
Nhận xét:
Việt Nam tự điển định nghĩa, ‘khả năng’ là: ” … tài sức, sức có thể cáng đáng …”
Khả năng là danh từ và thường được dùng cho con người. Ví dụ: Ông ấy có tài lãnh đạo nhưng thiếu khả năng chuyên môn.
Bọn cán ngố việt cộng dùng chữ ‘khả năng’ một cách bừa bãi, kể cả trời đất gì cũng “khả năng”!
***Việt cộng viết: Sự can thiệp của dao kéo (Báo điện tử VTC News của việt cộng)
– Cô ấy sở hữu khuôn mặt đẹp. Khả năng là có sự can thiệp của dao kéo.
Nhận xét:
Chúng ta thường nói: “Cô ấy có khuôn mặt đẹp. Có thể là nhờ giải phẫu thẩm mỹ”. Ðây là lối nói bình thường của những CON NGƯỜI. Chỉ có bọn cán ngố việt cộng SÚC VẬT mới dùng nhóm chữ “sự can thiệp của dao kéo”! Bọn cán ngố việt cộng đã quen giết người cho nên mở miệng ra nói toàn những: dao búa, dao kéo, đâm, chém, xử lý, giải phóng, khống chế, quản lý, quản chế!
***Việt cộng viết: SỞ HỮU (Báo điện tử VTC News của việt cộng)
– Hot girl ABC SỞ HỮU khuôn mặt ấn tượng, sở hữu thân hình chuẩn
– Cô ấy SỞ HỮU đôi mắt đẹp.
– Người mẫu SỞ HỮU đôi chân dài miên man
– Ca sĩ SỞ HỮU chất giọng khàn
– Ðại gia X SỞ HỮU biệt thự tiền tỷ
Nhận xét:
Theo Việt Nam tự điển, chữ ‘sở hữu’ là một danh từ.
Ngoài ra có những danh từ kép như: sở-hữu-chủ, quyền-sở hữu, sở-hữu cá-nhân, sở-hữu cộng-đồng, sở-hữu tố-quyền.
Ví dụ: – Ai là sở hữu chủ của căn nhà này?
– Các nông dân được quyền canh tác nhưng không được cấp quyền sở hữu miếng ruộng.
Tuy nhiên, bọn cán ngố việt cộng đã dùng chữ ‘sở-hữu’ như một động từ, giống như tên Hồ tặc “học tập tốt, lao động tốt”!
Theo cách nói bình thường, chúng ta nói:
– Cô ấy CÓ khuôn mặt đẹp.
– Ðứa bé ấy CÓ đôi mắt đẹp
– Chàng trai ấy CÓ thân hình cường tráng
Chỉ có đám cán ngố việt cộng, thằng dốt ưa khoe chữ, càng khoe thì càng lòi cái dốt của mình ra, mới hợm hĩnh dùng chữ ‘SỞ HỮU’!
Chúng ta hãy đọc những câu thơ sau đây của nhà thơ Hữu Loan trong bài thơ ‘Màu tím hoa Sim’, được Phạm Duy phổ nhạc:
– “…. Nàng CÓ ba người anh, đi bộ đội lâu rồi. Nàng CÓ đôi người em, CÓ em chưa biết nói. Tóc nàng hãy còn xanh …”
Quý vị hãy tưởng tượng, nếu viết theo kiểu của bọn cán ngố việt cộng thì: ” … Nàng SỞ HỮU ba người anh đi bộ đội lâu rồi. Nàng SỞ HỮU đôi người em, SỞ HỮU em chưa biết nói …”
Như vậy thì tiếng Việt còn ra thể thống gì nữa???!!! Nó đã biến thành ngôn ngữ của loài súc vật!!!
***Việt cộng viết: XỬ LÝ
– Ca sĩ đó XỬ LÝ bản nhạc chưa được chuẩn!
– Xử lý thông tin, xử lý rác thải, xử lý tội phạm, xử lý số liệu, xử lý nước cống, xử lý đàn bò, xử lý những suy nghĩ tiêu cực.
Nhận xét:
Theo Việt Nam tự điển, ‘xử lý’ là “… cứ lý lẽ và luật lệ mà phân xử, không xét về mặt tình cảm và phạm tội”
Chúng ta chỉ dùng chữ ‘xử lý’ trong các vấn đề thuộc về luật pháp. Trong khi đó, bọn cán ngố việt cộng thì dùng bừa bãi, bất cứ cái gì cũng ‘xử lý’, ví dụ như “ca sĩ xử lý một bản nhạc”; rồi thì: xử lý nước cống, xử lý tư tưởng, xử lý rác, xử lý đàn gà, xử lý cái mả bố của chúng nó!!! Bọn chúng nó đã quen giết người cho nên tâm địa của kẻ ác thường được thể hiện qua lời nói, ví dụ như: xử lý, giải phóng, quản lý, dao kéo, đâm chém ..v..v..
***Việt cộng viết: VÔ TƯ
– Các anh cứ ăn uống vô tư đi!
– Các cặp đôi cứ vô tư hôn nhau ngoài công viên
Nhận xét:
Theo Việt Nam tự điển: ‘vô tư’ là tĩnh từ. Nghĩa: ” … có óc công bình, không thiên vị …” Ví dụ: – Tâm hồn vô tư của trẻ thơ.
Nhưng bọn cán ngố việt cộng dùng chữ ‘vô tư’ như một trạng từ. Nghĩa của nó tựa như chữ ‘thoải mái’. Do hợm hĩnh, ngu dốt, ưa khoe chữ nhưng thực ra bọn chúng chỉ khoe ra cái đuôi dốt của mình!
***Việt cộng viết: chất lượng
– Hàng hóa đảm bảo CHẤT LƯỢNG!
– CHẤT LƯỢNG giáo dục xã hội chủ nghĩa rất ưu việt!
– CHẤT LƯỢNG tư duy của trẻ em còn non nớt
Nhận xét:
– Viết đúng phải là: hàng hóa bảo đảm PHẨM CHẤT (quality)
Nếu dịch sang tiếng Anh:
Phẩm chất = quality
Lượng = quantity
Hai chữ ‘chất lượng’ là vô nghĩa. Ví dụ quý vị mua một chiếc xe hơi. Công ty bán hàng có thể bảo đảm về ‘phẩm chất’ chiếc xe chớ không ai có thể bảo đảm về “lượng”!
Các chữ ‘giáo dục’ và ‘tư duy’ là danh từ trừu tượng và là danh từ không đếm được (uncountable nouns). Dùng chữ ‘CHẤT LƯỢNG giáo dục’ là sai hoàn toàn. Xin hãy tẩy chay những chữ dùng sai của bọn cán ngố việt cộng!
***Việt cộng viết: Tố chất, chất giọng, chất thơ, chất nhạc
– Ðứa bé đó có tố chất thông minh (Viết đúng phải là: tư chất thông minh)
– Ca sĩ đó có chất giọng khàn! Viết đúng phải là: Ca sĩ đó có giọng khàn. Chữ ‘chất’ có nghĩa là ‘phẩm chất’ (quality). Phải có giọng khàn như thế nào mới đạt ‘phẩm chất’? Cán ngố việt cộng ưa dùng chữ bừa bãi, chửi cha tiếng Việt!
***Việt cộng viết: Nữ hoàng nội y Ngọc Trinh đi dự kiện(báo VTC News)
Ði dự kiện là đi dự cái gì? Phải chăng là kiện cáo ở tòa án?
Những tên cán ngố việt cộng đã dịch nhóm chữ ‘attending facts’ là ‘tham dự sự kiện’, rồi tự động rút ngắn thành “đi dự kiện”, làm cho độc giả hiểu lầm là có kiện tụng gì đó ở tòa án!
***Việt cộng viết: CHỌC KHE
Ví dụ: Vận động viên X vừa thực hiện một cú CHỌC KHE tuyệt đẹp, vượt qua được hàng rào hậu vệ của đối phương …
Nhận xét:
Trước năm 1975, ký giả Huyền Vũ thường dùng nhóm chữ ‘đá lòn banh’ để diễn tả thao tác đá lòn trái banh qua háng đối phương. Ví dụ: Trung phong số 7 của đội X đã khéo léo đá lòn banh qua hậu vệ số 9 của đội Y.
Tên đại việt gian Hồ Chí Minh đã “chọc khe” rất nhiều “cháu ngoan”. Ðây chính là “tài sản văn hóa” quý báu mà hắn đã để lại cho lũ hậu duệ, kể cả trong lãnh vực thể thao!
***Việt cộng viết: TÂM TƯ
Ví dụ: Tên việt gian Phùng Quang Thanh, đại tướng của ngụy quân việt gian cộng sản có biệt hiệu là “đồng chí TÂM TƯ ” Lý do là hắn thường nói:
– Tôi nói ra điều này chắc các đồng chí rất TÂM TƯ: gia cảnh tôi rất nghèo, cả hai vợ chồng với hai đứa con chỉ sống trong một căn hộ có 60 mét vuông!
Từ đó tên Thanh heo nọc đã có biệt hiệu là “đồng chí TÂM TƯ” và nhiều tên bồi bút đã bắt chước cái lối nói ngu đần đó, viết bừa bãi trên nhiều bài báo! Một thằng lãnh đạo, ủy viên bộ chính trị, cấp bậc là đại tướng, chức vụ là bộ trưởng mà nói ngu như vậy thì cả đất nước Việt Nam cũng sẽ bị ngu theo nó!

PHẦN KẾT LUẬN:
Kể từ năm 1945 đến nay, sau 70 năm cai trị, đảng việt gian cộng sản đã tàn phá rất khủng khiếp nền văn hóa của dân tộc Việt mà tổ tiên chúng ta đã khổ công gây dựng qua hàng ngàn năm. Không chỉ riêng phần tiếng Việt bị hủy hoại, mất gốc, quái thai mà các phong tục, tập quán, tín ngưỡng và nhiều lãnh vực khác cũng bị bọn chúng phá nát. Cụ thể như bọn giặc đã đem tượng Quan Công vào đền thờ Ðức Thánh Trần, đem tượng thằng đại việt gian Hồ Chí Minh vào các chùa, đặt ngang hàng với tượng Phật, đem tượng của con nữ tướng cướp Nguyễn Thị Ðịnh vào đền thờ Hai Bà Trưng!

Hiện nay sự phá hoại và xâm lăng văn hóa của bọn giặc việt gian cộng sản đang được bọn Mỹ chó đẻ tích cực yểm trợ. Cụ thể là khoảng 90 phần trăm truyền thông ở hải ngoại đang nằm trong tay bọn giặc và bọn Mỹ chó đẻ. Nhiều người đã thấy được sự nguy hiểm này nhưng họ sợ, không dám lên tiếng. Thôi thì cứ hùa theo số đông cho chắc ăn! Người ta sao mình vậy, người ta nói bậy thì mình cứ nói theo!!! Ðấu tranh chống cộng tức là đi đòi những cái không bao giờ đòi được! (dân chủ và nhân quyền)

Hai tờ báo điện tử trên internet, VTC News và Kiến Thức chính là hai ổ rắn độc, cực kỳ nguy hiểm, độc hại gấp trăm lần tờ báo Người Việt ở quận Cam. Bọn Mỹ chó đẻ và việt gian cộng sản đã thành lập hai tờ báo này. Mục tiêu chính của hai tờ báo này là nhằm nhuộm đỏ toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Toàn bộ những ngôn ngữ ngu si, dốt nát, phản văn hóa đều xuất phát từ hai tờ báo này rồi lan truyền đi khắp trong nước và hải ngoại.

Tại sao chúng tôi dám nói hai tờ báo này là do việt cộng thành lập nhằm nhuộm đỏ cộng đồng người Việt tại hải ngoại? Lý do: Nội dung các bài viết đều là viết cho các độc giả tại hải ngoại. Ví dụ như có những mục làm thế nào để xúc tuyết mùa đông mà không bị tai nạn. Ở trong nước làm gì có tuyết mà xúc? Các mục khác về đời sống như lái xe, nấu ăn, thời trang, việc làm, bảo trì hệ thống máy sưởi trong nhà, trang trí nhà cửa là đều dành cho những người đang sống tại xứ lạnh. Ngoài ra, hai tờ báo này thường xuyên có những mục “Những hình ảnh tại miền Nam trước năm 1975” là nhắm vào những thành phần “ngụy” VNCH, để họ nhớ về những kỷ niệm trong quá khứ, không thể nào quên được! Càng nhớ thương quê hương đã mất thì những người “ngụy” VNCH càng đâm ra “nghiện”, cứ vào hai tờ báo này của việt cộng mà đọc hoài! Chưa hết, hai tờ báo này thường đăng những ảnh “độc” về chiến tranh Việt Nam, và ghi chú rằng những ảnh này là do các cựu quân nhân Mỹ cung cấp. Những tấm ảnh này gợi cho những người “ngụy” VNCH thấy được quá khứ oai hùng của mình và đồng minh, để rồi từ đó họ có cảm tưởng rằng hai tờ báo này là báo của những “người quốc gia”!

Sự thật, đây chính là những ngón đòn “chiêu hồi”, một loại nước đường có pha thuốc độc. Những nạn nhân không bị chết ngay mà sẽ chết từ từ nhưng rất chắc chắn trong tương lai gần!

Tất cả những cái quái thai ngôn ngữ như “hoành tráng, bức xúc” là đều xuất phát từ hai tờ báo này, do những con khỉ đột bốn đời bần cố nông đang giữ vai trò “tổng biên tập”!!!
Khoe khoang lố bịch về những cái “phồn vinh” của sự phồn vinh giả tạo. Hai tờ điện báo VTC News và Kiến Thức thường xuyên đăng những hình ảnh rất “hoành tráng”, cực kỳ sang giàu của xã hội Việt Nam dưới ách cai trị của tập đoàn việt gian cộng sản. Những tòa nhà chọc trời, những lâu đài mọc lên như nấm. Người dân ai cũng là “đại gia”, vàng và kim cương đeo đầy người và hút thuốc thì mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô! Ði chỗ nào cũng thấy hot girl, hoa hậu, hoa nam, hot boy, siêu người mẫu mà chưa chắc gì chốn Bồng Lai hay vườn Ðịa Ðàng có thể sánh bằng!

Nói chung, bản chất của bọn cán ngố việt cộng là ưa phét lác, nổ một tấc tới trời, trong thời chiến cũng như thời bình. Trong thời chiến, bọn chúng đã từng nổ rằng đế quốc Mỹ chỉ là con hổ giấy, và rằng súng trường có thể bắn rớt máy bay “con ma” (F111) của Mỹ!

Những sự phét lác này nhằm tuyên truyền rằng: Dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, Việt Nam hiện nay đã trở thành “cường quốc” kinh tế! Tuy nhiên, nếu quý vị theo dõi bảng xếp hạng ‘The Good Country Index’ do Liên Hiệp Quốc thực hiện năm 2014 thì Việt Nam bị xếp hạng thứ 124 trên tổng số 125 nước, đứng hạng bét về mọi lãnh vực! Nói tóm lại, Việt Nam là nước NGHÈO NHẤT TRÊN THẾ GIỚI!!!
Xen lẫn với các hình ảnh về người lính VNCH thì hai tờ báo VTC News và Kiến Thức thường đăng những hình về các “bộ đội cụ Hồ” đánh thắng Mỹ Ngụy và ca ngợi đảng việt gian cộng sản. Ðây là hình thức hòa hợp hòa giải giống như tờ báo VietWeekly đã và đang làm.

LỆ THUỘC VỀ VĂN HÓA SẼ ÐƯA ÐẾN LỆ THUỘC VỀ KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ.

//

Bà Đầm Phạm Thành – Vũ Khí Mới Của Thế Giới Dân Chủ và Biện Pháp Chết Của Cộng Sản Việt Nam.

 

Bà Đầm Phạm Thành added 2 new photos — with Minh Tuan Nguyen and 15 others.

7 hrs · 

Vũ Khí Mới Của Thế Giới Dân Chủ và Biện Pháp Chết Của Cộng Sản Việt Nam.

II. Trong cơn giẫy chết, cộng sản Việt Nam sẽ ứng phó thế nào?

Nhờ thế giới dân chủ tự do mở cửa, hợp tác làm ăn mà kinh tế đất nước khá lên, cộng sản cầm quyền cũng mạnh lên. Lẽ ra, cộng sản phải biết trân trọng, dựa vào hiện thực đó để bỏ dần độc tài, nơi rộng dân chủ và tiến đến kiến tạo một nhà nước dân chủ thực sự. Nhưng như người xưa đã nói, “giang sơn dễ đổi bản tính khó rời”, cộng sản vẫn muôn đời là cộng sản. Chúng chỉ như giòi bọ, không có gen để chuyển hóa, phát triển thành sinh vật cao cấp hơn mà chỉ có khả năng biến đổi, làm sao cho phù hợp với đống cứt thối mà chúng đang sinh sống và tận hưởng ở trong đó. Chúng vững tin với khối tài sản khổng lồ mà chúng cướp được bằng mánh lới lừa thế giới, lừa dân trong nước mà có. Để rồi từ đó, chúng lại hiện nguyên hình một kẻ chuyên nghề lừa đảo có đẵng cấp, một quỹ Sa tan chỉ lấy giết chóc làm lẽ tồn tại của mình. Nghĩa là, chúng tiếp tục thực hiện chính sách ba gọng kìm: đàn áp, đói nghèo và ngu dân, nhằm kéo dài thêm tuổi thọ tội ác của chúng.

10 năm tù cho Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh- vừa bị tòa án CSVN tuyên vào ngày 29/6/2017 và vài tháng trước đây, hai nhà yêu nước Trần Anh Kim bị án 13 năm tù, Lê Thanh Tùng bị án 12 năm tù, là thực tế rõ ràng, cao độ thể hiện sự độc ác được tiếp tục không có giới hạn của chế độ độc tài cộng sản cầm quyền Việt Nam. Bên cạnh đó, để che dấu bộ mặt tội ác, từ đầu năm 2017, chúng nuôi dưỡng và sai khiến dân binh dân phòng, côn đồ xã hội đen ra mặt trấn áp, khung bố, hành hung bằng bạo lực đối với những người đấu tranh.Sự bạo tàn của chính quyền cộng sản chỉ có thể so sánh với sự bạo tàn của một nơi duy nhất còn lại trên thế giới, đó là chế độ vừa phong kiến, vừa độc tài của cộng sản Triều Tiên.

Tại sao CSVN lại bất ngờ trở nên tàn độc kinh khiếp đến như vậy?

Tôi cho rằng, sở dĩ cộng sản Việt Nam tàn ác như vậy là vì chúng tự biết, chúng khó có thể lừa được thế giới dân chủ thêm một lần nữa; và khi không thể lừa được nữa, chúng lại quay về với đường lối cố hữu: đàn áp, ngu dân và đói nghèo, nhằm hướng tới các mục đích:

1. Tiêu diệt không khoan nhượng, tiêu diệt hết tất cả những người dám đấu tranh. Tiêu diệt để người khác thấy phải sợ, không dám noi gương đi theo, làm theo. Tiêu diệt để thế giới và gia đình người bị hại phải sót thương, phải tìm cách đưa họ ra nước ngoài mà sinh sống; ai muốn sống ở Việt Nam nhất nhất phải sống kiếp chó lợn cho chính quyền. Không muốn sống kiếp chó lợn chỉ còn cách tìm đường chuồn khỏi Việt Nam. Dư luận viên của đảng, mấy năm nay, giường như được chỉ đạo và đã liên tục tung ra “chiêu sách” có tính chất “dọn đường” này.

2. Chúng muốn cho thế giới tự do dân chủ thấy, chúng ghê tởm như thế nào, chúng nhất quyết không chịu thay đổi như thế nào. Từ đó, thế giới tự do dân chủ sẽ tự thấy ghê tởm, tự thấy cần phải tự giác tránh xa chúng ra, như ghê tớm và tránh xa nước Triều Tiên vậy.

3. Chúng muốn nhân dân luôn phải sống trong tình cảnh đói rách. Vì, khi thế giới đã ghê tởm, đã tránh xa chúng ra, không còn sự hợp tác làm ăn, viện trợ, vay vốn ưu đãi thì sớm hay muộn đời sống của người dân, đặc biệt nông dân, những người hưởng lương cũng sẽ dần dần rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Khi đời sống người dân đã rơi vào cảnh sống khó khăn, thì con đường sống trước mắt của dân là phải bám chặt vào đảng và nhà nước để duy trì sự sống. Đồng tiền cướp được của đảng, nhà nước cộng sản sẽ trở nên có giá trị lạ thường với bất kỳ ai; đặc biệt những loại người chó, người bò, người lợn và đám doanh nhân, đồng tiền còn trở thành miếng mồi nhử thiêng liêng, hối thúc tính trung thành, tính gắn kết với đảng, nhà nước hơn lúc nào hết. Ở Việt Nam, số lượng người loại này, lúc nào cũng đông như quân Nguyên. Khi mọi công dân phải bám chặt vào đảng, nhà nước mới có miếng ăn, mới sống nổi thì đó là cơ sở để đảng, nhà nước cộng sản kéo dài thêm tuổi thọ tội ác.

Sự tàn ác tận diệt hết những người đấu tranh, những người có tư tưởng tiến bộ, rắp tâm bần cùng hóa đời sống nhân dân, thực hiện kế sách ngu dân của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng là chỉ nhằm tới mục tiêu chó má như vậy. Tôi không rõ các nước độc tài cộng sản khác có “sợi chỉ đỏ” cho mục tiêu xuyên suốt này hay không, nhưng tôi tin tưởng vững chắc vào mục tiêu chó má này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Bởi chúng biết, chết ai khổ ai, chứ chúng và thân nhân của chúng thì không chết, không khổ. Thằng cộng sản cầm quyền nào cũng đã giầu nứt đổ đổ vách cả rồi. Việt Nam có bị cấm vận 10 năm, 20 hoặc 30 năm, chúng và đại gia đình chúng cũng vẫn còn dư dả của cải để sinh sống, vẫn còn dư dả của cải để an toàn thông qua đồng tiền nuôi dưỡng lực lượng đàn áp và bảo vệ cho chung. Chết ai khổ ai, chứ nhất định chúng và đại gia đình chúng không chết không chết. Hơn nữa, thằng nào chả có tài sản lớn ở nước ngoài. Không thích ở Việt Nam thì chỉ cần một “phút mốt” là chúng đã thành công dân của nước tự do dân chủ rồi.

Nhưng, thưa bọn độc tài cộng sản cầm quyền. Những thủ đoạn tàn độc như trên chỉ có thể tồn tại và có tác dụng khi thông tin bị bưng bít. Ngày nay, thông tin đã vào tận từng giường ngủ của mọi nhà, mọi người. Đòn tàn độc bất nhân của chúng sẽ nhanh chóng bị lật mặt. Sự cố tình lừa đảo nhiều lần chỉ làm cho lòng dân thêm căm phẫn. Dồn dân vào con đường “sống cũng như chết”, nhân dân không thể không vùng lên, không thể không đập tan xích xiềng khát máu, nô lệ; không thể không phanh thây kẻ thủ ác ra làm muôn mảnh. Đòn tàn tộc, kết cục sẽ chỉ như “gậy ông lại đập lưng ông” mà thôi. Càng tàn độc thì ngày chết, ngày phanh thây của cộng sản cầm quyền chỉ càng thêm ngắn lại. Có áp bức có đấu tranh là quy luật sống muôn đời. Nhân dân Việt Nam và thế giới tự do đã sẵn sàng cho một ngày cộng sản bị phanh thây đó rồi.

Trớ trêu thay, chính chúng đã tự đào hố chôn chúng bằng điều luật do chúng soạn ra. Thật là ông Trời có mắt. Dối gian không lại được với Trời:

“Người nào trong thời bình hay trong chiến tranh mà có hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một nước, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội nhằm phá hoại xã hội đó, cũng như có những hành vi diệt chủng khác hoặc những hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình – Điều 342 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định về Tội chống loài người”. ( Theo FB Đinh Văn Hải).

Ảnh 1: Đàn áp khốc liệt ở Hà Tĩnh đầu năm 2017.
Ảnh 2: Cụ Kình, 82 tuổi ở xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội, bị an ninh bắt cóc và đánh gãy chân đầu năm 2017.

Image may contain: 4 people, people sitting

Image may contain: 4 people, people sitting

//

Bửu Uyển – Một nụ cười  (Chuyện tình đẹp)

(Chuyện tình đẹp)

Một nụ cười 

Bửu Uyển.

            Vào dịp cuối năm 1984, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”
            Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”
            Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”
            Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”
            Đạo như chợt tỉnh, ông lảo bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.
            Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.
            Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.
            Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.
            Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.
            Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còncho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.
            Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.
            Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.
            Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.
            Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !
            Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.
            Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.
            Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:
“ Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả.  Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”
            Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”
            Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và  4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.
            Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”
            Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “
            Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.
            Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.
            Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.
            Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!”  Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !  
            Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.
            Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.
Bửu Uyển
Tháng 6-2016