Bác có ra sao, cháu mới bị bú (!)

Bác có ra sao, cháu mới bị bú

C.T (Danlambao) – Cháu trong hình chụp bị Bác bú mồm ngày nào nay đã thành bà cụ rụng hết răng, phải nhai trầu bỏm bẻm, nhưng mỗi lần nhìn lại cảnh mình ngày xưa còn bé bị bác Hồ bú mồm, bà cụ thấy xấu hổ, thắc mắc: Bác có ra sao, cháu mới bị bú mồm.
.
Bà cụ nghĩ cái ngày mình về với ông bà ông vải có thể đến bất cứ lúc nào, không phải bà sợ mình rồi cũng chịu chung số phận với hai cậu Thanh Bá, Thanh Quang, nhưng vì tuổi tác. Nhân sinh thất thập cổ lai hy,” ông cụ” mới ngày nào ôm mình bú mồm chùn chụt cũng đã mất hút non một phần hai thế kỷ rồi; Cháu bé trong vòng tay Bác năm xưa giờ đây cũng đã xấp xỉ tuổi cha già DT ngày ấy. Bà muốn trước khi nhắm mắt, được thanh thản tâm hồn, nếu không thanh thản được hoàn toàn mọi vướng víu thì ít ra cũng giải tỏa được điều thắc mắc mà bà cho là một nỗi oan bà phải chịu, đó là, tại sao lúc còn nhỏ, đã bị bác Hồ bú mồm.
.
Bà dành trọn thời gian còn lại để đi tìm hiểu Bác có ra sao, cháu mới bị bú mồm. Bà nhờ con và cháu ra chợ mua cho bà bất cứ những sách nào viết về bác Hồ để bà nghiên cứu. Với quyết tâm tìm cho ra sự thật trước sau như một, không gì lay chuyển làm chao đảo lập trường được, bà dẹp luôn nghề bê-bi-xít/giữ em tức coi bầy cháu con bà đến gửi mỗi ngày có trả lương, để dành trọn thì giờ đọc hết đống sách báo về bác Hồ.
.
Nhưng sau khi đọc hết toàn bộ sách về bác, như: “Hồ Chí Minh Toàn Tập, Vừa đi đường vừa kể Truyện, Đời hoạt động của CT Hồ Chí Minh, Búp Sen Xanh, Từ Làng Sen, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người, Cha và Con, Bác Hồ Người cho Em tất cả, Nhật ký Trong Tù v.v…” bà thấy bác Hồ là một ông thánh. Một ông thánh thì không thể đi bú mồm bất cứ ai, nhất là mồm bé gái.
.
Bà rùng mình nhớ lại lần đó… bà bị són cả quần vì quá sợ hãi: râu bác đâm khắp má, tay bác siết muốn gãy cổ, mồm bác ngoạp đầy mặt, ngập mùi hôi thuốc lá…
.
…Và từ ngày đó về mãi sau này, hễ mỗi khi nghe hát hay bị hát bài “đêm qua em mơ gặp bác Hồ” là toàn thân bà toát mồ hôi nhớt, bất kể thời tiết Xuân Hạ Thu Đông. Bà thường tâm sự với chồng “Trước đó em yêu Bác bao nhiêu thì sau đó, em tỡn bác bấy nhiêu!”. “Rõ ràng là như vậy, chứ còn gì nữa!!!”.
.
Những gì bà đọc được trong sách báo, mà sách báo do đảng ta xuất bản hay cho phép xuất bản thì có bao giờ sai. “Bác Hồ từng dạy “Bác cháu ta có thể sai, chứ Mao Chủ tịch không bao giờ sai”, chắc là tại mình sai đây”, bà tự phê mình. “Nhưng rõ ràng bà bị bác bú mồm mà, hay là mình nằm mơ?”.
.
“Hay là mình nằm mơ?”. Bà nhúc nhích cả hai tay, vận động hết cơ bắp già véo vào hai bắp vế teo để xem mình tỉnh hay mê. Bà vẫn tỉnh táo mà, và rõ ràng ngày xưa còn bé bà bị bác bú mồm là chuyện có thực, chứ không phải là mơ, như người ta đang mơ thiên đàng xã nghĩa dù đến hết thế kỷ này chưa biết mặt mũi nó ra sao.
.
Như đã trình bày ở trên, theo sách báo đảng, bác Hồ là thánh nhân, là nhà văn hóa thế giới, nếu ông thánh hay nhà văn hoá thế giới có lúc bị “sa chước cám dỗ”, cùng lắm thì cũng chỉ âm thầm tự bú mồm mình, cho đỡ ghiền, chứ Người không thể bú mồm kẻ khác, lại bú ở chốn công khai. Vậy thì ắt là phải có một động cơ giơ động lực nào đó ra đưa Bác lên một tầm cao mới hơn tính Thánh nhân và tính Văn nhân của Người? Bà phải tìm cho ra cái động cơ nào ấy trước khi bà về thế giới bên kia.
.
Bà nhớ đến mấy đứa cháu thường nhắc đến Giáo sư Gu Gồ, Nhà thông thái Diu Tút; chúng hay nói với nhau, “Hỏi Du Tút, Gu Gồ là xong ngay”; chúng còn bảo, “Diu, Gu trung với Bạn; hiếu với Chân. Khó khăn nào cũng vượt qua, thắc mắc nào cũng thỏa mãn”.
.
Thế là bà nhờ cháu chỉ cho cách leo lên mạng, tìm đến Giáo sư Gu Gồ để hỏi “Sự Thật về Hồ Chí Minh”.
.
Sau khi được xem cái video clip “Sự Thật về Hồ Chí Minh”. Bà mỉm cười thoả mãn: “À, hèn chi! Bác có ra rứa, Cháu mới bị bác bú mồm”.
.
C.T
.
04.08.2015

Đào Văn Bình – Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào (?)

 Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?

Vịnh Cam Ranh vẫn giữ một vị trí quan trọng cho mọi tiềm lực hải quân [Hình Internet- posted by tunhan]
.

Ngày 5 tháng 1, 2012 vừa qua, cùng với sự hiện diện của toàn bộ viên chức lãnh đạo bộ máy quốc phòng và quân sự Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama đã long trọng công bố chiến lược quốc phòng mới, trong đó nhấn mạnh đến kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia đang suy thoái, nợ nần không sao trả được và ngân sách quốc phòng bị cắt giảm 450 tỷ đô-la trong những năm sắp tới. Chiến lược này giống như một người vừa ra khỏi một cơn mê dài sau 35 năm (1975-2010) từ bỏ một vùng địa thế chiến lược của Mỹ là Châu Á Thái Bình Dương để tập trung hết nỗ lực vào Trung Đông, rồi cùng lúc lún sâu vào hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq khiến gây tổn thất lớn lao về sinh mạng của cải. Cuộc chiến Afghanistan thì thế giới có thể hiểu được. Còn cuộc chiến hay cuộc xâm lăng Iraq thì thế giới không sao hiểu được. Vì dầu hỏa hay vì lý tưởng cao vời của Ô. Bush Con? Nếu bảo rằng vì dầu hỏa cho dân chúng thì tại sao năm 2000 giá 1 galon săng là $1.51 và sau khi chiếm được Iraq có lúc giá săng đã lên tới $4.00 và bây giờ là $3.65?

Nước Mỹ luôn luôn là quốc gia rao giảng và “cầm cân nảy mực” về dân chủ, tự do và nhân quyền – theo kiểu Mỹ – cho toàn thế giới tức là chuyển hóa bất cứ một xứ sở độc tài nào sang thể chế dân chủ – lúc bấy giờ là chế độ của  Saddam Hussein – cho dù phải cái giá: 757.8 tỉ đô la, 4484 binh sĩ chết và 33,186 thương tật, què cụt, ấy là chưa kể đến tổn thất của đồng minh. Cuối Tháng 12, 2011 vừa qua, sau hơn 8 năm chiến tranh gây nhức  đầu cho hai đời tổng thống và vì sự chống đối liên tục của người dân, người lính Mỹ cuối cùng đã phải rời Iraq trong một buổi lễ không có những em gái hậu phương trao tặng vòng hoa chiến thắng cho những “người hùng” đã tới “giải phóng” họ và cũng không có sự hiện diện của Thủ Tướng Nouri al- Maliki đọc diễn văm cảm tạ đồng minh đã dũng cảm hy sinh để giải phóng đất nước ông  và giúp ông xây dựng một quốc gia Iraq dân chủ, tự do, tươi đẹp, bởi chính ông cũng không muốn “đến gần” người Mỹ nữa vì sợ mất lòng dân. Dưới con mắt của tuyệt đại đa số các giáo sĩ Hồi Giáo Iraq thì Mỹ là “quân xâm lược” và phải rút ra khỏi Iraq, dù chỉ ở lại để huấn luyện. Nay Mỹ đã rút đi nhưng trách nhiệm vẫn còn đó với một Iraq mà sự chia rẽ giáo phái, sắc tộc ngày càng trầm trọng thêm với những cuộc đánh bom tự sát hầu như diễn ra hằng ngày hoặc hằng tuần tại thủ đô Bagdad. Không biết chính phủ liên hiệp của Ô. Maliki tồn tại được bao lâu và tương lai Iraq đi về đâu?

Ở đầu thập niên 1990 nếu có nhà bình luận nào nói rằng Hoa Lục sẽ là đối thủ hoặc xa hơn là kẻ thù của Hoa Kỳ trong tương lai, thì lập tức bị gán cho danh từ “thiển cận” và “Ối giời, hơi đâu mà lo. Mỹ tính hết cả rồi!” Bởi vì lúc bấy giờ các nhà tư bản Mỹ cũng như các tổng thống Hoa Kỳ đang đang ru mình trong “giấc mơ vàng” là hợp tác về mọi mặt với Hoa Lục để đầu tư khai thác kiếm lời tại một đất nước nhân công rẻ mạt mà thị trường tiêu thụ lên tới 1.3 tỉ người. Chỉ đến khi  Hoa Lục xây dựng xong căn cứ quân sự khổng lồ tại Đảo Hải Nam trong đó có cả tàu ngầm mang hỏa tiễn nguyên tử thì Hoa Kỳ mới “hơi giật mình” nhưng vẫn tự thị vào vị thế siêu cường của mình. Và khi Hoa Lục công bố thiết lập căn cứ hải quân tại Đảo Seychelles ở Đông Ấn Độ Dương và cho hạ thủy Hàng Không Mẫu Hạm Thi Lang, cùng nhịp với những cuộc lấn chiếm của Hoa Lục và tranh chấp chủ quyền nổ ra ở Biển Đông thì Hoa Kỳ mới “tỉnh giấc mơ vàng”, lo sợ và hối hả điều chính lại chiến lược quốc phòng. Điều này cho thấy không phải Hoa Kỳ lúc nào cũng đúng. Hoa Kỳ đã nhiều lần vấp phải những lỗi lầm nghiêm trọng trong lịch sử. Đó là một trong những lý do giải thích tại sao Hoa Kỳ dù viện trợ cho thế giới rất nhiều nhưng vẫn bị người ta thù ghét.

Hiện nay bốn quốc gia Nam Mỹ vốn là “Sân Sau” của Hoa Kỳ như Cuba, Nicaragua, Venezuela và Ecuador đang chống Mỹ ra mặt. Còn Pakistan mỗi năm nhận viện trợ của Hoa Kỳ cả tỉ đô-la nhưng thống kê mới nhất cho thấy 68% dân chúng Pakistan vẫn coi Mỹ là kẻ thù. (Internet)

Nay thì Mỹ đã quyết tâm trở lại Á Châu và được coi như nhu cầu sinh tử của Hoa Kỳ. Nhưng câu hỏi đặt ra là trở lại như thế nào đây? Cho tới bây giờ thì cả thế giới đều chú ý đến diễn biến trọng đại này nhưng chưa có nhà bình luận nào hoặc chưa có một tiết lộ nào liên quan đến chiến lược triển khai lực lượng như thế nào để đạt mục tiêu đó. Có thể kế hoạch đang được tiến hành trong vòng bí mật nhưng cũng có thể Ngũ Giác Đài cũng chưa định hình được phương thức “trở lại” của Hoa Kỳ. Tại sao vậy?

Muốn biết  tại sao – chúng ta hãy trở lại bối cảnh sau năm 1975 khi Hoa Kỳ thất bại và “tháo chạy” khỏi Việt Nam (danh từ của Ô. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy) thì bầu không khí chính trị (political climate) của Á Châu – đặc biệt là Đông Nam Á đã hoàn toàn đổi khác.

1) Sự  hiện diện của quân Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam đã làm cho bộ mặt của Hoa Kỳ xấu đi.  Rồi sau khi tháo chạy đã mất dần ảnh hưởng tại Đông Nam Á. Phong trào bài Mỹ lan rộng ở Thái Lan và Phi Luật Tân. Vào ngày 13/6/1976, Hoa Kỳ phải trao quyền cho Thái Lan kiểm soát căn cứ không quân khổng lồ B.52 tại Utapao và một loạt các căn cứ không quân ở Bắc và Đông Bắc Thái Lan dùng để do thám, thả biệt kích vào Lào, hướng dẫn cho B.52 ném bom ở Việt Nam. Rồi vào năm 1991 – dù có sự ủng hộ nhiệt tình của nhiều vị tổng thống – nhưng vì dân chúng chống đối mạnh mẽ, Phi Luật Tân đã phải ra lệnh đóng cửa căn cứ hải quân khổng lồ ở Subic Bay và căn cứ không quân B.52 tại Clark. Subic Bay là căn cứ tiền tiêu của Hạm Đội 7 và là nơi tiếp vận, sửa chữa,nghỉ ngơi, khiến cho các chiến hạm Hoa Kỳ có thể bắn tới 600,000 loạt đạn hải pháo vào Việt Nam để yểm trợ cho các cuộc hành quân trên bộ. Một căn cứ không quân B52 duy nhất mà Hoa Kỳ còn duy trì được sau Chiến Tranh Việt Nam là căn cứ Okinawa ở Nhật Bản, nhưng cũng nhức đầu bởi những cuộc biểu tình liên tục của dân chúng địa phương. Theo truyền thống, Hoa Kỳ không thể nào có căn cứ quân sự đặt tại hai nước Hồi Giáo Á Châu là Indonesia và Malaysia và quốc gia theo Phật Giáo Miến Điện. Câu hỏi đặt ra là liệu Mỹ có thể mở lại căn cứ không quân khổng lồ tại Utapao, cũng như căn cứ hải quân ở Subic Bay và Clark để làm bộ chỉ huy cho Hạm Đội 7, triển khai B.1, B.2, B.52, máy bay không người lái UAV, máy bay ném bom không người lái, tầu ngầm nguyên tử và lá chắn hỏa tiễn để – trước mắt đe dọa, kiềm chế – rồi cuối cùng là tấn công tiêu diệt Hoa Lục không?

2) Sau khi Mỹ tháo chạy khỏi Việt Nam, các quốc gia đàn em như Nam Dương, Phi Luật Tân và Thái Lan đã không còn sống nhờ viện trợ Mỹ nữa và một số đã tự lực cánh sinh vươn lên, nhất là Thái Lan, kể cả Việt Nam dù bị Mỹ cấm vận19 năm (từ 1975 tới Tháng 2, 1994). Do Chiến Tranh Lạnh kết thúc, người ta không còn lo sợ sự bành trướng của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Xu thế Toàn Cầu Hóa khiến việc làm ăn buôn bán vượt biên giới Tự Do – Cộng Sản vạch ra trước đây. Chuyện Thái Lan có đầu tư, làm ăn buôn bán với Hoa Lục và ngược lại là chuyện tốt đẹp và chẳng cần xin phép ai. Nói tóm lại  độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, hợp tác toàn cầu để phát triển là xu thế không thể đảo ngược được. Đối với Thái Lan thì Mỹ hay Hoa Lục thì cũng vậy thôi. Phát triển kinh tế là chính. Ai tôn trọng độc lập của mình, ai làm ăn buôn bán được thì mình chơi.

3) Khi Hoa Kỳ rời Việt Nam thì Biển Đông bỏ trống. Rồi Nga cũng rút lui khỏi Cam Ranh vào năm 2002, Hoa Lục tự do và thênh thang đi lại Biển Đông như chỗ không người. Dưới sự lãnh đạo của Ô. Đặng Tiểu Bình, Hoa Lục không còn là căn cứ xuất cảng Chủ Nghĩa Mao, mà là một quốc gia hợp tác, hữu nghị, giao thương với tất cả các quốc gia trên thế giới kể cả kẻ thù ghê gớm là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Các quốc gia Đông Nam Á chẳng có gì phải lo sợ Hoa Lục như trước đây nữa. Và hiện nay dù tình hình Biển Đông đang cực kỳ căng thẳng, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ các quốc gia Đông Nam Á muốn cắt đứt quan hệ ngoại thương với Hoa Lục. Những con dưới đây chứng tỏ điều đó:

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Singapore năm 2010 đã lên tới 95.3 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Malaysia năm 2011 là 90 tỉ đô-la.

– Ngoại thương  giữa Hoa Lục và indonesia vào năm 2015 sẽ lên tới 80 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Thái Lan năm 2010 là 46 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Phi Luật Tân năm 2007 có lúc đã lên tới 30.6 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Việt Nam năm 2010 là 25 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Miến Điện  năm 2007 là 1.4 tỉ đô-la.

Nay Hoa Kỳ muốn trở lại Đông Nam Á. Mà trở lại không có nghĩa là chỉ bằng lời nói, hoặc cho hàng không  mẫu hạm đi thăm viếng Manila, Đà Nẵng, Bangkok hay Singapore rồi liên tục tập trận trên biển với các đồng minh v.v… mà phải thiết lập cho bằng được các căn cứ quân sự chiến lược vững chắc để tiếp cận và làm địa bàn tấn công tiêu diệt đối phương. Muốn có được những căn cứ chiến lược như thế thì phải có ngoại giao và chính trị. Mà muốn có ngoại giao và chính trị thì phải có tiền cho vay, hỗ trợ thương mại và viện trợ cho không lẫn viện trợ đầu tư. Hoa Kỳ lấy tiền đâu để thực hiện các công tác này trong tình thế nợ nần ngập đầu không trả nổi? Liệu Hoa Kỳ có thể thuyết phục được Phi Luật Tân và Thái Lan để cho mở lại các căn cứ chiến lược như Subic Bay, Clark và Utapao không? Theo tôi, Phi Luật Tân có thể (tôi nói có thể) cho mở lại các căn cứ này để Mỹ dùng làm bàn đạp tấn công Hoa Lục, nhưng chắc chắn Phi Luật Tân sẽ phải trả một giá rất đắt về bất ổn chính trị. Đất nước Phi sẽ vô cùng căng thẳng vì luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh mà không sao phát triển được.  Xin nhớ cho Hoa Lục dư khả năng giúp các nhóm phiến quân Hồi Giáo Phi Luật Tân ở phía Nam quậy nát bấy đất nước này. Hiện nay Washington và Manila đang đàm phán để quân đội Mỹ tăng cường hiện diện ở Philippines sau 20 năm kể từ khi Mỹ bị tẩy chay tại đây. Trong ba  ngày thăm và làm việc Philippines 16-18/1/2012, thượng nghị sĩ John McCain cho biết ông hy vọng sẽ không xảy ra cuộc đụng độ lớn giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng Washington cam kết sẽ duy trì sự hiện diện ở châu Á để đối trọng với Bắc Kinh.

Còn Thái Lan, do có biên giới với Hoa Lục, hơn nữa chính sách ngoại giao của Thái Lan rất khôn ngoan, tôi bảo đảm họ không bao giờ cho Mỹ trở lại căn cứ Utapao. Nếu Thái Lan làm thế họ cũng không thể sống yên bởi các nhóm phiến quân Hồi Giáo ở phía nam và biên giới Bắc Thái cũng  sẽ bấy nhậy bởi các nhóm ly khai do Hoa Lục dựng lên, cho dù Mỹ có triển khai hằng chục ngàn biệt kích Mũ Nồi Xanh (Green Beret) như thời Chiến Tranh Việt Nam cũng không sao cứu nổi. Ấy là chưa kể Thái Lan phải cắt đứt quan hệ ngoại thương với Hoa Lục lên tới 46 tỉ mỗi năm. Thái Lan lấy đâu để bù đắp? Liệu Hoa Kỳ có cáng đáng nổi con số ngoại thương khổng lồ này không? Căn cứ hải quân Changi của Mỹ tại Singapore dù có cả tàu ngầm nhưng thực chất nhằm bảo vệ Singapore hơn là tấn công. Còn căn cứ Darwin ở Úc Châu thì xa quá chẳng làm Hoa Lục lo sợ. Bằng cớ là khi Ô. Obama tuyên bố sẽ triển khai 2500 thủy quân lục chiến tại đây thì Hoa  Lục vui vẻ coi đó như chuyện bình thường.

Còn khả năng Hoa Kỳ xử dụng Hải Cảng Cam Ranh có thể xảy ra không? Theo hầu hết các nhà bình luận lỗi lạc về Đông Nam Á chẳng hạn như học giả Thayer, Úc Châu thì chiến lược ngoại giao cũng như quốc phòng của Việt Nam là hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Đông Nam Á để quân bình lực lượng với Hoa Lục nhưng không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào để chống Hoa Lục. Do đó không bao giờ có chuyện Mỹ đóng quân tại Cam Ranh.

Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết, sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Cam Ranh là một hình thức tuyên chiến với Hoa Lục điều mà một nước nhỏ có địa lý chiến lược với Hoa Lục như Việt Nam không bao giờ mong muốn. Sách lược của Việt Nam là làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới,  tự lực tự cường xây dựng sức mạnh quân sự, không gây hấn với Hoa Lục, nhưng nếu Hoa Lục lấn chiếm thì sẵn sàng đánh trả với bất cứ giá nào. Cứ nhìn vào các loại  tàu ngầm, tàu chiến, máy bay  và vũ khí tối tân mà Việt Nam mua từ Nga, Ấn Độ, Do Thái, Hà Lan, Canada… năm vừa qua thì rõ. Trên tinh thần đó, tàu chiến của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ và kể cả Hoa Lục…có thể ghé thăm Việt Nam. Cam Ranh có thể trở thành thương cảng quốc tế cho tàu của bất cứ quốc gia nào ghé thăm, tiếp vận, sửa chữa…trong một thời gian ngắn nhưng không bao giờ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ như Subic Bay, Utapao, Singapore hay Darwin. Mỹ có thể bán vũ khí, tàu chiến, máy bay, thao diễn chung, huấn luyện sĩ quan cho Việt Nam, nhưng Việt Nam không bao giờ liên minh quân sự với Mỹ hay rước quân Mỹ vào Việt Nam. Các học thuyết chính trị thời Xuân Thu Chiến Quốc dạy chúng ta rằng, tùy theo vị thế chiến lược gần hay xa nước lớn mà mỗi nước nhỏ có chiến lược quân sự và ngoại giao khác nhau. Dù cùng nằm trong Liên Minh ASEAN, do yếu  tố địa  lý khác nhau, chiến lược quốc phòng và ngoại giao của Phi Luật Tân sẽ khác Singapore, Nam Dương, Thái Lan, Việt Nam và Mã Lai.

Do tính toán sai lầm trong 35 năm và coi thường khả năng trỗi dậy của Hoa Lục, ngày nay Hoa Kỳ nôn nóng quay trở lại để  kiềm chế Hoa Lục.Nhưng thực tế khi trở lại Đông Nam Á, tình hình đã đổi thay và không còn giống như thời Hoa Kỳ còn làm bá chủ vùng này nữa. Vậy Hoa Kỳ phải làm sao đây? Đứng trên quan điểm quyền lợi sinh tồn của các quốc gia Đông Nam Á thì sự trở lại của Hoa Kỳ khiến các nước này vừa mừng vừa lo.

– Mừng là vì nếu không có Hoa Kỳ thì Hoa Lục sẽ khống chế toàn bộ Biển Đông và lần hồi khuất phục tất cả các quốc gia Đông Nam Á rồi bá chủ Á Châu.

– Lo là vì sự hiện diện quân sự khổng lồ của Mỹ chắc chắn sẽ gây xáo trộn cho toàn vùng, ít ra là về mặt kinh tế. Nếu muốn kiềm chế Hoa Lục, Hoa Kỳ không thể để các quốc gia Đông Nam Á vẫn cứ tiếp tục làm ăn buôn bán như thế này mãi mà phải đánh đòn kinh tế để lần hồi cô lập Hoa Lục. Liệu các quốc gia Đông Nam Á có tuân theo chỉ thị của Hoa Kỳ để cắt đứt ngoại thương với Hoa Lục…điều mà  không một quốc gia nào mong muốn? Kinh nghiệm cho thấy khi Hoa Kỳ muốn là “trời muốn”. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sợ hãi sức mạnh quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ tuyên bố cấm vận quốc gia nào thì khốn khổ cho quốc gia đó. Trong chiến tranh Iraq, Tổng Thống Bush Con  đã rổn rảng tuyên bố “Ai không theo Hoa Kỳ là chống lại Hoa Kỳ”. Lời tuyên bố này cũng có thể sẽ được  lập lại cho các quốc gia  Đông Nam Á nghe. Trước tình hình đó, các quốc gia Đông Nam Á phải làm sao đây?

Lịch sử đã dạy thế giới một bài học là: Vì quyền lợi của mình, nước Mỹ có thể bỏ rơi đồng minh thân thiết một cách cay đắng. Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á để bảo vệ quyền lợi riêng của Hoa Kỳ hay Hoa Kỳ đến đây để sống chết với Đông Nam Á? Hoa Kỳ nhiều  lần lập đi lập lại rằng Hoa Kỳ không theo phe nào trong tranh chấp Biển Đông. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ trở lại Á Châu không phải để bảo vệ Trường Sa cho Việt Nam và Phi Luật Tân hay tái chiếm Hoàng Sa cho Việt Nam.

Trong khi Hoa Kỳ đang là hợp tác chiến lược của Hoa Lục trên quy mô toàn cầu, nay lại muốn đối đầu với Hoa Lục thì không rõ Hoa Kỳ sẽ đi nước cờ như thế nào? Mới đây Giáo Sư Jin Canrong – Phó Hiệu Trưởng Trường Nghiên Cứu Quốc Tế thuộc Đại Học Nhân Dân Bắc Kinh nhận định “Chiến lược quốc phòng mới của Mỹ là không thực sự rõ ràng”. (Internet) Theo tôi, nó không rõ  ràng là vì cùng lúc Hoa Kỳ vừa  muốn hợp tác với Hoa Lục lại vừa muốn răn đe, ngăn chặn Hoa Lục. Giống như một người vừa muốn hợp tác làm ăn với bạn, một mặt lại muốn “đốn ngã” ông bạn mình. Còn theo Tiến Sĩ Raoul Heinrichs thuộc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Phòng Úc Châu thì “Chiến lược quốc phòng mới của Mỹ cần phải được vận hành một cách khéo léo nếu không một cuộc chiến tranh lạnh mới sẽ đẩy Châu Á-Thái Bình Dương vào cuộc khủng hoảng mới.”

Khi một liên minh hình thành, Hoa Kỳ luôn luôn là “commander” dù đó là NATO. Liệu kế hoạch đối đầu với Hoa Lục đã được vạch sẵn tại Ngũ Giác Đài rồi buộc các nước ASEAN phải tuân theo hay Hoa Kỳ sẽ tham khảo ý kiến với từng quốc gia? Cuộc chạm trán với Hoa Lục trong tương lai sẽ là cuộc đối chọi khủng khiếp, có nguy cơ lan rộng khắp thế giới. Hàng ngàn hỏa tiễn tầm trung của Hoa Lục có khả năng tàn phá thủ đô của các quốc gia Đông Nam Á trong chớp nhoáng mà các quốc gia các quốc gia Đông Nam Á không có khả năng chống đỡ trừ phi Hoa Kỳ có thể  cung cấp cho ASEAN mỗi nước vài trăm Hỏa Tiễn Patriot đất-đối-không, mỗi chiếc giá từ 1-6 triệu đô-la để ngăn chặn. Nếu cuộc chiến nổ ra, chắc chắn  Hoa Lục sẽ bị chấn thương nặng, Hoa Kỳ bất quá vài tàu chiến bị đánh chìm, vài chục máy bay bị bắn rơi nhưng các quốc gia Đông Nam Á sẽ gánh chịu hậu quả thảm khốc, kể cả nguy cơ tàn phá của bom nguyên tử. Khi cuộc chiến leo thang và kéo dài, số thương vong lên cao, kinh tế đình trệ,  Hoa Kỳ bị áp lực quần chúng trong nước phải rút lui, nhất là trong các mùa bầu cử …lúc đó các quốc gia Đông Nam Á sẽ lâm vào tình thế giở khóc giở cười.

Tạm kết luận:

Do tiềm năng kinh tế của Hoa Lục có thể gây ảnh hưởng toàn cầu vàsức mạnh quân sự trùm phủ cả Á Châu, sự trở lại Đông Nam Á của Hoa Kỳ không dễ dàng như người  ta tưởng.(*) Tôi nghĩ rằng các nhà chiến lược Hoa Kỳ chưa tìm ra giải đáp cho kế hoạch lớn lao này. Chỉ riêng lãnh vực kinh tế không thôi, bất cứ sự phong tỏa kinh tế nào mà Hoa Kỳ muốn áp đặt lên Hoa Lục cũng có nghĩa là cuộc khủng hoảng của chính mình và toàn thế giới. Ngay hôm nay, tại Hoa Kỳ, vào các hệ thống bán lẻ khổng lồ của Mỹ  như Costco, Wal-mart, Target, các tiệm bán máy móc, đồ điện tử như Best Buy, Fry-Electronics, Office Max…chúng ta không sao tìm thấy mặt hàng USA mà toàn Made in China. Ngoài ra, trong lúc này, ít ra Hoa Kỳ đang cần sự trợ giúp của Hoa Lục để tạo ổn định cho Bán Đảo Triều Tiên và cuộc cấm vận Iran. Những cuộc gặp gỡ liên tục giữa các nhà ngoại giao cao cấp Mỹ-Hoa và cuộc gặp gỡ giữa Ô. Obama và Ô. Tập Cận Bình vào 14 Tháng 2 năm nay cho thấy Hoa Kỳ đang còn dò dẫm chứ không thể tự tung tự tác như thời Chiến Tranh Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng phải hết sức thận trọng trong việc liên minh hay hợp tác với Hoa Kỳ.Các quốc gia này phải nhận ra cho rõ cái nào là quyền lợi của Hoa Kỳ và cái nào là quyền lợi của Đông Nam Á hay quyền lợi của chính quốc gia mình. Hoa Kỳ đến rồi đi, chứ Hoa Kỳ không thể “ăn đời ở kiếp ở đây”. Cuối cùng thì Đông Nam Á vẫn cứ phải sống chung với Hoa Lục – dù chế độ nào đi nữa. Một nền chính trị vững vàng, kinh tế phát triển,tăng cường quốc phòng, đoàn kết  chặt chẽ giữa các quốc gia trong tổ chức ASEAN, hợp tác nhưng không bị cột chặt hay lệ thuộc vào Hoa Kỳ …vẫn là những yếu tố nội tại mạnh nhất để duy trì hòa bình, ổn định cho khu vực và cho sự sống còn của mỗi quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay Indonesia đã và đang tăng cường  sức mạnh quân sự mạnh nhất trong vùng nhưng vẫn tự chủ và không lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Còn Kampuchia thì công khai tuyên bố trung lập trong tranh chấp Biển Đông.

Trong cuộc đối đầu giữa các siêu cường,  một số nước nhỏ có thể tiêu vong. Nhưng nếu có chính sách ngoại giao khôn khéo thì nước nhỏ có thể vươn lên. Hăng hái, hấp tấp nhảy ra để làm “tiền đồn” cho bất cứ siêu cường nào sẽ là thảm họa cho dân tộc mình.

(27Tháng 1, 2012)

(*) Hoa Lục hiện nay có khoảng:

– Khoảng 160 đầu đạn hạt nhân sẵn sàng bắn đi từ các dàn phóng di động và tàu ngầm.

– Hỏa tiễn đạn đạo tầm xa là “sát thủ” của hàng không mẫu hạm.

– Một hệ thống hỏa tiễn phòng thủ và tấn công dày đặc.

– 4092 máy bay trong đó có máy bay tiêm kích tàng hình J-20 tương đương với F35 của Mỹ và oanh tạc cơ không người lái.

562 tàu chiến đủ loại & 1 hàng không mẫu hạm.

– 60 tàu ngầm tàng hình.

– 3 triệu binh sĩ bao gồm hải, lục, không quân, lực lượng thủy-bộ& duyên phòng

– Hoa Lục đã phóng Phi Thuyền Thần Châu, có thể trong đó có vệ tinh định vị để hướng dẫn mục tiêu cho các hỏa tiễn bắn đi từ đất liền và tàu ngầm.

Đào Văn Bình – Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào (?)

  • Nguồn trích đăng:_http://daovanbinh.cattien.us/?p=892

Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?

Ngày 5 tháng 1, 2012 vừa qua, cùng với sự hiện diện của toàn bộ viên chức lãnh đạo bộ máy quốc phòng và quân sự Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama đã long trọng công bố chiến lược quốc phòng mới, trong đó nhấn mạnh đến kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia đang suy thoái, nợ nần không sao trả được và ngân sách quốc phòng bị cắt giảm 450 tỷ đô-la trong những năm sắp tới. Chiến lược này giống như một người vừa ra khỏi một cơn mê dài sau 35 năm (1975-2010) từ bỏ một vùng địa thế chiến lược của Mỹ là Châu Á Thái Bình Dương để tập trung hết nỗ lực vào Trung Đông, rồi cùng lúc lún sâu vào hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq khiến gây tổn thất lớn lao về sinh mạng của cải. Cuộc chiến Afghanistan thì thế giới có thể hiểu được. Còn cuộc chiến hay cuộc xâm lăng Iraq thì thế giới không sao hiểu được. Vì dầu hỏa hay vì lý tưởng cao vời của Ô. Bush Con? Nếu bảo rằng vì dầu hỏa cho dân chúng thì tại sao năm 2000 giá 1 galon săng là $1.51 và sau khi chiếm được Iraq có lúc giá săng đã lên tới $4.00 và bây giờ là $3.65?

Nước Mỹ luôn luôn là quốc gia rao giảng và “cầm cân nảy mực” về dân chủ, tự do và nhân quyền – theo kiểu Mỹ – cho toàn thế giới tức là chuyển hóa bất cứ một xứ sở độc tài nào sang thể chế dân chủ – lúc bấy giờ là chế độ của  Saddam Hussein – cho dù phải cái giá: 757.8 tỉ đô la, 4484 binh sĩ chết và 33,186 thương tật, què cụt, ấy là chưa kể đến tổn thất của đồng minh. Cuối Tháng 12, 2011 vừa qua, sau hơn 8 năm chiến tranh gây nhức  đầu cho hai đời tổng thống và vì sự chống đối liên tục của người dân, người lính Mỹ cuối cùng đã phải rời Iraq trong một buổi lễ không có những em gái hậu phương trao tặng vòng hoa chiến thắng cho những “người hùng” đã tới “giải phóng” họ và cũng không có sự hiện diện của Thủ Tướng Nouri al- Maliki đọc diễn văm cảm tạ đồng minh đã dũng cảm hy sinh để giải phóng đất nước ông  và giúp ông xây dựng một quốc gia Iraq dân chủ, tự do, tươi đẹp, bởi chính ông cũng không muốn “đến gần” người Mỹ nữa vì sợ mất lòng dân. Dưới con mắt của tuyệt đại đa số các giáo sĩ Hồi Giáo Iraq thì Mỹ là “quân xâm lược” và phải rút ra khỏi Iraq, dù chỉ ở lại để huấn luyện. Nay Mỹ đã rút đi nhưng trách nhiệm vẫn còn đó với một Iraq mà sự chia rẽ giáo phái, sắc tộc ngày càng trầm trọng thêm với những cuộc đánh bom tự sát hầu như diễn ra hằng ngày hoặc hằng tuần tại thủ đô Bagdad. Không biết chính phủ liên hiệp của Ô. Maliki tồn tại được bao lâu và tương lai Iraq đi về đâu?

Ở đầu thập niên 1990 nếu có nhà bình luận nào nói rằng Hoa Lục sẽ là đối thủ hoặc xa hơn là kẻ thù của Hoa Kỳ trong tương lai, thì lập tức bị gán cho danh từ “thiển cận” và “Ối giời, hơi đâu mà lo. Mỹ tính hết cả rồi!” Bởi vì lúc bấy giờ các nhà tư bản Mỹ cũng như các tổng thống Hoa Kỳ đang đang ru mình trong “giấc mơ vàng” là hợp tác về mọi mặt với Hoa Lục để đầu tư khai thác kiếm lời tại một đất nước nhân công rẻ mạt mà thị trường tiêu thụ lên tới 1.3 tỉ người. Chỉ đến khi  Hoa Lục xây dựng xong căn cứ quân sự khổng lồ tại Đảo Hải Nam trong đó có cả tàu ngầm mang hỏa tiễn nguyên tử thì Hoa Kỳ mới “hơi giật mình” nhưng vẫn tự thị vào vị thế siêu cường của mình. Và khi Hoa Lục công bố thiết lập căn cứ hải quân tại Đảo Seychelles ở Đông Ấn Độ Dương và cho hạ thủy Hàng Không Mẫu Hạm Thi Lang, cùng nhịp với những cuộc lấn chiếm của Hoa Lục và tranh chấp chủ quyền nổ ra ở Biển Đông thì Hoa Kỳ mới “tỉnh giấc mơ vàng”, lo sợ và hối hả điều chính lại chiến lược quốc phòng. Điều này cho thấy không phải Hoa Kỳ lúc nào cũng đúng. Hoa Kỳ đã nhiều lần vấp phải những lỗi lầm nghiêm trọng trong lịch sử. Đó là một trong những lý do giải thích tại sao Hoa Kỳ dù viện trợ cho thế giới rất nhiều nhưng vẫn bị người ta thù ghét.

Hiện nay bốn quốc gia Nam Mỹ vốn là “Sân Sau” của Hoa Kỳ như Cuba, Nicaragua, Venezuela và Ecuador đang chống Mỹ ra mặt. Còn Pakistan mỗi năm nhận viện trợ của Hoa Kỳ cả tỉ đô-la nhưng thống kê mới nhất cho thấy 68% dân chúng Pakistan vẫn coi Mỹ là kẻ thù. (Internet)

Nay thì Mỹ đã quyết tâm trở lại Á Châu và được coi như nhu cầu sinh tử của Hoa Kỳ. Nhưng câu hỏi đặt ra là trở lại như thế nào đây? Cho tới bây giờ thì cả thế giới đều chú ý đến diễn biến trọng đại này nhưng chưa có nhà bình luận nào hoặc chưa có một tiết lộ nào liên quan đến chiến lược triển khai lực lượng như thế nào để đạt mục tiêu đó. Có thể kế hoạch đang được tiến hành trong vòng bí mật nhưng cũng có thể Ngũ Giác Đài cũng chưa định hình được phương thức “trở lại” của Hoa Kỳ. Tại sao vậy?

Muốn biết  tại sao – chúng ta hãy trở lại bối cảnh sau năm 1975 khi Hoa Kỳ thất bại và “tháo chạy” khỏi Việt Nam (danh từ của Ô. Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy) thì bầu không khí chính trị (political climate) của Á Châu – đặc biệt là Đông Nam Á đã hoàn toàn đổi khác.

1) Sự  hiện diện của quân Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam đã làm cho bộ mặt của Hoa Kỳ xấu đi.  Rồi sau khi tháo chạy đã mất dần ảnh hưởng tại Đông Nam Á. Phong trào bài Mỹ lan rộng ở Thái Lan và Phi Luật Tân. Vào ngày 13/6/1976, Hoa Kỳ phải trao quyền cho Thái Lan kiểm soát căn cứ không quân khổng lồ B.52 tại Utapao và một loạt các căn cứ không quân ở Bắc và Đông Bắc Thái Lan dùng để do thám, thả biệt kích vào Lào, hướng dẫn cho B.52 ném bom ở Việt Nam. Rồi vào năm 1991 – dù có sự ủng hộ nhiệt tình của nhiều vị tổng thống – nhưng vì dân chúng chống đối mạnh mẽ, Phi Luật Tân đã phải ra lệnh đóng cửa căn cứ hải quân khổng lồ ở Subic Bay và căn cứ không quân B.52 tại Clark. Subic Bay là căn cứ tiền tiêu của Hạm Đội 7 và là nơi tiếp vận, sửa chữa,nghỉ ngơi, khiến cho các chiến hạm Hoa Kỳ có thể bắn tới 600,000 loạt đạn hải pháo vào Việt Nam để yểm trợ cho các cuộc hành quân trên bộ. Một căn cứ không quân B52 duy nhất mà Hoa Kỳ còn duy trì được sau Chiến Tranh Việt Nam là căn cứ Okinawa ở Nhật Bản, nhưng cũng nhức đầu bởi những cuộc biểu tình liên tục của dân chúng địa phương. Theo truyền thống, Hoa Kỳ không thể nào có căn cứ quân sự đặt tại hai nước Hồi Giáo Á Châu là Indonesia và Malaysia và quốc gia theo Phật Giáo Miến Điện. Câu hỏi đặt ra là liệu Mỹ có thể mở lại căn cứ không quân khổng lồ tại Utapao, cũng như căn cứ hải quân ở Subic Bay và Clark để làm bộ chỉ huy cho Hạm Đội 7, triển khai B.1, B.2, B.52, máy bay không người lái UAV, máy bay ném bom không người lái, tầu ngầm nguyên tử và lá chắn hỏa tiễn để – trước mắt đe dọa, kiềm chế – rồi cuối cùng là tấn công tiêu diệt Hoa Lục không?

2) Sau khi Mỹ tháo chạy khỏi Việt Nam, các quốc gia đàn em như Nam Dương, Phi Luật Tân và Thái Lan đã không còn sống nhờ viện trợ Mỹ nữa và một số đã tự lực cánh sinh vươn lên, nhất là Thái Lan, kể cả Việt Nam dù bị Mỹ cấm vận19 năm (từ 1975 tới Tháng 2, 1994). Do Chiến Tranh Lạnh kết thúc, người ta không còn lo sợ sự bành trướng của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Xu thế Toàn Cầu Hóa khiến việc làm ăn buôn bán vượt biên giới Tự Do – Cộng Sản vạch ra trước đây. Chuyện Thái Lan có đầu tư, làm ăn buôn bán với Hoa Lục và ngược lại là chuyện tốt đẹp và chẳng cần xin phép ai. Nói tóm lại  độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, hợp tác toàn cầu để phát triển là xu thế không thể đảo ngược được. Đối với Thái Lan thì Mỹ hay Hoa Lục thì cũng vậy thôi. Phát triển kinh tế là chính. Ai tôn trọng độc lập của mình, ai làm ăn buôn bán được thì mình chơi.

3) Khi Hoa Kỳ rời Việt Nam thì Biển Đông bỏ trống. Rồi Nga cũng rút lui khỏi Cam Ranh vào năm 2002, Hoa Lục tự do và thênh thang đi lại Biển Đông như chỗ không người. Dưới sự lãnh đạo của Ô. Đặng Tiểu Bình, Hoa Lục không còn là căn cứ xuất cảng Chủ Nghĩa Mao, mà là một quốc gia hợp tác, hữu nghị, giao thương với tất cả các quốc gia trên thế giới kể cả kẻ thù ghê gớm là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Các quốc gia Đông Nam Á chẳng có gì phải lo sợ Hoa Lục như trước đây nữa. Và hiện nay dù tình hình Biển Đông đang cực kỳ căng thẳng, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ các quốc gia Đông Nam Á muốn cắt đứt quan hệ ngoại thương với Hoa Lục. Những con dưới đây chứng tỏ điều đó:

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Singapore năm 2010 đã lên tới 95.3 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Malaysia năm 2011 là 90 tỉ đô-la.

– Ngoại thương  giữa Hoa Lục và indonesia vào năm 2015 sẽ lên tới 80 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Thái Lan năm 2010 là 46 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Phi Luật Tân năm 2007 có lúc đã lên tới 30.6 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Việt Nam năm 2010 là 25 tỉ đô-la.

– Ngoại thương giữa Hoa Lục và Miến Điện  năm 2007 là 1.4 tỉ đô-la.

Nay Hoa Kỳ muốn trở lại Đông Nam Á. Mà trở lại không có nghĩa là chỉ bằng lời nói, hoặc cho hàng không  mẫu hạm đi thăm viếng Manila, Đà Nẵng, Bangkok hay Singapore rồi liên tục tập trận trên biển với các đồng minh v.v… mà phải thiết lập cho bằng được các căn cứ quân sự chiến lược vững chắc để tiếp cận và làm địa bàn tấn công tiêu diệt đối phương. Muốn có được những căn cứ chiến lược như thế thì phải có ngoại giao và chính trị. Mà muốn có ngoại giao và chính trị thì phải có tiền cho vay, hỗ trợ thương mại và viện trợ cho không lẫn viện trợ đầu tư. Hoa Kỳ lấy tiền đâu để thực hiện các công tác này trong tình thế nợ nần ngập đầu không trả nổi? Liệu Hoa Kỳ có thể thuyết phục được Phi Luật Tân và Thái Lan để cho mở lại các căn cứ chiến lược như Subic Bay, Clark và Utapao không? Theo tôi, Phi Luật Tân có thể (tôi nói có thể) cho mở lại các căn cứ này để Mỹ dùng làm bàn đạp tấn công Hoa Lục, nhưng chắc chắn Phi Luật Tân sẽ phải trả một giá rất đắt về bất ổn chính trị. Đất nước Phi sẽ vô cùng căng thẳng vì luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh mà không sao phát triển được.  Xin nhớ cho Hoa Lục dư khả năng giúp các nhóm phiến quân Hồi Giáo Phi Luật Tân ở phía Nam quậy nát bấy đất nước này. Hiện nay Washington và Manila đang đàm phán để quân đội Mỹ tăng cường hiện diện ở Philippines sau 20 năm kể từ khi Mỹ bị tẩy chay tại đây. Trong ba  ngày thăm và làm việc Philippines 16-18/1/2012, thượng nghị sĩ John McCain cho biết ông hy vọng sẽ không xảy ra cuộc đụng độ lớn giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng Washington cam kết sẽ duy trì sự hiện diện ở châu Á để đối trọng với Bắc Kinh.

Còn Thái Lan, do có biên giới với Hoa Lục, hơn nữa chính sách ngoại giao của Thái Lan rất khôn ngoan, tôi bảo đảm họ không bao giờ cho Mỹ trở lại căn cứ Utapao. Nếu Thái Lan làm thế họ cũng không thể sống yên bởi các nhóm phiến quân Hồi Giáo ở phía nam và biên giới Bắc Thái cũng  sẽ bấy nhậy bởi các nhóm ly khai do Hoa Lục dựng lên, cho dù Mỹ có triển khai hằng chục ngàn biệt kích Mũ Nồi Xanh (Green Beret) như thời Chiến Tranh Việt Nam cũng không sao cứu nổi. Ấy là chưa kể Thái Lan phải cắt đứt quan hệ ngoại thương với Hoa Lục lên tới 46 tỉ mỗi năm. Thái Lan lấy đâu để bù đắp? Liệu Hoa Kỳ có cáng đáng nổi con số ngoại thương khổng lồ này không? Căn cứ hải quân Changi của Mỹ tại Singapore dù có cả tàu ngầm nhưng thực chất nhằm bảo vệ Singapore hơn là tấn công. Còn căn cứ Darwin ở Úc Châu thì xa quá chẳng làm Hoa Lục lo sợ. Bằng cớ là khi Ô. Obama tuyên bố sẽ triển khai 2500 thủy quân lục chiến tại đây thì Hoa  Lục vui vẻ coi đó như chuyện bình thường.

Còn khả năng Hoa Kỳ xử dụng Hải Cảng Cam Ranh có thể xảy ra không? Theo hầu hết các nhà bình luận lỗi lạc về Đông Nam Á chẳng hạn như học giả Thayer, Úc Châu thì chiến lược ngoại giao cũng như quốc phòng của Việt Nam là hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Đông Nam Á để quân bình lực lượng với Hoa Lục nhưng không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào để chống Hoa Lục. Do đó không bao giờ có chuyện Mỹ đóng quân tại Cam Ranh.

Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết, sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Cam Ranh là một hình thức tuyên chiến với Hoa Lục điều mà một nước nhỏ có địa lý chiến lược với Hoa Lục như Việt Nam không bao giờ mong muốn. Sách lược của Việt Nam là làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới,  tự lực tự cường xây dựng sức mạnh quân sự, không gây hấn với Hoa Lục, nhưng nếu Hoa Lục lấn chiếm thì sẵn sàng đánh trả với bất cứ giá nào. Cứ nhìn vào các loại  tàu ngầm, tàu chiến, máy bay  và vũ khí tối tân mà Việt Nam mua từ Nga, Ấn Độ, Do Thái, Hà Lan, Canada… năm vừa qua thì rõ. Trên tinh thần đó, tàu chiến của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ và kể cả Hoa Lục…có thể ghé thăm Việt Nam. Cam Ranh có thể trở thành thương cảng quốc tế cho tàu của bất cứ quốc gia nào ghé thăm, tiếp vận, sửa chữa…trong một thời gian ngắn nhưng không bao giờ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ như Subic Bay, Utapao, Singapore hay Darwin. Mỹ có thể bán vũ khí, tàu chiến, máy bay, thao diễn chung, huấn luyện sĩ quan cho Việt Nam, nhưng Việt Nam không bao giờ liên minh quân sự với Mỹ hay rước quân Mỹ vào Việt Nam. Các học thuyết chính trị thời Xuân Thu Chiến Quốc dạy chúng ta rằng, tùy theo vị thế chiến lược gần hay xa nước lớn mà mỗi nước nhỏ có chiến lược quân sự và ngoại giao khác nhau. Dù cùng nằm trong Liên Minh ASEAN, do yếu  tố địa  lý khác nhau, chiến lược quốc phòng và ngoại giao của Phi Luật Tân sẽ khác Singapore, Nam Dương, Thái Lan, Việt Nam và Mã Lai.

Do tính toán sai lầm trong 35 năm và coi thường khả năng trỗi dậy của Hoa Lục, ngày nay Hoa Kỳ nôn nóng quay trở lại để  kiềm chế Hoa Lục.Nhưng thực tế khi trở lại Đông Nam Á, tình hình đã đổi thay và không còn giống như thời Hoa Kỳ còn làm bá chủ vùng này nữa. Vậy Hoa Kỳ phải làm sao đây? Đứng trên quan điểm quyền lợi sinh tồn của các quốc gia Đông Nam Á thì sự trở lại của Hoa Kỳ khiến các nước này vừa mừng vừa lo.

– Mừng là vì nếu không có Hoa Kỳ thì Hoa Lục sẽ khống chế toàn bộ Biển Đông và lần hồi khuất phục tất cả các quốc gia Đông Nam Á rồi bá chủ Á Châu.

– Lo là vì sự hiện diện quân sự khổng lồ của Mỹ chắc chắn sẽ gây xáo trộn cho toàn vùng, ít ra là về mặt kinh tế. Nếu muốn kiềm chế Hoa Lục, Hoa Kỳ không thể để các quốc gia Đông Nam Á vẫn cứ tiếp tục làm ăn buôn bán như thế này mãi mà phải đánh đòn kinh tế để lần hồi cô lập Hoa Lục. Liệu các quốc gia Đông Nam Á có tuân theo chỉ thị của Hoa Kỳ để cắt đứt ngoại thương với Hoa Lục…điều mà  không một quốc gia nào mong muốn? Kinh nghiệm cho thấy khi Hoa Kỳ muốn là “trời muốn”. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sợ hãi sức mạnh quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ tuyên bố cấm vận quốc gia nào thì khốn khổ cho quốc gia đó. Trong chiến tranh Iraq, Tổng Thống Bush Con  đã rổn rảng tuyên bố “Ai không theo Hoa Kỳ là chống lại Hoa Kỳ”. Lời tuyên bố này cũng có thể sẽ được  lập lại cho các quốc gia  Đông Nam Á nghe. Trước tình hình đó, các quốc gia Đông Nam Á phải làm sao đây?

Lịch sử đã dạy thế giới một bài học là: Vì quyền lợi của mình, nước Mỹ có thể bỏ rơi đồng minh thân thiết một cách cay đắng. Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á để bảo vệ quyền lợi riêng của Hoa Kỳ hay Hoa Kỳ đến đây để sống chết với Đông Nam Á? Hoa Kỳ nhiều  lần lập đi lập lại rằng Hoa Kỳ không theo phe nào trong tranh chấp Biển Đông. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ trở lại Á Châu không phải để bảo vệ Trường Sa cho Việt Nam và Phi Luật Tân hay tái chiếm Hoàng Sa cho Việt Nam.

Trong khi Hoa Kỳ đang là hợp tác chiến lược của Hoa Lục trên quy mô toàn cầu, nay lại muốn đối đầu với Hoa Lục thì không rõ Hoa Kỳ sẽ đi nước cờ như thế nào? Mới đây Giáo Sư Jin Canrong – Phó Hiệu Trưởng Trường Nghiên Cứu Quốc Tế thuộc Đại Học Nhân Dân Bắc Kinh nhận định “Chiến lược quốc phòng mới của Mỹ là không thực sự rõ ràng”. (Internet) Theo tôi, nó không rõ  ràng là vì cùng lúc Hoa Kỳ vừa  muốn hợp tác với Hoa Lục lại vừa muốn răn đe, ngăn chặn Hoa Lục. Giống như một người vừa muốn hợp tác làm ăn với bạn, một mặt lại muốn “đốn ngã” ông bạn mình. Còn theo Tiến Sĩ Raoul Heinrichs thuộc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Phòng Úc Châu thì “Chiến lược quốc phòng mới của Mỹ cần phải được vận hành một cách khéo léo nếu không một cuộc chiến tranh lạnh mới sẽ đẩy Châu Á-Thái Bình Dương vào cuộc khủng hoảng mới.”

Khi một liên minh hình thành, Hoa Kỳ luôn luôn là “commander” dù đó là NATO. Liệu kế hoạch đối đầu với Hoa Lục đã được vạch sẵn tại Ngũ Giác Đài rồi buộc các nước ASEAN phải tuân theo hay Hoa Kỳ sẽ tham khảo ý kiến với từng quốc gia? Cuộc chạm trán với Hoa Lục trong tương lai sẽ là cuộc đối chọi khủng khiếp, có nguy cơ lan rộng khắp thế giới. Hàng ngàn hỏa tiễn tầm trung của Hoa Lục có khả năng tàn phá thủ đô của các quốc gia Đông Nam Á trong chớp nhoáng mà các quốc gia các quốc gia Đông Nam Á không có khả năng chống đỡ trừ phi Hoa Kỳ có thể  cung cấp cho ASEAN mỗi nước vài trăm Hỏa Tiễn Patriot đất-đối-không, mỗi chiếc giá từ 1-6 triệu đô-la để ngăn chặn. Nếu cuộc chiến nổ ra, chắc chắn  Hoa Lục sẽ bị chấn thương nặng, Hoa Kỳ bất quá vài tàu chiến bị đánh chìm, vài chục máy bay bị bắn rơi nhưng các quốc gia Đông Nam Á sẽ gánh chịu hậu quả thảm khốc, kể cả nguy cơ tàn phá của bom nguyên tử. Khi cuộc chiến leo thang và kéo dài, số thương vong lên cao, kinh tế đình trệ,  Hoa Kỳ bị áp lực quần chúng trong nước phải rút lui, nhất là trong các mùa bầu cử …lúc đó các quốc gia Đông Nam Á sẽ lâm vào tình thế giở khóc giở cười.

Tạm kết luận:

Do tiềm năng kinh tế của Hoa Lục có thể gây ảnh hưởng toàn cầu vàsức mạnh quân sự trùm phủ cả Á Châu, sự trở lại Đông Nam Á của Hoa Kỳ không dễ dàng như người  ta tưởng.(*) Tôi nghĩ rằng các nhà chiến lược Hoa Kỳ chưa tìm ra giải đáp cho kế hoạch lớn lao này. Chỉ riêng lãnh vực kinh tế không thôi, bất cứ sự phong tỏa kinh tế nào mà Hoa Kỳ muốn áp đặt lên Hoa Lục cũng có nghĩa là cuộc khủng hoảng của chính mình và toàn thế giới. Ngay hôm nay, tại Hoa Kỳ, vào các hệ thống bán lẻ khổng lồ của Mỹ  như Costco, Wal-mart, Target, các tiệm bán máy móc, đồ điện tử như Best Buy, Fry-Electronics, Office Max…chúng ta không sao tìm thấy mặt hàng USA mà toàn Made in China. Ngoài ra, trong lúc này, ít ra Hoa Kỳ đang cần sự trợ giúp của Hoa Lục để tạo ổn định cho Bán Đảo Triều Tiên và cuộc cấm vận Iran. Những cuộc gặp gỡ liên tục giữa các nhà ngoại giao cao cấp Mỹ-Hoa và cuộc gặp gỡ giữa Ô. Obama và Ô. Tập Cận Bình vào 14 Tháng 2 năm nay cho thấy Hoa Kỳ đang còn dò dẫm chứ không thể tự tung tự tác như thời Chiến Tranh Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng phải hết sức thận trọng trong việc liên minh hay hợp tác với Hoa Kỳ.Các quốc gia này phải nhận ra cho rõ cái nào là quyền lợi của Hoa Kỳ và cái nào là quyền lợi của Đông Nam Á hay quyền lợi của chính quốc gia mình. Hoa Kỳ đến rồi đi, chứ Hoa Kỳ không thể “ăn đời ở kiếp ở đây”. Cuối cùng thì Đông Nam Á vẫn cứ phải sống chung với Hoa Lục – dù chế độ nào đi nữa. Một nền chính trị vững vàng, kinh tế phát triển,tăng cường quốc phòng, đoàn kết  chặt chẽ giữa các quốc gia trong tổ chức ASEAN, hợp tác nhưng không bị cột chặt hay lệ thuộc vào Hoa Kỳ …vẫn là những yếu tố nội tại mạnh nhất để duy trì hòa bình, ổn định cho khu vực và cho sự sống còn của mỗi quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay Indonesia đã và đang tăng cường  sức mạnh quân sự mạnh nhất trong vùng nhưng vẫn tự chủ và không lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Còn Kampuchia thì công khai tuyên bố trung lập trong tranh chấp Biển Đông.

Trong cuộc đối đầu giữa các siêu cường,  một số nước nhỏ có thể tiêu vong. Nhưng nếu có chính sách ngoại giao khôn khéo thì nước nhỏ có thể vươn lên. Hăng hái, hấp tấp nhảy ra để làm “tiền đồn” cho bất cứ siêu cường nào sẽ là thảm họa cho dân tộc mình.

(27Tháng 1, 2012)

(*) Hoa Lục hiện nay có khoảng:

– Khoảng 160 đầu đạn hạt nhân sẵn sàng bắn đi từ các dàn phóng di động và tàu ngầm.

– Hỏa tiễn đạn đạo tầm xa là “sát thủ” của hàng không mẫu hạm.

– Một hệ thống hỏa tiễn phòng thủ và tấn công dày đặc.

– 4092 máy bay trong đó có máy bay tiêm kích tàng hình J-20 tương đương với F35 của Mỹ và oanh tạc cơ không người lái.

562 tàu chiến đủ loại & 1 hàng không mẫu hạm.

– 60 tàu ngầm tàng hình.

– 3 triệu binh sĩ bao gồm hải, lục, không quân, lực lượng thủy-bộ& duyên phòng

– Hoa Lục đã phóng Phi Thuyền Thần Châu, có thể trong đó có vệ tinh định vị để hướng dẫn mục tiêu cho các hỏa tiễn bắn đi từ đất liền và tàu ngầm.

Nguyễn Văn Lục – Đọc Hồi Ký Trần Văn Giàu (!)

Đọc Hồi Ký Trần Văn Giàu

Nguyễn Văn Lục

TranVanGiau.jpgÔng Trần Văn Giàu (hình trên Wikipedia) vừa chết ngày 16/12/2010 vừa qua. Ông là một trong số ít ỏi những người cộng sản kỳ cựu nhất của thập niên 1930-40 còn sống ở đầu thế kỷ 21. Chỉ 3 ngày sau khi ông chết, tập Hồi ký của ông, được nhiều người trông đợi, mới được xuất hiện trên hai trang báo điện tử viet-studies và diendan.org ở hải ngoại.

Sự xuất hiện muộn màng đợi đến khi tác giả vừa nằm xuống là một dấu hiệu vụng về và đáng buồn.

Hơn thế nữa, tập hồi ký này được ông Trần Văn Giàu viết từ thập niên 1970, nghĩa là cách đây 40 năm nay và phải đợi lúc ông chết, nó mới được cho xuất hiện chỉ ở hải ngoại! Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, người có trách nhiệm công bố tập Hồi ký này thì do “công cụ chuyên chính của chính quyền thì ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ với hi vọng thu hồi được bản thảo để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất, hoặc cắt xén thay đổi trước khi cho xuất bản.”. Nguyễn Ngọc Giao, Hồi ký 1940-1945, Trần Văn Giàu. Dien dan.org

Đúng là đợi khi chết mới được nói ra lời; nhưng nói không trọn vẹn, nói u ơ, nói ngọng nghịu.

Như trước đây khi người viết bài này phê bình cuốn Hồi ký của Lý Quý Chung ở trong nước khi ông này được ra mắt sách lúc sắp chết, tôi gọi đó là cuốn “Nhật Ký của im lặng”. Vì cuốn hồi ký bị cắt đầu, cắt đuôi, chẳng nói được gì. Sau này, liên lạc được với em gái của Lý Quý Chung ở Montréal, bà Lý Thành Lễ. Qua điện thoại, bà Lễ kể cho hay, hôm sách được giới thiệu, vừa mới bán được vài cuốn thì có “lệnh ở trên” đến tịch thu tất cả.

Cho nên có thể không lấy làm lạ một đảng viên cộng sản kỳ cựu như ông Trần Văn Giàu đi nữa, ông cũng không thoát khỏi bị trù dập cho đến lúc chết. Gương của luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn đó; gương của Trần Đức Thảo còn đó.

Nhưng ở mặt lễ nghi thì ông được “quốc táng” với một danh sách ban tổ chức gồm nhiều nhân vật lãnh đạo đảng. Đứng đầu là “đồng chí” Lê Thanh Hải. Đã có nhiều bài viết vinh danh ông bằng thứ “văn chương phúng điếu” như “ông là một nhân cách sáng ngời” giáo sư Tương Lai, Nguyễn Đình Đầu – nhà viết sử nổi lên từ sau 1975 – nói, “Giáo sư Trần Văn Giàu, mất mát chưa có người thay thế.” Dương Trung Quốc viết, “Giáo sư Trần Văn Giàu đã vét cạn đời mình cho nghiệp sử.”.

Đọc những văn chương phúng điếu ở trên, người viết tâm đắc và thấm thía câu nói của TT. Thích Trí Quang, Nó giết mình hôm nay, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!

Việc ông Trần Văn Giàu phải cất dấu hồi ký lâu như thế thì chẳng một ai muốn bàn đến.

Một phần lớn việc cất dấu tập hồi ký này do chính ý định của ông. Phần khác nó cho thấy sự hà khắc của chế độ ấy ra sao.

Một chi tiết không thể bỏ qua là ông Giàu cũng như Võ Nguyên Giáp là những đảng viên cộng sản kỳ cựu nhất, sống đến trăm tuổi (11/09/1911-16/12/2010), như bình thường thì Trần Văn Giàu có thể leo lên đến chức Tổng bí thư Đảng.

Vậy mà lẽ nào hồi ký cả một đời người lại thu vén vào khoảng thời gian1940-1945?

2

Cứ theo lời ông Giàu giải thích thì “Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, sấp xỉ 90 năm. Tôi viết ‘Lời nói đầu’ này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.” Trích Lời nói đầu, Trần Văn Giàu.

Với chỉ vỏn vẹn 5 năm, thời gian từ 1940-1945, người đọc hy vọng đọc được gì trong khoảng thời gian đó? Bao nhiêu biến cố chính trị kể từ sau 1945 đến 1954, rồi từ 1954-1975 và nhất là từ 1975-2010, chẳng lẽ cả một cuộc đời lăn lóc làm chính trị, hy sinh cho lý tưởng cách mạng chỉ thấy có 5 năm sống có chất lượng, có ý nghĩa?

Có thể ông có cái lý của ông để chỉ viết Hồi ký 5 năm! Hồi ký để ông có thể giãi bày “nỗi oan” chuyện vượt ngục ở Tà Lài và về vụ Deschamps chẳng hạn.

– Vụ thhứ nhất về chuyện “vượt ngục” do Pháp dật giây thì cho đến ngày hôm nay, Ban tổ chức Trung Ương đi đến kết luận là “ Chưa có” chứng cớ là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục. Ông Giàu chỉ muốn giải nỗi oan là thay một chữ chưa bằng chữ không, “ Không có” chứng cớ gì.

– Về vụ Deschamps do ông Giàu khai nhận, tổ chức kết luận: “Việc khai nhận của đồng chí Giàu gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giây quốc tế.”Về điểm này, ông Trần Văn Giàu nhìn nhận:

“Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú: Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song Nguyễn Văn Trấn (Prigorny) còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì tôi khai, cả chỗ tôi ở, không ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo.” (Trích Hồi ký Trần Văn Giàu, phần Lời nói đầu.)

Điều chúng ta mong muốn là không phải đọc cái hồi ký năm năm mà là Hồi ký 65 năm còn lại bị dấu kín, bị quên lãng, bị trù dập khốn đốn, bị nhục nhã, bị “ngồi chơi xơi nước” như kiểu luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Triết gia Trần Đức Thảo ở một mức độ nhẹ hơn.

Ông Nguyễn Văn Trung ở số 57 Duy Tân, cư xá giáo sư đại học Sàigòn thường qua lại thăm giáo sư Trần Văn Giàu, ở số 77 Duy Tân và kể lại cho người viết như sau, “Ông Giàu sống rất thanh bạch, rất ẩn nhẫn của một trí thức có nhân cách. Ông tránh né và không muốn nhắc lại mọi chuyện quá khứ. Nhiều khi bà Giàu cứ kể lể, than vãn thì ông Trần Văn Giàu lại gạt đi không cho kể. Trong vườn nhà ông bà TVG ở Duy Tân đằng sau có cây khế ngọt, Bà Giàu thường phải trèo lên hái những trái khế mang ra chợ để đổi lấy rau trái ăn thêm.”

Nhưng theo ông Trung, cái nhục của ông Trần Văn Giàu là lúc đầu phường khóm chúng chẳng biết Trần Văn Giàu là ai cả! Loa phóng thanh trong phường gọi réo tên ông Trần Văn Giàu lên nay lĩnh gạo, mốt lĩnh thịt và chắc cả tiền lương! Có thể sau này thì bọn phường khóm hiểu ra rằng, đang có “một núi thái sơn” của Đảng bị thất sủng ở trong phường của chúng mới hết cảnh réo gọi.

Chúng tôi sẽ đưa ra một vài chứng từ về mối liên lạc giữa hai người trí thức giữa hai miền và nhất là cuốn sách của ông Trần Văn Giàu phê phán cuốn Nhận Định II của Nguyễn Văn Trung trong kỳ sau.

Cảm tưởng của người viết bài này là giữa một tập Hồi Ký năm năm và cả một cuộc đời 100 năm, liệu tập Hồi ký này có đủ sức chuyên chở cả cuộc đời của chính tác giả và những biến động chính trị trong dọc dài suốt 65 năm liên quan đến số mệnh dân tộc đất nước?

3

Và lời nhận xét của Nguyễn Ngọc Giao sau đây trong “Lời nói đầu” tỏ ra chỉ là một nhận xét ước lệ, có tính cách xưng tụng hơn là thực tế, “Họ là những nhân vật lịch sử, đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.”

Thực tế cho thấy trong cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” người ta đã cố tình vô ý để thiếu tên Trần Văn Giàu!

Đó là một sai lầm kép của những kẻ làm lịch sử và viết lại lịch sử.

Phải nói thẳng là cái lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời của Trần Văn Giàu là thủ tiêu, đẩy tất cả các đồng chí đệ tứ vào tử lộ mà cho đến lúc chết, Trần Văn Giàu vẫn phủ nhận trách nhiệm! Ông đã từng nếm trải “cảnh tù êm ái” của thực dân đế quốc, từng phải xa vợ con cả chục năm trời, lẽ nào một người như ông thẳng tay giết những đồng chí vì chỉ khác đường lối?

Lỗi lầm thứ hai xảy ra trong nội bộ đảng theo như ông tâm sự với ông Thiếu Sơn, bữa ấy có sự hiện diện của người thủy thủ có trách nhiệm ra Côn Đảo đón nhóm Lê Duẩn,

Tôn Đức Thắng về đất liền. Nhưng vì lý do kỹ thuật đón “muộn”, và bị hiểu lầm là về sợ tranh chỗ. Sự thực thì chỉ không kịp đón theo như nhân chứng là người thủy thủ có mặt hôm ấy. Việc đón trễ là một chuyện.

Nhưng theo Nguyễn Ngọc Giao trong cuộc nói chuyện 3 giờ với Trần Văn Giàu, tại Paris thì khi Lê Duẩn về đất liền, chỉ được Trần Văn Giàu trao cho giữ chức vụ “đơn thuần làm trưởng phòng du kích Nam Bộ và dường như có ảnh hưởng sau này tới “ tiền đồchính trị” của Trần Văn Giàu”. Thậm chí sau này ông phải đợi khá lâu mới được trở lại thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975.”

Cũng theo lời Nguyễn Ngọc Giao, Rất tiếc rằng lúc ấy ông không cho phép tôi công bố việc này, cũng như theo sự thỏa thuận mùa hè năm 1989, 3 giờ phỏng vấn ông ở Paris không được phổ biến lúc sinh thời. Ông còn dặn kỹ tôi: ‘Nếu chú viết về việc này, thì tôi sẽ cải chính đấy.’” (Trích Trần Văn Giàu (1911-2010), Nguyễn Ngọc Giao, cập nhật 18/12/2010, dien dan.org

Mặc dầu trong tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan của Trung ương ĐCS Đông Dương ngày 23 tháng 10 năm 1945, đăng lời kêu họi sát hại phái đệ tứ. Nhưng chính lãnh đạo đảng cộng sản cũng phê phán hành động của Trần Văn Giàu! Phải chăng Trần Văn Giàu là nạn nhân của chính sách của Đảng?

Hồi ký của ông sẽ viết gì như biện minh trạng cho những việc làm sát hại các đồng chí cộng sản đệ tứ?

Người dân miền Nam trước 1975 chắc còn nhớ trước cửa chợ Bến Thành có con đường nhỏ mang tên Tạ Thu Thâu- một nhân vật cộng sản đệ tứ (Trốt kít) đã bị nhóm đệ tam sát hại tại tháng 9/năm 1945, tại Quảng Ngãi – và chính quyền cộng sản đã không quên bôi xóa con đường mang tên Tạ Thu Thâu vào năm 1975- một bôi xóa mang tính cách lịch sử?

Đối với các bạn trẻ, xin nêu rõ Tạ Thu Thâu là người từng đi du học Pháp, bị trục xuất về nước vì phản đối án tử hình xử 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Trong số 19 người cùng bị trục xuất về nước vào ngày 24-6-1930 trên tàu Athos II ở hải cảng Marseille có tên Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Phan Văn Chán, v.v…) (Trích Phan Văn Hùm, Thân thế và sự nghiệp, Trần Nguơn Phiêu, trang 355).

Năm 1989, khi có dịp được qua Pháp, Trần Văn Giàu trước những câu hỏi chất vấn về việc thủ tiêu các nhóm đệ tứ, Trần Văn Giàu quả quyết rằng không phải do chính ông,

4

vì “những người có trách nhiệm trong thời kỳ đó là Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn và Tôn Đức Thắng. Rời Paris với lời hứa. (cuộc nói chuyện này đã được ghi âm) sẽ “phục hồi danh dự” (réhabilité) cho những người yêu nước bị chết oan, đến nay ông Giàu vẫn im lặng.” (Trích Nhìn lại 60 năm tranh đấu cho Việt Nam, Hoàng Khoa Khôi, trang 290).

Nhưng kể từ đó đến nay, lời hứa đó đã không hề bao giờ được tôn trọng thực hiện cho đến lúc ông chết.

Cũng trong bài phỏng vấn Trần Văn Giàu của Nguyễn Ngọc Giao, “ông dứt khoát bác bỏ trách nhiệm của mình trong cái chết của Tạ Thu Thâu (tháng 9 năm 1945 tại Quảng Ngãi), nhưng ông giữ im lặng không trả lời câu hỏi của tôi về việc Phan Văn Hùm và các đồng chí đã bị thủ tiêu ở Nam Bộ năm 1946.”

Về cái chết của nhà Cách Mạng Tạ Thu Thâu cho đến giờ phút này, có thể chúng ta không bao giờ có lời giải đáp chính xác chắc chắn cho câu hỏi: Ai giết? Có thể không phải là ông Trần Văn Giàu giết nhưng cho chỉ thị thì có. Nghị quyết phải triệt hạ các tay sai đế quốc, phát xít cũng như phải trừng trị đích đáng bọn phản động Trốt Kít. Nhưngmặt khác thì chính họ lại thủ tiêu mọi chứng từ, giấy tờ, mọi nhân chứng và nếu cần thủ tiêu ngay cả “thủ phạm thi hành” nếu cần.

Câu hỏi ai giết, ai ám hại Tạ Thu Thâu có thể là một câu hỏi thừa đối với những người cộng sản thứ thiệt! Ai giết cũng được!

Nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ giả vờ không biết để không hỏi. Phải hỏi dù không có câu trả lời.

Nhưng trong chỗ riêng tư, đã có lần ông thú nhận với ông Thiếu Sơn là ông chỉ sát hại có một người trong suốt thời gian giữ chức vụ Lâm Ủy hành chánh chánh? Người nào thì ông không nói rõ tên.

Phải chăng đó là những người có uy tín hàng đầu như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Trần Văn Sĩ, Phan Văn Hoa? Hay những người khác như Lê Văn Vững, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, Lê Kim Tỵ?

Muốn hiểu rõ ai đã ra tay giết hại những người này, có nhiều nguồn tài liệu, nhất là tài liệu của các nhóm đệ tứ. Trước hết xin đọc tóm lược tài liệu của ông Nguyễn Kỳ Nam, một nhà báo, một người nhân chứng, tường thuật tại chỗ và có tham dự những buổi họp báo của Lâm Ủy Hành Chánh, trong đó Trần Văn Giàu làm chủ tọa:

“Buổi nhóm đó có các ký giả. Tôi không bao giờ quên khi Trần Văn Giàu mặc áo sơ mi đứng lên tay mặt đập mạnh vào khẩu súng nhỏ mang ở bên hông, để trả lời một câu chất vấn của Trần Văn Thạch .

Nghe và thấy vậy làm sao không sợ?

Nhứt là người đứng lên trả lời đó là một cán bộ cao cấp của đảng cộng sản đệ tam (…)

Buổi nhóm Khoáng Đại Hội Nghị hôm đó, Lâm Ủy Hành Chánh để lộ chân tướng sát nhơn” rõ rệt .

Tôi nhớ hai người chất vấn: Huỳnh Phú Sổ và Trần Văn Thạch (…)

Thạch chất vấn Giàu.

– Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh Nbam Bộ? Và cử hồi nào?

Trần Văn Giàu đứng dạy trả lời.

5

– Anh Thạch, tôi biết anh muốn nói gì rồi. Anh hỏi: “Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh”, chớ that ra, trong bụng anh nghĩ:” Ta giỏi như vầy mà sao không ai đem ta vào Lâm Ủy”. Vậy tôi xin trả lời: Chúng tôi tạm thời đảm đương Chánh phủ trong giai đoạn này.Sau rồi, chúng tôi giao lại các anh. Còn trả lời về chánh trị, tôi sẽ gặp anh ở một nơi khác.”

– Trần Văn Giàu vừa nói câu sau vừa để tay mặt nơi cây súng sáu (…) Phòng nhóm im lặng như tờ. Mọi người đều nhìn Thạch như biết số mạng của Thạch đã định … nơi khẩu súng lục kia rồi. Tôi hồi hộp, tim đập mạnh.

Từ đó, tôi mất hết tinh thần .. Nhiều bạn ký giả ngồi chung quanh tôi xầm xì:

– Thạch đã tự mình ký tên bản án tử hình rồi. Sau đó, Trần Văn Thạch bị giết, không ai còn lấy làm lạ nữa.

(Khi Huỳnh Văn Phương nắm công an, tình cờ bắt gặp được hồ sơ của mật thám để lại chứng minh rằng: Giàu có đi lại với Pháp. Vì vậy mà cộng sản không tin dùng Giàu (…)

Khi Giàu liên lạc với Arnoux, chánh mật thám Đông-Dương, và Giàu làm tay sai choPháp để nhận một số tiền … Arnoux biết Giàu lợi hại lắm sau này cũng dám phản bội nên khi đưa tiền cho Giàu, họ đặt máy ảnh trong kẹt cửa, chụp bức ảnh, chính tay Giàu

thọ lãnh số bạc từ tay Arnoux trao .. Bức ảnh này còn nằm trong hồ sơ mật của mật thám. Huỳnh Văn Phương đang làm trạng sư được Nhựt đưa vào làm Tổng Giám Đốc Công An, tìm thấy hồ sơ của Giàu, liền cho rọi bức ảnh “Mật” đó ra làm 4 bản, trao cho Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, còn một bản Huỳnh Văn Phương giữ làm tài liệu.

Huỳnh Văn Phương trao 3 bức ảnh cho 3 người để rồi cả ba đều bị ám sát trong những trường hợp khác nhau)

Riêng Huỳnh Phú Sổ tố giác:

– Tôi có đủ tài liệu chứng minh rằng. Trần Văn Giàu đã thông đồng với Pháp .. Cho nên, trong nhiều phiên họp, Huỳnh Phú Sổ thường gay gắt hỏi: Ai Việt Minh thiệt? Ai Việt Minh giả? Và ai là Việt gian?

Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh rơi mặt nạ trong những phiên nhóm này, nên về sau, Huỳnh Phú Sổ bị thủ tiêu, không ai lấy làm lạ nữa?

Riêng Phan Văn Hùm dè dặt nhất mà cũng không khỏi … Trong một phiên nhóm của Mặt Trận Quốc gia Thống Nhứt, Phan Văn Hùm đưa ra một bức thơ có chữ ký của Trần Văn Giàu chứng minh sự phản bội của Giàu, nhưng Hùm đã tỏ thái độ anh hùng của mình bằng cách lấy bức thư đó lại, đọc cho mọi người nghe, rồi đốt liền, để cho Giàu thấy rằng: một bằng cớ như vậy mà Hùm sẵn sàng thủ tiêu, để sau này không còn trong lịch sử.

Nhưng một tháng sau, khi Sàigòn tản cư, Hùm lên miền Đông gặp Dương Bạch Mai nói rằng: “Trước chúng ta bất đồng chánh kiến về chánh trị. Nay nước nhà đương cần đoàn kết chống thực dân, tôi tin rằng: “anh sẽ bỏ qua việc cũ..”

Dương Bạch Mai không trả lời, nhưng lại chỉ cho Hùm vào một phòng bên trái, tức là một nơi “một vào không ra nữa được”. Người ta gọi là cửa tử.

Thật vậy, hai hôm sau, Phan Văn Hùm bị thủ tiêu.

Còn Trần Quang An?

Trần Quang An cũng theo Hùm. Nhưng khi thấy Mai đưa Hùm vào “ cửa tử”, Trần Quang An vội vã bắt tay Mai để từ giã:

6

– Tôi đến đây thăm anh, anh cho phép tôi về. Trần Quang An nói dứt lời, tính quay bước ra ngoài, nhưng Dương Bạch Mai kéo lại, và chỉ cho Trần Quang An đi theo vào một cửa với Phan Văn Hùm.

Mai nói vắn tắt:

– Anh cũng vào ngã này chớ.

– Thế rồi Trần Quang An cũng bị, thủ tiêu như Phan Văn Hùm. Phan Văn Chánh cùng chung một trường hợp như Phan Văn Hùm, Trần Quang An, vì cả ba cùng di tản một đường.

Trích tóm lược Hồi ký 1925-1964 của Nguyễn Kỳ Nam, tập II, trang 31.

Sau này, rất nhiều người trong nhóm đệ tứ đã đồng loạt lên án nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu.

Tài liệu trích dẫn: Ai đã ám sát Tạ Thu Thâu và những người Trốkít Việt Nam? Hoàng Khoa Khôi, Những nhân chứng cuối cùng, Trần Ngươn Phiêu, Bà Phương Lan, Bùi Thế Mỹ trong Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu và Hồi ký Nam Đình, v.v…

Tác giả Hoàng Khoa Khôi trong tập sách “Nhìn lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam” trang 22, đã lên án nặng nề nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu đã giết hại những đồng chí của mình như sau:

“Khi Lê Văn Vững bị bắn chết trước nhà ở đường Albert 1er, Đa Kao.. Nhiều bạn than đã nhận diện được các sát thủ trong vụ này thuộc nhóm “công tác thành” của Dương Bạch Mai. (một đồng chí của Trần Văn Giàu. Tiếp theo Dương bạch Mai đã cho vây bắt các danh nhân trong Mặt Trận Quốc Gia Thống nhất như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, Trần Quang Vinh, Diệp Văn Kỳ cũng như một số nhân vật đệ tứ phải chịu chung số phận như Hồ Vĩnh Ký, cùng vợ là Nguyễn Thị Sương, Trần Văn Thạch. Chưa kể hàng ngàn các tín đồ Hòa Hảo ở Hậu Giang .. Khẩu hiệu “đánh chung, đi riêng” trở thành chủ trương tàn sát những nhóm “ đi riêng”.

Họ đặt một số câu hỏi cho Trần Văn Giàu như: Vì sao ông Giàu với danh tiếng sử gia, nhà văn hóa (có người ví ông với Chu Văn An) im lặng. Ông ngại gì? Sợ ai? Ở địa vị, tên tuổi (lẫy lừng) của ông, lẽ ra ông chẳng phải sợ ai, ngại gì. Trong thời kỳ tiêu diệt người Đệ tứ, vai trò của ông Trần Văn Giàu là gì? Nhưng ai có thể nghĩ rằng ông không hề hay biết? Một trong những người có thể là hung thủ trực tiếp là ông Nguyễn Văn Trấn (tác giả cuốn sách “Viết cho mẹ và Quốc Hội”) Nhưng ông Trấn trong sách không hề đả động đến chuyện này.

Nhận xét và so sánh nhà tù thời Pháp thuộc (nhà tù Tà Lài) và trại Cổng Trời (The Heaven Gate Prison) trong cuốn Hồi ký của tác giả

Theo Trần Văn Giàu trong phần thứ nhất, “Từ ngồi tù khám lớn đến vượt ngục Tà Lài”.

Đọc đoạn văn trích dẫn sau đây của ông Trần Văn Giàu mà thấm thía. Ông Trần Văn Giàu chỉ quên không cho biết rõ đã có một người tù nào trong trại tù Tà Lài thời thực dân Pháp đã chết vì kiệt lực, vì thiếu ăn, vì bị giam cầm, bị biệt giam, bị tra tấn tinh thần, bị xỉ nhục hay bị chết vì bệnh tật vì không có thuốc men!

Xin mời 300.000 ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” thời VNCH cùng đọc đoạn văn này để cùng suy nghĩ.

Đường lên trại giam Một đường đá nhỏ hẹp dắt đi đâu không biết, cỏ cây mọc tùm lum. Một thầy đội bảo:

7

– Đường vào căng đó, chúng ta nghỉ ăn sáng cái đã. Lính trải vài tờ nhật trình xuống cỏ, bày bánh mòi, đồ hộp, bình toong nước, ai có phần nấy.

– Y như hướng đạo sinh đi cắm trại mùa hè!

– Cứ quất no một bụng rồi sẽ xem ra sao. Sinh hoạt tổ chức trong trại giam Tà Lài

– Phong cảnh Tà Lài khá hữu tình. Đồn ngói của Tây, trại tranh của tù như giấu mình trong khu rừng mênh mông đầy muông thú, bên cạnh một con sông lớn nước bao giờ cũng trong và đầy, sông Đồng Nai. Bên kia sông về hướng Tây, một dãy núi xanh biếc (…) Khoảng trên của con sông, dài không biết bao nhiêu kilômét, nước đầy, chảy nhẹ, nhiều cá tôm, có cá sấu; chiều chiều đội đốn tre của anh Phúc thả bè về, quần áo quấn trên cổ, hát giọng chèo đò. (…) Một hôm chủ nhật, tốt trời, chúng tôi xin phép tổ chức “thi lội” ở khoảng sông này. Sếp Tây đồng ý (…) Nhiều buổi chiều biểu diễn của Minh (vua bơi lội) cũng được toàn căng tán thưởng, nhiều thầy chú ra xem, đôi khi xếp Tây cũng ra xem. Minh bơi lội như cá và đẹp như khiêu vũ Ba Lê ..(..) Tôi, sếp cùng hang chục anh em binh lính đứng gác trên chiếc phà cột ở bến. Vui quá là vui! Hai thằng sếp Tây, ở trần trùng trục, tay chống đầu gối cũng hét lên với mọi người. Tôi và Tào Tỵ đứng bên hông hai sếp, cũng hét hò.

– Ba cái nhà đó ở giữa một khu đất rộng chừng bảy, tám mẫu, cây to cao đã bị đốn sạch, nhưng cây nhỏ và cỏ tranh mọc lên rậm rì, có nơi lút đầu. Ngày chúng tôi lên tới đó thì Tây vừa mới làm xong một cái trại dài bằng tranh nứa chứa đựng khoảng năm, bảy mươi người, một cái nhà bếp, một trạm y tế cũng bằng tre. Từ nay về sau, mọi sự xây dựng ở trại giam này đều sẽ do bàn tay của anh em chúng tôi.

– Hễ còn trại tập trung thì còn thực dân Pháp và chiến tranh. Trại tập trung là nhà tù không án, không thời hạn. Giam giữ là chính. Cái chính không phải là đầy ải, bắt lao động.

– Sinh hoạt tư tưởng xem như là thường xuyên, lính gác cũng được dự, có khi cả xếp Tây nữa.

– Tháng 10 năm 1940, bọn tôi, có mấy trăm người bị giam ở trại tập trung Tà Lài. Trại nằm sát mé sông Đồng Nai. Tại đây có một bến phà (…) Ở đây, bản làng đồng bào Mạ cách xa Tà lài nhiều cây số, nhưng ngày ngày vẫn có người mang nỏ, mang gùi, xách chà gạc, xách thịt rừng đi qua đây, có khi một vài lít rượu. Đỡ buồn cho tụi tôi biết mấy!

Kết luận

Ở căng Tà Lài cuộc sống không đến nỗi cực khổ quá, có thể nói thảnh thơi là khác, được như vậy, không phải do chế độ của trại giam mà do tổ chức tù nhân của chúng tôi; công việc khoán phần lớn ở trong rừng, chỉ có mã ta đi theo cốt để giữ không cho chúng tôi trốn hơn là để thúc bách tù làm. Chỉ một lần sếp Tây đánh một đồng chí một gậy, đồng chí ấy quơ xà beng lên đỡ, tất cả anh em đều đứng lên, xẻng, cuốc, dao, mác trong tay, mắt đổ dồn vào tên xếp Tây, nó khiếp quá, bỏ đi luôn. Từ đó trở đi, không có vụ đánh đập nào nữa.

Thuốc men không biết đâu là đủ, nhưng sốt rét thì có ký ninh, uống nước thì có nước sông lọc bằng thuốc tím. Ở thì nhà tranh vách nứa, tự làm, nhưng được phát mùng, phát chiếu. Tây nó cốt được yên bằng việc tách tụi tôi khỏi nhân dân, không cốt được kết quả lao động khổ sai.”

Nguyễn Văn Lục

GS.Chu Hảo: RẤT NGHIÊM TRỌNG! …

GS.CHU HẢO: RẤT NGHIÊM TRỌNG! KHÔNG THỂ ĐỂ CHÌM XUỒNG!

KHÔNG THỂ ĐỂ CHÌM XUỒNG! 

Chu Hảo 

– bài gửi riêng Tễu Blog
.
Có nhiều sự cố “lỗi tại cậu đánh máy”, nhưng lỗi của “cậu ấy” lần này hơi bị to. Nghiêm trọng hơn và thảm hại hơn! Tôi muốn nói đến khúc nhạc đệm rền vang khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên diễn đàn (để đọc diễn văn khai mạc trong buối giao lưu trực tuyến nhân ngày 27 tháng 7 vừa qua tai Hội trường Bộ Quốc phòng) là giai điệu bài hát Ca ngợi Tổ quốc của Trung Quốc, rất nổi tiếng từ những năm 50 thế kỷ trước, và cũng mới được ông Tập Cận Bình cùng hát với dàn đồng ca.
Xem tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=xGxixVn4CTQ

Đây cũng có thể là lỗi kỹ thuật vô tình, như tôi đã từng được chứng kiến tại Lễ đón tiếp Chủ tịch Trần Đức Lương của Tổng thống Ấn Độ vào năm 2001. Khi chào cờ Việt Nam đáng lẽ phải cử bàiQuốc ca của ta theo nhạc điệu hành khúc Tiến quân ca của Văn Cao, thì bộ phận kỹ thuật của bạn cho phát bài Quốc ca của Việt Nam Cộng hòa thời trước 1975 theo nhạc điệu bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước. Bê bối hết sức! Lúc ấy tôi và anh Phạm Hồng Giang (nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi), đứng ở cuối hàng dọc, cố tình không đứng nghiêm và tìm cách ra hiệu cho cả đoàn biết là đây không phải Quốc ca. Nhưng đáng tiếc là cả đoàn vẫn đứng rất nghiêm cho đến nốt nhạc cuối cùng của bài “Này thanh niên hỡi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Chúng tôi được biết Chủ tịch Trần Đức Lương rất phàn nàn về sự cố và cũng được biết là anh Nguyễn Đình Bin (Nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại giao), người chịu trách nhiệm về lễ tân của đoàn đã nhận tất cả thiếu sót về sự không kiểm tra chu đáo của mình. Ngay sau đó anh Bin cho đoàn biết là bộ thuật kỹ thuật của phía bạn rút đĩa nhạc từ ngăn đánh dấu chữ “Việt Nam” trong rương đựng đĩa Quốc ca các nước mà không kiểm tra lại xem đó là bài nào. Trong bữa tiệc chiêu đãi tối hôm ấy Tổng thống Ấn Độ đã ngỏ lời xin lỗi Chủ tịch nước ta. Phía bạn xử lý vụ này thế nào chúng tôi không được biết. Nhưng về phía ta hình như anh Bin không việc gì. Và như vậy là hợp lý vì, theo chúng tôi, giá mà vị Chủ tịch Nước hoặc là không lơ đãng đến nỗi không nhận ra bài nào là Quốc ca của mình, hoặc nhận ra mà biết xử lý kịp thời, yêu cầu dừng nhạc lại thì hay biết bao nhiêu…

Tuy nhiên, chắc chắn đây là lỗi vô tình vì vào lúc ấy quan hệ giữa hai Nhà nước rất tốt đẹp và không ai có lợi gì trong vụ nhầm lần này. Nhưng lỗi kỹ thuật xẩy ra trong tối giao lưu nhắc đến ở trên thì hoàn toàn khác. Nó xẩy ra vào lúc quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc đang có rất nhiều trục trặc, bất thường và nguy hiểm. Lỗi kỹ thuật dù vô tình hay hữu ý ấy đều là mong muốn của những kẻ muốn ta trở thành chư hầu của bè lũ bá quyền Đại Hán Bắc Kinh, đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến Chủ tịch Trương Tấn Sang, đến tình cảm dân tộc chính đáng của đồng bào cả nước. Nếu là lỗi vô tình thì người chỉ đạo nghệ thuật của chương trình non yếu quá. Nếu là lỗi cố tình thì vấn đề trở nên hết sức nghiêm trọng, dù nó liên quan trực tiếp đến cấp lãnh đạo cỡ nào, càng cao càng nguy. Sự cố này không thể để “chìm xuồng”.

Những người lãnh đạo các cấp trong cuộc hẳn phải biết trách nhiệm của mình. Hãy chủ động xin từ chức nếu có lòng tự trọng, nếu không vì tai nạn nào đã làm đứt giây thần kinh xấu hổ. Mong lắm thay! 
.
Phố Hội, đêm 30.07.2015

Chu Hảo

‘Cơ chế’ ăn cắp (CSVN) “sản sinh” ‘Văn hóa ăn cắp’ (!)

Hệ thống ăn cắp sinh văn hóa ăn cắp

– Ngô Nhân Dụng

 
Nhà văn Sławomir Mrożek ở Ba Lan thời còn cộng sản có lần kể chuyện mấy đứa trẻ chơi tuyết. Chúng đắp một đống tuyết, rồi nặn một tảng tuyết lớn đặt lên trên, rồi vo một quả bong bóng tuyết đặt trên cùng. Buổi tối, bố mẹ lũ trẻ bị công an khu vực gọi tới “làm việc.” Ðồng chí bí thư nghiêm khắc cảnh cáo họ đã để cho con cái phản động, nói xấu tổ quốc xã hội chủ nghĩa! 
.
Bố mẹ lũ trẻ không hiểu gì cả. Ông bí thư xã hỏi: Chúng nó bầy ra trò đắp tuyết để làm cái gì? Thưa, trẻ con chơi làm thằng người bằng tuyết! Nói láo! Không thể bịt mắt được nhân dân đâu nhé! Bọn phản động vừa mới rỉ tai nhau trong nhà thờ, nói rằng chế độ này là một thằng ăn cắp ngồi trên đầu một thằng ăn cắp, lại ngồi trên đầu một thằng ăn cắp khác! Mấy người đang âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân! Về bảo con phá ngay cái đống tuyết xuyên tạc vai trò lãnh đạo của đảng tiền phong của giai cấp công nhân, nếu không nhân dân sẽ trừng trị!
 .

Các ông bố bà mẹ thành khẩn nhận lỗi không biết dậy con. Lập tức về nhà bắt lũ trẻ thi hành chỉ thị của ông bí thư, phá bỏ cái đài kỷ niệm ba thằng ăn cắp.

.
Sáng hôm sau, chỗ nào cũng thấy những hình người tuyết mọc lên. Bọn trẻ khắp làng đã lén cha mẹ thức suốt đêm chơi tuyết.
.
Sławomir Mrożek sống trong lòng chế độ cộng sản. Truyện ngụ ngôn của ông mô tả cơ cấu hệ thống chính quyền xã hội chủ nghĩa: Một thằng ăn cắp ngồi trên đầu một thằng ăn cắp, ngồi trên đầu một thằng ăn cắp khác!
.
Chế độ ăn cắp có hệ thống gọi là “đạo tặc chế” (kleptocratie)! Trong bài trước, mục này đã giải thích mánh khóe làm cách nào người ta đem tiền bán dầu lửa của PetroVietnam (tức là của tất cả mọi người dân Việt) tuồn qua một ngân hàng, từ đó chuyển sang những doanh nghiệp nhà nước, rồi cuối cùng chúng biến mất! Không thấy đồng tiền nào chạy ngược chiều trở lại túi thằng dân hết! Trong khi tiền chạy lòng vòng làm xiếc như vậy, chúng lần lượt rớt vào túi bọn chúng: Một thằng ăn cắp ngồi trên đầu một thằng ăn cắp, trên đầu một thằng ăn cắp khác! Việt Cộng chỉ sao chép bài bản của Cộng Sản Trung Quốc.
.
Ngày Thứ Hai, 27 Tháng Bảy năm 2015, thị trường chứng khoán Thượng Hải lại mất 8.5%, số tụt giảm trong một ngày lớn nhất kể từ năm 2007 đến nay. Tân Hoa Xã nói hai phần ba các cổ phiếu công ty tụt giá đến giới hạn 10%, phải ngưng mua bán, trong đó có các đại công ty của nhà nước như China Unicom, Bank of Communications, và PetroChina; cùng hai công ty chứng khoán Citic và Haitong. Nếu không có giới hạn 10% này thì không biết giá còn xuống đến bao nhiêu! Ngày Thứ Ba, 28 Tháng Bảy, thị trường lại tụt thêm gần 2% nữa.
.
Thế nào đảng Cộng Sản cũng sẽ đem thêm tiền ra “cứu giá” cổ phiếu. Tiền của một tỷ người dân sẽ được đổ ra bảo vệ giá trị cổ phần các công ty nhà nước! Trong ba tuần qua họ đã dùng 800 tỷ đô la Mỹ, giúp thị trường lên giá 20%. Nhiều đại gia thấy giá lên như thế đủ cao rồi bèn bán cổ phiếu để thu lời, cho nên giá lại xuống. Mỗi lần thị trường lên hay xuống là hàng tỷ đô la được chuyển từ túi người này sang túi người khác. Trong một bài trước, mục này đã giải thích giới tài phiệt xã hội chủ nghĩa làm cách nào chuyển hàng tỉ đô la từ túi các nhà đầu tư lẻ ngây thơ vào túi các quan lớn, qua hệ thống tài chính xam xám, không ai kiểm soát. Công tác chữa cháy thị trường là một cơ hội bằng vàng cho các đại gia tài chánh chuyển tiền công vào túi mình. Vẫn một cảnh tượng quen thuộc của “nền văn hóa ăn cắp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Một thằng ăn cắp ngồi trên đầu một thằng ăn cắp, ngồi trên đầu một thằng ăn cắp khác!
.
Những thằng ăn cắp ngồi trên cùng mới có khả năng huy động tiền của PetroVietnam, PetroChina hay Nhân Dân Ngân Hàng. Nhưng trong hệ thống đạo tặc chế thì bất cứ một “công dân hiền lành” nào cũng được đào luyện dần dần biến thành đạo tặc. Bởi vì họ sống trong nền văn hóa ăn cắp theo định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc tính Trung Hoa!
.
Phải kể hầu quý vị chuyện một công dân hiền lành ở bên Tàu là họa sĩ Tiêu Nguyên (Xiao Yuan). Tiêu Nguyên là họa sĩ, làm quản thủ mỹ thuật trong thư viện của Học Viện Mỹ Thuật Quảng Châu, cho đến khi về hưu năm 2010. Thư viện treo nhiều tranh, ông từng là tác giả nhiều sách về mỹ thuật Trung Hoa. Nếu không sống dưới chế độ cộng sản thì chắc suốt đời ông vẫn chỉ là một quản thủ thư viện, một nhà nghiên cứu hiền lành, lương thiện.
.
Cuối Tháng Bảy 2015, Tiêu Nguyên mới bị kéo ra tòa, cung khai sự nghiệp ăn cắp tranh từ thư viện trong ba năm trời, ăn cắp ngay trước mắt mọi người.
.
Năm 2003, Học Viện Mỹ Thuật bắt đầu đưa cả bộ tranh trong thư viện vào computer lưu trữ, cho giới nghiên cứu dễ tìm tòi. Khi tiến hành công việc “số hóa” (digitize), Tiêu Nguyên khám phá ra có nhiều bức treo trên tường là tranh giả. Có người treo tranh giả vô đó, tức là các bức tranh thật đã bị đánh tráo mất rồi. Khám phá ra tội trộm cắp ngay trong sở làm, Tiêu Nguyên lẳng lặng không nói gì với ai; vì đã thấy một cơ hội cho chính mình làm ăn. Sống trong một xã hội nhìn quanh thấy toàn bọn ăn cắp ngồi trên cao, mọi người không ai được tó giác mà còn phải vỗ tay hoan hô chúng, được dịp ăn cắp mà bỏ qua thì ngu dại quá!
.
Tiêu Nguyên đi mua những tờ giấy trắng cũ và cả loại mực cũ, càng cũ càng trông giống tranh cổ. Mỗi cuối tuần, ông mượn các bức tranh thật về nhà, sao chép tỉ mỉ. Cho đến khi bức tranh giả hoàn tất thì mang đến treo lên tường; chả ai biết gì cả. Làm ăn như vậy, tới năm 2006 Tiêu Nguyên phải ngưng, vì cả bộ sưu tập chuyển đi nơi khác. Tổng cộng Tiêu Nguyên đã ăn cắp được 143 bức tranh, bán 125 bức thu vào 34 triệu đồng nguyên (khoảng gần 6 triệu đô la Mỹ). Phần lớn tranh quý bán qua nhà đấu giá Trung Quốc Gia Ðức Phách Mại (China Guardian Auctions). Tranh đem bán được giá vì có tác phẩm của các họa sĩ nổi danh trong thế kỷ 20 như Tề Bạch Thạch (Qi Baishi), Trương Ðại Thiên (Zhang Daqian) Năm 2012 một bức tranh của Tề Bạch Thạch bán ở Bắc Kinh với giá 72 triệu nguyên! Những tranh cổ được giá là của họa sĩ Chu Ðáp đời Thanh (Zhu Da, 17;1626-1705).
.
Khi bị bắt, Tiêu Nguyên còn giữ 18 bức tranh quý, trị giá 77 triệu nguyên, gần 12 triệu rưỡi đô la. Chắc các bức tranh đó sẽ được trả lại cho Học Viện Mỹ Thuật Quảng Châu. Nhưng số phận chúng sau này sẽ ra sao, khó đoán được. Bởi vì những bức tranh Tiêu Nguyên vẽ giả đem treo trong thư viện sau đó vẫn có người đánh tráo bằng những bức tranh “giả hơn!” Ra trước tòa, Tiêu Nguyên khai ông nhìn thấy ngay là tranh giả, sao chép vụng về, xấu hơn tranh giả của ông nhiều! Tất nhiên khi nhìn thấy ông cũng không dám tố giác những tay ăn cắp kế nghiệp mình. Vì nếu mở cuộc điều tra thì người ta sẽ khám phá ra những bức tranh bị đánh tráo đem đi cũng là đồ giả, họ sẽ hỏi tới ông.
.
Hiện tượng này gọi là “lỗi hệ thống!” Ðảng Cộng Sản đặt trên hai hệ thống, tuyên truyền mê hoặc và bạo lực đàn áp. Ðó cũng là nghề chuyên môn của những tay lừa đảo và ăn cướp. Một thằng bịp bợm và ăn cướp rất khó đi tố giác một thằng cướp và bịp khác. Vì chính nó sẽ phải phơi bày tội lỗi của mình! Những anh tham nhũng ngập mặt không ai dám đụng tới vì chuyện đổ bể ra sẽ liên lụy rất nhiều người, cả guồng máy không chạy được nữa. Sự nghiệp ăn cắp của Tiêu Nguyên chỉ bị phát giác tại… Hương Cảng! Một cựu sinh viên Viện Mỹ Thuật Quảng Châu thấy một bức tranh cổ bày bán ở Hồng Kông có đóng dấu thư viện của trường mình, bèn đi báo cảnh sát. Báo chí loan tin, lúc đó cả làng mới biết!
.
Trong các thư viện và bảo tàng viện bên Tàu không biết có bao nhiêu ông Tiêu Nguyên! Viện bảo tàng tỉnh Hà Nam năm 2013 phát giác nhiều cổ vật là đồ giả, theo tin báo chí nhà nước! Năm ngoái, viện bảo tàng Lộc Thành, tỉnh Liêu Ninh (Lucheng; Liaoning) khám phá ra trong số 8 ngàn món trưng bày có một phần ba là đồ giả, phải tạm đóng cửa! Với nền văn hóa ăn cắp theo định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển rực rỡ như thế, từ nay đi thăm các viện bảo tàng ở bên Tàu quý vị nên cẩn thận.
.
Người Trung Hoa bây giờ chắc biết ơn Thống chế Tưởng Giới Thạch. Năm 1937, khi quân Nhật uy hiếp Bắc Kinh, ông đã cho di tản tất cả các đồ trân ngoạn trong cố cung nhà Thanh, chạy giặc tới đâu ông ôm theo tới đó, năm 1949 tất cả chuyển qua Ðài Loan. Nhờ thế, các thế hệ người Tàu sau này còn được ngắm những bức tranh cổ trân quý tại Cố Cung Bác Vật Viện. Nếu để lại trong lục địa, các vật quý đó chắc đã tiêu tán hết rồi!
.
Ăn cắp đồ cổ từ các đền chùa dễ hơn lấy từ các viện bảo tàng; và Việt Cộng không thua gì Trung Cộng. Có người khoe với tôi một pho tượng gỗ cổ, sau chuyến về thăm Việt Nam, cách đây hơn 30 năm. Chàng kể rằng một ông bí thư nào đó tiễn chân mình ra tận chân máy bay, lúc từ biệt mới nhét pho tượng vào túi xách tay của “Việt kiều yêu nước.” Ông bí thư nói nhỏ rằng pho tượng đó gốc ở chùa nào ra, nhưng không cho biết ông lấy lén lút hay công khai. Gần đây, chùa Kim Long ở Nha Trang vừa bị kẻ gian đánh cắp 39 tượng phật cổ. Hai anh ăn trộm này chắc không phải bí thư bí thiếc cái gì cả. Họ thuộc hàng ngũ thấp nhất, nằm dưới chân cả đám ba cấp bậc những thằng ăn cắp!
 .

Nguyễn Khắc Trung – KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

 FB_Sài Gòn Báo

THỬ BÀN VỀ : KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

Nguyễn Khắc Trung

Người viết bài xin bỏ qua các định nghĩa thế nào là kinh tế thị trường và thế nào là nền kinh tế XHCN. Vì đã có quá nhiều các học giả, các tác phẩm viết về những vấn đề này và nó đã trở nên quen thuộc như cơm ăn nước uống mỗi ngày.
Nhưng cũng nhiều học giả phải vò đầu, bứt tóc khi được hỏi “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” là gì ?
Vậy ta thử xét hình hài của đứa con lai này.

Trước hết là hệ thống ngân hàng, nơi bơm máu cho nền kinh tế.

Chúng ta hay nghe đến thuật ngữ : Sở hữu chéo hay đầu tư chồng chéo trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, vậy thực chất của nó là gì ?
Đầu tiên, tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam đều là loại doanh nghiệp tư nhân giả hiệu.
Các lãnh đạo chính trị phân chia quyền lợi với nhau và chi phối các tập đoàn kinh tế nhà nước. Các tập đoàn đó lập ra ngân hàng thương mại cổ phần với danh hiệu là tư nhân nhưng thực chất thì do một tay chân thân tín của lãnh đạo đứng làm chủ. Các ngân hàng này lại thành lập bên dưới các cơ sở tài chính hay công ty đầu tư để đứng tên vay tiền từ Ngân hàng. Tất nhiên việc giải ngân sẽ rất dễ dàng, sau đó các công ty đầu tư sẽ rót tiền cho các dự án thường là có sẵn và cũng là “sân sau” của mình, các dự án thường là thương mại, chế biến và đặc biệt là bất động sản. Các dự án này lại được đẩy giá trị lên rất cao để vay được nhiều tiền. Người viết bài từng đi theo một “đại gia” đứng dưới một tập đoàn nhà nước đi mua một khu đất ở Hà Nội. Chủ nhân khu đất vàng này là một HTX thủ công nghiệp thời bao cấp. Ông chủ phát giá 14tỷ (thời giá lúc đó), vị “đại gia” nói nhanh :
– 14 tỷ à ? 16 bán không ? Hay 20 tỷ nhé ?
Và miếng đất được giao dịch với giá 20 tỷ, khi nó được đưa vào dự án để thế chấp vay tiền từ ngân hàng thì giá trị đã là 200 tỷ. Giải ngân rất nhanh chóng vì thực chất tất cả đều chỉ là cửa thu tiền cho lãnh đạo.

Thế là tiền từ ngân hàng được rót xuống các công ty đầu tư rồi chảy xuống các dự án rồi lại quay ngược về ngân hàng. Đương nhiên điều đó là bình thường trong nền kinh tế thị trường, nhưng khác biệt ở đây là “Sở hữu chéo” hay nói nôm na như một nhân vật trong Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung là “ Tay phải đánh bạc với tay trái”. Họ không chỉ là chủ ngân hàng hay công ty đầu tư mà còn nắm trong tay nhiều dự án bất động sản hay cổ phiếu để lại góp vốn vào ngân hàng, mở ra cơ sở đầu tư khác hoặc thâu tóm ngân hàng khác. Nhờ những đòn bẩy này, họ trở thành đại gia.
Nhưng ông chủ thật sự chính là nhà lãnh đạo chính trị và các tập đoàn kinh tế nhà nước nằm trong quỹ đạo của ông ta.
Nhưng vì sao mà người ta có thể tiến hành được các nghiệp vụ đó? Chẳng lẽ ngân hàng không có sổ sách hay hồ sơ thẩm định minh bạch ?Vì mỗi lần cho vay ra lại là một lần tích lũy nợ xấu, người ta ỷ thế làm liều vì lý do nào ? Họ tin rằng sẽ được ông chủ thật sự bảo vệ ?

Bằng các chính sách công nghiệp hóa các lãnh đạo chính trị làm ra những lề luật có lợi cho mình. Khi người gian làm luật thì kẻ chấp hành ở dưới sẽ có thủ thuật để lách luật. Chuyện chỉ bùng nổ khi có đấu đá ở tầng trên cùng và “đại gia” nhập kho là điều phải xảy ra vì đã bớt xén sau mỗi lần “nước chảy qua họng” và nhiều lý do khác. Danh từ kinh tế và bảo hiểm gọi là “moral hazard”

Và nguồn tài nguyên quốc gia :

Người viết không bàn tới lãnh vực tài nguyên gồm các khoáng sản như than đá, dầu mỏ, bô – xít… đang được bán với giá nguyên liệu thô cho nước ngoài để thu tiền trực tiếp và nhanh thay vì tinh chế. Mà là một tài nguyên lớn nhất và cũng thể hiện hiện rõ nhất cái bản diện lại mục của đứa con tật nguyền “ kinh tế thị trường định hướng XHCN” đó là ĐẤT ĐAI.
Hiến pháp nước CHXHCN VN quy định : “Đất đai là sở hữu toàn dân” và nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Một sự định hướng rất tinh vi và có phần đểu cáng.

Như vậy đất đai nằm trong tay nhà nước, và các địa phương đều được dùng tài nguyên này như một thứ tư bản.Họ thi đua thực hiện những dự án quy mô trong mục tiêu tạo ra công ăn việc làm và để địa phương khỏi bị loạn, họ bèn phát huy sáng kiến là lập ra công ty đầu tư. Các công ty này vay của ai? Của các ngân hàng tại địa phương.
Như vậy chúng ta có các công ty của nhà nước ở địa phương, đi vay các ngân hàng và tổ chức tín dụng chủ yếu cũng của nhà nước ở địa phương, để thực hiện các công trình xây dựng hạ tầng hay dự án địa ốc, trên đất đai cũng do nhà nước địa phương quản lý và phân bố. Nói vắn tắt thì tay phải của nhà nước vay tay trái của nhà nước và thế chấp bằng đất đai cũng của nhà nước ở cấp địa phương. Và đảng viên cán bộ của nhà nước ở địa phương có thể làm giàu trong quy trình làm ăn này.

Tóm lại, cái định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam chính là cái túi tham của lãnh đạo và một số đảng viên. Chả thế mà ông TBT Nguyễn Phú Trọng luôn luôn “Kiên định với mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

NKT

Kỳ sau : Những rủi ro tiềm ẩn.

Sài Gòn Báo's photo.