HÀ NỘI_ Song Thao

HÀ NỘI
Song Thao
clip_image008Tôi xa Hà Nội năm tôi 16 .
.
Năm đó tôi đang học lớp Đệ Tứ trường Dũng Lạc, ngay bên hông nhà thờ chánh tòa mà dân Hà Nội ngày đó gọi là nhà thờ Lớn. Hà Nội của tôi nằm trên con đường từ nhà ở bên hông chợ Hôm tới trường và vùng phụ cận. Dọc đường tới trường có đường tàu điện mà chúng tôi thỉnh thoảng quá giang không mất tiền. Không phải đây là loại tàu thí mà vì chúng tôi gian! Tàu có vài toa, mỗi toa có người bán vé đi dọc trong toa. Người này cầm một tấm bảng lớn hơn tập vở trên đó có cái thanh giữ những tập vé dày cộm. Vé nhỏ bằng hai đốt ngón tay có nhiều màu trông rất vui mắt, mỗi màu là một chặng đường. Khi mua vé, người bán sẽ xé vé đưa cho người mua, cùi vé vẫn dính vào thanh ngang. Thường thì ba mẹ tôi vẫn cho tiền mua vé tàu đi học mỗi ngày nhưng ngày đó chúng tôi đã biết quý đồng tiền nên chẳng dại gì mà đưa tiền cho người bán vé. Chúng tôi đi tàu quịt bằng cách tử tế nhất là xin những chiếc vé còn giá trị cho đoạn đường kế tiếp của những hành khách xuống tàu hoặc, bặm trợn hơn, nhảy tàu đang chạy, hay truyền từ toa tàu này qua toa khác để tránh ông soát vé. Tiền đó chúng tôi làm văn hóa bằng cách đưa cho cô hàng sách để nhận một tập giấy 32 trang, khổ sách in, truyện kiếm hiệp như Long Hình Quái Khách hoặc Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự hoặc truyện trinh thám của Phạm Cao Củng hay truyện đường rừng của Lê Văn Trương được in cóc nhẩy vài ngày một tập, mỗi tập chỉ đúng có 32 trang. Đọc vèo một cái là xong, mong chờ từng ngày để đọc tiếp. Ngày nào cũng phải tạt qua tiệm sách, chăm chú đọc tấm bảng đen viết bằng phấn trắng thông báo truyện mới ra ngày hôm đó. Tôi khá Việt văn chắc là nhờ những tập giấy 32 trang này. Đọc xong, đóng thành tập bằng cách dùng chỉ khâu lại. Tập sách này giúp chúng tôi làm thương mại bằng cách cho bạn bè thuê. Bạn bè cùng lớp toàn những thứ đứng hàng thứ ba sau quỷ và ma nên việc buôn bán này luôn bị trục trặc gây nên những cuộc cãi vã chửi bới và có khi trầm trọng hơn phải vận dụng tới chân tay.
.
Nhiều khi chúng tôi xa rời văn chương để dùng tiền mon men tới những tấm truyện bằng hình tarzan hoặc zorro, chữ thì ít, hình thì nhiều nhưng có thể dùng làm đơn vị tiền tệ trong những trận đánh quay, đánh khăng hoặc bắn bi, đánh đáo.
Nơi chúng tôi bắn bi, đánh đáo, đánh quay, đánh khăng là sân trường hoặc vỉa hè trước nhà. Ngày đó vỉa hè không được lát gạch, chỉ toàn đất nên rất tiện cho việc chơi đùa của chúng tôi. Hiện tôi còn một anh bạn bắn bi đánh đáo ngày đó sống tại Montreal này. Nhà anh ở trước cửa nhà tôi trên đường Phùng Khắc Khoan nhỏ hẹp nối liền phố Hòa Mã với đường Trần Xuân Soạn. Mỗi lần gặp nhau, anh luôn hồi tưởng lại những trận thư hùng ngày đó và còn tức tối khi nhắc lại là tôi bắn bi rất mả, ăn hết bi của anh. May mà bây giờ anh không còn quý những viên bi như ngày xưa, nếu không thì chắc đã có một trận cãi vã ra gì giữa hai ông già mà còn vương vấn chuyện xưa khi còn… ngỗng đực!
.
Ngã tư Trần Xuân Soạn và phố Huế có một rạp xi nê nhỏ chuyên chiếu những phim giải trí cho nhi đồng. Phim kiếm hiệp Trung Hoa mà các hảo hán đằng vân giá vũ, áo quần bay phần phật, tay giữ chuôi kiếm, nhưng anh quay phim chĩa máy quay hơi thấp nên khán giả thấy cả bức tường nơi họ đứng vững vàng khi đang bay. Phim Tarzan hú vang trời vang đất đu rễ cây rừng giải cứu cô Jane thoát khỏi nanh vuốt của con khỉ đực. Tôi phải thú nhận là ngày đó đã ngây người ngắm cô Jane trong y phục rừng rú sơ sài chỉ có chút lá cây. Phim Zorro bịt mặt phi ngựa rầm rập kịp tới chỗ cứu người đẹp lúc kết phim làm chúng tôi vỗ tay vang rạp một cách thích thú. Trong một bài viết, tôi đã thú thật là quên tên rạp hát nho nhỏ này. Một độc giả từ bên Arizona phôn qua nhắc tôi đó là rạp Hà Nội. Chuyện quanh về khu phố Huế ở Hà Nội xưa, chúng tôi mới biết là hai đứa ở chung trên một con đường nhưng hai phía khác nhau ngăn cách bởi phố Huế, phía bên nhà tôi là Trần Xuân Soạn, phía bên kia phố Huế con đường đổi tên thành phố Huyền Trân Công Chúa. Lan man đấu láo, những nơi chốn thân quen xưa cũ như rạp xi nê Đại Nam, tiệm kem Cẩm Bình, nhà sách của bà Hồ Dzếnh được nhắc tới với muôn vàn kỷ niệm xưa. Song song với đường Trần Xuân Soạn, cắt ngang phố Huế là phố Hàm Long, nơi có ngôi nhà thờ mà trường tiểu học Trần văn Thưởng của tôi nằm trong khuôn viên.
.
Một nơi mà chúng tôi hay đạp xe tới là Bờ Đê và Rặng Ổi. Bờ đê Yên Phụ để đá bóng trên những bãi cát, Rặng Ổi để leo trèo hái trộm ổi. Bãi cỏ trước Viện Bảo Tàng, sau Nhà Hát Lớn, để tụ tập đấu láo. Bờ Hồ để câu cá, ăn bánh mì ba tê của những người bán dạo, thăm quán kem Mụ Béo và mua phát xa húng lìu của ông tàu già ngồi trong tháp Hòa Phong bên hồ Gươm. .
.
Hà Nội ngày đó chứa tuổi thơ của tôi. Khi rời Hà Nội tôi quả không có một chút phiền não nào. Tuổi thơ là thứ để sau này nhớ về chứ không phải thứ lưu luyến khi đó. Rời Hà Nội, tôi háo hức trước viễn ảnh được tới một phương trời mới, bồi hồi khi lần đầu tiên được leo lên máy bay. Phi trường Gia Lâm (hay Bạch Mai?) bữa đó là nơi tôi đặt chân tới đầu tiên. Những chiếc máy bay Dakota cánh quạt nằm phủ phục như những thớt voi đã thuần hóa. Khi anh lính Pháp, với giọng ngọng nghịu đọc những cái tên Việt Nam làm chúng tôi cười thoải mái, đã đỏ mặt giơ tay đếm đầu người cho lên máy bay mà chẳng cần tên tuổi. Ngày 26 tháng 7 năm 1954, sáu ngày sau ngày ký Hiệp Định Genève, là ngày tôi xa Hà Nội.
.
Ngày Hà Nội được chôn sống, tôi không còn có mặt để tiễn đưa thành phố thân yêu vào tay Cộng sản. Đó là ngày 10 tháng 10 năm 1954, tính tới nay đúng 60 năm. Một người Hà Nội, cỡ tuổi tôi, cũng ngụ tại phố Hàm Long trong khu phố cũ của tôi, ông Lê Phú Khải, đã hồi tưởng lại.
“Đêm 9-10-1954 cả thành phố thiết quân luật. Đường phố như chết, không một bóng người, không có tiếng rao đêm quen thuộc. Nhưng hầu như tất cả Hà Nội đều thức trắng đêm đó, hồi hộp chờ đến sáng…Nhà tôi ở đầu phố Hàm Long, gần ngã năm Phan Châu Trinh, Hàn Thuyên, Lò Đúc, Lê Văn Hưu… Mấy chị em tôi hay dán mắt nhìn qua khe cửa, trong ánh sáng vàng đục của những ngọn đèn đường, tôi nhìn thấy những tên lính Pháp cao lớn mang súng đi tuần. Gần sáng, lính Pháp chốt lại ở đầu phố nhìn ra ngã năm. Khi trời chưa sáng hẳn, từng tốp bộ đội vai đeo súng từ từ tiến đến chỗ lính Pháp đứng. Những tên lính Pháp cao lớn đứng bên những anh bộ đội bé nhỏ, chỉ cao đến ngang vai lính Pháp. Họ nói với nhau những điều gì đó, bàn giao cái gì đó… rồi lính Pháp từ từ rút lên phía Nhà Hát Lớn thành phố theo đường Phan Châu Trinh. Khi lính Pháp rút rồi, chỉ còn bộ đội ta thì các cánh cửa hai bên phố đều bật tung, dân chúng ùa ra đường với cờ đỏ sao vàng trong tay reo mừng, hoan hô bộ đội”.
.
Mười một năm trước, năm 2003, tôi trở về Hà Nội sau gần nửa thế kỷ xa cách và thấy một Hà Nội khác. Khác ngay từ căn nhà cũ mà nửa thế kỷ trước tôi đã rời xa. Tòa nhà hai tầng, sáu phòng trước đây có hai gia đình: gia đình bác tôi và gia đình tôi. Nay đã được chia ra cho tám “hộ” trú ngụ. Mỗi gia đình một phòng, còn hai gia đình chiếm cái garage để xe và nhà kho nằm phía trên garage. Hành lang, cầu thang là nơi công cộng, cha chung không ai khóc, nên dơ dáy như một bãi rác. Tôi cố mường tượng lại những ngày sống trong tòa nhà này nhưng thực tại đã phá hỏng hồi ức của tôi.
Nhưng cái tôi tiếc nhất là vỉa hè trước nhà, thiên đàng của lũ nhỏ chúng tôi hồi đó. Con phố Phùng Khắc Khoan yên tĩnh ngày trước, nay đã biến thành một khu phố chuyên bán vải. Vải từ trong nhà tràn ra vỉa hè. Người người chen lấn ồn ào như một cái chợ. Chợ đứt đuôi chứ còn “như” nỗi gì. Dân Hà Nội gọi đó là khu chợ vải. Tôi len lỏi trên vỉa hè, va bên này vấp bên kia những bàn vải nặng mùi hóa chất mà cái bụng sôi sùng sục. Họ đã ăn cắp vỉa hè của tôi. Tôi tiếc cái thay đổi ở vỉa hè hơn là cái vỡ vụn trong nhà. Bởi vì ngày đó tôi ở ngoài vỉa hè nhiều hơn ở trong nhà. Cái ồn ào chợ búa trên vỉa hè làm tôi tức muốn khóc.
.
Tưởng là chỉ có mình tôi thương tiếc vỉa hè nhưng ông nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng chung tâm sự với tôi. Trong bài “Thương Nhớ Vỉa Hè” ông đã ca cẩm:
“Thương nhớ gì lại đi thương nhớ vỉa hè, có mà dở hơi. Nhưng mà thương nhớ thật, nhiều khi tay chống cằm nhìn qua cửa sổ thấy vỉa hè nhốn nháo ngày nay bỗng nhớ thương da diết vỉa hè ngày xưa. Ở góc phố nào cũng có tụi con nít chạy loăng quăng đá bóng, nhảy dây. Mấy thiếu phụ vắng chồng, dắt con nhỏ tha thẩn đứng hết góc này sang góc nọ, gió thổi tóc bay váy lộng, vào mùa lá rụng cảnh ấy đẹp lịm người. Bây giờ thì không còn nữa, một khi hàng hóa túa ra thì vỉa hè teo lại nhường chỗ cho mưu sinh, ô tô chiếm hết lòng đường thì xe đạp xe máy nhảy lên hết vỉa hè. Mỗi đường phố chỉ còn vài khúc thảnh thơi, còn thì mất sạch. Mai mốt có lẽ không còn cái vỉa hè nào cho đúng nghĩa vỉa hè Hà Nội”.
.
Tôi còn mất nhiều thứ khi trở về lại Hà Nội. Mất rạp xi nê Hà Nội nay thành một cửa hàng bán áo cưới. Mất ngôi chợ Hôm nay trùng tu lại diêm dúa như một cô gái về già. Mất bờ đất cắm cần câu quanh hồ Gươm nay đã gạch đá phẳng lì. Mất ông Tàu già bán phát xa húng lìu nóng bỏng ngồi trong cái tháp cổ bên hồ Hoàn Kiếm. Mất những toa tàu điện chạy dọc phố Huế lên tới Bờ Hồ ngày nhỏ ăn gian vé. Nhưng cái mất nhiều nhất là mất con người Hà Nội.
.
Người Hà Nội ngày nhỏ của tôi đi đâu mất tiêu hết? Người Tràng An thời tôi còn nhỏ đã được khắc nét trong hai câu thơ: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài / Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Dân thủ đô Hà Nội từ ngày còn cái tên Thăng Long là những con người lịch lãm với lối nói rất…Tràng An yểu điệu lượt là. Những thêm thắt vào câu nói với “dạ vâng, dạ thưa” nhẹ nhàng; những rào đón trước khi nói ra ý nghĩ của mình với “nói vô phép” “nói khí không phải”; những lời cám ơn suýt soa “quý hóa quá”. Ngày nhỏ tôi đã sống trong những lời nói điệu đàng đó khiến nhiều lúc, như một thứ tinh nghịch, muốn phá vỡ những âm thanh mà nhiều khi nghe như giả dối, khách sáo, thiếu chân tình. Bây giờ, về lại phố xưa, tôi hối hận vì ngày nhỏ đã không trân trọng lời ăn tiếng nói của dân Hà Nội ngày đó. Chợ vải trên vỉa hè xôn xao những âm thanh lạ lẫm. Tiếng Hà Nội bây giờ nghe ngang ngang với những âm thanh như chọc vào lỗ tai người nghe. Đó là một sự pha trộn những phát âm không thể là tiếng Hà Nội. Muốn nghe lại tiếng Hà Nội nguyên thủy, người ta phải tới…Sài Gòn! Như ông Ngô Triệu Phong đã từng. Ông kể lại: “Cuối năm 1978, tôi vào Sài Gòn, được gặp một số người Bắc lớn tuổi di cư năm 1954. Họ vẫn giữ chất giọng và cách nói rất Hà Nội cho dù họ sinh hoạt với cộng đồng người phía Nam một thời gian khá dài.Thực ra cũng chưa có văn bản nào xác nhận tiếng Hà Nội là chuẩn mực. Có lẽ người ta mặc định đó là tiếng của thủ đô? Nhưng điều tôi muốn bàn ở đây là lời ăn tiếng nói của người Hà Nội nói riêng, tiếng Việt nói chung, đã thay đổi nhiều. Việc này hiển nhiên vì ngôn ngữ có đời sống của nó. Nhưng thay đổi theo hướng biến dạng và méo mó thì không thể chấp nhận”.
.
Ý nghĩ của ông Ngô Triệu Phong có thể lý giải một phần việc mai một của tiếng Hà Nội ngay giữa lòng Hà Nội: người Hà Nội đã bỏ Hà Nội! Ngoài cả trăm ngàn người Hà Nội di cư, người Hà nội còn bị xua đuổi bởi những người tiếp quản thủ đô. Những kẻ chiến thắng đã tràn vào Hà Nội. Họ là những người từ nhiều địa phương khác nhau, mang vào Hà Nội nhiều phương ngữ khác nhau. Tất cả trộn lại thành một thứ tiếng hổ lốn định hình cho tiếng Hà Nội hiện nay.
.
Tôi có một anh bạn ở Montreal. Cha mẹ, anh em di cư vào Nam hết, riêng mình anh ở lại với bà nội để giữ nhà. Họ tưởng là hai năm sau, theo hiệp định Genève, đất nước sẽ thống nhất, gia đình sẽ đoàn tụ lại. Vài năm sau khi Cộng sản xâm lăng miền Nam, anh được gia đình bảo lãnh qua Montreal. Nói chuyện với anh, không ai nghĩ anh là người ở lại Hà Nội sau ngày di cư. Anh vẫn nói tiếng Hà Nội rất chuẩn, không một chút méo mó. Hỏi chuyện, anh cho biết, sau ngày tiếp quản, thành phần chủ chốt của những người cầm quyền mới là những người từ ngoài vào Hà Nội. Ngay trong nhà trường, các giáo viên cũng là những người từ những địa phương khác được phái về Hà Nội. Họ không nói tiếng Hà Nội. Cả một thế hệ người trẻ theo họ, bắt chước tiếng nói của họ. Những thế hệ sau, ảnh hưởng của việc thay đổi tiếng nói càng trầm trọng hơn. Xã hội phải theo thời, đó là định luật xã hội. Ít người cưỡng lại được. Anh là một trong số những người ít ỏi đó. Vì anh có cái may mắn là gia đình ở trong Nam chu cấp thừa mứa tiền bạc, vật dụng cho bà cháu anh qua ngả Pháp. Anh không phải lệ thuộc vào xã hội.
.
Biến dạng theo tiếng nói, người Hà Nội ngày nay biến dạng cả trong cách cư xử. Hết rồi phong cách của người Tràng An: lịch lãm, hào hoa phong nhã, ngôn ngữ trong sáng. Một ông Tiến sĩ ở thủ đô đã nhận xét: “Người Hà Nội bây giờ tiết kiệm với nhau cả những cái gật đầu, cả những nụ cười và thay vào đó là lối nói xô bồ, tục tĩu huỵch toẹt, thiếu văn hóa, kiểu ăn nói “lệch chuẩn”, nhất là ở giới trẻ. Họ quên hẳn những chữ “cám ơn” hay “xin lỗi”.
.
Ông Lê Phú Khải, người Hà Nội xưa không di cư, ở lại với Hà Nội, kể về trường hợp nhà thơ Hoàng Hưng. Nhà thơ ba đời là người Hà Nội. Sau 1975, vào sinh sống tại miền Nam. Nay về hưu muốn quay trở lại Hà Nội. Ông Khải viết: “Bây giờ mười người Hà Nội thì có đến tám người từ các nơi khác đến “ngụ cư”! Họ làm quan, làm thợ, làm dân thường. Họ mang lối sống “hỗn tạp” (từ dùng của nhà thơ Hoàng Hưng) đến đất ngàn năm văn vật! Chính vợ nhà thơ Hoàng Hưng kể với vợ chồng tôi rằng, hai vợ chồng bà đi chợ mua một ngàn đồng lá chè tươi, được người bán vốc cho một nắm. Thấy một ngàn mà cũng được một vốc, nhà thơ Hoàng Hưng khen: “ Được nhiều đấy nhỉ !”. Bất ngờ cô bán hàng chửi : “ Mua có một ngàn mà còn nói cái đéo gì, cút mẹ nó đi cho người ta bán hàng!”. Ít lâu sau tôi được biết vợ chồng nhà thơ Hoàng Hưng đã bán căn hộ ở bán đảo Linh Đàm để quay về Sài Gòn. Chấm dứt “ước mơ” cuối đời quay về cố đô sau nhiều năm lưu lạc (!)”.
.
Mới đây, tôi đọc được một bài viết của một người Hà Nội, nay đã vượt biển qua sống bên Mỹ, nhớ lại cái Tết đầu tiên khi Hà Nội bị sa vào tay Cộng sản: “Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam,” để rồi bị đấu tố là tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu.” Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua,” thành “tề ngụy,” hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán,” chẳng ai còn gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập.”
.
Những tao nhân mặc khách Hà thành đó vẫn không xa được Hà Nội, dù là một Hà Nội vong thân.
.
10/2014

Bí mật Vạn Lý Tưởng Lửa của Trung Quốc!

Bí mật Vạn Lý Tưởng Lửa của Trung Quốc
on Tuesday ·
  • Xem ngay video này để dự đoán tương lai của Internet Việt Nam có giống vậy không nhé!

*

*

 

 

 

Sài Gòn hai mươi năm trước! _ Bút ký của cựu binh Mỹ

Sent: Fwd, chuyển tiếp do HN, Cám ơn_ TN.
SubjectSài Gòn hai mươi năm trước qua bút ký của Robert Olen Butler Jr.một cựu binh Mỹ
.
Sài Gòn hai mươi năm trước 
qua bút ký của một cựu binh Mỹ
LTS. Robert Olen Butler Jr. sinh năm 1945 tại Illinois. Ông tham chiến ở Việt Nam từ 1967 đến 1971, lúc đầu là nhân viên quân báo sau làm thông dịch. Nhưng chính tại Việt Nam ông đã được hiểu lịch sử và văn hóa của một dân tộc. Ông thú nhận: “Người Việt Nam là những người nồng nhiệt cởi mở và hiếu khách nhất mà tôi từng gặp, chính họ đã mời tôi bước vào nhà họ, bước vào nền văn hóa và cuộc đời của họ”. Trở về Mỹ năm 1981, Butler bắt đầu viết văn. Đến nay ông đã có hơn mười tác phẩm, gồm tiểu thuyết và truyện ngắn. Năm 1993 tập truyện ngắn A Good Scent from a Strange Mountain của ông viết về những người Việt Nam định cư ở Louisiana đã được trao giải Pulitzer. Bài ký Sài Gòn in lần đầu trong tạp chí du lịch Conde Nast Traveler tháng 10.1995.
Robert Olen Butler

 

 

 

 

 

 

Nếu bạn muốn hiểu người Việt Nam thì không có cách nào tốt hơn là học cách đi bộ băng qua các đường phố ở TP.HCM. Có những trụ đèn giao thông và những đại lộ rộng rãi từ thời thuộc Pháp suốt ngày dài đến đêm thâu chật ních dòng xe cộ, đủ các loại xe máy, xích lô, cơ chừng như không thể nào xuyên qua nổi. Nếu theo như cách bạn thường làm ở hầu hết các thành phố tại Mỹ là đợi cho đến khi có một khoảng không giãn ra đủ để băng qua đường thì bạn phải đứng ở hè đường đợi cho đến lúc mặt trời lặn và rồi bạn phải đợi thêm nữa tới tận lúc người Việt Nam sau một ngày chạy xe mệt mỏi đã lên giường đi ngủ. Nếu bạn đợi, như thể bạn đang ở thành phố New York, có một khoảng hở để lách qua, rồi dấn tới và dừng lại, đợi một khoảng hở nữa và cứ thế, thì bạn luôn phải để ý từng giây từng phút.

Băng qua các đường phố ở TP.HCM bạn phải nhìn vào phía xa xa và nhắm cho mình một cái đích. Sau đó bạn nhìn sang bên trái mình, và hễ thấy có khoảng hở nào lộ ra là bạn nhập vào dòng xe cộ. Bây giờ bạn cần phải tin tưởng vào cách đi của mình. Bạn cứ bước thật khoan thai, đừng bao giờ dừng lại, đừng bao giờ bước chậm. Dòng xe cộ xô đẩy bạn sẽ không bao giờ dừng lại, không bao giờ đi chậm lại. Vậy nhưng chiếc xe tưởng như có thể đâm vào bạn bất cứ lúc nào thì đến phút cuối nó lại chợt quẹo sang phải hay sang trái mà chẳng cần nhìn.

Tất nhiên là lại có một nguy cơ đụng xe khác treo lơ lửng, nhưng một chiếc xe vừa mới trờ tới tưởng đụng ngay vào người thì cũng lại bất thần quẹo đi, và cứ thế dòng xe cộ ầm ì suốt ngày đêm. Bạn cứ chầm chậm thế mà đi tới đích của mình, còn dòng xe cộ thì vẫn chạy tới chạy lui, quẹo phải quẹo trái bất tận. Sự uyển chuyển, nhẫn nại và tính thực tế của người Việt Nam lộ ra hết trong quá trình di chuyển này.

… Trại cải tạo cuối cùng đã đóng cửa, nền kinh tế thị trường đã được chính quyền phê chuẩn chính thức và ngay trong cuộc chuyện trò của các đảng viên trẻ cũng đã nghe thấy nói quá trình tự do hóa chính trị là “tất yếu”. Và với sự dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại của Mỹ và tiếp theo đó là mở cửa văn phòng lãnh sự quán Mỹ tại Hà Nội, thì nhiều điều thích thú lớn của Việt Nam giờ đây đã dễ dàng đến được với các du khách Mỹ.

Ảnh: TL

Tôi nghĩ, nhiều người Mỹ sẽ thấy là kỳ quặc chuyện Việt Nam sẽ đưa lại sự thích thú cho các du khách, vì chúng ta vẫn tiếp tục nhìn đất nước này qua những cặp mắt trợn tròn trên các phương tiện truyền thông đại chúng của hàng triệu khách lữ hành bắt buộc của chiến tranh. Nhưng ngay cả trong thời chiến, đất nước này đã có vẻ đẹp và sự quyến rũ đến kinh ngạc mà nhiều người Mỹ đã có thể thấy.

Bản thân tôi đã thấy điều đó dưới những hàng cây đẫm sương ở Sài Gòn, nơi vào năm 1971 khi còn là một quân nhân hầu như đêm nào trong nhiều tháng tôi đều lang thang đến tận nửa đêm tới một nơi tối tăm mù mịt hơi nước sực nức mùi nước mắm và hương thơm, hoa và khói xe, rồi tôi cúi mình bước qua ngưỡng cửa những ngôi nhà gặp những con người nồng nhiệt và cởi mở mà truyền thống ham trò chuyện, ham học hỏi của họ đã kết thành một tinh thần trung dung. Quả thực, một phần tôi thấy được là người Việt Nam có những phẩm chất mà người Mỹ chúng ta vốn có là tôn kính lịch sử và yêu mến đất nước mình. Trong các sắc dân châu Á, người Việt Nam rõ ràng có tính cách gần với chúng ta nhất. Và giờ đây họ đang chờ đợi những người Mỹ mà họ muốn làm bạn.

Thành phố Sài Gòn cũ đã hồi sinh. Cái tên này thậm chí lại được dùng rộng rãi như một từ đồng nghĩa ngẫu nhiên với tên gọi “Thành phố Hồ Chí Minh”. Tất cả các loại xe cộ chạy trên những đường phố của một thành phố mọc đầy cây cối như me, chuối, đa, mận và một không khí gợi nhắc Paris ở những con đường mát bóng cây, ở những dãy nhà hẹp có ban công, ở những bức tường vôi vữa và những tòa nhà hành chính hào nhoáng.

Và đâu đâu cũng bắt gặp những hình ảnh của dân chúng sống cởi mở đời mình trong các vườn hoa, dưới những hàng cây và trước các dãy cửa hàng: một bà lão đội nón có hàm răng đỏ vì nhai trầu đang san bát canh cho một phụ nữ trẻ xinh xắn, mái tóc cô cắt ngắn, cô mặc chiếc áo dài truyền thống vì đang làm việc tại một khách sạn mới; một hàng người đạp xích lô vắng khách đang ngồi đọc báo và trò chuyện cởi mở về những chính sách mới; một vòng đông chật các ông già ngồi trên những chiếc ghế nhựa thanh mảnh uống cà phê đá và chơi bài; những người phụ nữ mặc quần đen quét vỉa hè; một người đàn ông cụt tay bán các thứ hàng linh tinh; một nhà sư mặc áo vàng đi khất thực với chiếc bát để ngửa trên bàn tay; một người mẹ đang cho con ăn.

Thành phố này tràn sức sống; nhìn đi đâu bạn cũng thấy ra những câu chuyện riêng trong dòng chảy vô hình. Sài Gòn là một thành phố giống như tấm thảm phương Đông, mỗi khoảng không gian đều được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, rối rắm. Không có những khoảng để trống nào trong thành phố này.

***
Có một quán phở ở số 9 Lý Chính Thắng, nơi trong chiến tranh là đại bản doanh che giấu của “Việt cộng” ở Sài Gòn. Tại đây vẫn bán những bát phở to (một món ăn tuyệt vời, giá chưa đến một đô la Mỹ) và vẫn do ông Ngô Toại làm chủ, ông nay đã 81 tuổi, và quán này đã được gắn biển ghi công là di tích lịch sử cách mạng. Khi tôi cùng vợ là nhà tiểu thuyết Elizabeth Dewberry vào quán, người hướng dẫn của Saigon Tourism đã chỉ cho tôi thấy ông Ngô đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ ngay cửa quán đang mở. Ông đang nói chuyện với bạn và không để ý đến những người Mỹ vừa bước vào.

Chúng tôi bước lại chiếc bàn phía trong và ở phía cuối quán có đặt một bộ bàn ghế khảm sơn trước một cái tivi và một đầu máy video đang mở một băng nhạc rock. Chúng tôi ngồi xuống nơi từng là hang ổ “Việt cộng” này trong giai điệu bản “Band on the Run” của Paul McCartney. Lúc sau ông Ngô đứng lên và đi qua bàn chúng tôi.. Tôi nói câu chào bằng tiếng Việt khiến ông giật mình vồn vã ngoảnh lại. Nhưng ông không dừng bước. Ông đi tiếp đến chiếc ghế trường kỷ khảm sơn và ngồi xuống xem nốt phần cuối băng video “Band on the Run”, rồi chuyển qua xem một băng khác nhạc Việt Nam quay tại quận Cam.

Quán phở của ông Ngô Toại trên đường Lý Chính Thắng. Sau khi ông mất năm 1994, quán phở do con trai út và hai con dâu của ông tiếp tục kinh doanh. Ảnh: N.L.D

Sau bữa trưa, ông Ngô đến bàn chúng tôi và mời chúng tôi vào phòng trong của ông. Ông tỏ vẻ vui mừng khi thấy người Mỹ đến quán và kể cho chúng tôi nghe về quá khứ cách mạng của mình.. Từ năm lên mười ông Ngô đã hoạt động chống lại quân Tưởng, quân Nhật, quân Pháp và cuối cùng là quân Mỹ, lúc đầu là ở miền Bắc, còn sau Hiệp định Genève 1954 là ở miền Nam. Khi vào Nam, ông chủ yếu bán phở và dùng cửa hàng của mình che giấu cho những người cách mạng. Nhưng ông luôn luôn là một người theo đường lối quốc gia trên hết, không bao giờ vào đảng cộng sản.

Ông nói chuyện nồng nhiệt với những người Mỹ như những người bạn mới của đất nước ông. “Chúng tôi không bao giờ nghĩ đến những chuyện trong quá khứ”, ông nói, và thu xếp vị trí cho tôi và Betsty chụp cùng ông một loạt ảnh, trong đó ông thường cầm lấy tay tôi.. Sau đó ông đưa chúng tôi lên gác và bước vào một khách sạn nhỏ chỉ có mười phòng ở bên cạnh. Giờ đây khách du lịch Mỹ có thể ngủ lại đây dưới sự chăm sóc của người anh hùng cách mạng này, và để giảm bớt sự trớ trêu đó, đối với những khách du lịch ít tiền nhưng muốn được ở tại trung tâm cuộc sống thường ngày ở những nơi mà họ đến thăm, họ có thể làm việc đó tại khách sạn Pho Binh rất tiện lợi, có điều hòa nhiệt độ, buồng tắm riêng và dọn phòng mà chỉ hết 20$ một đêm.

Thế còn thế hệ người Việt sau thì sao? Các con của ông Ngô dù đã phải ngồi tù cùng mẹ mình trong những năm sáu mươi, nhưng không một ai là đảng viên, không một ai dính tới chính quyền. Họ là những nhà kinh doanh tư nhân đang điều hành ba quán phở của mình.

Thái độ của ông Ngô đối với người Mỹ là tiêu biểu cho thái độ của người Việt hiện nay dù cho trước đây ông đã là một đại diện rõ ràng của phía bên kia của cuộc chiến. Và các con của ông Ngô cũng là tiêu biểu. Thế hệ X của Việt Nam quả thực rất ít có những ký ức trực tiếp về chiến tranh để quên đi..

***
Chúng tôi đã gặp một họa sĩ trẻ nổi tiếng sinh 1968, khi chiến tranh kết thúc anh mới bảy tuổi. Anh đã phải mất mấy tháng thuyết phục vợ để thu xếp mở được gallery của mình ở trung tâm Sài Gòn. Tác phẩm của anh là sự pha trộn mê hồn của nghệ thuật dân gian và chủ nghĩa biểu hiện, thường gắn với cái chết và nỗi đau đớn, giày vò: một người đàn ông trần truồng cúi gập người và chảy máu, các mép ngoài của bức tranh trông như một chiếc mũ miện gai; một đôi vợ chồng già ngồi trên nền một ngôi nhà nông dân đau khổ vì cái chết của đứa con được thể hiện bằng chiếc cốc tràn nước; trong một cảnh chết chóc khác là bốn người vợ góa khóc thương trên xác những người chồng liệm trong những mảnh vải rách nát, tả tơi.

Besty và tôi thận trọng nêu nhận xét của mình về các hình ảnh này và người họa sĩ trẻ rõ ràng là xúc động trước những lời khen ngợi của chúng tôi. Sau đó tôi hỏi anh ta sao lại đi vào những đề tài đen tối này, ý là để muốn được nghe kể về những tháng năm linh hồn non trẻ của anh ta đã phải chứng kiến chiến tranh và những năm tháng ngay sau đó. Anh ta trả lời bằng tiếng Anh: “Tất cả các bức vẽ của tôi đều có cảm xúc mạnh. Tôi muốn nói lên nhiều điều chỉ bằng các hình ảnh. Bốn tháng trước tôi đã mở một gallery của mình, đó quả thực là một cuộc chiến, phải trả tiền thuế, trả tiền cho người làm. Gia đình tôi luôn luôn gây áp lực cho tôi về chuyện vẽ. Họ sợ tôi thành một kẻ mơ mộng hão huyền. Bây giờ tôi đã có gallery của mình và họ vẫn sợ cho tôi”.

Tôi nói là tôi hiểu. Nhưng tôi đang muốn tìm câu khẳng định cho suy nghĩ của tôi. Có những điều gì khác tạo nên những hình ảnh mãnh liệt như vậy? Anh ta gật đầu, cúi mắt xuống và nói: “Tôi lấy vợ tôi đã bảy tháng. Vợ tôi không hiểu gì các nghệ sĩ. Khi anh làm xong, anh cần có ai đó để chia sẻ. Anh không thể không có ai. Vợ tôi và mẹ tôi đã không hiểu”.

Người vợ ngồi bên nghe hết câu chuyện và quả là lo lắng muốn người họa sĩ trẻ kết thúc chuyện mua bán tranh với chúng tôi. Tôi bảo anh ta là chúng tôi muốn mua một vài bức và anh ta nói: “Tôi vui vì được hai ông bà hiểu. Cảm giác cá nhân là rất quan trọng. Quan trọng hơn tiền. Tôi ít khi gặp được người chia sẻ cảm xúc. Khi anh chia sẻ cảm xúc về các bức tranh, anh sẽ mở được lối ra cho hội họa của mình”.

Sau đó anh ta và tôi bắt đầu thương lượng giá cả cho mấy bức tranh chúng tôi mua, anh ta đưa ra một cái giá rất thấp khiến tôi phải bảo anh ta nâng giá lên. Điều mà người họa sĩ Việt Nam tài năng lo lắng lúc này không phải là ký ức về chiến tranh, thậm chí cũng không phải sự theo dõi của chính quyền đối với những nghệ sĩ phản động, không đi theo tư tưởng của nhà nước.. Mà đó là cái nhìn cau có của người vợ và cái hình ảnh một kẻ mơ mộng trong gia đình.

***
Nhưng sự mơ mộng bằng cách này hay cách khác vẫn đập trong ngực nhiều người Việt Nam. Như thú hát karaoke chẳng hạn. Ngay tối ấy người vợ lo lắng chuyện mua bán tranh của anh chồng họa sĩ vẫn có thể kéo chồng mình đến một trong hàng trăm phòng karaoke nhỏ trong thành phố để cùng nhau hát những bài hát tình tứ. Cũng có những quán karaoke lớn, thậm chí có một quán nổi trên sông Sài Gòn cạnh khách sạn nổi. Nhưng khi tôi đề nghị Vũ Thị Thảo, cô hướng dẫn viên hăng hái, nhiệt tình của Saigon Tourism, đưa đến một quán karaoke, cô ấy kéo mấy người bạn ra một góc tối trao đổi, sau đó họ đặt Besty và tôi lên phía sau xe máy và chúng tôi lao vào đêm tối để kiếm một quán hát gần đó.

Chúng tôi đi vào một con hẻm ngang qua một chỗ nghỉ hẹp và bước vào một phòng khách nhỏ có một người đàn ông mặc quần ngắn, đi dép cao su. Ông ta bày bánh quy, bánh sô-cô-la ra bàn và chúng tôi trả một đô la rưỡi một giờ để hát với những băng video ca nhạc Việt Nam được sản xuất tại Hồng Kông, Pháp và Nam California.

Tôi ngồi xe máy của một chàng trai tên Châu và trên đường đi chúng tôi chạy qua một cây cầu mang tên người công nhân đã mưu sát không thành Robert McNamara năm 1962 ở cầu này, Châu hát những bản nhạc tình dành cho nam giới bằng chất giọng bariton rung động khiến cho các phụ nữ trong phòng hát thấy buồn bã, anh hào phóng khen Besty và tôi đã hát bài “A Bridge Over Troubled Waters”, anh nói sẽ học làm linh mục Thiên chúa giáo La Mã.

***
Ngày Chủ nhật chúng tôi đi đến Biển Đông ở Vũng Tàu. Đó là chuyến đi thoải mái trong một ngày, mặc dù chúng tôi đã định ở lại. Dọc đường Besty và tôi đã ghé vào nhà của một chủ trại hoa lan ở ngoại ô TP.HCM ngồi uống trà ăn me sấy trong mùi thơm của hoa và nhang cúng ở bàn thờ thổ địa, chủ nhà mắt lim dim, mặt lộ rõ khoan khoái nói: “Tôi rất vui được tiếp khách Mỹ. Họ dễ chịu hơn người các nước khác. Họ rất tự nhiên với người Việt Nam. Chúng ta là như nhau.”

Và anh ta nói đến sự cần thiết của sự thay đổi từ từ ở nước mình. “Tốt nhất là cứ từ từ mà thay đổi. Đừng có nhanh như Nga. Các nhà xã hội chủ nghĩa không thích thay đổi mau lẹ đâu. Cứ chậm rãi mà đi”.

Rồi anh ta say sưa nói về các bộ phim Mỹ. “Tôi thích phim Mỹ. Sharon Stone là diễn viên ưa thích của tôi”. Thế anh thích phim nào? “JFK”, anh ta nói. “Tôi không thích các phim phản chiến của Oliver Stone. Chúng không thật. Nhưng phim “JFK” của ông ấy thì tôi thích”.

Chúng tôi tạm biệt chủ nhà, anh ta bắt tay tôi bằng cả hai tay, rồi chúng tôi lên chiếc Renault của Saigon Tourism hòa vào dòng xe máy chạy về phía biển vào sáng Chủ nhật ấy, xe chúng tôi chạy cùng những chiếc xe bò và các loại xe tải cũ của các hãng DeSoto, White và GMC mà người Việt Nam từ lâu đã hết hy vọng kiếm được các phụ tùng thay thế, xe nào cũng có một két nước tạm bợ đặt trên nóc ca bin và một hệ thống dậy dợ nối vào động cơ vòng quanh những bộ tản nhiệt đã bị hỏng và không có đồ thay thế.

Xe chúng tôi chạy qua một đồn điền cao su nơi có một bà già đang lấy số mủ thừa trên cây đem bán như một thứ bật lửa, chạy qua thửa ruộng này đến thửa ruộng khác có những phụ nữ dầm chân trong nước đến tận đầu gối, mặt khuất dưới những chiếc mũ rơm. Và xen giữa những cây cao su trong rừng cũng như những cây mạ trên đồng là những ngôi mộ thấp nhỏ, những mộ phần của các phu đồn điền và những người nông dân được chôn tại chính mảnh đất họ đã làm lụng cả đời, có mùi khói củi bay ra từ những ngôi làng ven đường, và khi chúng tôi đi ngang qua một dãy tiệm hàng nhỏ dọc đường thì ai nhìn thấy cũng mỉm cười và đưa tay vẫy.

Cuối cùng chúng tôi đã ở bên bờ Biển Đông. Đây là nơi ám ảnh tôi hơn bất cứ phong cảnh nào khác ở Việt Nam, một ý nghĩ có lẽ là lãng mạn. Năm 1971, tôi đã có lần dừng xe jeep bước xuống một sườn đồi cạnh Vũng Tàu và Biển Đông trải ra trước mắt tôi cũng với màu xanh ngọc bích lan đến tận chân trời như thế này, khi đó tôi đã cảm nhận sâu sắc rằng nhờ một phép màu nào đó mà tôi đã thành một du khách, một du khách từ xa đến, và tôi đã cảm nhận được niềm thích thú sâu lắng của một du khách, cái cảm giác anh là một phần của một xứ khác, một phong cảnh khác, một dân tộc khác, nó khác biệt với tất cả những gì anh đã biết đến mức anh bất giác nhận ra chính mình. Giờ đây biển đang ở trước mặt Besty và tôi, chúng tôi rời khỏi những đám đông người Việt Nam lặng lẽ tại “Vung Tau Marina Paradise Club” đi dọc theo bờ cát cho tới khi mọi vật xung quanh nhòa đi hết và chúng tôi lặng nhìn từng đợt sóng cuộn vào bờ biển xa lạ này, hai vợ chồng bên nhau như hai du khách.

Trên đường trở lại chúng tôi có cuộc trò chuyện ít phút với một đôi nam nữ trên bãi biển. Họ trạc độ tuổi hai mươi và chàng trai ngăn tôi lại hỏi tôi có phải là một “fan” của đội Astros không vě thấy cái mũ bóng chày tôi đang đội. Cặp vợ chồng trẻ người Việt này không nói một từ tiếng Việt. Họ đến từ Fresno (một thành phố tại thung lũng San Joaquin, California, Mỹ – ND). Họ đang vui vẻ nhìn các con sóng ở bờ biển xa lạ này, Besty và tôi rời họ bước đi, họ vòng tay quanh người nhau, chắc chắn cái cảm giác vừa là kẻ khác vừa là chính mình trong chuyến du lịch này của họ sẽ phức tạp hơn của chúng tôi.

***
Du lịch đến Việt Nam đòi hỏi phải có hiểu biết nhất định vì sao anh du lịch. Những sự thích thú về thức ăn, mua bán, phong cảnh và nghệ thuật chắc chắn là có hiện diện, dù một số trong đó sẽ có hình thức hạn chế hơn cái mà người ta quen dùng ở những nơi du lịch khác trên thế giới. Nhưng nhân dân Việt Nam là những nhà thờ lớn, những bức bích họa, và những khu rừng núi của nơi này. Và thực sự thì người dân tiếp xúc với các du khách Mỹ theo cách rất thực tế, thậm chí vượt ra ngoài những khung cảnh rõ ràng của khách sạn, cửa hàng và đường phố.

TP.HCM thập niên 1980. Ảnh: Doi Kuro

Chúng tôi ăn tối với lãnh đạo Saigon Tourism gần vào cuối chuyến đi và nói với họ chuyện này. Đỗ Trung Chấn, Trưởng phòng Quan hệ công chúng, một người thuộc thế hệ già, bây giờ đã 51 tuổi. Là con trai độc nhất trong gia đình, ông dạy tiếng Anh trong thời chiến và tham gia phong trào vì hòa bình và cải cách nhà tù năm 1970. Ông cũng là một “fan” cuồng của nhạc Mỹ những năm 40 và 50 của thế kỷ trước. Chúng tôi nói về Tony Bennett, Nat King Cole, Frank Sinatra, và cả Patti Paige, Frankie Laine, và ông Chấn đã thở dài ảo não trước các xu hướng của nhạc đại chúng hiện thời. Đặng Quốc Hoa, đồng nghiệp trẻ hơn của ông, người trưởng phòng tiếp thị 39 tuổi, thì khi chiến tranh kết thúc vẫn còn học phổ thông, ông Hoa cười trêu ông Chấn về việc ông này cứ mải mê vào các cửa hàng đĩa hát trong chuyến đi mới rồi của họ đến Mỹ.

Cả hai ông nói say sưa về viễn cảnh người Mỹ quay lại đất nước mình du lịch và nhấn mạnh rằng mặc dù họ đã có một số gói tua để bán nhưng họ vẫn sẵn sàng cung cấp những hướng dẫn viên biết nói tiếng Anh để đưa khách đến bất kỳ đâu khách muốn. Việc này bao gồm cả chuyện cùng ăn uống với các gia đình người Việt tại nhà, gặp gỡ những người Việt làm cùng nghề với du khách ngoại quốc, đi mua bán ở các chợ địa phương và các hẻm phố, đến thăm bất kỳ trường nào trong hơn một trăm trường ngoại ngữ ở trong thành phố, nơi các học sinh đang rất muốn được nói chuyện bằng tiếng Anh. Chỉ cần báo trước là những việc này cũng như những cuộc gặp gỡ khác với dân chúng sẽ được dễ dàng sắp xếp, Chấn và Hoa nói.

Không có nhiều nơi trên thế giới mà những cuộc tiếp xúc như vậy được cả người dân địa phương lẫn du khách thích thú và quý trọng. Nhưng đó là điều có thật ở Việt Nam. Người Việt Nam khi bắt được một tín hiệu tôn trọng dù là nhỏ nhất, lập tức họ sẽ đáp lại bằng một cử chỉ rất cởi mở. Có lẽ phẩm chất chủ yếu nhất này của người Việt Nam không rõ ra ở việc đi bộ qua đường ở Sài Gòn. Nhưng nó có ở khắp mọi nơi khác.

Besty và tôi dành một ngày đi xuống vùng đồng bằng sông Mekong, chúng tôi ngồi trong mái một chiếc thuyền máy chạy ở phía cuối con sông lớn chở đầy phù sa này, nơi đã từng diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt thời chiến tranh, thuyền chúng tôi đi dọc theo luồng nước màu mỡ chảy giữa hai bờ sông hẹp ken dày cây đước và cây bài hương rồi dừng lại ở một làng ven sông có những ngôi nhà nhỏ lợp mái cọ và những dàn anten tivi cắm trên cọc tre. Trên một đường phố bụi bậm có một nhóm người đang ngồi quây vòng tròn chơi bài. Mặt họ quay về phía chúng tôi và phút chốc họ ngây ra.

Hướng dẫn viên của chúng tôi định lên tiếng, nhưng tôi đã nói trước, một tiếng chào đơn giản bằng tiếng Việt. Nghe thế mắt mọi người dãn ra, nhưng vẫn còn sự căng thẳng. Sau đó một người tách khỏi vòng tròn đứng lên, đó là một người đàn ông trung niên hơi mập, có khuôn mặt tròn, tay còn nắm đầy bài. “Người Mỹ?” anh ta hỏi. “Phải”, tôi đáp. “Tốt lắm. Sau hai mươi năm các ông đã trở lại”. Và họ xếp chỗ cho chúng tôi ngồi vào vòng của mình.

Robert Olen Butler – Ngân Xuyên dịch

Hà Nội 10 năm sửa ngọng ‘l, n’ chưa thành công!

Sent: Fwd chuyển tiếp by HN; Cám ơn_TN.
Subject: Hà Nội 10 năm sửa ngọng ‘l, n’ chưa thành công!

Hà Nội 10 năm sửa ngọng ‘l, n’ chưa thành công

.
Một cô giáo huyện Phú Xuyên hát:
Hà Lội mến yêu của ta/ Thủ đô mến yêu của ta.
Khán giả cười khúc khích, cô giáo không hay biết.

8h sáng cuối tháng 10, tiết tập đọc của lớp 5B trường Tiểu học thị trấn Phú Xuyên (Hà Nội) là bài Đất Cà Mau của nhà văn Mai Văn Tạo. Học sinh đọc ba đoạn, cô giáo Bích Ngọc nheo mắt, căng tai nghe từng từ, đến câu cuối:
Tinh thần thượng võ của cha ông được lung đúc và lưu truyền để khai phá giữ gìn mũi đất tận cùng lày của Tổ quốc, một học sinh đọc sai “n” thành “l”.

Cô Ngọc kẻ đường phấn chia đôi tấm bảng, viết lên hai từ “nung đúc”, “này” rồi quay xuống lớp yêu cầu học sinh vừa đọc sai đứng lên: “Em chú ý, khi phát âm phụ âm n đầu lưỡi hạ xuống hàm dưới. Nung đúc, này, em đọc lại theo cô”. Sau hai lần đọc lại, học sinh đã phát âm đúng.

 

Tiết học tập đọc của học sinh lớp 5B Trường Tiểu học thị trấn Phú Xuyên, Hà Nội. Ảnh: Tất Định

Tiết học tập đọc của học sinh lớp 5B Trường Tiểu học thị trấn Phú Xuyên, Hà Nội. Ảnh: Tất Định

Giờ tập đọc sửa ngọng của cô giáo Bích Ngọc nằm trong chương trình Luyện phát âm, viết đúng chính tả hai phụ âm đầu l, n của Hà Nội. Sau khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội vào cuối năm 2008, theo khảo sát của Sở Giáo dục và Đào tạo, huyện Phú Xuyên có tỷ lệ giáo viên, học sinh nói ngọng “l, n” nhiều nhất thành phố. 30% trong tổng số 890 giáo viên được khảo sát phát âm ngọng, 48% trong hơn 13.560 học sinh ngọng, viết sai “l, n”.

Tiểu học thị trấn Phú Xuyên có 43 giáo viên thì 42 người phát âm sai “l, n”; 86% học sinh ngọng. Một cô giáo khi giao lưu văn nghệ giáo viên thành phố đã hát “Hà Lội mến yêu của ta/ Thủ đô mến yêu của ta”. Phía dưới khán giả cười khúc khích, cô giáo không biết, say sưa hát hết bài Hà Nội niềm tin và hy vọng.

“Kết thúc buổi giao lưu, giám khảo gọi riêng tôi ra nói nhỏ: Các chị xem thế nào sửa ngọng đi, chứ giáo viên Thủ đô nói ngọng, hát cũng ngọng thì buồn cười lắm“, Hiệu trưởng Nguyễn Thị Tuyết Mai nhắc lại. Giống như hầu hết giáo viên trong trường, cô Mai cũng đọc phụ âm n thành l. Phải mất gần một năm cô mới phát âm chuẩn, nói nhanh không bị sai.

Vì tỷ lệ ngọng quá cao, Tiểu học thị trấn Phú Xuyên được chọn là nơi đầu tiên thí điểm chương trình dạy phát âm chuẩn của thành phố, bắt đầu từ tháng 4/2009. Hàng tháng chuyên viên của Sở Giáo dục được mời về trường nói chuyện với giáo viên, học sinh. Bắt đầu mỗi tiết tập đọc, giáo viên đều nhắc lại cách đặt lưỡi phát âm chuẩn “l, n”, sửa cho những học sinh nói ngọng.

Trưởng phòng Giáo dục huyện chật vật sửa ngọng

Trực tiếp tham gia tổ chức lớp tập huấn sửa ngọng, đưa tài liệu về trường tiểu học từ những ngày đầu tiên, ông Lưu Luyến, Trưởng phòng giáo dục Phú Xuyên, khi đó đang là phó phòng, chia sẻ mình cũng ngọng và bắt đầu ý thức phải tự sửa, nhưng chuyển biến khá chậm. “Mình đứng trước giáo viên, học sinh trong huyện nói thì khó phát hiện vì hầu như ai cũng như mình. Kể cả phát hiện ra, mọi người vẫn ngại nhắc lãnh đạo phòng”, ông Luyến kể.

Đầu năm 2012, ông Luyến được luân chuyển về làm Chánh văn phòng UBND huyện Phú Xuyên, người phát ngôn của UBND huyện. Công việc đòi hỏi thường xuyên phát biểu trong các cuộc họp, cung cấp thông tin cho báo chí.

“Tôi đã cố dùng câu diễn đạt khác đi, tránh những từ, câu có phụ âm n mà mình phát âm chưa chuẩn. Nhưng từ Hà Nội vẫn xuất hiện thường xuyên trong báo cáo, bài phát biểu. Tôi đọc Hà Lội, nhiều vị trong phòng họp cười, tiếng cười nhỏ, vẫn đủ để mình nghe thấy. Từ đó tôi quyết tâm phải sửa bằng được, người phát ngôn của huyện không thể nói ngọng”, ông Luyến nhớ lại.

Ông Luyến về nhờ vợ là giáo viên ngữ văn chỉ lại cách uốn lưỡi khi đọc “l, n”. Hàng ngày ông luyện đọc “Nên nói hay nên làm”, “Hà Nội”, sau đó nhờ vợ kiểm tra lại. Kiên trì, ông đã sửa thành công. “Bây giờ, tôi nói Hà Nội, l, n nuột luôn”, ông Luyến cười lớn, nói nhanh để chứng minh.

Năm 2015, ông Luyến trở lại ngành giáo dục huyện với vị trí Trưởng phòng Giáo dục. Sở Giáo dục thành phố đã không còn đưa ra kế hoạch chương trình sửa ngọng, thay vào đó để các phòng giáo dục tự thực hiện. Riêng Phú Xuyên là một trong số ít huyện ngoại thành còn quan tâm tới chương trình luyện phát âm chuẩn, đưa vào tiêu chí thi đua của các trường, giáo viên.

12 huyện ngoại thành khác của Hà Nội áp dụng chương trình sửa ngọng từ năm 2011, nhưng đến năm 2015 thì dừng. Những huyện tỷ lệ giáo viên, học sinh ngọng cao như Mê Linh, Ứng Hòa, Sóc Sơn, Thường Tín…, việc luyện âm chuẩn “l, n” hầu như không còn được nhắc đến.

10 năm tỷ lệ ngọng của giáo viên Tiểu học Phú Xuyên vẫn là 25%

Theo khảo sát mới nhất của Trường Tiểu học thị trấn Phú Xuyên vào tháng 4/2018, có 12 giáo viên (chiếm 25%), 338 học sinh (chiếm 30%) phát âm ngọng. Lý giải sau 10 năm tỷ lệ ngọng vẫn còn cao, Hiệu trưởng Nguyễn Thị Tuyết Mai nói: “Trường còn nhiều giáo viên cao tuổi, thói quen từ lâu năm nên sửa phát âm chậm. Sửa nói ngọng cho học sinh gặp khó khăn vì ông bà, bố mẹ, người xung quanh đều ngọng. Ở trường các em nói chuẩn, nghỉ hè xong lại tái ngọng”.

Ông Bùi Thanh Sơn, Trưởng phòng Giáo dục huyện Ứng Hòa, đánh giá tình trạng giáo viên, học sinh phát âm lệch chuẩn l, n ở huyện còn phổ biến. Trước đây huyện từng áp dụng chương trình sửa ngọng, nay các trường tổ chức dưới dạng chuyên đề, nếu nhiều trường đề xuất thì mở lớp tập huấn. “Nói ngọng do thói quen địa phương, giáo viên học sinh tự ý thức sửa mới được”, ông Sơn nói.

Là một trong những người đóng góp ý tưởng xây dựng chương trình Luyện phát âm, viết đúng chính tả hai phụ âm đầu l, n, ông Phạm Xuân Tiến, Phó giám đốc Sở Giáo dục Hà Nội, đánh giá chương trình đã đạt được hiệu quả tích cực. “Kết quả có thể nhìn thấy ngay là trong cuộc họp giao ban, các hiệu trưởng đã phát âm chuẩn l, n. Học sinh cũng bớt nói ngọng hơn trước rất nhiều”, ông nói.

Đánh giá tỷ lệ ngọng hiện vẫn còn cao, ông Tiến cho biết khi làm kế hoạch, Sở bỏ ngỏ thời gian dự kiến hoàn thành, “bởi luyện viết đúng chính tả thì dễ, xóa nói ngọng thì 10 năm, 20 năm thậm chí cả một thế hệ chưa chắc đã thành công”. Vì một số lý do khác, Sở tạm thời không triển khai chương trình như trước, nhưng vẫn nhắc nhở các trường thực hiện.

//

LÊN FÂY_Trần Kiêm Đoàn

icon_fb LÊN FÂY

Trần Kiêm Đoàn

  *

 Hai cô đi chợ miền quê. Sau những chuyện trò nồi niêu soong chảo về mùa màng, làng nước cho đến khi rẽ vào hai đầu xóm chia tay, còn hẹn với:

            – Tối về, lên “phây” gặp tao sẽ biết hết “mặt mày” của tụi nó!

            Bà cụ bán quán đầu đường nghe lóm, cứ thắc mắc hoài mà không tự trả lời được cái “phây” đó là cái gì: Cái nhà, đồi hoang, độn cát hay là một sào huyệt, mật khu bí hiểm nào chăng…?

            Bà cụ nôn nả tìm hỏi ông cụ:

            – Ông ơi! Làng xã mình có cái “phây” là cái chi?

            Ông cụ suy nghĩ một hồi, lắc đầu:

            – Phây? “Phây phây sung sướng” thì có chớ ở vùng nầy cả đời tui có nghe ai nói “phây” là cái chi chi!

            Hai ông bà cụ đóng quán sớm hơn thường lệ, báo quanh cho bà con lối xóm cùng đi rình bắt… phây. Cái mới xuất hiện ở vùng quê bao năm lặng lờ sau lũy tre xanh thường dễ trở thành biến cố như “biến cố” bịt răng vàng, tóc phi dê, áo quần hở da thịt, đàn bà cỡi xe máy, đàn ông nấu ăn rửa chén…

            Đêm mùa Thu trời tối và gió lạnh. Hai nhóm người chia nhau đi tắt, lặng lẽ tới rình hai nhà có kẻ… lên phây.

            Chờ hoài, chỉ thấy hai người mẹ tuổi trung niên mỗi nơi ngồi gật gù thích thú trước màn hình máy vi tính; chẳng có cuộc chạm trán đụng độ nẩy lửa như trong tưởng tượng của mỗi người đang rình. Người mẹ xóm Đông nửa chừng bị cô con gái ngắt ngang:

            – Mẹ ơi! Mẹ cho con lên phây đi. Bạn con nó đang chờ.

            Người mẹ lưỡng lự như tiếc rẻ, gõ lóc cóc dăm chữ báo với bạn xóm Đoài, rồi  nhường máy computer cho con, nói nho nhỏ: “Cả nhà năm người, ai cũng có phây riêng mà chỉ có cái máy cũ chạy chậm như rùa làm mình mất hứng.”

            Ông bà già bán quán đầu đường và lực lượng rình bắt phây đều lúng túng, ngẩn ngơ. Cả làng gần hai trăm nóc nhà mà chỉ đâu được vài ba chục nhà có sắm máy vi tính cho con đi học nên những khái niệm về mạng vi tính vẫn còn lập lòe trong góc khuất.

            Ngay tối hôm đó, họ tìm thầy học đạo mới vỡ lẽ ra rằng: “Phây” là “Facebook” (phiên âm tiếng Việt là /Phây-xơ-búc/; và từ đây, trong những dòng phiếm bàn tiếp theo  người viết xin được gọi là “Fây” lẫn lộn với Facebook cho vui, bạn nhé!). 

Fây là một mạng lưới xã hộì đang thịnh hành nhất ở địa cầu nầy với 2.3 tỷ người dùng trên tổng số 7.6 tỷ người, dân số toàn thế giới. Riêng ở Việt Nam, năm 2018 có 65 triệu người dùng Facebook trên tổng số 96.5 triệu người dân. Hơn 50 phần trăm… lên Fây. Cao quá! Nhưng so với Mỹ thì có tới 79% dân số lên Fây. Cao hơn! Theo Facebook thông báo thì trung bình mỗi phút có 400 người mới gia nhập cư dân làng Fây.

Tuy theo thống kê chuyên môn quốc tế như PEW hay World Bank thì Việt Nam hiện có khoảng 49 triệu người dùng internet nhưng số người dùng Facebook lên tới 65 triệu vì có thể chỉ một đường dây internet nhưng có nhiều người dùng Fây như trong trường hợp câu chuyện vừa kể ở trên.

Tính đến nay, toàn thế giới có đến hơn 100 Trang Mạng Xã Hội (Social Networks) nhưng thường người ta chỉ quan tâm đến 10 trang mạng dẫn đầu như sau:

Facebook là trang mạng xã hội dẫn đầu về số lượng người theo và tốc độ phát triển. Facebook được thành hình ngày 4-1-2004 do Mark Zuckerberg và các cộng sự viên như Eduardo Saverin, Dustin Moskovitz, Chris Hughes… khi đang còn theo học ở đại học Harvard. Công ty kinh doanh thu nhập bằng tiền quảng cáo còn tất cả các trương mục thành viên đều miễn phí.

Mỗi thành viên trong số hơn 2.3 tỷ người tham gia Facebook đều có quyền kết bạn tối đa là 5000 người. Quá số nầy, nếu muốn kết bạn thêm thì mở trang Page. Thực sự thì số người có 5000 bạn trên Facebook tổng số chưa tới 1000 thành viên. Con số trung bình thì mỗi thành viên hiện nay có chừng 330 người bạn trong “account” của mình.

            Trong số những trang mạng xã hội hàng đầu thế giới, Facebook có được ưu thế như ngày nay là nhờ 5 đặc tính: Bình dân, sinh động, dễ điều khiển, rộng khắp và không xung khắc với chính quyền của từng nuớc.

Làng Fây Việt Nam có gì lạ.

            Tại sao một nước còn bị giới hạn nhiều mặt như Việt Nam mà lại có tỷ số người tham gia chơi Facebook đứng vào hàng thứ 7 của thế giới như thế? Có điều gì nghịch lý ở đây chăng hay tại người Việt thuộc vào hàng siêu đẳng về vi tính – mạng internet?

Câu trả lời không dễ nhưng cũng chẳng khó khi đem phân tích 5 đặc tính của Facebook vừa nêu trên, áp dụng vào hoàn cảnh văn hóa, tâm lý, giáo dục và xã hội Việt Nam.

Trước hết, muốn vào làng Fây tìm hai cô đi chợ Xóm Đông, Xóm Đoài hẹn nhau… lên Fây thì phải tìm hiểu “lệ làng” trước đã:

Rằng là: người… lên Fây không cần phải có tiền bạc rủng rỉnh, chữ nghĩa hoa hòe, xe cộ rổn rảng, địa vị xã hội cao sang hay một phẩm chất gì đó… hơn người cả. Tất cả mọi người đều bình đẳng lên Fây và hoàn toàn tự do khai báo tên tuổi, trình diễn mặt mày hay chọn hình ảnh đại diện cho mình. Mặc dầu thôn trưởng làng Fây Zuckerberg và hội đồng làng Fây không không đưa ra những điều kiện khó khăn tới xin cư trú làng Fây nhưng cũng có những quy định căn bản để nhập chúng làng Fây. Nếu cư dân làng Fây rắn mắt một chút thì một người có thể tự sáng chế ra thành nhiều người, nhiều dáng vẻ xuất hiện trên Fây. Cho nên trên mâm chiếu làng Fây, một người tự phân hóa ra hai, ra ba, ra bốn… nhân vật như Tôn Ngộ Không để tự mình đem ảnh, đem lời trình làng, ca nhau hay chống nhau với chính mình cho thêm phần rôm rả cũng là chuyện thường tình, lệ làng Fây không xử phạt.

            Đã có rất nhiều trường hợp một đứa con trong gia đình có chút khả năng vi tính đã mở cho mỗi người trong nhà một trương mục Facebook và biến nó thành một tập album lưu động. Hơn một nửa khách hàng người Việt trên Facebook mới chỉ ứng dụng Face (mặt mày, hình ảnh) mà không dùng đến Book (sách vở, chữ nghĩa). Nghĩa là ngày ngày đem hình ảnh của mình hay bà con, bằng hữu của mình hiện tại hay từ thuở hoa niên lên Fây rồi khen nhau là “trẻ”, là “cute”, là “hoành tráng”, là “cặp đôi hoàn hảo”… thì cũng chẳng có gã Mỹ con nào quan tâm hay phiền hà.

            Lại nữa, cũng có những hiền nhân tâm huyết đem những áng văn thơ ruột gan, những bài viết thiên cổ hùng văn, những bút luận thiên hạ danh văn… của mình lên Fây cho bàng dân thiên hạ thưởng lãm chơi thì cũng “trên cả tuyệt vời” thôi chứ chẳng làm đụng chạm đến ả Tây nào cả!

            Làng Fây rộng mênh mông cả địa cầu, nhưng nếu bạn muốn khu nhà vườn của bạn chỉ một mình riêng tư không ai có quyền lai vãng cũng được; hoặc ngược lại muốn chu du khắp thiên hạ cũng chẳng sao. Ưa ai thì để cho họ vô nhà. Không ưa thì mời đi như:

Xoá lời comment (delete, hide), xoá tên người kết bạn không ưa trong danh sách Facebook (unfriend), chận không cho vào Messenger nữa (block); hoặc sửa đi sửa lại hình ảnh hay bài vở đã lên Fây (edit), bày tỏ ý kiến nhanh mà không cần viết chữ nào cả thì dùng hình biểu thị (emoije), chuyển các tài liệu hình ảnh bài viết cùng lúc cho nhiều người thì chọn rồi gởi (send), thích kết bạn với ai thì mời kết bạn (add friend), nhận ai yêu cầu mình kết bạn thì xác nhận (confirm), từ mặt ai vĩnh viễn thì “tày mặt” (spam) và thông dụng nhất là nút “Like” ( Like là đã xem, thích thú, đồng ý) và thích thú ở mức độ trên cả “like” nữa thì “yêu mến” = (Love với hình trái tim)…

            Với cái điện thoại thông minh nhỏ nhắn nằm trong lòng bàn tay, bất cứ lúc nào người chủ điện thoại cũng có thể chụp hình, quay phim, thu lượm tin tức ngay ở hiện trường và gởi tới bạn bè khắp năm châu với tốc độ trong vòng nháy mắt.

            Một người có tầm nhận biết trung bình có thể chọn hình ảnh, bài viết, tài liệu… mình thích và chuyển lên mạng cho làng Fây cùng xem chỉ mất chừng vài phút.

            Và bất cứ giờ nào thấy nốt xanh trên địa chỉ của hình Fây thì biết là người bạn bên kia đang lên Fây. Nếu muốn thì bạn cũng có thể lập tức cùng lên Fây hay gọi điện thoại miễn phí xuyên bang, xuyên quốc gia, xuyên lục địa – kể cả điện thoại truyền hình – mà nói chuyện thoải mái không lo tốn một xu nào.

            Và còn nhiều chức năng đa hiệu nữa mà dân cư làng Fây chưa khai thác hết. Nói tóm lại là Facebook đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt thuộc phạm vi giải trí, vui chơi của mọi người, mọi giới không phân biệt để giải trí, chia sẻ, giao lưu, quảng bá và học tập. Facebook đã mang đến cho người Việt, nhất là người dân trong nước phương tiện thoải mái, miễn phí, hiện đại mà đơn giản, kỹ thuật cao cấp mà dễ nắm bắt như chuyện đời thường nên Làng Phây Việt Nam rộn ràng và trù phú không thua gì ngày Tết đồng áng được mùa là vậy.

            Facebook đã cung cấp một phương tiện giải trí, thông tin, chia sẻ, kết bạn… dễ có trong tầm tay mà hầu như mọi người trong xã hội Việt Nam xưa nay từng mơ ước: Làm sao để bày tỏ tiếng nói của mình với xã hội bên ngoài; làm sao để viết lên báo chí những sáng tác nho nhỏ, những câu hỏi đời thường, những trăn trở tâm tình của mình trong giây phút hiện tại mà không cần phải cậy đăng trên báo chí có khi cả tuần, cả tháng sau mới phát hành; làm sao để nắm bắt và chia sẻ tức thời hình ảnh của mình, của bạn, của muôn vàn sinh hoạt quanh mình mà không chịu phiền hà hay tốn kém…? Facebook sẵn sàng làm những công việc ấy của bạn mà không đòi hỏi gì cả, kể cả một lời cám ơn.

            Tuy nhiên, vẫn có những hiện tượng “cuồng Fây”, giận Fây, bỏ Fây hay hành Fây đáng tiếc. Đó là những người đã sử dụng hết cả thì giờ lên Fây để “Like”, “comment” và “share” chi li, bao biện, tranh cãi triền miên như một người cuồng nên gọi là cuồng Fây (crazy Facebook users). Hoặc có người ngồi lặng lẽ một mình trong phòng kín với cái điện thoại thông minh hay chiếc máy vi tính để lên Fây mà cứ tưởng nhầm là mình đang ở trong một thế giới “riêng tư”; nhưng thật ra bạn đang xuất đầu lộ diện 100% trước bên ngoài xã hội. Lại có người lên Fây để chửi đổng, mạ lỵ người khác hay bày tỏ những hình ảnh ngôn ngữ thiếu đạo lý, phạm pháp dưới tên giả, hình giả, lý lịch gỉả… và yên chí mình đang là kẻ “hành động vô hình” nhưng thật ra là đang “thưa ông tôi ở bụi nầy” trong tầm mắt và lăng kính chuyên môn.

            Theo những nhà chuyên môn về các trang mạng xã hội thì những người đến và ra đi bất thường với Facebook vì chưa dùng đúng chức năng của nó nên hoặc là đặt nó quá cao, hoặc quá thấp hay đầu tư quá nhiều thì giờ cho nó. Lời khuyên cho một “người dùng Facebook lành mạnh” là xem nó như một sân chơi có ích và mỗi ngày 24 tiếng thì nên sử dụng tối đa là dưới 10%, nghĩa là không quá 2 giờ để lên Fây (và xuống Fây!)

            Cái thế giới sinh hoạt đa năng, đa dạng, thông minh mà bình dân, nặng phần trình diễn mà không rẻ tiền, đấu đá mà không sứt đầu mẻ trán, tình cảm mà không đến nỗi lãng mạn chìm xuồng… của Facebook đã thu hút cả giới trẻ lẫn giới già trên toàn thế giới. Với 101 ngôn ngữ kết hợp với một lực lượng thông dịch 300.000 người thông thạo ít nhất là hai thứ tiếng ở đằng sau và 25.000 nhân viên trực tiếp, doanh thu 40 tỷ và thu nhập 16 tỷ đôla năm 2017… là những con số đầy thú vị làm hứng khởi làng Fây.

Sinh hoạt làng Fây rộn ràng đã thế mà tác dụng của làng Fây lại càng kỳ thú hơn.

Trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình lập lại, người dân Việt xao xác khắp nơi khi rời chiếc nôi quê hương của mình để di cư vào Nam, ra Bắc và các nước trên khắp địa cầu.

Trong rất nhiều trường hợp, Facebook đã giúp những người thân lưu lạc tìm gặp lại được nhau. Có không ít những trường hợp tình cờ người yêu, kẻ ghét nhận diện ra nhau sau bao nhiêu năm dài vắng bóng. 

Có thể nói Facebook là một sân chơi vĩ đại. Vĩ đại ở đây không phải là chiều cao, độ sâu hay bề mặt rộng rãi bao la mà về tính đại chúng. Hầu như tất cả mọi người không có ai là kẻ lạc lõng khi lên Facebook. Người nào bạn nấy. Khuynh hướng nào thì có đối tượng ấy. Khả năng nào thì có đối tác nấy.

            Nhà tâm lý học Andy Emerson, đưa ra một câu hỏi thuộc vào hàng “lẩm cẩm” nhưng xét ra thì cũng có cái lý của nó chớ: “Tuổi trẻ mê chơi game mà không mê Facebook. Tuổi già lên Facebook mà không mê chơi game. Vì sao như thế?”

Bởi vì Facebook là một cuộc chơi nhưng không phải là một trò chơi. Cuộc chơi khác với trò chơi cũng giống như một cuộc cờ và trò chơi nhảy cò cò của trẻ nhỏ. Cuộc chơi đòi hỏi người chơi phải dấn thân lâu dài và đầu tư nhiều công sức mới có ý nghĩa. Trái lại, trò chơi thì chỉ là cái vui lướt qua.

Với sinh hoạt Facebook, có lẽ đây là lần đầu tiên có hiện tượng người bình dân sinh hoạt ngang tầm với giới trí thức và quý tộc… đại gia trong xã hội Việt Nam. Ai cũng có quyền bình đẳng “trình làng” tiếng nói của mình qua hình ảnh và lời viết. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được rằng, trình độ văn hóa hay học vấn hiển thị rõ ràng qua hình ảnh chọn lựa, ngôn ngữ “comment” hay các hình thức “tác phẩm” trình làng.

Câu hỏi lớn nhất hiện nay của giới lên Fây Việt Nam là luật An Ninh Mạng đã được Quốc Hội Việt Nam thông qua và những nghị định của Nhà Nước sẽ bắt đầu được áp dụng từ ngày 1-1-2019, liệu rồi đây Facebook nếu còn tồn tại ở Việt Nam sẽ gặp những khó khăn và thuận lợi gì? 

 Luật An Ninh Mạng (Liên Hiệp Quốc dịch ra tiếng Anh là “Cybersecurity Law”) là một hệ thống luật pháp và quy ước mang tính chất quốc tế và quốc gia  đã do Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018. Luật sẽ được chính thức áp dụng thi hành từ ngày 1-1-2019.

Google đã đặt 70 văn phòng đại diện và Facebook đã đặt 85 văn phòng trên thế giới. Riêng tại Việt Nam Facebook đã đặt 441 máy chủ; nghĩa là trước những điều kiện luật An Ninh Mạng quy định, mạng Xã hội Facebook có khả năng sẽ không rút lui trước những yêu cầu của chính phủ Việt Nam về những điều kiện và quy định theo luật An Ninh Mạng. Tự bản chất, Facebook là một đại công ty kinh doanh. Zuckerberg và hội đồng lãnh đạo Facebook là những doanh nhân nên họ sẽ hành xử mạng xã hội nầy như một thương vụ. Bà con làng Fây không nên nhận diện và suy diễn xa hơn về vai trò và thái độ của họ khác với thế đứng bắt buộc của giới kinh doanh trong mối quan hệ kinh tế thị trường với chính quyền các nước.

            Mong rằng, dù dưới bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào, làng Fây sẽ không vắng bóng tại Việt Nam trong thời gian sắp tới để:

            Còn trời còn nước còn non,

            Còn in-tơ-nét ta còn lên Fây!

 *

Sacramento, 11-11-2018

Trần Kiêm Đoàn

//

Nước mắt Tân Cương!⁩

Nước mắt Tân Cương .

1-tan-cuong
Có bào chữa kiểu gì đi nữa, có tô vẽ kiểu gì đi nữa, có khoác áo mục tiêu gì đi nữa, thì cuối cùng về bản chất, đặc khu là hình thức nhượng chủ quyền lãnh thổ. 
Như bao nhiêu triệu người Việt Nam tị nạn khác, tôi là kẻ vượt biên và còn sống sót nhờ vào may mắn; bởi thế, mọi chuyện (xa gần) có liên quan đến ranh giới của đất nước này đều nhớ như in:
“Nguyên Hồng là người phàm tục. Anh thích nhắm ngon, thích rượu ngon, nhưng thích nhất là khi có những thứ đó mà quanh anh là bè bạn. Nhưng trong bữa ăn khoái khẩu hôm ấy anh chỉ lẳng lặng uống. Sau mỗi miếng nhắm anh chống đũa, tư lự. Có vẻ anh buồn.
– Bên Tàu loạn to. Nhiều người chạy sang ta, chạy loạn hay là chạy chính phủ không biết, trông tội lắm. – anh nói, giọng rầu rầu
– Mình ở Hải Phòng lâu, các cậu biết đấy, cả thời trẻ mình sống lẫn với người Hoa, mình có cảm tình đặc biệt với người Hoa. Họ chăm làm, tử tế…
Trông những người chạy loạn gày còm, đen đủi, nhếch nhác, mình thương quá. Họ tưởng mình cũng là công an, quỳ xuống mà lạy, nước mắt lã chã. Họ xin đừng đem họ trả Trung Quốc, đem trả họ sẽ bị giết hết, họ nói thế.
Mình can mấy cậu công an, bảo từ từ xem thế nào đã, nhưng mấy cậu không nghe, một hai đem trả, nói luật biên giới là thế, không trả không được. Những người Hoa kia lăn lộn, kêu khóc ầm ĩ, phải lôi xềnh xệch…
Thảm lắm!
– Rồi sao?–Chúng tôi hỏi.
– Ðồn biên phòng ta cách đồn bên kia có một quãng. Lát sau, mình vẫn ngồi đấy, nghe phía bên kia có tiếng súng nổ. Hôm sau, những người khác chạy sang nói mấy người bị trả về bị bắn chết hết, bắn tại trận.” (Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California: Văn Nghệ, 1997).
Cái thuở “bên Tầu loạn to” mà Nguyên Hồng vừa kể, xẩy ra hồi cuối thập niên 1950, có nguyên do từ những cú hích (Đại Nhẩy Vọt – Great Leaps Forward) của Mao Trạch Đông. Nhà báo Dương Kế Thằng – tác giả cuốn Bia Mộ – tính chẵn rằng  ba mươi sáu triệu dân Tầu đã biến thành những con ma đói, chỉ vì mấy cú nhẩy ngoạn mục này. Đó là chưa kể mấy con ma lẻ (tẻ) bị bắn chết khi tìm cách chạy ra khỏi biên giới của nước Trung Hoa Vĩ Đại.
Hơn nửa thế kỷ sau, báo Vnexpress (đọc được vào hôm 18 tháng 4 năm 2014) loan tin:
“Bẩy người chết trong vụ nổ súng ở cửa khẩu Quảng Ninh. Bị bắt vì nhập cảnh trái phép, nhóm người Trung Quốc đã cướp súng của bộ đội biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh), bắn xối xả… Khi lực lượng chức năng siết chặt vòng vây, một số người cố thủ tự sát thương mình, một số khác nhảy lầu tự tử.”
Ở thời điểm này, mọi cơ quan truyền thông của nhà nước Việt Nam cũng đều đồng loạt đăng những mẩu tin với nội dung tương tự. Tất cả đều cố tình che dấu một chi tiết nhỏ (nhóm vượt biên này không phải là dân Trung Hoa mà là người Uyghur, Ngô Duy Nhĩ, đến từ khu tự trị Tân Cương) và đều lờ tít một câu hỏi lớn: tại sao họ phải bỏ xứ ra đi, và khi bị bắt lại đều lựa chọn một thái độ vô cùng quyết liệt: “cố thủ tự sát” hay “nhẩy lầu tự tử”?
Ở thời điểm này, mọi cơ quan truyền thông của nhà nước Việt Nam cũng đều đồng loạt đăng những mẩu tin với nội dung tương tự. Tất cả đều cố tình che dấu một chi tiết nhỏ (nhóm vượt biên này không phải là dân Trung Hoa mà là người Uyghur, Ngô Duy Nhĩ, đến từ khu tự trị Tân Cương) và đều lờ tít một câu hỏi lớn: tại sao họ phải bỏ xứ ra đi, và khi bị bắt lại đều lựa chọn một thái độ vô cùng quyết liệt: “cố thủ tự sát” hay “nhẩy lầu tự tử”?
2-tan-cuong
Thi thể người tị nạn Uyghur, bất kể còn sống hay đã chết, bị vứt chất chồng trên xe kéo. Ảnh: internet
Câu trả lời có thể tìm được qua bài viết (China’s Xinjiang Region: A Surveillance State Unlike Any the World Has Ever Seen / Tỉnh Tân Cương của Trung Quốc: Một nhà nước công an mà thế giới chưa hề thấy) của nhà báo Bernhard Zand, dịch giả Nguyễn Văn Vui – đọc được trên trang Dân Luận, vào hôm 31 tháng 7 năm 2018. Xin trích dẫn đôi ba đoạn ngắn, để rộng đường dư luận:
Không có nơi nào trên thế giới, có lẽ thậm chí kể cả Bắc Triều Tiên cũng không bằng, mà dân cư lại bị theo dõi, kiểm soát rộng khắp như trong “Khu tự trị Uyghur Tân Cương” …
Trong khi việc thực hiện dự án dò xét này ở các vùng đông đúc khác dân cư của Trung Quốc tiến triển tương đối trễ nải và chỉ làm được vài nơi mà thôi, thì tại Tân Cương, người Uyghur dường như đã được bao phủ bởi một hệ thống tính điểm tương tự. Nó tập trung chủ yếu vào các chi tiết mà giới công an muốn biết.
Số điểm ban đầu của mỗi gia đình là 100 điểm, nhưng bất kỳ ai đó có liên hệ hoặc có thân nhân ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập hay Malaysia, đều bị phạt với khoản khấu trừ lớn. Nếu bạn có ít hơn 60 điểm, thì bạn đang gặp nguy cơ. Một lời nói sai, một lần cầu nguyện thêm hoặc một cuộc gọi điện thoại quá nhiều, và bạn có thể được gửi đi “học” bất cứ lúc nào.
Đi “học” cái gì, và “học” ở đâu?
Hãng thông tấn Reuters , hôm 10 tháng 8 năm 2018, cho biết: “U.N. says it has credible reports that China holds million Uighurs in secret camps”. (“ Liên Hiệp Quốc nói rằng họ có những báo cáo đáng tin là Trung Hoa đã giữ hằng triệu người Duy Ngô Nhĩ trong những trại giam bí mật.”)
So với Tập Cận Bình, Hitler vẫn còn có thể coi là một người đứng đắn. Ông ta chưa bao giờ “mệnh danh” những ghetto là … khu tự trị, và cũng không hề che dấu việc giam cầm hằng triệu dân Do Thái. Chỉ cần thêm mấy cái lò thiêu người nữa là nhân loại sẽ trở lại với thời Nazi Holocaust.
Đến đây thì thiên hạ đã hiểu ra ý nghĩa của hai chữ “tự trị” trong cụm từ “Khu Tự Trị Uyghur Tân Cương (Xinjiang Uyghur Autonomous Region, hay Khu Tự Trị Tây Tạng(Tibet Autonomous Region–nơi mà đã có hằng trăm người dân tự thiêu để phản đối chính sách đồng hoá và diệt chủng của Trung Hoa Lục Địa.
3-tan cuong
Ảnh Face Book
Từ Khu Tự Trị (Autonomous Region) đến Đặc Khu Kinh Tế (Special Economic Zone) khoảng cách bao xa, hoặc bao lâu? Theo T.S Nguyễn Ngọc Chu thì chỉ trong … cái trở bàn tay:
“Chưa bao giờ đất nước đối mặt với nguy cơ mất nước trong cái trở bàn tay của Trung Quốc như hiện nay. Từng ngày từng giờ ngàn vạn dây thòng lọng từ Trung Quốc đang vươn rộng đón chờ khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Trong số đó là ở ba đặc khu mà người Việt đang sắp tự nghĩ ra để tự mình chui đầu.”
Tôi hoàn toàn chia sẻ với nỗi quan ngại thượng dẫn, chỉ xin phép được thưa thêm đôi điều – cho rõ – rằng không hề có người Việt nào “ tự nghĩ ra để tự mình chui đầu” vào rọ cả. Đây là vài sự kiện đã được ghi nhận trong tháng 6 năm 2018:
– Ngày 10 tháng 6 năm 2018, hàng ngàn người dân đã biểu tình phản đối Dự Thảo Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng ở những địa phương sau: Bình Dương, Bình Thuận, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Nội, Nha Trang, Sài Gòn, Vũng Tàu …
– Ngày 11 tháng 6, công nhân của Công ty Pou Chen Corporation biểu tình trước cổng công ty, yêu cầu bỏ Luật Đặc khu. Công nhân ở KCN Chà Là cùng tuần hành trên suốt tuyến đường từ KCN này đến Ngã 3 Bàu Năng, huyện Dương Minh, với lý do tương tự.
– Ngày 17 tháng 6, dân chúng Nghệ An và Hà Tĩnh tham gia cuộc tuần hành ôn hòa kéo dài nhiều tiếng đồng hồ để phản đối Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng.
….
Chỉ có những kẻ rắp tâm bán nước mới mặn mà với những dự án đặc khu, và xem đây là “ổ phượng hoàng,” chứ dân việt thì không. Chúng tôi biết cả, và biết rất rõ, tiến trình Hán hoá cũng như tình cảnh thảm thương của những người dân ở Tân Cương hay Tây Tạng.
.
Tưởng Năng Tiến

QUÁ THẤT VỌNG VỀ TRƯỜNG PHÁI “DÂN CHỦ” CỦA OBAMA!

QUÁ THẤT VỌNG VỀ TRƯỜNG PHÁI “DÂN CHỦ” CỦA OBAMA

Tran Hung

*

Không thể phủ nhận tài năng của Obama bởi nếu không có thực tài thì làm sao ông ta có thể làm nên kỳ tích, trở thành người da màu đầu tiên làm tổng thống Mỹ 02 nhiệm kỳ.

Trong 02 nhiệm kỳ tổng thống của Obama, dĩ nhiên bên cạnh những việc làm được luôn tồn tại những việc chưa làm được. Những việc làm được sẽ được dân Mỹ trân trọng, những việc chưa làm được sẽ bị chỉ trích với mục đích cảnh báo cho tổng thống kế nhiệm tránh lặp lại sai lầm, đây chính là cốt lõi của nền dân chủ Mỹ.

Với một người tài trí như Obama, tất nhiên ông sẽ rõ hơn ai hết về điều này bởi khi đương nhiệm ông đã từng nói “tui bị chỉ trích hàng ngày và chính nhờ điều này mà nước Mỹ mạnh lên”. Thế nhưng giờ đây, khi ông đã kết thúc vai trò lãnh đạo nước Mỹ, trở về một công dân bình thường như bao công dân khác thì lẽ ra ông phải biết giữ lấy những điều tốt đẹp ở 02 nhiệm kỳ tổng thống của mình và nghiền ngẫm lại những thất bại mà mình đã gây ra để nhắn gửi đến người kế nhiệm nhằm tỏ lời xin lỗi đến toàn bộ nước Mỹ, thế nhưng ông vẫn không ngộ ra điều căn bản này mà vẫn tiếp tục mắc phải sai lầm.

Chính sự sai lầm của ông Obama đã dẫn đến sự thất bại thảm hại mà minh chứng rõ ràng nhứt đó chính là các ứng viên đảng Dân chủ được đích thân ông Obama ủng hộ, vận động để chạy đua vào ghế Thượng nghị sỹ cũng như Thống đốc bang đều bị thất bại tại cuộc bỏ phiếu giữa kỳ vào ngày 06/11/2018, ngược lại những ứng viên của đảng Cộng hòa được ông Trump ủng hộ đều giành chiến thắng. Sở dĩ ông Obam thất bại là khi vận động tranh canh cho các ứng viên, ông dành thời lượng nói nhiều về mình hơn là ca ngợi các ứng viên. Trước thất bại này lẽ ra ông Obama phải cay đắng, ăn năn bởi đây không đơn thuần là cuộc chạy đua của 02 đảng mà trên hết đây là cuộc trưng cầu dân ý, là thước đo của lòng người.

Thật đáng tiếc cho ông Obama vì ông không biết cái nguyên tắc sơ đẳng của bậc trượng phu là “nên dừng đúng lúc”, càng tiếc hơn hay nói đúng ra là “khinh bỉ” hơn khi ông để cho bà vợ ông phát ngôn trước công chúng rằng bà “không bao giờ tha thứ cho Donald Trump vì chuyện riêng của gia đình bà” cũng chỉ vì ông Trump nằng nặc yêu cầu chồng bà phải “công khai – minh bạch” ngày sinh và nơi sinh để chứng thực ông Obama là công dân được sinh ra trên đất Mỹ, từ đó buộc ông Obama phải trưng ra bản sao giấy khai sinh mà theo bà vợ ông Obama vừa nói thì điều này đã đặt gia đình bà vào tình thế “nguy hiểm” từ đó bà không tha thứ cho ông Trump.

Tại sao ông Trump và dân Mỹ nghi ngờ ông Obama về vấn đề trên ? Là một công dân Mỹ dĩ nhiên bà vợ ông Obama phải hiểu tính minh bạch là điều cốt lõi làm nên giá trị dân chủ Mỹ, làm cho nước Mỹ vĩ đại. Nếu ngay từ đầu ông Obama minh bạch chuyện cỏn con này thì sẽ chẳng ai quan tâm vào lý lịch của ông ta cả. Điều này chính bà và chồng bà phải tự trách mình trước và phải biết ơn ông Trump chứ sao lại đi “oán hận” ông Trump ? Tui lại thấy thương hại cho gia đình bà hơn nữa khi Trump không đôi co với bà về điều này mà ông ta nói thẳng “sẽ không tha thứ cho Obama vì cái tội làm suy giảm sức mạnh của quân đội Mỹ khi cắt giảm quân số, cắt giảm chi tiêu quốc phòng”.

Gia đình ông Obama tố cáo ông Trump, căm thù ông Trump vì cái tội khi còn là một công dân bình thường ông Trump đã nằng nặc yêu cầu ông Obama minh bạch về nhân thân. Cái này ở Việt nam gọi hành động của bà Obama là “thù vặt cá nhân, lấy việc riêng chi phối việc chung”. Chỉ việc riêng này mà bà ôm thù hận thì ai sẽ tin vào câu nói “nhờ chỉ trích mà tui hoàn thiện hơn” của chồng bà là ông Obama. Ngược lại, ông Trump lại chứng minh cho dân Mỹ thấy rõ chồng bà vì cố mua chuộc tình cảm dân Mỹ mà đã đánh đổi một cách bất chấp, cắt giảm chi tiêu quốc phòng để bù đắp vào các chương trình, đạo luật khác nhằm đánh bóng tên tuổi của riêng mình, hay nói cách khác là tham nhũng chính sách, biến việc công thành việc riêng.

Qua hiện tượng của gia đình Obama, tui lại nhận ra một sự tương đồng gần như tuyệt đối giữa ông Obama và giới chức cộng sản Việt nam. Tức miệng cứ bô bô rao giảng về dân chủ nhưng lòng thì luôn muốn che đậy những mờ ám về nhân thân, về minh bạch tài sản,… và khi ai đó đòi hỏi về những điều này thì tỏ ra giận dữ, căm thù và cho rằng những người đòi hỏi này là “phản động – thù địch”.

Đến đây tui chợt nghiệm lại câu “ngưu tầm ngưu – mã tầm mã” và mới ngộ ra một điều “hầu hết những người yêu mến Obama đều na ná với bản tính của Obama”, lúc nào cũng bô bô truyền giảng về DÂN CHỦ, xem hệ tư tưởng của trường phái Donald Trump là phi dân chủ, chỉ có họ mới đích thực là DÂN CHỦ nhưng thực chất là DÂN CHỦ CUỘI – DÂN CHỦ GIẢ CẦY./.

Tran Hung.

 

Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person, smiling, standing and text
//