Blog Bùi Tín (VOA) – 71 năm Đảng Cộng sản cướp quyền: mảnh dư đồ rách nát!

71 năm Đảng Cộng sản cướp quyền: mảnh dư đồ rách nát

P2KIN2012-11-05T084734Z_559660309_GM1E8B51AKN01_RTRMADP_3_CHINA-MILITARY_0

Đảng Cộng sản đã cướp chính quyền và ngự trị trên đất VN tròn 71 năm. Họ hứa hẹn một nền độc lập vững chắc, tự do cho toàn dân, theo phương châm “Không có gì quý hơn độc lập tự do” được coi là chân lý tuyệt vời. Nhưng rõ ràng đó chỉ là khẩu hiệu chết trên giấy, trên tường, trên môi, không thấy được trong cuộc sống. Cả dân tộc bị lừa dối bởi cái trò tuyên truyền hão, cố tình che dấu sự thật, khi chỉ có quan chức CS là có quyền tự do độc chiếm đặc quyền.
.
Nhìn kỹ trên bản đồ đất nước hình chữ S, không thấy khởi sắc ở đâu, chỉ toàn thấy một màu ảm đạm, đen tối, tang tóc, đúng là mảnh dư đồ rách nát. Từ phía Bắc là biên giới gần 2 ngàn km cho láng giềng nước lớn ngang nhiên xâm nhập, với hàng vạn người hàng ngày không giấy tờ, với hàng lậu, hàng độc hại, ma túy, côn đồ, thổ phỉ, kẻ cướp nội tạng công dân ta. Đó là một đường biên giới mà ta đã mất chủ quyền, một biên giới bị bỏ ngỏ toang hoang cho mọi kiểu tai ương và tội ác hàng ngày từ phương Bắc tràn xuống thâm nhập khắp nước ta.
 .
Bên sườn phía Tây, dọc Trường Sơn là các vùng khai thác bô xít độc hại được giao cho các công ty Trung Quốc thực hiện, với bùn đỏ ngang nhiên tàn phá môi trường sống của các dân tộc Tây Nguyên vốn chất phác hiền lành đang đứng trước nguy cơ bị diệt chủng. Cũng trên biên giới phía Tây là dòng sông Mẹ – Mekong – vốn là nguồn bồi dưỡng cả vùng Nam Bộ phì nhiêu cò bay thẳng cánh, vựa lúa vàng của cả nước, bỗng nứt nẻ khô cằn vì kiệt nước và bị nhiễm mặn do 9 đập thủy điện trên đất Vân Nam, Trung Quốc, tùy tiện đóng mở, đe dọa cuộc sống của hàng chục triệu dân ta.
 .
Ven biển miền Trung là thảm họa môi trường Formosa – Plastics kéo dài hằng trăm km, cùng xác hàng triệu cá tôm hải sản chết trắng bãi, theo giới chuyên môn phải vài thập kỷ mới hồi phục.
 .
Trong nội địa nước ta, nhiều hiểm họa khác còn lớn hơn. Hàng chục vạn hécta rừng được giao cho Trung Quốc khai thác, hàng chục công trình nhiệt điện, thủy điện, cơ khí, xi măng, phân đạm, cầu đường, bến cảng lớn trải dài từ Bắc vào Nam đều nằm trong tay những người Trung Quốc đã trúng thầu một cách dấm dúi. Hàng trăm công trình lớn nhất nước bị giao cho các công ty Tàu thi công một cách tùy tiện, với kỹ thuật rất thấp, xây dựng dây dưa kéo dài, chi phí cao, nay bế tắc “bỏ thì thương vương thì tội”. Từ đó mọc lên rải rác khắp cả nước những trung tâm người Tàu cư trú nửa hợp pháp, với cửa hàng Tàu, quán ăn Tàu, hàng hóa Tàu, nhà buôn Tàu, bảng hiệu Tàu, sòng bạc Tàu, nhà thổ Tàu, chú rể Tàu, đe dọa và đảo lộn tận gốc nền độc lập, tự chủ và cuộc sống an bình của nhân dân ta.
 .
Tình thế sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm khi thế lực bành trướng luồn sâu, luồn xa, cắm chốt ở mọi địa bàn và yếu điểm có ý nghĩa chiến lược an ninh – quốc phòng hiểm yếu nhất, gần với đảo Hải Nam của chúng nhất.
 .
Trước cuộc họp của Quốc hội, Ban Chấp hành Trung Ương, Bộ Chính trị rất nên trưng ra tấm bản đồ VN ghi rõ những khu vực và địa điểm rải rác từ Bắc chí Nam đã bị thế lực bành trướng Trung Quốc chiếm lĩnh mà không tốn một viên đạn.
 .
Vậy ai đã gây ra tình hình bi thảm, nguy kịch trên đây?
 .
Không có đế quốc thực dân nào gây nên cả. Cũng không có thế lực phản động nào có thể gây nên sự tàn phá kinh khủng như thế. Phải công bằng và nói rõ sự thật minh bạch nhất. Đó là “công lao nổi bật không thể chối cãi của Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng Lao Động VN rồi đến Đảng Cộng Sản VN” hiện nay, đã độc chiếm quyền lãnh đạo đất nước suốt 71 năm qua, không chia sẻ cho ai khác.
 .
Trong 11 năm chui vào cái bẫy Thành Đô, Hán gian và Việt gian thứ thiệt đã câu kết chặt chẽ với nhau để ra sức vơ vét tài sản quốc gia, tạo bất công xã hội, duy trì một nền y tế bệ rạc, một nền giáo dục lạc hậu, đạo đức xuống cấp, một hệ thống hành chính nhũng nhiễu, bộ máy ngày càng quan liêu, một chế độ mất gốc “hèn với giặc, ác với dân”.
 .
Đây là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề của 12 khóa Ban Chấp hành Trung ương, 12 khóa Bộ Chính trị, 14 khóa Quốc hội độc đảng (thật ra là Đảng hội, khi đảng viên CS luôn chiếm trên dưới 90% tổng số đại biểu), và của gần một chục Tổng Bí thư, dẫn đến một mảnh dư đồ rách nát cùng cực như ngày nay.
 .
Blog Bùi Tín (VOA)
 //
down w cs_n

[Pa-nô trích đăng trên Internet- posted by tunhan]

Tư Tưởng “Giữ Nước Từ Xa” là Cái Mả Cha Gì?!

 

  Tư Tưởng Giữ Nước Từ Xa là Cái Mả Cha Gì?!

NGUYỄN NHƠN
Trích: Tại Hội nghị Ngoại giao vào ngày 22/08/2016, Nguyễn Phú Trọng đã “nhấn mạnh tư tưởng “giữ nước từ xa, từ khi nước chưa nguy”, và “nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng “sức mạnh mềm” lấy gốc từ tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa dân tộc.” ( Vũ Đông Hà – danlambao )

Ủa, bí lú đang ngồi ở Ba Đình, sát bên đít xứ chệt cọng mà sao nói ” giữ nước từ xa? ”
Hay là lũ con hoang tàu khựa đang tính giao nước Việt cho chệt, rồi di tản qua Mút cu ngồi giữ nước từ xa?
Gã ” người miền Bắc có ní nuận ” mà nói tiếng Việt ngắc ngứ. Người Việt truyền thống sẽ nói đơn giản, rõ ràng như vầy: ” Phải lo xa giữ Nước, trước khi hiểm họa tới gần. ”
Mà có thật bọn con cháu hồ tinh bác cụ có lòng lo lắng như vậy hay không?

Từ hơn 70 năm về trước, trong Kách mạng Mùa Thu Chết 1945, dân Việt đã có câu ngạn ngữ: ” NÓI LÁO NHƯ VẸM. ”
Khoảng bốn mươi mấy năm về trước, khi Miền Nam VNCH hấp hối, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thường cảnh giác: ” Đừng nghe những gì cọng sản nói mà hãy nhìn kỷ những gì cọng sản làm.”
Cách nay chừng 25 năm, sau khi Liên xô sụp đổ, tổng bí Gorbachev ngôn: ” Cọng sản chỉ biết tuyên truyền và…NÓI LÁO.”

Từ những định thức kể trên, có thể đặt ra công thức như vầy:

” Giữ nước từ xa  = Bán nước từ xa ”
” Từ khi nước chưa nguy = Từ khi nước thậm chí nguy “

Chúng bán nước đã từ lâu:

– Năm 1954, hồ bác cụ sai Đồng vẫu ký hiệp định Genève với thực dân Pháp chia đôi Đất nước dâng Miền Bắc cho cọng sản quốc tế Nga – Hoa.
– Năm 1958, hồ lại sai đồng ký cái công hàm bán hai Quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa cho chệt cọng.
– Năm 1973, Duẫn sai Thọ ký hiệp định Paris cho Mỹ rút quân để năm 1975 đánh chiếm Miền Nam dâng cho Nga – Hoa như lời Lê Duẫn nói và hiện còn khắc ghi trên cổng nhà mồ của nó.
– Năm 1999, chúng ký hiệp định phân chia biên giới, dâng cho chệt một giải đất 900Km2 bằng tỉnh Thái Bình, trọn Ải Nam Quan lịch sử và phân nửa thác Bản Giốc xinh đẹp.
– Năm 2000, chúng ký hiệp định phân chia lãnh hải dâng cho chệt 1/3 vịnh Bắc bộ và một phần Bãi Tục Lãm.

Đó là những vụ bán nước lớn có văn tự còn những vụ linh tinh chưa kể.

Hiện tại, Nước thậm chí nguy

– Ngoài biển Đông, Hoàng Sa nay là căn cứ Hải – Không chệt vững chắc. Trường Sa chệt có 3 căn cứ hải không cỡ nhỏ. Bất cứ lúc nào chệt cọng cũng có thể xuất kích đánh vào cạnh sườn nước việt cọng.
– Trên biên giới phía Bắc, dân quân chệt giả dạng thợ trồng rừng đầu nguồn sẵn sàng chiếm cứ các cao điểm, bảo vệ an toàn trục tiến quân. Hồi chiến tranh biên giới 1979, Chệt Tiểu bình từng kênh kiệu ngôn: ” Đây là cuộc hành quân có giới hạn Không gian – Thời gian. Còn như muốn đánh chiếm VN thì chỉ cần một tuần lễ là lực lượng xe tăng bác nhất có mặt tại Hà Nội. ”
Bây giờ, với hai xa lộ cao tốc Lào Cai – Hà Nội và Móng Cái – Hà Nội, giải phóng quân chệt với sự khống chế trục tiến quân như vừa kể thì chỉ cần đôi ba bửa là lực lượng cơ giới chệt có mặt tại Thăng Long.
– Trên Tây nguyên, nóc nhà Việt Nam, hàng vạn đặc công chệt và tù lao cải liều mạng dưới dạng công nhân khai thác bauxite chỉ cần phá hầm chất thải đỏ cho đổ xuống Bảo Lộc, Ninh Thuận gây hỗn loạn và tiếp nhận vũ khí không vận là thành chiến đoàn bảo vệ đại quân không vận, đổ bộ xuống rồi đánh mở đường xuống miền Nam thì chỉ cần mươi bửa, nửa tháng là đại quân chệt có mặt tại thành hồ chớ không cần 55 ngày đêm như chiến dịch đại thắng mùa xuân hồ bác cụ.
– Ngoài Vũng Áng, bốn, năm ngàn công nhân chệt bất ngờ võ trang, chiếm cứ cảng Sơn Dương (?) bảo vệ đại quân chệt đổ bộ, cắt đứt ngang yết hầu Hà Tĩnh thì nước việt cọng bị cắt đôi, đầu đuôi không cứu ứng nhau được. Vậy là Bắc Việt đi đứt.

Kịch bản kể trên chỉ thực hiện khi nào con hoang việt cọng lật lộng không tuân theo Mật ước Thành Đô.
Còn như bây giờ, chệt bành trướng chỉ cần chơi trò ma giáo hai mặt:

1/ Một mặt: Khai mỏ, sản xuất nhôm, thép, titan… xả chất thải độc từ biển cả tới  khu dân cư gây ô nhiểm môi trường khắp nơi. Đồng thời buôn bán hóa chất, thực phẩm độc hại từ thành thị tới tận thôn quê làm suy thoái tiêu mòn nòi giống Việt.

2/ Mặt khác: thực hiện mau lẹ mưu lược ” di dân – lấn đất ” theo sách lược ” tằm thực “. Hiện tại, các làng chệt mọc lên như nấm và ngày càng nhiều, từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau.

Tóm lại, tình trạng Đất Nước hiện nay lâm nguy như trứng treo đầu đẳng.
Nếu sĩ phu nước Việt không chịu liều mình đứng lên dẫn dắt toàn dân vùng dậy đánh đổ bọn nội gian phản nước, hại dân việt cọng thì họa mất nước, diệt tộc là không tránh khỏi.

Tư tưởng giữ nước từ xa cái mả cha Trọng lú!

 

Nguyễn Nhơn

Nhân chứng sống của Cải cách Ruộng đất [CCRĐ]!

Trò chuyện với một nhân chứng sống của Cải cách Ruộng đất

22.09.2014


Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Cuộc triển lãm tại Viện Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia ở Hà Nội chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946 – 1957” khai mạc hôm 8/9 đã làm khơi dậy làn sóng phẫn nộ vì điều bị cáo buộc là không phản ánh đúng thực chất sự kiện lịch sử đã giết chết ít nhất 15 ngàn người bị đấu tố là địa chủ mà đa phần trong số đó bị vu oan, cùng hàng ngàn nạn nhân khác bị tra tấn, hành hạ và bỏ đói trong tù.

Với sự hướng dẫn, giúp đỡ của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, chiến dịch Cải cách Ruộng đất của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam tức đảng Cộng sản hiện nay đề mục tiêu xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt địa chủ và các thành phần bị xem là ‘bóc lột, phản quốc’, để chia lại ruộng đất cho dân cày, lập nền chuyên chính vô sản, nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến dịch đấu tố thảm sát tàn bạo này đã gây ra bầu không khí nồi da xáo thịt kinh hoàng khi đồng bào- đồng loại truy quét, thảm sát, tận diệt lẫn nhau; khi những người cùng huyết thống trong gia đình đấu tố, vu cáo, ám hại nhau giẫm đạp luân thường đạo lý.

Sự khủng khiếp ấy đã được bộc lộ rõ nét qua mấy vần thơ của Tố Hữu:

«Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,

Cho Đảng bền lâu cùng rập bước tơ lòng,

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sit-ta-lin bất diệt

Trong số trên 172 ngàn người bị quy là địa chủ trong Cải cách Ruộng đất, cứ 10 người thì có tới hơn 7 người bị quy oan, để rồi sau đó ông Hồ Chí Minh đã thừa nhận chính sách này là một sai lầm.

Giới trẻ Việt Nam ít người được biết đến cuộc Cải cách Ruộng đất này vì bấy lâu nay nó không được sử sách nhà trường nói đến hay báo chí nhà nước nhắc lại, và cuộc triển lãm lần đầu tiên đầy tranh cãi và kịch tính ở Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia trong tháng này dường như là một vết dao thêm nữa cứa vào vết thương còn rỉ máu sau gần 6 thập niên.

Để các bạn trẻ hiểu thêm về sự kiện gây sóng gió công luận này, Tạp chí Thanh Niên hôm nay có cuộc trao đổi với một trong những nhân chứng sống, nạn nhân, và cũng là người tham gia cuộc Cải cách Ruộng đất 60 năm về trước: nhà văn, nhà báo Trần Mạnh Hảo, nguyên ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam, người đã bị khai trừ khỏi đảng Cộng sản vào năm 1989 vì tác phẩm ‘Ly Thân’ trong đó có nói tới chiến dịch Cải cách Ruộng đất.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Đại cục của Cải cách ruộng đất là cái xấu xa, đảo lộn đạo lý của dân tộc, là những cuộc đấu tố khủng khiếp xử oán oan người ta, hàng vạn người bị oan. Vết thương đã lành họ lại khoét nó ra. Dư luận trên internet phản ứng. Người ta kể ra sự thật, cho nên họ thấy lợi bất cập hại, họ vội vàng đóng cửa. Đây là một bài học cho sự tuyên truyền dối trá. Bây giờ còn rất nhiều người trong Cải cách Ruộng đất như chúng tôi vẫn còn sống đây, sao lại bịp chúng tôi được?

Trà Mi: Hành động nhắc lại lịch sử có người đánh giá là khoét lại nỗi đau chưa lành, có người cho rằng nên nhìn lại lịch sử để học lại bài học của chính mình. Bấy lâu nay đã có rất nhiều chỉ trích nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam muốn né tránh những chuyện sai lầm đã gây ra, nên họ cố quên và muốn nhân dân phải quên đi. Nhưng tới lúc họ nhắc lại thì bị ném đá, bị chỉ trích nặng hơn. Không nhắc thì nói là bưng bít, còn nhắc lại thì bị phản ứng. Nên hiểu thế nào về những gì ẩn sau trong lòng dân chúng Việt Nam? Liệu dư luận Việt Nam có quá khắc khe hay không?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Cải cách Ruộng đất thật sự là một vết nhơ xấu xa nhất của cộng sản. Cái xấu xa nhất lại đưa ra khoe, triển lãm. Mà triển lãm lại nói phần tốt đẹp chứ không nói phần xấu. Vẫn là một sự bịp bợm, nói dối. Họ cứ quen thói bịp nhân dân mãi. Xưa nhà nước độc quyền các phương tiện truyền thông, chứ giờ internet và Facebook đã là phương tiện truyền thông của mọi người.

Trà Mi: Có ý kíên cho rằng lịch sử không phải để thù hận, cho nên cũng có người ủng hộ sự bạch hóa lịch sử…

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Bạch hóa lại chối tội, gian dối thì làm sao? Anh bắn giết, hành hạ người oan. Người qua không tội gì lại vu cáo, bịa chuyện để đưa ra bắn, thích bắn là bắn. Bắn hàng vạn người như vậy, rồi ngồi khóc là xong tội à? Ai gây ra chuyện căm thù nhau, nồi da xáo thịt? Ai gây chuyện đấu tố địa chủ khủng khiếp như vậy? Chỉ bởi học thuyết sai lầm về đấu tranh giai cấp sinh ra. Họ đưa học thuyết tà đạo về áp dụng cho dân tộc Việt Nam, làm đảo lộn đạo lý của dân tộc, con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, cháu đấu tố ông bà. Toàn tố điêu không. Tôi là người tham gia Cải cách Ruộng đất từ đầu chí cuối. Gia đình tôi và bản thân tôi là nạn nhân của Cải cách Ruộng đất nên tôi biết. Sao chúng tôi lại không lên tiếng được? Buộc lòng chúng tôi phải viết mấy bài trên Facebook kể lại chuyện gia đình tôi, rất khủng khiếp, mà tôi chỉ kể có mức độ thôi. Họ không biết sám hối mà cốt tuyên truyền, đem cái xấu xa nhất của chế độ khoe ra mà bảo là tốt thì làm sao mà mọi người nhịn được. Nếu họ triển lãm trung thực, kể ra cái ác của Cải cách Ruộng đất ra để sám hối, để nhận lỗi của mình thì không ai phản ứng cả. Đằng này họ lại làm cái cuộc dối trá như vậy. Không coi người dân ra cái gì cả. Cũng không có một thái độ đàng hoàng, tử tế. Khi thấy triển lãm hố, hai ba ngày sau ngưng không triển lãm nữa lấy lý do thiếu ánh sáng. Thái độ rất hèn hạ. Những người đã bị đấu tố hầu hết là những địa chủ phục vụ kháng chiến. Thế nhưng họ lại bắt đưa ra đấu tố. Như bà Nguyễn Thị Năm là người có công vô cùng lớn với chế độ của ông Hồ Chí Minh, đã nuôi ông Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản trong nhà và mang hết tài sản ra tặng. Thế nhưng cuối cùng họ lại đem bà ra bắn.

Trà Mi: Là một nhà báo để ý quan sát thời cuộc, theo ông, vì sao nhà nước lại mở triển lãm Cải cách Ruộng đất vào lúc này chứ không phải là sớm hơn hay muộn hơn?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi nghĩ rằng cuộc triển lãm này được cấp cao nhất quyết định lâu rồi. Phải là Bộ Chính trị quyết định chứ Bộ Văn hóa không có quyền làm chuyện này. Họ chủ quan nghĩ rằng đã lừa dối được dân mấy chục năm nay rồi thì giờ muốn nói gì thì nói. Đấy là một cái nhầm vì dân bây giờ đã thức tỉnh.

Trà Mi: Đã có nhiều ngòi bút mô tả Cải cách Ruộng đất như một cuộc cách mạng ‘long trời lở đất.’ Cải cách Ruộng đất dưới ngòi bút của nhà văn-nhà báo Trần Mạnh Hảo, một cựu đảng viên cộng sản Việt Nam, như thế nào?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Trong tiểu thuyết Ly Thân của tôi nay đã bị nhà nước cấm, tôi có mô tả đến cuộc Cải cách Ruộng đất. Bây giờ tôi cũng không muốn nhắc tới vì con cháu những người trong làng đã đấu tố gia đình nhà tôi, những người tố điêu, những người làm những việc rất xấu xa đê tiện đó hiện giờ vẫn còn sống trong làng. Khi tôi nhắc lại thì con cháu những người đó cũng có gọi điện thoại vào nói ‘Xin bác tha cho vì chúng ta là những người Công giáo, lấy sự tha thứ làm trọng.’ Tôi bảo ‘Không, tôi thì tôi quên rồi, nhưng tự nhiên ông nhà nước triển lãm Cải cách Ruộng đất mà rất là dối trá như vậy thì bắt buộc tôi phải lên tiếng để công luận biết những gì triển lãm kia không phải thực chất của Cải cách Ruộng đất. Thực ra, nếu muốn viết về Cải cách Ruộng đất, tôi đã viết một cuốn sách ít nhất phải là 500 trang vì riêng chuyện gia đình tôi cũng khủng khiếp lắm. Có những điều tôi cũng không muốn nói ra nữa.

Trà Mi: Nhân nói chuyện về cuộc triển lãm nhắc lại thời mốc quá khứ đen tối trong lịch sử Việt Nam, có thể cùng nhà văn Trần Mạnh Hảo nhìn lại những gì đã diễn ra? Là một nạn nhân cũng là ngừơi tham gia đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, từng kinh qua những chuỗi ngày Cải cách Ruộng đất trong thời thơ ấu, sau 6 thập niên nhìn lại, những ký ức còn đọng lại trong ông là gì?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi đã chứng kiến lính Pháp đi càn quét trong làng xã, cũng là kinh khiếp lắm, nhưng không bằng Cải cách Ruộng đất. Tôi đã từng đi xem bắn người, những người tốt nhất trong làng xã tôi bị quy là địa chủ và bị đưa ra bắn rất tàn bạo. Tôi cũng từng đấu tố bố mẹ tôi. Tôi cũng từng chứng kiến thảm cảnh gia đình nhà tôi từ đầu chí cuối thì tôi phải nói là Cải cách Ruộng đất không khác gì Polpot bao nhiêu. Những người bị bắn trong làng xã tôi hầu hết là từng là đảng viên cộng sản. Không hiểu tại sao họ lại lôi ra bắn hết. Chắc họ muốn thanh trừng vì họ sợ. Những lớp người làm kháng chiến chống Pháp trong vùng này đã từng là bí thư chi bộ của cộng sản, chủ tịch xã bị lôi ra bắn hết.

Trà Mi: Ông không hiểu vì sao họ làm như vậy, nhưng chính bản thân ông từng có hành động đấu tố tham gia trong cuộc Cải cách Ruộng đất đó, ông có hiểu vì sao mình làm vậy không?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Lúc đó tôi mới 10 tuổi thôi. Họ huy động thiếu niên con cái của địa chủ, bắt phải đấu tố bố mẹ thì bố mẹ mới khỏi bị bắn. Bọn chúng tôi đều nghĩ là họ nói thật nên sợ lắm. Tôi bàn với mẹ, mẹ bảo ‘Con không đấu tố thì bố con chết.’ Cuối cùng, chúng tôi phải đứng ra nói theo kịch bản của họ là ‘Bố tôi rất gian ác.’ Họ bảo ‘Chưa được, phải nói nặng thêm.’ Tôi hét lên ‘Bố tôi giết cả làng này.’ Ông đội cải cách rất trẻ tát vào mặt tôi cái bốp, bảo ‘Chửi cha vượt chỉ tiêu trên giao. Trên giao cho mày chửi bố có bằng này thôi, sao mày chửi nhiều vậy?’ Bố mẹ tôi còn bị những người hàng xóm đấu tố. Trước đó, họ là những người Thiên Chúa giáo rất tốt. Đội Cải cách về khuyến khích thế nào thành ra nói dối hết. Tất cả ‘địa chủ’ trong làng xã tôi đều không giàu có gì vì ngoài Bắc ít có người có ruộng thẳng cánh cò bay như trong Nam Bộ. Chỉ vài mẫu ruộng, vài con trâu mà thành ‘địa chủ’ rồi. Họ cứ quy và đấu tố điêu rất gian ác. Trong Cải cách Ruộng đất, không khí khủng khiếp vô cùng.

Trà Mi: Sau lần chính ông đấu tố bố mình, bố ông có lãnh hậu quả thế nào không?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Bố tôi sau đó bị nhốt mấy tháng được thả vì gia đình tôi được xuống thành phần ‘trung nông lớp D.’ Tôi nhớ bác Luông ở gần làng tôi cũng bị bắn rất tàn bạo. Đến khi họ sửa sai thì họ cho bác ấy xuống thành phần. Người ta đền tội bắn chết ông Luông có 100 cân thóc cho gia đình. Ngay cả em ruột ông nội tôi là một nhà sư rất nổi tiếng ở huyện cũng bị đấu tố đến mức tự treo cổ chết. Sau này, ông cũng được xuống thành phần. Ông sư trong chùa có gì mà là địa chủ. Họ cốt quy ông là địa chủ để phá chùa của ông thôi. Gần như Cải cách Ruộng đất tiến đến một cuộc diệt chủng. Ví dụ như ông cố sinh ra ông nội tôi, năm đó gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ. Vậy mà họ cũng đem ông ra ruộng đào hố đấu tố ông chỉ vì ông có nhà to nhất làng. Ông cố tôi là một trong những người lập ra cái làng đó. Ông bị đấu tố tới ngất đi. Ông xin xử bắn cho ông được yên mà họ không bắn, đem nhốt ông trong nhà bếp bên cạnh nhà tôi, không cho ăn. Cứ đêm đến ông gọi tôi qua cửa sổ ‘Ông Hảo ơi cho con xin miếng cơm.’ Mẹ tôi thỉnh thoảng lén ném qua cửa sổ cho ông một nắm cơm để ông sống. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ông chết.

Trà Mi: Cải cách Ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến; tiêu diệt các thành phần địa chủ, chống chính quyền, hay Việt gian để lấy lại ruộng đất cho bần cố nông. Họ nói mục tiêu đó về cơ bản không sai, nhưng dẫn tới sự đẫm máu và oan sai là do cách thực hiện sai. Ông nghĩ thế nào?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Cái đó chỉ là họ biện minh cho hành động độc ác của họ. Mục tiêu của họ là giết trí thức và người giàu. Khẩu hiệu ‘Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc trốc tận rễ’, khẩu hiệu căn bản của Cải cách Ruộng đất, vẫn rành rành ra đó. Khẩu hiệu này ra đời từ đảng Cộng sản Đông dương 1930. Trí thức và những người biết làm giàu là thành phần tạo nên xã hội văn minh. Không có trí thức, không có người biết làm ra của cải thì không có xã hội văn minh. Ngay mục tiêu ban đầu của họ đã là rất ác độc, sai trái, chống con người mà cứ bảo trên đúng do dưới thực hiện sai thì rất bậy bạ. Họ chỉ tìm cách mị dân thôi.

Trà Mi: Chủ nghĩa cộng sản tin rằng cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc…

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Họ có giải phóng gì đâu. Họ chia ít ruộng cho bần cố nông. Hai năm sau, đến 1958 là họ thu lại hết. Họ cướp hết, cho vào hợp tác xã. Nông dân vẫn tiếp tục khổ ai, còn khổ ải hơn xưa nữa, khốn khó vô cùng. Năm 1958 họ lấy hết đất của dân dồn vào tay nhà nước gọi là ‘hợp tác xã’, thì đâu thể gọi là ‘dân cày có ruộng?’ Đấy là cuộc cách mạng dân cày mất ruộng chứ. Lúc ấy chúng tôi có một ông địa chủ to vô cùng có tên là ‘hợp tác xã,’ đày đọa con người không thể tưởng tượng được. Tôi từng đi làm hợp tác xã, tôi biết, đói vô cùng, hoa cả mắt, suốt ngày làm không đủ ăn.

Trà Mi: Với con mắt một nhân chứng, một người từng là nạn nhân của Cải cách Ruộng đất, ông sẽ nói gì về những di hại của nó cho tới 6 thập niên sau?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi chỉ muốn nói rằng dân tộc chúng ta đã kinh qua rất nhiều bi thảm do lỗi lầm của những người mang tà thuyết độc ác, chủ nghĩa duy ác, về đất nước chúng ta. Mong rằng họ sẽ từ bỏ chủ nghĩa duy ác này để trở về với dân tộc, với sự thương yêu hòa đồng với nhau. Chủ nghĩa đấu tranh giai cấp này là một chủ nghĩa rất là sai lầm, làm tai hại cho dân tộc, làm nhân dân cùng đường khốn khổ khốn nạn như thế này. Tôi mong những người cộng sản lãnh đạo đất nước hãy mau thức tỉnh sám hối. Hãy nghĩ rằng không chóng thì chày họ sẽ bị lịch sử lên án. Tôi chỉ mong họ hồi tâm quay lại với đất nước. Mọi người chúng ta hãy cùng nhau nói lên sự thật thì sự thật mới có mặt trên đất nước chúng ta.

Trà Mi: Với thế hệ trẻ ngày nay và ngày mai của nước Việt, theo ông, Cải cách Ruộng đất đã để lại cho họ bài học lịch sử như thế nào?

Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Thế hệ chúng tôi bây giờ gần đất xa trời rồi. Thế hệ bố mẹ chúng tôi bị ám ảnh bởi Cải cách Ruộng đất thì chết hết rồi. Bây giờ họ tưởng đã đến lúc họ muốn sáng tác, muốn bịa theo kiểu của họ thế nào cũng được vì lớp trẻ đâu có biết gì, họ muốn nói gì thì nói mà. May mà những người như chúng tôi còn sống và có những bạn trẻ được cha mẹ kể lại những ký ức đau thương của thời Cải cách Ruộng đất, cho nên người ta đã lên tiếng. Không thể nào bịp nhân dân mãi, không thể nào bịt miệng được nhân dân mãi. Internet là phương tiện vô cùng hữu hiệu để chúng ta nói lên sự thật.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn nhà văn Trần Mạnh Hảo đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Đọc Báo Vẹm!! – Số lần: 491

Đọc Báo Vẹm số 491

Do Nguyên Khôi và Hoàng Tuấn phụ trách;

  • Đọc dùm quý vị những tin tức ‘nóng hổi’ được đăng trên các Báo Nhà nước Xã nghĩa, tức Báo của ĐCS VN!
  • Tin ‘TƯƠI’ được trích đọc từ Báo Vẹm!

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/

Bản văn tiết lộ của Nhà biên khảo, Bác sĩ Trần Đại Sỹ! [tn]

  • Fwd. Chuyển tiếp qua điện thư!
    Date: July 25, 2016 at 2:47:30 PM PDT
    Subject:  Trung cộng tiết lộ động trời [1 Attachment] 

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời: Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quốc như thế nào?

 LGT.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiến đất dâng biển cho Trung Quốc ra sao. Bí mật của vụ này đã được Bác Sĩ Trần Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiều Trần trước cơ quan IFA và được Saigon HD Radio trích đoạn các phần quan trọng sau đây:
***
Bác sĩ/Tác giả Trần Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas (Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB), Dr. Trần Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14 VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (Khóa 16 VB). 
Bản điều trần nêu lên nhiều chi tiết đau lòng. Theo BS Trần Ðại Sỹ, “Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật, theo tinh thần bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn”.
Trong khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây số và Bộ Ngoại Giao CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Lý do, theo BS Sỹ, vì “Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc”.
Các phần quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí ẩn về việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc
Bản điều trần của Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại Sỹ
Dr. Trần Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT: Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc.Ðau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam-quan đi vào tâm tư là niềm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc.
Ngay cả hang Pak-bo là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nhìn vào lãnh thổ Trung-quốc. Trong suốt 25 năm qua, Bác-sĩ TrầnÐại-Sỹ vì ký khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là “không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại; không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam” nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên, ông đã được một cơ quan (chúng tôi giấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo, rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôị (IFA).
Kính thưa Ngài … Kính thưa Quý Ngài,  Kính thưa ông Giám-đốc… Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay, chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Ðây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô  tư vì:
– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần vào thế kỷ thứ 13 mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.
– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu mời tôi về nước (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa, tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ðứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa, anh ta hỏi:
– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?
Tôi lắc đầu, khóc tiếp, anh an ủi:
– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồị, Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiềụ.
Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữẠ Hán như sau:
1.Thử địa cựu Nam-quan,
2.Biên địa ngã cố hương.
3.Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp, khốc, ký đoạn trường.
5.Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường Kiệt truy Bắc phương,
7.Hưng Ðạo đại sát Ðát,
8.Lê Lợi trảm Vương Thông.
9.Nam xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm hồng Bắc-bình vương.
11.Ngũ thiên niên dĩ tải,
12.Hoa, Việt lập dịch trường.
13.Mao, Hồ tình hữu nghị,
14.Nam, Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ thích ô hoang. 
Ðại-Việt vong quốc nhân Trần Ðại-Sỹ-Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôị – Xin tạm dịch:
 
1.(Ðất này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn là biên địa cố hương của mình.)
3.(Hiện nay là đất Trung-nguyên,)
4. (Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua Lê thắng Tống chỗ này,)
6.(Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trần sát Ðát liên miên,)
8.(Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)
9.(Càn-Long chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.)
11.(Năm nghìn năm cũ qua rồi,)
12.(Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoạ)
13.(Ông Hồ kết bạn ông Mao,)
14.(Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng.)
15. (Vạn dân xương trắng đầy đồng,)
16. (Ðể lại trên lá cờ Hồng vết nhơ)
(Người nước Ðại-Việt vong quốc tên TrầnÐại-Sỹ, khóc đề thơ ngày 6 tháng 9 năm 2001)
Câu 5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bạị
Câu 6, Năm 1076, vua Tống Thần-Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánhÐại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổị
Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầụ.
Câu 10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.
Câu 14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Ðông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhaụ Việt-Hoa ví như răng với môị. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ- Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.
 
– Tháng 9 vừa qua, Ðảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất vì năm 1997 , tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt, nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới hình thức hài hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị cuối năm 1997. Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấỵ (2).
Ghi chú (2) Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm khiến họ sợ hãi mà thôi. Ðiều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Ðức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm những vụ đầu độc cùng một phương pháp:
– Cậu-Chó vì dính dáng đến vụ Trương Như Tảng, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc không thành rồi cũng được bán thân bất toại để bảo mật
– Trong kỳ đại hội Đảng 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trưởng Ngoại-giao, ông Ðào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.
– Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam từng dính dáng với phong trào Trương Như Tảng. Sau đó, đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây, nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp, ông lén từ Canada sang Paris gặp bà mưu kiếm ít xôi thịt từ Trung-quốc. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.
Kính thưa Quý-vị:
Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:
“Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam, họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.
Kính thưa Quý-vị
Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay về việc:
– Ðảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
– Ðảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.
3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc.
3.1. Kết quả của văn kiện 14-9-1958.
Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này, toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Ðồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1): những nước liên hệ tới bản tuyên bố là :
– Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), – Nhật-bản, – Hoa-kỳ (hạm đội 7)), – Phi-luật-tân, – Mã-lai, – Brunei, – Indonésia, – VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).
Thế nhưng từ hồi đó đến nay, các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên.
Vì sao?
Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giời cứ nhìn trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ nàỵ.
Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận) nên suốt thời gian 1958-2001:
– Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.
– Chiến hạm của Pháp, Ðức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng mà Trung-quốc đành im lặng.
 
Hôm nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ
Kính thưa Quý-vị,
3.2. những bí ẩn.
Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.
– Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đã phân định từ 1887 giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì chẳng có gì là lạ cả. Nhưng nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi ra vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
– lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
– Phía Ðông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Bruneị
– Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-laị
 
Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc thịìcũng có bản đồ chi tiết nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó thì có nghĩa rằng:
Họ đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ: 
– Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
– Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý nghĩa là toàn bộ biển Nam-hảị
 
Kính thưa Quý-vị,
 
3.3 – Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa) .
Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:
– Tại sao năm 1973, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH? Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa địa, chiến hạm lớn đông gấp 3 lần VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa- Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH?
Nay tôi xin thưa:
Vì:
Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao TrạchÐông), phía Trung-quốc đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đồ, Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc thì Trung-quốc đem hạm đội xuống chiếm Hoàng-sa.
Vì:
Văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được hiến dâng, đã 16 năm bị VNCH xâm lăng.
– cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến tháng 3 năm 1988, Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ.
Nay tôi xin thưa:
Do văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm VănÐồng đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc, Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Ðài-loan đóng tại đây mà Trung-quốc không tấn công vì quân Ðài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngã ngũ thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.
Ðối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ có nghĩa là họ gạt Việt-Nam ra ngoài vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quốc. 
3.5 – Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958 và chính phủ VNDCCH.
Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:
– Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc MạcÐăngÐung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.
– Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau, VNDCCH không có ngoại thù.
– Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH, không có áp lực ngoại xâm.
– Năm 1958 là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao động (Cộng-sản), dân chúng… bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng, không còn kẻ nội thù,
– Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy, họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.
– Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?
– Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ, VNDCCH cũng có Quốc-hội nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.
3.6 – Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng? Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.
Tôi không tìm ra vì:
– Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lãnh hải đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn Ðồng hồi ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ-trương bộ Quốc-phòng vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Ðại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Ðại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn Ðồng ký văn kiện này, Ðại-tướng phải biết. Nay Ðại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người, nếu sĩ khí, dũng khí của Ðại-tướng còn thì xin Ðại-tướng cho quốc dân biết được không?…
– Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn Ðồng thì không thể nào tin được vì chính ông Phạm Văn Ðồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng đất cho Trung-quốc!
– Ví thử ông Phạm Văn Ðồng tự ý ký văn kiện trên thì năm 1977, văn kiện ấy lộ ra ngoài, người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn Ðồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?
– Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Ðảng Cộng-sản bán nước mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, còn Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc nàỵ
Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc trước khi điều trần sang phần thứ nhì.
Kính thưa Quý-vị,
Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:
4. Vụ nhượng lãnh thổ mới đâỵ
* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.
* Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
4.1 – Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định.
Hai hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:
– Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,
– Ông Trần Ðức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
– Ông Nông Ðức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,
– Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
– Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giaọ
 
Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết nhưng có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Không cần biết người ký là Chủ-tịch Trần Ðức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng người quyết định là aỉ ?!?
Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm – Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một mình. Ông Trần Ðức-Lương, Nông Ðức-Mạnh càng không có quyền gì. Vì vậy,tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:
– Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu đều biết trước rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, giấu giếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?
– Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước cũng như Thủ-tướng nhất đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoạị.
– Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Ðức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đốị
– cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam, nhất là Tổng-thống Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-ky. Nói tóm lại, thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.
– cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh. Vậy vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc? 4.2 – Chi tiết vụ cắt đất.
Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật theo tinh thần bản hiệp định thì:
– Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.
– Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là :
– Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam, trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.
– Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.
Thưa Qúy-vị,
4.3 – Ảnh hưởng vụ cắt đất.
4.3.1 – Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt.
Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh địa trong mấy nghìn năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm tự hào của họ. Ðây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt. Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Ðông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch Ðông đã nói:
“Cái tên Ải Nam-quan nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại, coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị”.
Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.
4.3.2 – Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.
Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lạị lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Ðây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:
“Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.
Hoặc : “lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu theo hình chữ S”.
Bây giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy hàng chữ trên mà chỉ thấy câu: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Thưa Quý-vị,
Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc.
Sát cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:
– Cơ sở Hải-quan.
– Bãi đậu cho hằng trăm xe tải để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
– Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport.
– Ðồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ.
– Hằng chục cơ quan khác như Bưu điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
– Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn…
Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết, kể cả cây cột biên giới. Tuy vậy, sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc, những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất.
4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử
Ði sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Ðồng đăng rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Ðây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Ðộng Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc MạcÐăngÐung mà năm 1540 đã dâng đất cho Trung-quốc để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiềụ
Ði sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Ðầu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Ðầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sự Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại.  May mắn thay, khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt.
Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn Gần đây nhất, trong chiến tranh 1978, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn, sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân nhân họ, nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ.  Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.
4.4 – Vụ cắt lãnh hảị
Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng đức bản đồ.Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Ðại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết). Vào những thời kỳ ấy (1500-1887), Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao nên chưa có những đụng chạm. Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Ðối với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại vì mất một số đảo mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt và dùng y phục Việt. Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983. Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau: Trung-quốc 38% Việt-Nam 62% . Ðối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng thế. Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam. Chứng cớ:
– Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.
– Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Ðông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ? Bây giờ đến hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau: Việt-Nam 53% Trung quốc 47%. So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa!
4.5 – Ảnh hương vụ cắt lãnh hảị
4.5.1 – Mất lãnh hải, quốc sản.
Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng:
– Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quý – Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa – Một số đảo trong vùng nhượng thuộc Trung-quốc.
 
//

‘Bún bò Huế’ – Tạp ghi Huy Phương.

  • Một mặt trận hai kẻ thù:
  • Việt cộng bán nước, giặc tàu xâm lăng

‘Bún bò Huế’

.

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)
Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Tạp ghi Huy Phương.

“… Cha mạ ơi! Tụi hắn đem bán cả biển, rừng, đất đai của tổ tiên chưa đủ lòng tham, chỉ còn một món ăn quê hương nghèo khó nghìn đời của mạ tui, tụi hắn còn giành giật cho là tài sản của mình, đăng ký với Cục Sở Hữu Trí Tuệ Ba Đình, ban hành quy chế quản lý và sử dụng, để từ ni, ai bán bún bò Huế thì phải xin phép lũ hắn, mấy thằng ‘cán ngố’ Thừa Thiên-Huế!
.
Răng mà tham lam, độc ác tận mạng rứa Trời! Mả cha cái đồ vô hậu!”
Nếu mạ tôi còn sống, bà sẽ chửi cách Huế như vậy, sau khi nghe tin Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế “cưỡng chế” món bún bò Huế đã có tự nghìn xưa. Hơn nữa đối với những người này, những người vô liêm sỉ, phải dùng loa phường, loa khóm mà chửi ra rả suốt ngày như kiểu “chửi mất gà” may ra mới đã nư!
.
Đối với người Việt Nam, bún bò Huế không phổ biến bằng món phở. Phở là của cả một miền, miền Bắc, không phải của Hà Nội, Hải Phòng hay Hải Dương. Thời còn Tây, người ta đã nói tới phở Bắc rồi, dưới cái tên Tây là “Soup Tonkinoise” để phân biệt những gì của Annam (Trung Kỳ) và Cochinchine (Nam Kỳ). Nhất là sau ngày miền Bắc di cư, chạy nạn Cộng Sản, thì phở Bắc tràn lan trong Nam, đuổi cả món mì, hủ tiếu chạy có cờ. Ngày nay, đã mất chữ “Bắc” rồi, nói đến phở là nói đến Việt Nam hay người Việt, khách ngoại quốc ai ăn rồi cũng muốn trở lại.
.

Nói chung, bún bò Huế không phát triển phổ biến bằng phở, chẳng qua vì khó nấu và cũng khó ăn, vì bún bò không những cay mà còn đậm mùi sả, mùi ruốc. Bằng chứng là sau này, khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam, người ta mời ông đi ăn phở chưa chẳng ai dám mời ông ăn thử một tô bún bò.

Bún bò là món đặc trưng của thành phố Huế, nơi có sông Hương, núi Ngự, và cầu Trường Tiền, thành ra không ai gọi là bún bò Thừa Thiên. Vượt qua đèo Hải Vân thì đã có món mì Quảng thống trị, đi vô nữa rồi mới có nem Ninh Hòa…
.
Ngày trước, ở Huế có bún bò CLB Thể Thao, bún bò Nhà Hát Lớn, bún bò Nam Giao, Đà Nẵng có bún bò Tổng Liên Đoàn Lao Động, Pleiku có bún bò Nhà Xác (vì nó nằm trong bệnh viện), Đà Lạt có bún bò Cây Số 4… Không nóng, không cay không phải là bún bò. Tô bún bò nguyên lai không có huyết, không có chả, cũng không ăn với rau, với giá hay với bắp chuối. Những thứ đó ăn kèm theo thì con chi là mùi vị bún bò.
.

Bún bò Huế còn có một cái tên gọi nữa là “bún bò giò heo.” Nói chữ “bún bò giò heo” thì người ta bỏ chữ Huế đi theo. Cũng nên hiểu “giò” đây là chân hay cẳng, chứ không phải “giò” là “chả” theo cách nói của người Bắc! Người ăn có quyền lựa chọn loại giò: giò khoanh (phần trên có thịt, có xương, có da), giò móng (phần dưới có móng,) gió búp (chỉ có thịt và da).

Cái quê mùa của cách ăn bún bò ngon là chỉ dùng một đôi đũa mà không có muỗng, nghĩa là vừa ăn vừa húp sùm sụp, thỉnh thoảng lại cắn trái ớt nghe cái bụp. Khi một o bán bún bò dừng gánh, múc cho bạn một tô bún, cầm trên tay, không có một cái bàn để tô bún xuống thì làm sao mà dùng muỗng. Cũng là món ăn dùng bún, tôi nghĩ tô bún riêu cua ở quán đầu làng, bên cạnh gốc cây đa của miền Bắc cũng không ai dùng muỗng.
Bây giờ người ta cho lối húp là quê mùa, mất lịch sự nhưng ăn bún, ăn phở mà không húp là mất ngon!
Người Việt Nam có lối ăn canh là phải húp sùm sụp, “Đầu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!” Người Nam ăn bánh bèo, bánh khọt là phải “húp nước mắm,” thì người Trung ăn bún bò mà dùng muỗng là tô bún mất ngon, phải húp.
Ở đâu cũng có quán bún bò, có tiệm bún bò, nhưng chỉ ở Huế ngày xưa, mới có một “trung đội bún bò gánh” từ An Cựu, mỗi buổi sáng tỏa lên thành phố Huế. Mấy o gánh bún bò phải đi chân đất để vừa đi vừa chạy, nhưng luôn luôn mặc áo dài, đó là đặc tính truyền thống của xứ Huế dù là buôn thúng bán bưng, như những o bán rao bánh bèo, bánh ướt, bánh bột lọc, bán bắp nấu hay những o bán đậu hũ… Một đầu gánh là thúng bún, gia vị, chén bát và cả một cái chậu đựng nước rửa tô (Huế gọi là đọi). Một đầu là nồi bún đang nóng, đặt trên mấy cục gạch có mấy thanh củi đang cháy. Một đầu gióng còn giắt một cái đòn (ghế nhỏ) để người bán hàng có thể ngồi mà múc bún cho khách ăn.

Bún bò gánh được coi là bún bò bình dân, giá rẻ. Ngày xưa còn nhỏ, đã nhiều lần tôi được ăn bún bò gánh chứ chưa bao giờ được bước chân vô tiệm bún bò.

Trong hồi tưởng, những tô bún bò gánh của những ngày xa xưa ấy, sao mà ngon đến thế, mà năm thì mười họa mới được ăn một lần. Tô bún bò gánh quá khiêm nhường, miệng tô thì to mà đít tô thì nhỏ, húp mấy miếng là đã hết. Miếng thịt cắt nhỏ, cái móng heo còn xẻ đôi, thèm thuồng thật nhưng làm gì có được tô thứ hai.

Lớn lên rồi, đi tứ phương, vẫn không thấy tô bún bò nào ngon bằng tô bún bò gánh của o Năm, mụ Ba… trong ngõ ngách dĩ vãng ngày xửa ngày xưa. Có người nói đó là cảm giác không thật, chẳng qua vì ngày xưa đói, nghèo mà thèm ăn, nên cái gì cũng ngon, cũng thơm, đậm đà khua rộn ràng con mắt đói nhìn, lỗ mũi thở sâu và cái lưỡi hít hà.

Có thật vậy không? Xin hãy cho tôi lại những ngày tháng cũ.

Bây giờ không ai còn cho tôi một chút riêng tư, vạt đất sau hè là của nhà nước, ngọn rau, củ sắn là thuộc hợp tác xã, miếng thịt, con cá là đồ quốc doanh. Người ta cưỡng chế cả đất đai, ruộng vườn, ao hồ sông rạch, gọi là cướp ngày có dùi cui, súng đạn. Bây giờ trong văn phòng có máy lạnh, vô công rồi nghề, họp hành cho lắm, mới nẩy ra cái sáng kiến “ích quốc lợi dân,” nghìn năm chưa ai nghĩ ra, là lấy cái món ăn của ông cha làm vật sở hữu của phe đảng mình.

Chỉ là một món ăn dân dã, mà họ tiếm đoạt, coi như đây là một sở hữu trí tuệ, mà họ làm chủ, ai dùng thì phải làm đơn xin phép, như đã từng có những lá đơn xin đi ở tù, xin tạm vắng, xin tạm trú.

Tờ giấy làm ra từ thớ thịt của gỗ rừng, nhưng lá rừng không ghi hết tội ác của họ.

Đây chỉ mới là bún bò Huế, món trí tuệ sở hữu của Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế, rồi đây còn bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Nam Giao… cho các huyện ủy địa phương mấy nơi này.

“Mạ ơi! Còn một món cơm Âm Phủ, thôi thí cô hồn cho họ luôn cho hợp tình, hợp lẽ, mạ hí!”

*

 Huy Phương

Người Lính Già Oregon – CA SĨ HẢI NGOẠI….NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ ĐỎ!

CA SĨ HẢI NGOẠI….NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ

Người Lính Già Oregon

I. 
Thời gian gần đây, khi đọc tin một số ca nhạc sĩ hải ngoại kéo nhau về Sài Gòn, Hà Nội trình diễn, tự dưng tôi nghĩ đến Việt Khang, ca nhạc sĩ anh hùng của lòng tôi và của biết bao người Việt Nam trên thế giới và trong nước. Việt Khang sáng tác rất ít, tôi nhớ hình như chỉ đôi ba bài, Việt Nam tôi đâu ? và Anh là ai ? Và đích thân hát bài của chính anh. Nhưng chỉ qua những bài ấy thôi anh đã biểu hiện lòng yêu nước nồng nàn, cao độ, tha thiết hơn bất cứ ca nhạc sĩ nào từ trước đến nay, kể cả thời Việt Nam Cộng Hòa. Lời ca thật đơn sơ, bình dị, không có những câu văn vẻ, khuôn sáo, hoặc sắt máu, dữ dằn, đằng đằng sát khí, theo đơn đặt hàng…Không. 
Tất cả nơi anh nghe như lời than vãn hoặc tình tự thường ngày, âm điệu thật nhẹ nhàng. Dễ dàng đến nỗi các cháu bé hải ngoại năm tuổi cũng có thể trình bày một cách suông sẻ. Như tiếng thổn thức của mẹ già, em thơ, dâng lên tự đáy lòng. Như tiếng nghẹn ngào, nức nở từ nỗi uất hận bao nhiêu năm đè nén nay òa vỡ, miên man chảy theo sông, theo biển… 
Bản thân Việt Khang, sinh năm 1974, chưa hề biết chiến tranh, chưa hề biết cộng sản hay quốc gia, chưa hề hưởng một ơn mưa móc dù nhỏ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, 
– Chưa hề biết những tủi nhục và oan nghiệt đã rơi ập xuống đất nước và gia đình ngày 30.4.1975, 
– Chưa hề chạy trốn việt cộng trối chết, trước hay sau ngày mất nước, hốt hoảng như chuột, 
– Chưa hề khai mình là tỵ nạn cộng sản, 
– Chưa hề tự phong là trí thức tốt nghiệp tại ngoại quốc, là ca sĩ, nhạc sĩ với sự nghiệp âm nhạc 10, 20, 50 năm. 
– Chưa hề…Nhưng, cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, anh đã lớn lên và đang sống ngay trong lòng chế độ việt cộng, trên một đất nước nay biến thành một trại tù khổng lồ. 
Cho nên, cũng như tất cả người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản chân chính trên thế giới, anh đã hiểu thế nào là độc tài, là áp bức, là bất công, biết thế nào là thiếu tự do, nhân quyền, dân chủ, mơ ước như thế nào bóng dáng của hạnh phúc, ấm no, chờ đợi như thế nào ánh sáng bình minh đến xua tan đêm tối vây hãm triền miên cả một dân tộc đọa đày. 
Việt Khang chỉ làm đôi ba bài hát thôi, nhưng đã bị truy tố ra tòa, lãnh ba năm tù ở, bởi lũ lãnh đạo việt cộng khôn nhà dại chợ, chuyên hà hiếp dân lành, tay không một tấc sắt, nhưng lại sợ hãi, khúm núm trước quân thù Tàu Cộng. 
Điều đó cho thấy lũ chúng nó rất sợ anh và ảnh hưởng của hai ca khúc có vẻ nhẹ nhàng, nhưng đâm thẳng vào tim chúng nó, nhức nhối như những nhát kiếm bén nhọn. 
Chỉ cần hai bài thôi, nhưng trong ấy người nghe bao nhiêu tiếng gọi yêu nước ngút ngàn, bao nhiêu lời tình tự dân tộc thiết tha, bao nhiêu thương yêu và thù hận. Anh không hô hào lật đổ ai, nhưng bọn chúng nó phải nể và sợ. 
Việt Khang, tôi gọi tên em với tất cả lòng cảm thương, và thán phục, và tôn vinh, dù chưa một lần được gặp em, quen em, nhìn em, nghe em hát. Nhưng tôi cần em, ít ra trong bài viết này, cần hình ảnh rạng ngời và gương hy sinh cao quý của em cho chính nghĩa, đại cuộcđể dạy một bài học làm người cho lũ hát xướng hải ngoại đang rủ nhau về nước trình diễn. 
Nói đến Việt Khang, tôi lại nhớ một ca sĩ hải ngoại khác ít nhiều chiếm ngự hồn tôi: Nguyệt Ánh. Nguyệt Ánh với lòng yêu nước vô bờ, thôi thúc như tiếng sóng Thái Bình Dương réo gọi, với những bài hưng ca đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, làm vỡ tim người. 
Và xa hơn, ca nhạc sĩ tỵ nạn Cuba qua Mỹ từ lúc nhỏ, có cha từng phục vụ trong Quân Đội Mỹ tại Việt Nam: Gloria Estafan, hiện sống tại Miami. Danh cô vang lừng thế giới, không chỉ vì sự nghiệp ca hát, mà còn và nhất là bởi lập trường của một người tỵ nạn chân chính cương quyết chống chế độ cộng sản phi nhân Fidel Castro và bè lũ. 
– Một lần được mời trở về Cuba hát nhân dịp Đức Giáo Hoàng viếng thăm, cô đã từ chối. 
– Lần khác, được mời qua Vatican hát trong một đại lễ, cô chấp nhận với một điều kiện duy nhất: Xin Đức Thánh Cha cầu nguyện, và làm mọi cách, cho đất nước Cuba của cô được tìm lại tự do, nhân quyền. 
Cô đã sáng tác và trình bày một ca khúc mang tên ‘’Go away’’ bình dị, tương tự ‘’Việt Nam tôi đâu ?’’ của Việt Khang, trong đó cô nhẹ nhàng lên tiếng mắng mỏ và yêu cầu Fidel Castro cuốn gói rời khỏi Cuba: 

Go away 
Won’t you just go away 
Don’t you come back one day 
Take your stuff 
Take all of your precious things 
Leave right now […] 

II. 
Trong khi ca nhạc sĩ anh hùng Việt Khang bị giam cầm trong nước, và đồng nghiệp gốc tỵ nạn Cuba Gloria Estafan cương quyết không trở về quê hương khi chế độ độc tài còn ngự trị thì các ca sĩ, nhạc sĩ thuộc diện xướng ca vô loài Việt Nam hải ngoại vô nhân vô sỉ vô luân, đực có, cái có, đẹp có, xấu có, trẻ có, già có, sang có, sến có, khôn có, ngu có, nổi tiếng có, cắc ké có, đủ cả…rủ nhau làm đơn xin trở về hát cho việt cộng nghe, mặc nhiên, tự nguyện bán linh hồn cho quỷ.Nếu thực sự bọn họ có một linh hồn. 
Bán linh hồn cho quỷ, bọn Việt Gian chỉ có bia ôm, thân xác đĩ điếm và thiếu nữ nghèo khổ. Không có tình yêu cứu rỗi, chúng phải từ chết đến chết, bị khinh chê, nguyền rủa đời đời. 
Riêng lũ xướng ca vô loài Việt Gian còn phải qua những màn phỏng vấn, điều tra về lập trường, số lượng và nội dung những bài sẽ hát, rồi phải hát thử cho công an nghe. 

Một người quen sống tại Việt Nam có kể về những ca sĩ hải ngoại hát ở phòng trà đường Cao Thắng, Sài Gòn, từng đứa một, từ Lệ Thu, Ý Lan, Thanh Tuyền, Giao Linh đến Tuấn Vũ, Chế Linh, Từ Công Phụng v.v… 
Muốn được phép trình diễn, bọn ca sĩ này phải qua một kỳ thử nghiệm hát cho công an việt cộng nhìn, nghe trước những bài đã được chúng cho phép. Chúng gật đầu, chấm đậu mới được lên sân khấu, dù là phòng trà tư. 
Điều này làm người ta nhớ hoạt cảnh thê thảm trong đó những cô gái quê muốn lấy ‘’chồng ngoại’’, phải sắp hàng cởi áo cởi quần cho những thằng Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai đui què sứt mẻ, nửa khùng nửa điên…tha hồ sờ mó, khám, lựa, tuyển, chi tiền, dắt đi. Than ôi. Còn cái nhục nào hơn! 
Nhưng bọn vô loài vô sỉ ấy đâu biết nhục là gì. Cha ông ta cũng đã dặn dò: ‘’đĩ chín phương còn để một phương lấy chồng’’. Đằng này, còn phương nào, mười hay hai mươi, chúng cũng giành nhau làm ráo hết. Không biết nhục, trái lại, chúng lại vênh váo, trơ tráo lên tiếng tự bênh vực cho hành động của mình: đại khái, chúng về, vì: 

• muốn đền đáp lại lòng mến mộ của đồng bào trong nước 
1) Đồng bào nào ? Ba mươi năm nay, có người dân nào thuộc miền Nam cũ đang phải sống thoi thóp, ngột ngạt dưới gông cùm cộng sản, còn nhớ đến bọn ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trước kia đã bỏ rơi đồng bào chạy có cờ, nay ế khứa, hết tiền, về già trông bèo nhèo như những cái mền rách, còn nhớ đến những bài tình ca một thời rên rỉ, sướt mướt, lảm nhảm, lảng nhách của chúng, để viết thư yêu cầu chúng trở về hát cho họ nghe ? 
Rồi đồng bào lấy tiền đâu mua vé cả trăm đô ? 
Nói chi những người dân của chế độ xã hội chủ nghĩa biết chúng là ai, mà mến với mộ, tiếc với nhớ ? 
Ngược lại, thấy chúng lần lượt trở về biểu diễn, ca múa, làm hề, đại đa số nếu không khinh bỉ như những con chó ghẻ thì cũng tỏ ra dửng dưng, thờ ơ, lạnh nhạt. 
2) Đồng bào, hay chỉ là bọn cai thầu văn nghệ cơ hội chủ nghĩa, tham tiền, lợi dụng thị hiếu mới của đám cán bộ, đại gia việt cộng no cơm rững mỡ, trưởng giả học làm sang, hoặc nguy hiểm hơn, bọn tay sai của lũ công an trong biệt đội văn nghệ có nhiệm vụ thực thi điều khoản ‘’giao lưu văn hóa’’, ‘’hòa hợp hòa giải’’ của nghị quyết 36, bày ra những buổi trình diễn để câu những con mồi nghệ sĩ, ca sĩ Việt kiều vì ham tiền, hám danh, mà gục mặt trở về nhận lãnh những lời tâng bốc dõm và đồng tiền tanh hôi của việt cộng bố thí cho ? 
3) Tại hải ngoại, suốt bao năm trời, bọn xướng ca vô loài này được đồng hương tỵ nạn nâng đỡ, đùm bọc, viết bài lăng xê, ca tụng chúng, nuôi sống chúng bằng cách mua vé tham dự những shows văn nghệ, ra mắt CD…mặc dù theo thời gian tài sắc của chúng đi xuống. 
Nay chúng trở mặt, trở cờ, trở thành những đứa Việt Gian quay về cung cúc phục vụ kẻ thù, và điều đó càng làm ta hiểu hơn nỗi lòng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu, một anh hùng kháng Pháp, qua hai câu thơ mộc mạc, thẳng thừng: 
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm 
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà 

• nghệ thuật, mà nghệ thuật thì phi chính trị 
1) Nghệ thuật vị nghệ thuật ư ? Còn lâu. Trên lãnh vực văn chương, hội họa, từ thời Lãng Mạn Théophile Gautier và trường phái Parnassiens bên Pháp, người ta đã tốn nhiều giấy mực và nước bọt để thảo luận, tranh cãi về quan niệm này, nhưng cuối cùng không đi đến đâu. 
Bởi vì không bao giờ có một nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghĩa là bất cứ nghệ thuật nào cũng phải phục vụ nhân sinh, tức con người. Đối với việt cộng, quan niệm này còn khắt khe hơn, gần như tuyệt đối. 
Đối với chúng, nghệ thuật phải phục vụ, không phải con người, mà duy nhất bác và đảng. Nghệ thuật đồng nghĩa với chính trị, tuyên truyền, nói dối. 
– Tố Hữu khi làm thơ khóc Staline sức mấy mà vì nghệ thuật vị nghệ thuật ? 
– Trịnh Công Sơn kêu gào nối vòng tay lớn vì nghệ thuật thuần túy hay vì chủ trương phản chiến, thân cộng của y ? 
Mới đây, tin tức cho biết những ca sĩ của Trung Tâm Chống Cộng Asia bị cấm hát ở Việt Nam, tại sao ? 
2) Cụ thể hơn, bọn xướng ca vô loài hải ngoại về trình diễn bên ấy làm gì có tự do để hát bất cứ bài nào tùy ý ? 
Kìa, Phạm Duy mà một số bơm sĩ phong là cây ‘’đại thụ của làng nhạc’’ Việt Nam, mà văn Trần Mạnh Hảo một lần bị ma nhập đã gọi là ‘’thượng đế của âm giai’’, là ‘’thần linh của tiết tấu’’ v.v…có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, vậy mà khi trở về cũng chỉ được việt cộng cho phép hát, phổ biến, trên dưới mươi bài. 
3) Chưa nói việc bọn ca sĩ phản bội này cố tình mập mờ, nhập nhằng giữa danh từ ‘’chính trị’’ và ‘’làm chính trị’’. Làm chính trị thường được hiểu là hoạt động cho các đảng phái, tổ chức này nọ. 
Nhưng chống cộng, quyết tâm tiêu diệt việt cộng, không phải là ‘’chính trị’’ hay ‘’làm chính trị’’, mà là một bổn phận của toàn dân Việt, đặc biệt là những người quốc gia tỵ nạn cộng sản chân chính, đối với tổ quốc. 

• không theo phe nào 
1) Ngày tắp đảo, trước mặt các viên chức di trú ngoại quốc, có ca nhạc sĩ nào không mếu máo khai mình là người quốc gia tỵ nạn, không thể sống nổi dưới ách thống trị, độc tài của việt cộng. Nay được phép việt cộng cho về, chúng tuyên bố ‘’chúng tôi không theo phe nào’’, quốc gia hay cộng sản, mà trở về với dân tộc, với quê hương có chùm khế ngọt. Ô hô, nhổ rồi xin liếm lại. 
Có đứa như tên Chế Linh, để lấy điểm, còn lên án chế độ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương tiêu diệt dân tộc Chàm, trong khi chính y hoặc đồng chủng được hưởng nhiều quyền lợi: 
– Không đi lính (nhưng được phép mặc đồ lính để trình diễn), 
– không thạo tiếng Kinh, nhưng vẫn được đồng bào ưu ái, 
-không có tú tài nhưng vẫn được đặc cách theo các trường đào tạo công chức, cán bộ… 
Có đứa như Khánh Ly than thở với báo chí việt cộng là hát tại hải ngoại vất vả, khó ăn lắm, hát tại quốc nội được nhiều tiền hơn… 
2) Chiến tranh bằng súng đạn đã chấm dứt, nhưng trận chiến giữa người quốc gia với cộng sản vẫn còn, gay go, khó khăn gấp bội, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi việt cộng, vì cần tiền bạc, tài năng, chất xám, vẫn bám sát gót người Việt hải ngoại, để thi hành nghị quyết 36, dụ dỗ bọn nhẹ dạ và cố xóa cho bằng được lằn ranh Quốc-Cộng rõ rệt. 
Kẻ nào nói mình không theo phe nào là vô tình hay cố ý tuyên truyền không công cho việt cộng. 
3) Không theo phe nào, tức là đứng giữa, bình dân hơn, là cẳng giữa, sau khi đã có cẳng phải, cẳng trái. 
Tôi nhớ câu chuyện có thật đã xảy ra: Trong một bữa họp mặt, bạn bè vui chơi, và đến giai đoạn bàn về chuyện những kẻ tự nhận là mình trung lập trong chiến trận Quốc-Cộng hiện nay, hạng người nửa nạc nửa mỡ, ba phải, ba rọi, cẳng giữa, không theo phe nào. 
– Một người tuyên bố: ‘’Tôi đứng ở ngả ba đường’’. 
– Người thứ hai lên tiếng: ‘’Tôi là con người đứng giữa’’
Một anh bạn, vốn là bác sĩ nổi tiếng chống cộng, ăn nói bộc trực, bình dân, thấy bực bội, bèn trả lời: 
– ‘’Đứng ở ngả ba đường thì xe nào chạy tới cũng đụng mà ngủm củ tỏi’’. Và nhìn chòng chọc vào ‘’con người đứng giữa’’, anh dằn từng tiếng một: ‘’Trong thân thể người ta, tôi biết chỉ có một con đứng giữa, không phải con người, đó là con…’’ 
I

II. 
Trong cái đám ca nhạc sĩ bèo nhèo như cái mền rách về chầu chực, quỳ lụy việt cộng nói trên, có một anh chàng thuộc Cộng Đồng Oregon, cùng thành phố tôi đang cư ngụ. Trong bài ‘’Đền Ơn Đáp Nghĩa’’ (báo Phương Đông Times, số ngày 7.12.2012, trang 22), Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Oregon, đã giới thiệu anh ca nhạc sĩ này, như sau: 
‘’[…] Tôi biết ít nhất một ca nhạc sĩ rất nổi tiếng. Tại địa phương ông cư ngụ, chưa ai thấy ông đóng góp một xu cho những công tác ích lợi chung trong cộng đồng
Ông cũng không hề một lần đóng góp lời ca tiếng hát của ông cho đồng hương địa phương thưởng thức, nếu có thì phải trả thù lao. 
Ông chỉ chu du ca hát xứ người. Vậy mà khi cần tiền, ông bèn tổ chức ‘’tạ ơn em’’ tại địa phương nơi ông không buồn quan tâm trong mấy Thập Niên. Điều buồn cười hay khôi hài, là đã có năm bảy trăm người, mỗi người bỏ ra năm bảy chục Mỹ kim, để mua vé danh dự, hoặc thượng hạng, hầu có thể nghe ông hát ‘’tạ ơn em’’ và mua CD nhạc của ông mang về nghe ông ‘’tạ ơn em’’… 
Điều phũ phàng hơn hết là khi cộng đồng có những buổi tổ chức có tính cách xã hội, giúp đỡ những ai cần giúp đỡ, hoặc biểu tình lên tiếng tranh đấu cho những người bị việt cộng đàn áp tại Việt Nam, thì ông ca nhạc sĩ này lại biệt tăm và số người tham dự buổi ông tổ chức ‘’tạ ơn em’’ cũng mất dạng […]’’ 
Ngoài ra, nghe tin anh ta về nước lần thứ hai, nhiều đồng hương đã lên tiếng, và tôi xin chuyển tiếp hai bức thư bình phẩm tiêu biểu: 
……….. 
………… 
‘’Ủa! tôi tưởng nó đã chết rồi mà. 
Tên này chắc cuối đời vợ cần tiền, cũng như cần Casino như Lệ Thu…cho nên nó về hát phục vụ cán ngố và dân tham nhũng tư bản đỏ for money chứ có con thằng ca sĩ nào hát nào cho dân nghe, dân nghèo nào có tiền 50, 70 đô một vé…mà láo khoét, nếu nó thực sự hát free xin các thái thú cho tổ chức ngoài trời hát cho dân nghe như Việt Nam Cộng Hòa thì sẽ có nhiều người tình nguyện kêu gọi trả tiền cashier cho nó…thật đáng buồn!!! một cái thằng chẳng bao giờ nghĩ đến quân dân Việt Nam Cộng Hòa đã đi trước tầm đạn bảo vệ cho nó sống còn…nó khá hơn Phạm Duy là chưa viết Tục Ca.’’ 
Anh ca nhạc sĩ này, ngoài sự nghiệp âm nhạc, còn được cả nước, trong và ngoài, biết đến, một cách ồn ào, vì căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, sau khi bị ung thư màng óc, cách đây hơn một thập niên, và túi mật tin do bạn bè trong Cộng Đồng và trên Mạng chuyển, chính xác hay vịt cồ, tôi không biết chắc nhưng cả ba lần đều thoát chết. 
Sau đó, nghe nói anh ta đi lưu diễn “tạ ơn em’’ và ‘’kỷ niệm 50 năm’’ tình ca tại Texas, Portland, California, Úc Châu, tôi thật lòng mừng cho anh ta được tai qua nạn khỏi và mừng cho nhân loại từ nay đã có thuốc chữa trị căn bệnh nan y quái ác kia. 
Tuy nhiên, khi đọc tin anh ta trở về Việt Nam trình diễn lần thứ hai và xem hình vợ chồng anh ta tươi rói, tại phi trường, với ‘’vòng hoa chiến thắng’’ trên cổ, tôi phải dằn lòng lắm mới không buột miệng chửi thề, merde, nhưng đồng thời cũng không thể nào không nghĩ đến câu nói trứ danh của Julius Caesar trong vở kịch cùng tên viết bởi Shakespeare: 
Cowards die many times before their deaths, 
The valiant never taste of death but once. 
đã được Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, một lần trong một bài viết, dịch ra như sau: 
Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần trước khi chết thật, 
Người dũng cảm chỉ chết một lần thôi. 
Anh ta cũng không xa lạ với đa số đồng hương Oregon và cá nhân tôi. Nhưng có hai lý do, ngoài những điều Mục Sư Huỳnh Quốc Bình nêu lên trong bài viết, đã khiến tôi không thể im lặng mãi: 
a) Anh ta coi thường Cộng Đồng Oregon và những người hâm mộ tại địa phương mới đây đã đến mua vé tham dự buổi văn nghệ tạ ơn vợ và mừng sự nghiệp 50 năm do anh ta tổ chức, để kiếm tiền. Ai cũng biết, Cộng đồng Oregon không chống Cộng ồn ào, dữ dằn như những Cộng Đồng California, Texas, nhưng vẫn chống, luôn luôn chống, và kịch liệt chống. 
Đa số cư dân là những thuyền nhân từ các đảo tỵ nạn đến, hoặc cựu sĩ quan tù nhân cải tạo sang Mỹ theo diện HO, nên chống cộng, tiêu diệt việt cộng có nghĩa thi hành một bổn phận, trách nhiệm đương nhiên đối với tổ quốc. 
Cũng như dân bản xứ, người Việt tỵ nạn tại Oregon hiền hòa, lịch sự, dĩ hòa vi quý, nhưng điều đó không có nghĩa họ thờ ơ, thụ động, khờ khạo. 
Ai chống cộng, ai quốc gia, ai Việt gian, ai tay sai, ai phải ai trái, ai ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, họ đều biết, và biết đúng, biết rõ, nhưng không nói ra đấy thôi. 
Bằng chứng: Cho đến bây giờ,sau nhiều năm nghị quyết 36 được phát động với mưu đồ phá hoại, lủng đoạn các Cộng Đồng Quốc Gia Tỵ Nạn, chưa một thằng tay sai việt cộng nào dám xuất đầu lộ diện tại Oregon. Ló ra là bị chặt đuôikhông sống nổi. 
Lần đầu, anh ca nhạc sĩ Portland này về Việt Nam trình diễn, người ta biết được do chính báo chí trong nước (Tuổi Trẻ và Công An Thành Phố Hồ chí Minh) phổ biến, nhưng đã bỏ qua, vì ai cũng thông cảm cho căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối của anh ta được vợ và báo chí hải ngoại loan truyền ầm ĩ, nghĩ rằng biết đâu có thể đó là chuyến đi sau cùng trong đời. 
Tuy nhiên, lần này, khỏi bệnh, anh ta chơi cái mửng cũ, lại về nữa, âm thầm, sau khi đã moi gần cạn hầu bao của đồng hương hải ngoại với những màn ‘’tạ ơn em’’ và ‘’kỷ niệm 50 năm’’. 
Về, để tái biểu diễn cho những thằng, những con đảng viên, công chức, đại gia, cán bộ, công an và gia đình, đồng bọn, có bạc tiền rũng rĩnh, chứ người dân nghèo, lao động vất vả, đầu tắt mặt tối, buôn thúng bán mẹt, làm gì có cơ hội và điều kiện bước chân vào rạp lớn của thành phố để nghe anh ta cám ơn vợ mình hoặc rên rỉ ‘’bây giờ tháng mấy rồi hỡi em’’ ? 
b) Anh ta trở về Việt Nam trình diễn, mặc nhiên thách đố công luận chống cộng, mặc nhiên chấp nhận trở thành một tên phản bội trắng trợn, vô liêm sỉ trước mắt những đồng hương nạn nhân của bọn cộng phỉ trên toàn thế giới và riêng tại Oregon. 
Trong khi chúng tôi đang giao chiến với việt cộng trên mặt trận ‘’võ mồm’’, bằng những bài pháo kích ác liệt, và thỉnh thoảng bị phản pháo, trong khi đa số đồng hương tỵ nạn ngày đêm thao thức, lo âu cho vận mệnh đất nước đang có nguy cơ rơi vào tay giặc ngoài Tàu Cộng với sự đồng lõa của lũ lãnh đạo thù trong bất tài, khiếp nhược, tham tàn, 
– trong khi bao nhiêu nhân sĩ, thanh niên tại quốc nội, có cả Việt Khang và một số thiếu nữ liễu yếu đào thơ, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần…biết yêu nước thương nòi, quyết tâm tranh đấu cho tự do, nhân quyền, đang bị bạo quyền bắt bớ, giam cầm, đày đọa ở những nhà tù khắp nước, 
– trong khi các phụ nữ, bé gái bị ép bán ra ngoại quốc làm điếm, và những bài học đạo đức, luân lý cổ truyền tốt đẹp từ hàng ngàn năm qua bị phá sản một cách thê thảm, tại học đường cũng như ngoài xã hội, bởi nền văn hóa bần cố nông hủy diệt trí thức, lương tri và mọi giá trị tinh thần, 
– trong khi những thằng lãnh tụ tự phong tham nhũng, no say, béo tốt đang làm mưa làm gió trên mảnh đất khốn khổ, tội nghiệp, 
– trong khi đó thì anh chàng ca nhạc sĩ mặt trơ mày bóng của chúng ta lại lén lút trở về múa hát, mua vui cho những tên đồ tể bán nước hại dân. 
Làm sao tôi có thể im lặng mãi. 

Người Lính Già Oregon 

Portland,
//
khanh-2
Ca ‘sỹ’ Khánh ‘Li’ bày tỏ “lập trường” dưới lá cờ VNCH, thời kỳ đang hái ra Đô-la tại hải ngoại! [Hình chôm trên Internet- posted by tunhan]