“BÌNH LUẬN GIA, CÁC ÔNG/ BÀ LÀ AI?” – Hoàng Lan Chi

“BÌNH LUẬN GIA, CÁC ÔNG/ BÀ LÀ AI?”

Author: Hoàng Lan Chi Posted on: 2017-05-24

Hôm nay nghe Ngụy Vũ nói về “bình luận gia Thu Nga” của đài SBTN-Texas, H.oàng Lan Chi bật cười.

Đây: click vào link, chọn ngày May 23, 2017 . Phần 1, phút thứ 57 . Chờ chút cho nó load.
 .
Với tôi thì chỉ “biết” và chưa nghe bao giờ nên không dám có ý kiến gì về “bình luận gia Thu Nga” của Texas cả.
 .
Nhưng hiện nay, Hoàng Lan Chi rất chán:
 .
Xem bài của Nguyễn Đạt Thịnh. Ông này từng làm lớn về truyền thông trước 75. Năm năm trước ông viết còn khá. Sau này quá tệ. Tệ vì ông sa đà vào thù oán cá nhân hay lý do gì đó không biết nên viết rất hồ đồ. Tuổi già mà ông hung hăng chửi bới người khác. Bây giờ, ông có thái độ, giống như “điên cuồng” khi viết bài tấn công Trump rất nhảm nhí.
 .
Người mà Hoàng Lan Chi chán thứ hai là ông Ngô Nhân Dụng. Bài ông hình thức cũng chẳng hay vì từ ngữ ông dùng không co gì đặc biệt và nội dung thì ‘cạn cợt’ và nhiều khi rất “ấu trĩ”.
 .
Có lẽ một số người Việt, bị cay cú vì tiên đoán Hillary thắng chắc như bắp nên bây giờ bị xấu hổ với thính giả mà có thái độ này?
Họ tự làm giảm phẩm giá của họ khi moi móc tiểu tiết những hành vi cử chỉ của Trump hay Melania. Bộ không còn chuyện để nói hay sao mà dùng clip của tụi media Mỹ thổ tả rồi chụp mũ là Melania hất tay Trump?!!! Tôi tự hỏi đến lúc nào họ sẽ viết , vd nhé ” Theo nguồn tin của vài công chức Tòa Bạch Ốc thì một tháng nay Trump không thực hiện nghĩa vụ làm chồng khiến Melania cáu kỉnh bực bội và trách móc”. Quý bạn có tin là đến lúc nào đó, media thổ tả Việt dám bịa chuyện và viết tin “hạ cấp” như thế không? Tôi tin là có thể có vì tôi chứng kiến mấy tháng nay vài kẻ đã hết sức hạ cấp, vô giáo dục như thế.
Họ trở thành “kẻ phản quốc” khi họ thờ ơ trước sự thành công của Trump trong chuyến công du đầu tiên. Thậm chí có kẻ còn bôi bác rằng nghi lễ long trọng ấy là do đôi bên thỏa thuận trước và ngày xưa Obama là người thích giản dị!
Họ trở thành kẻ ti tiện vì không dám công nhận thành tích của Trump là ( chỉ số kinh tế cao nhất; với hợp đồng 111 tỷ MK sẽ đem được bao nhiêu jobs cho người Mỹ nếu chính phủ giao cho các công ty vũ khí có nhiều trụ sở ở Mỹ) mà họ bôi bác là vầy ( Ông Á Rập mua cái gì, để làm gì mà chịu xuất tiền ra nhiều thế? Họ giàu quá nên xuất tiền… ủng hộ Mỹ của Trump? Hay họ đang ngại Trung Đông đang bốc lửa với IRAN, SYRIA, ISIS, TURKEY… cần Mỹ làm cây dù?)
Hiện nay với tôi thì Vũ Linh xứng đáng là bình luận gia. Lý do: bài ông của ông bao giờ cũng khá dài vì nhiều chứng cớ, chứng tỏ ông mất nhiều thời gian cho bài viết. Khi so sánh hành động của Trump với bất cứ ai, ông phải Google để tìm lại tài liệu cũ cho chính xác. Khi so sánh chính sách của Trump với ai, ông cũng phải có ngay số liệu cũ. Ngoài ra, ông nêu nhận định ( tức bình luận dựa trên các dữ kiện ông có) chính xác và tử tế. Giọng văn ông không hằn hoc mà ưa nhuốm vẻ ( diễu cợt, mỉa mai. Nói nôm na là ông chọc quê phe Dân Chủ và fans Dân Chủ!)
 .
Có một người tôi cũng tiếc đó là Kinh tế Gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Tôi chỉ không hạp ô Nghĩa trong vấn đề phim Terror in Little Sài Gòn thôi, còn khi ông bình luận thời sự Hoa Kỳ sau này thì tôi cho là ông xứng đáng với ba chữ “bình luận gia”. Ông có tìm tòi, nghiên cứu tài liệu cũ mới để bổ sung hay làm luận cứ cho quan điểm của ông ( tương tự Vũ Linh). Tôi nghe đồn, nghe đồn nhé, ô Ngô Nhân Dụng là ‘bố già” của báo Người Việt nên ông này “ấm ức” do show/bài của ông không “hot” nên ông sử dụng quyền lực để “bịt miệng” ông Nguyễn Xuân Nghĩa ! ( cười cười). ( nếu không phải thế thì ô Dụng mở lại mục của ô Nghĩa đi? Hay là sợ bọn media Mỹ thổ tả chúng quậy vì chúng ngán lập luận và kiến thức của Nguyễn Xuân Nghĩa???)
 .
Còn các “mợ” bình luận gia?? Tôi chưa biết  nhưng nếu có “Mợ” nào, chỉ copy and paste, thì làm ơn dùng đúng chữ nghĩa một tí kẻo ông Ngụy Vũ mắng cho là ” chịu ngu, hám danh, làm vậy, để cho người khác lợi dụng mình”!
.
Cá nhân tôi không phải “bình luận ra” gì ráo. Tôi chỉ là người viết “tạp ghi” nêu ý kiến ngắn hay tóm tắt tin tức gọn cho mọi người thôi vì biết có nhiều người bận bịu không đọc được hết. Tôi cũng là người “fix” mỗi khi có ai đó bôi nhọ hay vu cáo cho Trump (và cả người quốc gia). ( cái này nên ví Hoàng Lan Chi là Lục Vân Tiên thì đúng hơn. Giũa đường thấy việc bất bằng hỏng tha! Cười.)
.
Hoàng Lan Chi
5/2017
//

 

Nếu Ngày Ấy “Bác” Đừng Đi Cứu Nước… – Lão Móc

NẾU NGÀY ẤY “BÁC” ĐỪNG ĐI CỨU NƯỚC…

Lão Móc –     

“Cộng sản Lenin cách đây gần một thế kỷ có bảo rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn giẫy chết của chủ nghĩa tư bản. Nhưng nó đã giẫy một thế kỷ rồi, chẳng những không chết mà cứ khoẻ mãi ra. Còn cái chính quyền của ông ta dựng lên, thì nó đã… chết không kịp giẫy. Bây giờ, chính quyền CSVN cũng đang ở giai đoạn hấp hối. Nhưng đây là giai đoạn hấp hối của lịch sử. Nó có thể kéo dài một năm, hay ba năm, chứ không phải là hấp hối của một con người chỉ trong một hai hôm. Chúng ta kiên nhẫn chờ đợi, nhưng kiên nhẫn chờ đợi không phải là thúc thủ. Người Mỹ có câu: “Ngòi bút còn mạnh hơn lưỡi gươm”. Cho nên nhiệm vụ của chúng ta – ở hải ngoại cũng như ở trong nước thì lấy đâu ra vũ lực mà chống đối. Vì vậy, chúng ta nên dùng ngôn luận, nên dùng ngòi bút, dùng tiếng nói để soi sáng cho người nào còn tăm tối, còn bị chúng mê hoặc, lừa bịp. Số người này ở trong nước còn nhiều, thậm chí có một số kiều bào ở hải ngoại về cũng có những nhận thức thật sai lầm.

Trách nhiệm của chúng ta là phải đưa được ánh sáng chân lý, đưa được lẽ phải, làm thế nào cho dân tộc Việt Nam hiểu được thế nào là tự do, hiểu thế nào là nhân quyền; nhiều người còn mù mờ, ngay cả ý thức về tự do, về nhân quyền họ vẫn chưa có. Nếu làm sáng tỏ được tất cả những điều đó thì vấn đề (giải thể chế độ độc tài để quang phục quê hương) sẽ mau chóng được giải quyết”.

Ai trong chúng ta cũng biết nhận xét trên đây về chế độ CSVN là chính xác, nhưng tại sao cho tới nay chế độ VC chưa sứt cọng lông chân nào, lại còn sống hùng, sống mạnh, nói chi đến chuyện… chết không kịp giẫy – như chế độ cộng sản Liên Sô đã giẫy chết ngay cái nôi của nó.

Lý do là vì đảng CSVN cai trị đất nước bằng quyền lực và họng súng.

  • -Với tiền bạc thủ đắc được từ quyền lực, VC chủ trương “tát cạn, bắt lấy” 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại bằng mọi thủ đoạn. Bọn chúng dùng tay sai và các đảng phải hoạt đầu, “đảng phái đàn em” của chúng tìm mọi cách đánh phá gây chia rẽ trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.
  • -Trong khi đó, VC dùng chính sách bưng bít thông tin đối với 90 triệu người dân trong nước. Do đó, làm sao người dân trong nước hiểu được thế nào là tự do, dân chủ, nhân quyền.

Ngay cả những thảm cảnh mà trẻ em và phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu như phải trần truồng cho ngoại nhân lựa chọn, dùng thử trước khi mua về làm vợ tập thể hoặc sau đó đem đi bán vào động mãi dâm, rất ít người dân trong nước được biết. Ngay cả những chuyện công an đánh chết người. Chuyện Trung Quốc đuổi bắn ngư dân VN, chuyện tàu hải giám TQ cắt cáp của tàu Bình Minh 2 này nọ v.v… vốn là những chuyện “xa lạ” đối với đa số người dân trong nước!

Chỉ có một số người có internet mới có thể biết được những chuyện này.

Một vài thí dụ như vụ xử án “công tử đỏ” Cù Huy Hà Vũ, vụ xử 7 dân oan ở tỉnh Bến Tre cách đây mấy năm chỉ có những người liên hệ mới được biết. Và người Việt ở hải ngoại biết qua báo chí điện tử. Cũng như mới đây như vụ xử án Bùi Thị Minh Hằng, vụ một trong những người thuộc môn phái Pháp Luân Công tại VN doạ giựt sập lăng Hồ Chí Minh bị chết trong tù.

Trong khi đó thì báo chí VC, các cơ quan thông tin tuyên truyền của VC rùm beng lên về những việc làm của các lãnh tụ VC, như chuyện Trương Tấn Sang tuyên bố sẽ “trừ sâu” để những con sâu sẽ không còn làm sầu nồi canh đất nước; trong khi chính ông ta là “Con Sâu Chúa”! Ông TBT Nguyễn  Phú Trọng làm thơ theo kiểu thi ca hò vè cổ động bầu cử.

Và ngay sau khi 3 tàu hải giám của Trung Cộng đàn áp phá hoại công tác thăm dò dầu hỏa VN (Petro Vietnam PVN) thì Đảng và Nhà nước ta lại làm chuyện hổng giống ai là tổ chức cuộc hội thảo sự kiện 100 năm (5-6-1911 – 5-6-2011) Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Trong cuộc hội thảo có sự hiện diện của nguyên TBT Lê khả Phiêu, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Trưởng Thông Tin Đinh Thế Huynh.

Ở hải ngoại ai cũng biết chuyện Hồ Chí Minh là một huyền thoại.

Và chuyện “Từ thành phố này người đã ra đi/Bao năm ước mơ mong Bác trở về” chỉ là chuyện con anh con trai tên Nguyễn Sinh Cung, tốt nghiệp tiểu học, cha là Tri Huyện Nguyễn Sinh Sắc, bị bãi chức vì say rượu đánh chết người phải bỏ xứ vào Nam, bèn tìm cách trốn xuống tàu đi qua Pháp với ước mơ xin vào học Trường Thuộc Địa để sau này về nước noi gương… Hoàng Cao Khải!

Thế nhưng tại sao lúc nào VC cũng cố bám víu vào huyền thoại Hồ Chí Minh. Chuyện rất dễ hiểu vì quyền lực mà Đảng CSVN đang có dựa trên huyền thoại đảng CSVN có công đánh Pháp, đuổi Mỹ thống nhất đất nước và Hồ Chí Minh là người lãnh đạo cuộc chiến tranh này!

Trong khi đó, trong thực tế, ai cũng biết chính vì thi hành chỉ thị của CS Quốc Tế như một tên tay sai đắc lực, lúc dựa vào Tàu, lúc ngã vào Nga, HCM đã dẫn đưa dân nuớc đến tình trạng thê thảm như bây giờ. Trong khi các nước khác không theo chủ nghĩa cộng sản thì hiện nay dân chúng đã được hưởng tự do, dân chủ, nhân quyền và đất nước đã phát triển về mọi mặt.

*

Cứ mỗi lần động dao, động thớt là CSVN lại lôi cái phao Hồ Chí Minh ra!

Vào thập niên 90, khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ngay tại cái nôi của nó là Liên Xô thì CSVN lại bày trò kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cộng với cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi trong thực tế thì lúc còn sinh tiền ông HCM đã thú nhận là “không có cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh!” “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là cái mà đảng CSVN bịa đặt ra trong cơn chết chìm ý thức hệ!

20 năm sau, CSVN lại làm sống dậy cái gọi là Hội  thảo kỷ niệm 100 “Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” cũng chỉ là để tiếp tục lừa bịp 87 triệu người dân trong nước – như đã tổ chức lễ hội “Ngàn Năm Thăng Long”!

Nhiệm vụ của những người cầm bút vì Lẽ Phải và Sự Thật là phải vạch trần những thủ đoạn bịp bợm của đảng CSVN về việc khai thác huyền thoại Hồ Chí Minh.

Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng Sản là gì tự nó sẽ tan đi!”

Xin sửa 2 câu thơ trên của tác giả tập thơ “Hoa Địa Ngục” thành:

“Nếu mọi người dân Việt Nam đều biết
Chuyện Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước chỉ là bịa đặt
Thì trước sau gì Việt Cộng sẽ ra đi!

*

Xin mượn bài thơ “Nếu ngày ấy…” của tác giả Cậu Bảy trong báo điện tử có nội dung rất độc đáo như sau:

“Nếu ngày ấy, bến Nhà Rồng đóng cửa
Người lang thang quay trở lại Nghệ An
Làm giáo làng hay một chân thơ lại
Thì ngày nay dân đã thoát lầm than.
Nếu ngày ấy, sông Sàigòn nổi sóng
Người đang leo bỗng rớt mẹ xuống sông
Bấy sấu đói đã reo mừng rước bác
Thì ngày sau xương đâu trắng cánh đồng.
Nếu ngày ấy, trên boong tàu đêm tối
“Người lao công đang quét dọn hành lang”
Cơn sóng dữ tiễn đưa về đáy biển
Thì ngày nay quê mẹ đã bình an.
Nếu ngày ấy, Paris trời trở lạnh
Cục gạch hồng không đủ ấm qua đêm
Bác chết cóng trên mình cô đầm nái
Thì ngày nay tổ quốc đã êm đềm.
Nếu ngày ấy, tên toàn quyền rộng lượng
Cho người vào trường thuộc địa khỏi thi
Mẫu quốc đã có thêm Hoàng Cao Khải
Mà An Nam cũng thoát cảnh “bác đi”.

Nếu nếu nếu, thêm một ngàn lần nếu
Bác chẳng đi. Đi chẳng có ngày về
Về, thượng mã phong bờ hang Pắc Bó
Thì ngày nay đâu có lũ u mê!”

để chấm dứt bài viết này.

Và xin đề nghị độc giả tiếp tục “Nếu, nếu, nếu, thêm một ngàn lần nếu” để bài thơ “Nếu ngày ấy…” của tác giả Cậu Bảy có mục đích vạch trần cái thủ đoạn bịp bợm của cái gọi là “Bác Hồ ra đi tìm đường cứ nước” sẽ dài ra cả ngàn trang để toàn dân đều biết… Việt Cộng là gì tự nó sẽ tan đi!

LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com
Cập nhật ngày 24.05.2017

//

Viết về Nguyễn Minh Cần – Vũ Thư Hiên.

· 9 hrs ·

 Tháng 5, lại nhớ thương một người đã xa ta.

LỊCH SỬ LẠI MẤT THÊM MỘT NHÂN CHỨNG
Vũ Thư Hiên

A-A Nguyen Minh CanĐành rằng đã 88 tuổi trời, ông có chia tay với chúng ta âu cũng là lẽ thường. Nhưng mới hôm nào còn được nghe tiếng ông sang sảng bên kia đầu dây, mà hôm nay không còn có thể trò chuyện với ông nữa, thì tin ông mất vẫn cứ làm tôi choáng váng, như thể tin không thực. Cảm giác của con người là vậy – chúng ta quen thấy mọi vật như một cái gì đó vĩnh hằng, cho đến khi không thấy nữa mới biết là không còn.

Cuộc đời Nguyễn Minh Cần gắn liền với lịch sử Việt Nam cận đại. Rõi theo những khúc quanh của cuộc đời ông bằng con mắt chăm chú ta có thể thấy những bước dịch chuyển của tư duy hướng Thiện của những người như ông trong bối cảnh cái Ác lộng hành.

Nguyễn Minh Cần tham gia cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc rất sớm. Trong phong trào này ông trở thành đảng viên cộng sản cũng rất sớm. Năm 18 tuổi ông đã được bầu làm uỷ viên thường vụ thành uỷ thành phố Huế. Năm 25 tuổi đã là uỷ viên thường vụ thành uỷ Hà Nội, kiêm phó chủ tịch thành phố. Những người được đảng cộng sản tín nhiệm như ông không phải hãn hữu, nhưng cũng không nhiều. Nói tóm lại, Nguyễn Minh Cần được đảng đánh giá cao, được đặt vào hàng những đảng viên ưu tú. Để bồi dưỡng cho hàng ngũ kế cận, năm 1962 ông được cử sang Liên Xô (cũ) học tại Trường đảng cao cấp ở Moskva. Đảng không tin tưởng Nguyễn Minh Cần còn tin tưởng ai.

Thế mà đùng một cái, người đảng viên ưu tú ấy, cùng với một số đảng viên cũng ưu tú không kém, vào một ngày đẹp trời bỗng trở thành “phản động”. Cứ thông đồng bén giọt, trên chính trựờng Việt Nam ắt ta gặp một Nguyễn Minh Cần ở tầng cao nhất trong hệ thống cai trị, chứ không phải Nguyễn Minh Cần mà ta quen biết. Không biết đảng có ngạc nhiên với sự thay đổi đột ngột trong người đảng viên ưu tú của mình không, chứ dân thường ngạc nhiên lắm. Từ ngạc nhiên đến tò mò, từ tò mò đến tìm hiểu là những bước ngắn. Tìm hiểu rồi, người ta mới ngộ ra: những đảng viên cộng sản này không coi đảng là totem. Khốn nạn, thay vì phải sùng bái đảng, coi đảng là lý tưởng, họ lại coi đảng không hơn bộ quần áo, cần thì mặc, thấy nó chật, nó rách, thì vứt.

Số là vào thời gian này (đầu thập niên 60) Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), đứng đầu là Lê Duẩn và tà lọt Lê Đức Thọ, chủ trương theo đường lối Mao Trạch Đông đã phóng tay phát động cuộc chiến tranh không tuyên bố gọi là “chiến tranh nhân dân giải phóng miền Nam”. Người không chăm chú theo dõi những bước đi của ĐCSVN thường tưởng nhầm tổng bí thư Lê Duẩn là người chống Trung Quốc, không hề biết rằng Lê Duẩn từng coi Mao Trạch Đông là sư phụ, nhất nhất nghe theo những huấn thị của sư phụ từ hành dinh Trung Nam Hải. Chuyện Lê Duẩn trở thành kẻ chống Trung Quốc là chuyện về sau, vì những nguyên cớ rất đời thường.

Những người sau này bị gọi là “phản động”, ở trong nước, cũng như những người được đảng cử đi học chủ nghĩa Mác ở Liên Xô, bày tỏ với đảng của họ sự không đồng tình với đường lối theo đuôi Trung Quốc. Bằng cách rất nhẹ nhàng, với những kiến nghị, thư gửi, đầy từ ngữ lịch sự, họ lễ phép viện dẫn nghị quyết Đại hội Đảng 3 năm 1960 nhấn mạnh chủ trương “hoà bình thống nhất đất nước”, những mong đảng xem xét lại sự tiến hành “chiến tranh nhân dân ở miền Nam”, chẳng những gây ra tai hoạ huynh đệ tương tàn, mà còn phá nát những gì đã xây dựng được ở miền Bắc, xin đảng đừng đi theo mô hình Trung Quốc để biến xã hội Việt Nam thành trại lính. Đồng thời, họ cũng ôn tồn “xin” đảng mở rộng dân chủ trong đảng cũng như trong toàn bộ xã hội. Không có thể nói là với những phát biểu ôn hoà như thế là hành động chống đảng.

Nhưng Duẩn-Thọ, với tư duy độc tài từ trong máu, không chịu được những phát biểu chứng tỏ sự không ngoan ngoãn vâng lời đã nổi sùng, ra lệnh tống giam vô thời hạn và không cần xét xử đám “phản động” trong nước trong cái gọi là “Vụ án tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”, nói ngắn là “vụ xét lại chống đảng”. Với những kẻ hỗn láo ở nước ngoài mà tay đảng không với tới thì khó.

Trong khi đảng còn vắt tay lên trán chưa nghĩ ra kế gì, thì những kẻ hỗn láo nọ đã thẳng thừng tuyên bố ly khai với đảng. Nguyễn Minh Cần là một trong số người này. Bộ quần áo cộng sản thấy chật rồi, rách rồi, thì ông quẳng đi. Chỗ thích hợp cho nó, theo ông, là thùng rác lịch sử.

Trong sự chuyển biến tư duy của Nguyễn Minh Cần đã xảy ra một nghịch lý. Không phải do một tác nhân nào khác, mà chính những giảng viên Liên Xô của ông đã khéo léo chỉ cho ông thấy những cái lỗi thời, những yếu tố phản nhân tính trong lý thuyết mác-xít. Ở điểm này hai chúng tôi may mắn – cũng như ông, tôi được mấy giảng viên triết học và văn học ở Moskva cũng đã âm thầm chỉ cho tôi những cuốn sách nên đọc, để rồi sau khi đọc xong tôi mới vỡ lẽ ra rằng những giáo điều trước đây mình bị nhồi nhét vào đầu toàn là của giả. Bộ máy mật thám của đảng toàn năng đã làm việc rất tốt. Tôi vào tù. Nguyễn Minh Cần sống lưu vong.

Năm 1992 chúng tôi gặp lại nhau. Lần gặp gỡ này đáng nhớ. Nó là lần gặp lại của hai người trước sơ, nay đã thành thân – chúng tôi giờ có chung một con đường.
Ngày trước tôi chỉ biết một Nguyễn Minh Cần, thường vụ thành uỷ, phó chủ tịch thành phố Hà Nội, phụ trách mảng nông thôn, và cũng chỉ gặp ông trong những cuộc họp báo (xin giải nghĩa một chút: họp báo ở đây không có nghĩa thông thường được hiểu, mà là cuộc họp để dạy cho các cơ quan truyền thông biết cách giải thích chủ trương chính sách của đảng).
Khi ấy Nguyễn Minh Cần là quan, tôi là dân. Chúng tôi có vài cuộc trò chuyện bên lề, là hết. Sơ là sơ thế thôi, có biết nhau, nhưng không hề là bạn.

Giờ đây, chúng tôi có nhiều chuyện để hàn huyên – nhiều nhất là những chuyện thâm cung bí sử mà trước đây mỗi người chỉ được biết một mảng, biết mà không nói ra, không dám nói ra, vì… bộ quần áo đang mặc. Nay vứt nó đi rồi, chúng tôi bàn luận thoải mái, thênh thang. Chẳng hạn như chuyện cái chết thương tâm của bà hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn… Ái Quốc. Ông có viết về chuyện này khá tỉ mỉ. Bạn nào tò mò có thể tìm hiểu trên mạng internet, chẳng hạn trong web này: (http://www.conongviet.com/…/webfeb1710-nguyenminhcan-hcm%20…)

Cùng sống ở Moskva, chúng tôi gặp nhau thường. Từ những chuyện trò tâm sự tôi hiểu ông: Nguyễn Minh Cần đã tìm được con đường đúng cho mình nhờ lý trí thì ít mà nhờ trái tim thì nhiều.

Trong công việc, nhờ được tiếp xúc với nhiều người thuộc mọi tầng lớp xã hội, ông thấy nhiều chính sách của đảng ông không hợp lòng dân, không nhằm vào lợi ích của dân mà phục vụ. Át giọng thực tế mà ông thấy, những giáo điều trong ông cãi chầy cãi cối, nhưng ông ngày càng thấy nó đuối lý. Ông tỉnh dần.

Bước ngoặt đến, đảng không thuyết phục được ông thì đảng bắt ép ông phải tuân theo. Ông không còn lựa chọn nào khác là phải vạch trần những sai trái của đảng, rồi đến lúc ông phải tuyên bố ly khai nó.

Cuộc sống lưu vong, lại ở trong một nước cũng vẫn là cộng sản, không hề dễ dàng. Nhất là đối với những người không chỉ ly khai đảng của họ, mà còn ly khai với cả lý thuyết mác-xít mà Đảng cộng sản Liên Xô vẫn còn coi là kinh thánh. Người ta cho nhóm đảng viên cộng sản Việt Nam ly khai được tị nạn chính trị trong bối cảnh giữa hai đảng có những bất đồng. Một khi những bất đồng được dàn xếp xong, hiểm hoạ bị trục xuất về Việt Nam vẫn như thanh gươm Damocles lủng lẳng trên đầu Nguyễn Minh Cần và những người bạn ông. Chuyện này dài, nhiều chi tiết đau lòng, không biết Nguyễn Minh Cần có ghi lại đâu đó không?

Một người bạn thân của tôi, thượng tá Văn Doãn, tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, rất hiền lành, rất tốt bụng, đến nỗi được bạn bè tặng cho biệt danh “Doãn Bụt”, một trong những người tị nạn ở Liên Xô thời gian ấy đã không chịu nổi sức ép tâm lý nặng nề và bối cảnh nhiễu nhương nọ đã nhảy lầu tự sát. Khi được dịp trở lại Liên Xô sau ba mươi năm, tôi tưởng sẽ được gặp lại bạn mình, nhưng Doãn Bụt đã không còn. Nguyễn Minh Cần đưa tôi đi viếng mộ – một cái ngăn trong đó có đặt bình tro cốt của một số phận bất hạnh. Một người khác mà tôi biết là đại tá Lê Vinh Quốc, nguyên chính uỷ sư đoàn thép 308, thì đã lẳng lặng bỏ đi Uzbekistan, làm giảng viên văn học phương Đông ở một trường đại học tại thủ đô Tashkent.

Tất cả những chuyện đó đã trở thành quá khứ sau sự sụp đổ của cường quốc cộng sản lớn nhất hành tinh năm 1991.

“Tôi nhẹ cả mình”, Nguyễn Minh Cần nói. Cái chính quyền mới của Eltsyn không ra ngô cũng chẳng ra khoai, nhưng bóng ma cộng sản không còn đè nặng tâm trí ông.

Năm 1993, ông lập “Phật giáo Thảo đường” ở Moskva. “Ở mọi nước cộng sản ta đều thấy hiện tượng xã hội xuống cấp, suy đồi – ông tâm sự – Nguyên nhân là mọi con đường dẫn tới cái Thiện tâm linh đã bị huỷ hoại tận gốc. Mọi xã hội cộng sản cộng sản rồi sẽ tiêu vong, điều đó tất yếu, nhưng cái còn lại sau sự sụp đổ của nó mới là cái đáng sợ hơn hết – sự trống vắng mọi niềm tin. Phật giáo là một minh triết tâm linh, không phải một tôn giáo có tổ chức, nó là phương thuốc tốt cho một xã hội tan nát”.

Để lập cái “Phật giáo Thảo đường” nhỏ bé, chỉ là một căn hộ bình thường, đủ chỗ cho một số không nhiều những tín hữu đầu tiên đến tu tập, ông không có một xu dính túi. Tôi đưa ông một số tiền nhỏ. Ông nói đây là tiền vay và ông sẽ trả. Quả nhiên, năm sau ông đem trả tôi số tiền tôi ủng hộ, nói thế nào ông cũng không chịu. “Khi tôi trả được, có nghĩa là “Phật giáo Thảo đường” đã hoạt động, đã có sự đóng góp của các tín hữu đồng đạo. Ông mừng cho chúng tôi đi”.

Tôi mừng, như tôi bao giờ cũng mừng được nhìn thấy kết quả mọi hoạt động hướng thiện, chống ác trên con đường phục hồi một xã hội trong đó nhân phẩm được tôn vinh.
Tôi đã đến thắp hương ở “Phật giáo Thảo đường”. Ngồi bên tôi là bà Inna, người bạn đời của ông. Bà không chỉ là một Phật tử, mà còn là nhà Phật học uyên bác.

Nghe nói bây giờ ở Moskva Thảo đường đã trở thành một ngôi chùa. Tôi là người yêu triết học Phật, giáo huấn Phật, nhưng không phải Phật tử. Những nghi lễ chùa chiền xa lạ với tôi.

Mỗi con người đi xa (tôi không muốn, tôi buồn khi phải đặt bút viết chữ “mất”) bao giờ cũng để lại trong tôi một ấn tượng, như món quà cuối cùng.

Ấn tượng về Nguyễn Minh Cần là hình ảnh một con người trong sáng. Có được lương tâm trong sáng ấy là do ông có một trái tim rất Thiện.

Chả thế mà ông chọn cho mình pháp danh Thiện Mẫn.

//

Đánh giá nhân vật Hồ Chí Minh – Mục sư Thân Văn Trường

ĐÁNH GIÁ NHÂN VẬT HỒ CHÍ MINH

Mục Sư: Thân Văn Trường

*

Năm 2003 tôi bị bắt vì bị tình nghi chống phá nhà nước Xhcn theo điều 88.

Trong 1 lần hỏi cung ở trại B5, điều tra viên Nguỹen Ngọc Thành (còn gọi là Thành Đen) hỏi:
– Anh đánh giá làm sao về nhân vật Hồ Chí Minh?
(Tôi biết ngay rằng, câu này dtv hỏi để xác định các bài viết ký tên tôi là tôi viết hay người khác). Vậy nên tôi từ tốn trả lời:
1/ Hồ Chí Minh có công lớn nhất ở Tuyên ngôn 2/9/1945. Theo đó Bác khằng định Đấng Tạo hóa ban cho con người quyền
Sống, Tự Do và quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc. Đây là chân lý bất hủ.

2/ Tội nặng nhất của Hồ Chí Minh là đem học thuyết Mác- Lê nin dối trá vào Việt Nam để đầu độc nhân dân Việt Nam, chống nghịch Đấng Tạo hóa. Chính Bác đã lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, di chúc nó là Đảng cầm quyền để nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; vùi con đỏ xuống hầm tai vạ…
Tới đây, Thành cắt lời tôi và vội lệnh cho Phan Đức Lý (thơ ký) không ghi 2 câu này vào biên bản. Sau đó Thành hung hăng đứng dậy xốc tới mà rằng:

– Anh nói cho sướng mồm à, tôi đập vào mỏ anh bây giờ!
Tôi nói rằng tôi o nói cho sướng mồm nhưng anh hỏi tôi nghĩ sao nói vậy. Anh nghĩ lại và chỉ giúp tôi đánh giá sai về Bác chỗ nào?

Thế là Thành ngồi im nhìn lên trần nhà rồi lái cuộc hỏi cung sang hướng khác và cho nghỉ sớm.
Sau đó, hỏi cung tôi không phải Thành mà sếp của Thành là Hoàng Văn Vinh. Ông Vinh uống rượu từ đâu tới, mặt đỏ như gà chọi, quát lớn:

– Mày dám nói Hồ Chí Minh điên khùng, lưu manh, trộm cướp. Tao tát cho rơi răng không còn răng ăn cơm nữa…
Tôi nhẹ nhàng hỏi lại sếp Vinh:
– Tôi thì tôi đọc kỹ 10 tập HCM toàn tập và ghi chép cẩn thận, các anh tịch thu rồi thì biết. Còn anh đã đọc HCM chưa?
Vinh thật thà:
– Tôi thì giờ đâu mà đọc Hồ Chí Minh toàn tập.
Tôi nói với Vinh:
– Vậy bây giờ tôi chứng minh Hồ Chí Minh là điên khùng, lưu manh và trộm cướp anh tính sao?
Vinh không cho tôi chứng minh sự thật Hồ Chí Minh.
Cho tới nay đã mười mấy năm trôi qua, tôi vẫn còn răng để nhai cơm.

Điều đáng thương là Hồ Chí Minh di chúc Đảng ta là đảng cầm quyền đã làm cơ sở cho học trò của Bác làm ngươc di chúc, cầm tù Bác. Chẳng những thế thôi, dân ta è cổ đóng thuế để bảo vệ thi hài Bác. Bác chết đã lâu nhưng thi hài Bác còn làm thiêt hại trực tiếp đến toàn dân. Một ông tướng với cả quân đoàn trông coi thi hài, trong khi Bác đã đi gặp Mác Lê từ lâu.
Thi hài Bác nằm đó, giữa Thủ đô, chỉ chứng minh một chân lý: Hồ Chí Minh đã chết. Vâng, Hồ Chí Minh đã chết, chết ngay từ lúc Bác sinh ra, theo Kinh Thánh. Đáng thương thay, Bác chết vì thiếu hiểu biết và còn làm cho dân ta chết rất nhiều.

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác, tôi ước mong Đảng ta dẹp bỏ lăng, hỏa thiêu thi hài Bác theo di chúc, xóa án tích Hồ Chí Minh.

Truyền thống luân lý đạo đức của nhân loại, đặc biệt người Á đông, nghịch lại di chúc là một tội lớn, cho dù người quá cố ra sao. Mong Đảng ta sớm thực hiện cho bớt gánh nặng thuế khóa trên nhân dân.
Muốn thật hết lòng, amen!

Nguồn : FB Thân văn Trường

…….
Nguồn ảnh internet

— with Hồng Thắm Lê Thị.

Image may contain: 2 people, closeup
 //

Hồ Chí Minh, một kẻ Dối trá & Bịp bợm! [tn]

  • Nguồn trích đăng: Trang nhà Tin Paris

Cuộc sống 2 mặt của Hồ Chí Minh


Minh Võ –  

Hàng năm cứ đến giữa Tháng Tám đầu Tháng Chín nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đều tổ chức kỷ niệm “Cách Mạng Tháng Tám” thành công và ngày khai sáng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để gián tiếp đề cao công trạng của “Bác và Ðảng”. Ðây thường là dịp để họ đề cao, tâng bốc, thần thánh hóa ông Hồ, một cái phao cuối cùng cần bấu víu mà tồn tại trước giông bão của thời đại và phong trào đấu tranh cho dân chủ tự do. Sau đây là nội dung bài “Cuộc sống hai mặt của Hồ Chí Minh”.

Từ khoảng Mùa Hè năm 1946, trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang tiếp diễn tại Nam Bộ, hầu như khắp những thôn xã miền Bắc thường xuyên có những buổi tập họp dân chúng vào ban đêm để liên hoan văn nghệ hoặc sinh hoạt chính trị mà Võ Nguyên Giáp đã mô tả: “Từ thành thị đến làng quê, đâu đâu cũng cờ mở trống giong, ngày mít tinh, đêm khai hội. Vùng nông thôn Việt Nam lâu đời yên tĩnh chưa bao giờ sôi nổi, rộn ràng như vậy.” (1)

Những buổi tập họp bao giờ cũng mở đầu bằng màn trình diễn có tên “Suy tôn Bác Hồ”.
Sau lời hô ra lệnh, đèn sân khấu vụt tắt và hai thanh niên để mình trần, đầu chít khăn quỳ gối giơ cao hai ngọn đuốc trước chân dung Hồ Chí Minh trên bàn thờ Tổ Quốc.
Trong ánh đuốc bập bùng, một giọng hùng tráng cất lên kể công ơn lãnh tụ với những lời cuối cùng vang dội: “Hồ Chí Minh, Người là ông Thánh Sống!”

Nối theo tức khắc là bản đồng ca quen thuộc:
“Ðúc gươm thiêng vung cho nước nhà,
Dắt dân Việt đi tới đích xa,
Hồ Chí Minh, anh hùng bao năm luôn tranh đấu,
Thắng gian nguy, tranh công đầu…
Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!…”
Màn suy tôn được lập lại không ngừng đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác, thôn này qua thôn khác… đã tạo trong trí tưởng đa số dân quê một hình tượng lãnh tụ phi phàm sánh ngang thần thánh.
Hình tượng này còn được liên tục tô chuốt mỗi ngày bằng những chuyện kể về “sự dị thường của Bác” với cặp mắt có hai con ngươi, với tình thương bao la như trời biển chỉ nghĩ tới nhân dân, với cuộc sống hy sinh trọn vẹn mọi sinh thú bản thân để dồn hết tâm lực cho đất nước… và đã xuất hiện nơi không ít tác phẩm viết về Hồ Chí Minh cho tới nay.

Với Duiker, “ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ“
Với Halberstam, “Hồ Chí Minh là anh hùng số một, anh hùng duy nhất của Việt Nam… là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông đối với dân tộc ông và cả đối với thế giới… là nhà ái quốc vĩ đại nhất Việt Nam ở thế kỷ 20”.
Với Douglas Pike, “Hồ Chí Minh có tài về tổ chức, tận tụy hy sinh, chí công vô tư, lo trước dân, hưởng sau dân…”
Với nữ ký giả Hélène Tourmaire: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong dáng dấp rất tự nhiên”.
Với Phạm Văn Ðồng: “Một con người phi thường và xuất chúng, năng động và linh hoạt trong mọi ứng biến, minh khiết và thanh thản trong tâm hồn và phong độ, người của chủ nghĩa nhân đạo trong ý nghĩa đầy đủ nhất, nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn.”
Bùi Tín xác định kỹ hơn: “Cá nhân tôi kính trọng ông Hồ Chí Minh… Ðây chính là con người thẳng thắn lương thiện (honnête), sống rất giản dị, yêu thích trẻ con và dễ gần gụi với những người hèn mọn nhất (humbles)… Tôi cực lực bác bỏ giả thuyết cho rằng đó chỉ là cái tài đóng kịch của ông.”
Nhưng, chính trong tác phẩm của Duiker, Douglas Pike, Halberstam, Bùi Tín… cuộc sống và con người Hồ Chí Minh đã được diễn tả ra sao?

Duiker đã kể về đời tư Hồ Chí Minh với một loạt người tình và vợ như Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh, Ðỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân vv… một cô ở Pháp, vài cô ở Nga và cả chuyện Hồ Chí Minh vào lúc cuối đời nhờ một cán bộ cao cấp Trung Cộng giới thiệu cho một cô gái trẻ để hưởng tuổi già…
Duiker còn nêu rõ liên hệ tình cảm giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai là một bí ẩn rắc rối nhất trong đời ông Hồ do Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong.

Halberstam ca ngợi Hồ Chí Minh có thủ đoạn hơn người để quét sạch những phần tử đối địch gồm hầu hết là những người yêu nước kể cả người được kính ngưỡng như Phan Bội Châu bằng cách báo cho mật thám Pháp bắt hoặc cho thủ hạ tàn sát sau khi phao vu là lưu manh, phản quốc…
Douglas Pike nhắc lại những sự việc đã được Halberstam đề cập và kể thêm: “Theo những nguồn tin đáng tin cậy, ngày thế chiến II bùng nổ (1-9-1939) có kẻ trao cho mật thám Pháp ở Saigon đầy đủ danh sách của nhóm Ðệ Tứ với bí danh và địa chỉ của từng người kể cả nơi cư trú địa phương trên toàn quốc. Chỉ trong vài giờ cảnh sát Pháp đã tóm hết những lãnh tụ đầy đi New Hebrides, New Caledonia, Madagascar và những thuộc địa khác của Pháp xa Ðông Dương… Sau này nhiều sử gia và những chuyên gia về chính trị quả quyết chỉ có Cộng Sản Việt Nam có tài liệu và khả năng làm một việc có tính tình báo chiến thuật đó.”

Và, Douglas Pike tán đồng nhận định của Halberstam với kết luận: “…Hồ luôn luôn chứng tỏ là kẻ đại tài về xảo trá và tàn bạo”. (2)

Riêng Bùi Tín phát biểu: “Hồi 1945, mới 55 tuổi, ông tự nhận là cha già dân tộc và xưng Bác với đồng bào trong đó có cả cụ già 70, 80 tuổi là không ổn… Ông viết về bản thân mình, ký tên là Trần Dân Tiên và T. Lan tự khen mình là vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo, tự nói về mình rằng: “Bác Hồ rất khiêm tốn, người không bao giờ muốn nói đến bản thân mình” thì thật mỉa mai đến buồn cười!” (3)
Dù thành tâm ngưỡng mộ cách nào, những tác giả trên cũng không thể tô điểm cho Vị Thánh Sống của mình bằng những sự việc đã kể.
Bởi tất cả những sự việc đó chỉ phản ảnh một tính cách đối nghịch cùng cực với những điều tốt đẹp.
Chỉ nhìn riêng về cuộc sống tình cảm riêng tư, những tác giả đã ghi nhận hoặc không dám chối bỏ việc ngoài rất nhiều người tình, Hồ Chí Minh ít nhất đã chung sống như vợ chồng với 5 người phụ nữ:

1- Trong Từ thực dân đến cộng sản, Hoàng Văn Chí thuật theo lời kể của Nguyễn Khánh Toàn, cho biết trong thời gian học ở Liên Xô, Hồ Chí Minh cũng như Nguyễn Khánh Toàn đã được Quốc Tế Cộng Sản cấp cho một người Nga làm vợ hờ. Vì Hoàng Văn Chí chỉ nói theo Nguyễn Khánh Toàn rằng có một cô vợ hờ, mà không nói tên, tuy cũng có người bảo Vera Vasilieva là người tình của Hồ nhưng khó tin vì cô này là cán bộ cao cấp, người từng bao che bênh vực Hồ.

2- Năm 2001, sử gia Trung Cộng, giáo sư Hoàng Tranh, viết một bài báo dài kể lại rất nhiều chi tiết về việc Hồ Chí Minh chính thức lập hôn thú với một nữ hộ sinh người Trung Hoa theo Kitô giáo tên là Tăng Tuyết Minh mới 21 tuổi. Tiệc cưới được tổ chức vào tháng 10-1926 tại nhà hàng Thái Bình ở Quảng Châu là nơi trước đó Chu Ân Lai đã làm lễ cưới với Ðặng Dĩnh Siêu.

Năm 1927, khi Tưởng Giới Thạch bắt đầu diệt cộng, Hồ Chí Minh phải cùng với Borodin trở về Liên Xô, không kịp liên lạc với vợ nhưng Tăng Tuyết Minh vẫn một lòng chung thủy ở vậy chờ chồng cho đến khi lâm chung vào tuổi 91. Nhiều lần bà đã gửi thư cho sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Trung Quốc (lúc ấy do Hoàng Văn Hoan làm đại sứ), cũng như nhờ người chuyển thư sang Hà Nội, khi biết tin chồng bà đã thành chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng không bao giờ có hồi âm.

Theo Pierre Brocheux, người mối lái cho đám cưới này là Lý Huệ Quần, vợ Lâm Ðức Thụ vì Tăng Tuyết Minh rất thân với Lý Huệ Quần. Brocheux ghi theo một tài liệu cho biết chính Lâm Ðức Thụ đã kể lại như sau: “Tháng 10 năm 1926, Lý Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh đã thành hôn với một nữ hộ sinh đồng môn với vợ tôi. Nguyễn Hải Thần và Lê Hồng Sơn không tán thành cuộc hôn phối này nên tìm cách chống. Nhưng Lý Thụy đã trả lời: “Tôi cứ lấy vợ, bất chấp những anh không chấp thuận, vì tôi cần một người đàn bà dậy tiếng Trung Hoa cho tôi và săn sóc việc nhà.” (4)

3- Nguyễn Thị Minh Khai, theo thông tin chính thức của Ðảng, là vợ của Lê Hồng Phong, nhưng William J. Duiker và cả Bùi Tín đều nhắc những tài liệu cho biết từng có thời gian là vợ Hồ Chí Minh vào khoảng 1934-1935.

Riêng nhà báo Việt Thường nói Hồ Chí Minh (khi đó còn mang tên Lin và Nguyễn Ái Quốc) đã làm hôn thú với Nguyễn Thị Minh Khai, mặc dù cô này đã hứa hôn với Lê Hồng Phong. Hồ Chí Minh đoạt vị hôn thê của đồng chí trong thời gian Minh Khai thụ huấn lớp đào tạo cán bộ do Hồ Chí Minh phụ trách ở Hồng Kông.

Theo Việt Thường, cô con gái của Nguyễn Thị Minh Khai hiện sống ở Saigon và được nói là con của Lê Hồng Phong chính là con của Hồ Chí Minh.

Sophie Quinn-Judge, tác giả cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh mới nhất, người đã trực tiếp nghiên cứu những tài liệu mới được giải mật ở văn khố Liên Bang Nga cũng cho biết chính Minh Khai đã khai trong lý lịch bà là vợ của Lin (bí danh Hồ lúc ấy).

4- Trong Một Cơn Gió Bụi, sử gia Trần Trọng Kim ghi: “Khoảng tháng 9-1944, Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội dời về Quảng Tây và cho Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho Hồ Chí Minh cùng 22 đảng viên phần nhiều là người trong đảng Phục Quốc về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên Ðỗ Thị Lạc là người về sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh.

5- Cô Xuân (5) là người phụ nữ thứ năm sống như vợ chồng với Hồ Chí Minh.

Cô Xuân thuộc sắc tộc Nùng, người huyện Hòa An, Cao Bằng, đầu năm 1955, được tuyển “đưa về Hà Nội phục vụ Bác Hồ” và được bố trí sống tại ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Liên hệ giữa Hồ Chí Minh và cô Xuân gần như không ai biết, ngoại trừ Trần Quốc Hoàn lúc đó là Bộ Trưởng Công An, có nhiệm vụ đưa đón cô Xuân ra vào Phủ Chủ Tịch.
Năm 1956, cô Xuân sinh con trai, được Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý cho cô Xuân vào sống tại Phủ Chủ Tịch như vợ chính thức. Khoảng hơn 3 tháng sau, đầu năm 1957, người ta tìm thấy một xác chết ở dốc Cổ Ngư, đưa về bệnh viện Việt Ðức nhận dạng là xác cô Xuân và được chôn cất vội vã theo lệnh của Trần Quốc Hoàn.
Chuyện cô Xuân được Nguyễn Minh Cần và Vũ Thư Hiên ghi lại với nhiều tình tiết và nêu tên nhiều người liên hệ.

Nguyễn Minh Cần lúc đó là Phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Hà Nội đã kể: “Hôm đó, vào mùa xuân năm 1957, tôi đang thường trực thì anh Nguyễn Quốc Hùng, thành ủy viên, tới báo cáo có vụ xe cán chết người trên đường Nhật Tân, công an báo cáo người bị cán đã là một xác chết. Anh em công an nói chiếc xe mang biển số của Phủ Chủ Tịch. Mấy hôm sau tôi có hỏi anh Trần Danh Tuyên, bí thư thành ủy, về vụ này thì anh ta nói “Vụ đó giải quyết xong rồi”.

Trong Ðêm giữa ban ngày, Vũ Thư Hiên kể:

“Tôi nhớ một buổi chiều thu 1964, cha tôi đột nhiên bảo tôi:
– Con lấy xe đưa bố đi một lát….
Cha tôi sai tôi chở ông lên đường Cổ Ngư cũ về phía Chèm. Tới dốc lên đê, ông bảo tôi dừng xe. Châm một điếu thuốc, ông chọn chỗ cỏ sạch để ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên ông…
– Con nhớ lấy chỗ này, quãng gốc cây thứ tư và thứ năm từ trên đê đổ xuống – cha tôi chỉ tay về phía trước – Nơi này đã xảy ra một tấn thảm kịch mà rồi đây con phải tìm hiểu để mà viết. Nó là tấn thảm kịch có tính chất tượng trưng cho một sự đổ vỡ lớn của một nền đạo đức và rộng ra, của cả một thời đại.

Mắt cha tôi mờ đi. Giọng ông đứt quãng.
– Con không hiểu bố muốn nói gì.
– Lúc này con không hiểu cũng được. Hiểu bây giờ vừa sớm vừa nguy hiểm. Việc của bố là đánh động trí nhớ của con, bắt nó ghi lại một lời nói không rõ ràng để đừng quên sau này…

Ông Nguyễn Tạo (6) đã giải đáp cho tôi câu hỏi đó, nhiều năm về sau:

– Bố anh không muốn kể vì vào thời kỳ câu chuyện xẩy ra bố anh không còn làm việc với Bác Hồ nữa, bố anh e mình không nắm rõ, không trực tiếp biết sự việc, không biết chi tiết, kể sẽ không đầy đủ, không khách quan. Hoặc giả, bố anh sợ anh biết câu chuyện quá sớm thì hại cho anh… Nhưng bố anh muốn anh biết để có lúc anh sẽ phải viết ra. Bố anh bảo tôi kể cho anh nghe cũng không ngoài ý đó…

– Vậy chuyện gì đã xảy ra ở dốc Chèm, thưa bác?
– Một vụ án mạng oan khuất.
– Ở chính nơi bố cháu chỉ cho cháu?
– Ở đó. Có một người đàn bà bị xe cán chết, hay nói cho đúng hơn, cán xác của người đó.
– Một hiện trường giả?
– Chính là như vậy… Người đàn bà này bố anh cũng biết, tên là Xuân, quê ở huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng. Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nõn, miệng tươi như hoa, được Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương tuyển vào trông nom sức khỏe cho Bác Hồ…
– Thời gian nào, thưa bác?
– Sau khi hòa bình lập lại, khoảng năm 1955… Cùng được tuyển với cô Xuân còn có hai người em gái cô ta, một em ruột, một em họ cũng là con cái gia đình gốc gác cách mạng cả. Họ được bố trí ở trong một ngôi nhà ở phố hàng Bông Thợ Nhuộm, sát đường Quang Trung. Thông thường, Trần Quốc Hoàn tự thân đưa cô Xuân vào gặp Bác rồi đưa về…
– Mỗi lần như vậy bà ta ở lại bao lâu?
– Không chừng. Có khi chỉ một đêm, có khi đôi ba hôm. Cô Xuân rất được lòng Bác. Họ có với nhau một con trai, được đặt tên Trung, Nguyễn Tất Trung. Về sau, trước khi Bác mất Bác ủy thác thằng Trung cho Vũ Kỳ chăm sóc, coi như con nuôi…

Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi được biết trong những bí mật cung đình được giữ rất kín.

– Như vậy, có thể coi bà Xuân là bà hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam?
– Có thể coi là như vậy. Và là bà hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh vì không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, vì đẻ ra đứa con không được gọi cha ruột của nó bằng cha… Tất cả diễn ra trong sự lén lút nhục nhã…
– Ai đã giết bà Xuân?
-… Ta hãy ghi nhận sự việc này: Vào một buổi sáng Mùa Xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Ðức, được nhận dạng. Chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ mà bị chôn cất vội vã theo lệnh của Trần Quốc Hoàn…
– Rồi sau thì sao?
– Chưa hết. Sau, em ruột cô Xuân bị điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên rồi bị đưa về Cao Bằng điều trị bệnh… thần kinh. Ít lâu sau, xác cô nổi lên ở một cây cầu trên sông Bằng Giang… Cô em gái họ cũng biến mất. Như vậy cùng một thời gian, cùng một sự việc, có tới ba người thiệt mạng…” (7)

Theo Nguyễn Minh Cần, Trần Quốc Hoàn nhiều lần đến nhà cô Xuân để hãm hiếp cô từ ngày 6-2-1957 tới ngày 11-2-1957 thì giết cô bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư dàn cảnh xe cán.

Nguyễn Minh Cần cho rằng sự việc có thể xuất phát từ chính Hồ Chí Minh hoặc Bộ Chính Trị đã quyết định thanh toán cô Xuân do cô muốn công khai hóa mối liên hệ và đòi chính thức nhìn nhận đứa con. Trần Quốc Hoàn được giao cho thi hành nên mới dám ngang nhiên hãm hiếp cô Xuân trước khi hạ sát và sau đó giết luôn hai người em cô Xuân vì biết rõ sự việc. (8)

Theo Vũ Thư Hiên, một thương binh nhận là chồng của cô Vàng, cuối năm 1983, đã gửi thư lên Văn Phòng Chủ Tịch Quốc Hội ghi lại nhiều chi tiết của sự việc qua lời kể của cô Vàng trước khi bị thủ tiêu. Lá thư dài ghi viết tại Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983 kính gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mở đầu với lời tự giới thiệu như sau:

“Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ Tịch hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác mà người vợ chưa cưới của tôi là nạn nhân…”

Thư trình bày tiếp sự việc cho biết từ năm 1954, người viết thư có người yêu tên Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn Thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân. Cuối năm 1952, cô Vàng và cô Xuân tình nguyện vào công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Mấy tháng sau, Trần Ðăng Ninh, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hậu Cần mấy lần đến gặp cô Xuân và đầu năm 1955 thì đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Ðược mấy tháng sau thì cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội ở trên gác căn nhà số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm với cô Xuân và cô Nguyệt là con gái ông Hoàng Văn Ðệ, cậu ruột cô Xuân. Thư viết tiếp:

Ðã luôn hai năm, tôi chỉ được tiếp thư chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng tháng 10 năm 1957, tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị tại bệnh viện huyện Hòa An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại được gặp nhau. Trong một tuần lễ, cô Vàng kể lại mọi nỗi đau xót cô đã gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những lời cô Vàng tâm sự với tôi mà không bao giờ tôi có thể lãng quên được.”

Thư ghi lại nhiều chi tiết theo lời kể của cô Vàng cho biết khoảng đêm 6 hoặc 7 tháng 2 năm 1957, sau khi cô Xuân sinh con hơn 3 tháng, Trần Quốc Hoàn tới nhà ngang nhiên trói cô Xuân hãm hiếp ngay trước mắt hai cô Vàng và Nguyệt. Sau sự việc này, cô Xuân đã kể với những em: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai”. Bác nói: “Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Ðức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được”.

Do đó, cô Xuân đành phải im lặng chờ đợi cho tới khi sự việc xẩy ra theo cô Vàng kể với người tình:

“Khoảng một tuần sau, lúc 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau 12 tháng 2, một nhân viên Công An Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn… Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi… Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công An, một Kiểm Sát Viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe. Tử thi không có thương tích gì, thấy rõ không bị tai nạn ô tô… Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt… Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị trùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh giữa đầu…

Ít lâu sau một cán bộ Công An đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đi đâu (9). Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe… Em chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết…

Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng Văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vỡ sọ… Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Tòa Án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm Sát hỏi tòa án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường Y Tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây”…

Cuối thư ký tên vợ chồng Nguyễn Thị Vàng sau khi cho biết người lái xe tới đón cô Xuân đi giết là Tạ Quang Chiến vào năm 1983 đang giữ chức Tổng Cục Phó Tổng Cục Thể Dục Thể Thao và ghi lời cầu xin: “Tôi, một thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu hòa nước mắt viết thư này nhờ một người bạn chí tình, thành tâm bảo vệ lẽ phải, đánh máy bức thư gửi tới trình ông”. (10)

Trước phát giác về cuộc sống tình cảm phức tạp của Hồ Chí Minh, Bùi Tín phát biểu: “Ở trong nước, việc đánh giá lại ông Hồ Chí Minh là điều cấm kỵ một cách tuyệt đối. Vì ông là chỗ dựa cuối cùng để những người lãnh đạo duy trì con đường “xã hội chủ nghĩa”, “giữ vững ổn định chính trị” có nghĩa là họ không mất quyền lãnh đạo… Nhà báo Kim Hạnh chỉ giới thiệu về cuốn sách của giáo sư sử học Daniel Hemery nói rằng hồi trẻ ông Hồ có thể có vợ ở Trung Quốc đã lập tức bị mất chức tổng biên tập báo Tuổi Trẻ. Ông Bùi Ðình Kế, cục trưởng cục lưu trữ quốc gia viết một bài tương tự trên báo Nhân Dân Chủ Nhật cũng bị khiển trách rồi “cho về hưu”. Lập luận của Ban Văn Hóa và Tư Tưởng là tất cả những chuyện kể trên đều là bịa đặt bậy bạ với ý đồ xấu xa phá hoại đất nước”. Theo Bùi Tín, “nếu quả thật ông có người yêu, có vợ khi còn trẻ thì có gì là xấu? Nếu có cô Brière (Pháp), cô Tuyết Cần (Trung Hoa), cô Véra Vasiliera (Nga)… là bạn, người yêu, là vợ thì cũng là tự nhiên, bình thường, có thể là nét đẹp nữa, vì ông cũng có trái tim như mọi người chứ. Chỉ có kẻ đạo đức giả mới muốn coi ông là thánh”. (11)

Quả thật không có gì xấu trong cuộc sống tình cảm tự nhiên của con người. Nhưng, vấn đề được đặt ra không bởi sự việc Hồ Chí Minh từng viết thư tán tỉnh phụ nữ, từng có người yêu. Vấn đề được đặt ra cũng không bởi sự việc Hồ Chí Minh đã nhiều lần có vợ và bỏ vợ.

Vấn đề được đặt ra chỉ bởi cách đối xử của Hồ Chí Minh với những người vợ, những đứa con của mình và quan trọng hơn là sự cố tình bịa đặt một cuộc sống tình cảm không có thực để dối gạt dư luận.

Những năm trước 1945, việc quần chúng không hiểu rõ cuộc sống riêng của Hồ Chí Minh có thể viện dẫn tình trạng hoạt động bí mật không cho phép nói rõ về bản thân.

Tuy nhiên từ 1945 về sau, mọi tài liệu sách báo đều không ngừng nói về cuộc sống độc thân của Hồ Chí Minh như chứng cớ cụ thể nhất biểu hiện tinh thần vì nước quên mình, hy sinh hạnh phúc cá nhân để phục vụ nhân dân.

Hết thẩy sách báo đều mô tả Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu niên không ngừng băn khoăn tìm đường cứu nước, trọn đời sống khổ hạnh như một bậc chân tu không biết đến niềm vui riêng nào, luôn dồn hết tâm lực cho việc đấu tranh giải phóng dân tộc và cán bộ tuyên truyền khắp nước đã dựng lên màn suy tôn Thánh Sống Hồ Chí Minh cho quần chúng.

Trong khi đó, gần như không lúc nào Hồ Chí Minh không nghĩ đến đàn bà và gần như không lúc nào Hồ Chí Minh không có đàn bà ở bên cạnh.

Thời gian theo Phan Chu Trinh học nghề thợ ảnh tại Paris, Hồ Chí Minh đeo theo tán tỉnh một cô gái Pháp có tên Bourdon, viết những lá thư tình dài dặc mà sau này Gaspard Thu Trang thu góp in trong cuốn Hồ Chí Minh à Paris.

Những ngày nối sau, khi là đảng viên Xã Hội Pháp, Hồ Chí Minh đã có một người tình cũng là đồng chí, có tên Marie Brière được sử gia Daniel Héméry ghi lại trong cuốn Hồ Chí Minh, de l’Indochine au Việt Nam.

Những năm đầu ở Mạc Tư Khoa, Hồ Chí Minh cũng không thiếu đàn bà trong sinh hoạt thường nhật. Manabendra N. Roy, lãnh tụ Cộng Sản Ấn Ðộ từng là ủy viên chính trị của Ðệ Tam Quốc Tế, nhưng bị khai trừ năm 1928 trong tác phẩm Men I met kể về những người từng một thời gặp gỡ có đoạn nhắc đến Hồ Chí Minh với cách sinh hoạt như sau: “Vì ở Nga không có những quán cà phê kiểu Paris mà ông ta thường lui tới nên để bù lại cuộc sống kham khổ buồn chán của Mạc Tư Khoa trong những năm 20, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thú vui nơi đàn bà. Ðó là những nàng tư sản sa đọa hay những thanh nữ cộng sản phóng đãng bị thu hút mãnh liệt bởi những khóa sinh người châu Á.” (12)

Rời Mạc Tư Khoa về Quảng Châu, Hồ Chí Minh lấy vợ năm 1926.

Ngày 6-6-1931, lúc bị Cảnh Sát Anh bắt tại Cửu Long, Hồ Chí Minh lại đang sống với một phụ nữ tên Li Sam.

Ba năm sau đó, năm 1934, Hồ Chí Minh có con với Nguyễn Thị Minh Khai. Khi Minh Khai về nước, Hồ Chí Minh ở lại cùng Nguyễn Khánh Toàn và đã có một người vợ Nga để có thêm một đứa con lai.

Ít năm sau Hồ Chí Minh về nước, sống tại vùng rừng núi Cao Bằng và sinh hoạt tại đây cũng không thiếu đàn bà. Brocheux ghi lời của đại úy Pháp Desfourneaux là người từng có mặt bên Hồ Chí Minh lúc đó kể về một buổi Hồ Chí Minh tiếp đón nhóm sĩ quan đặc vụ Mỹ: “Trong cái trại có cả người Mỹ lẫn người Việt tụ tập thấy có 15 phụ nữ trẻ từ Hà Nội đến để liên hoan. Ông Hồ giới thiệu họ là những “cô gái giải trí chuyên nghiệp” (professional entertainers). Trước buổi liên hoan ông Hồ đã cho chuẩn bị sẵn một hợp chất gồm dược thảo và lộc nhung được coi là có dược tính khích dâm. Người Mỹ từ chối khi được mời tham dự buổi liên hoan”.

Desfoureaux thuật lại “nhìn thấy trong ánh mắt ông Hồ như có một ngọn lửa lóe lên khi những nàng kiều nữ tới trại”.

Ghi lại mẩu chuyện này, Brocheux thắc mắc “các cô giải trí chuyên nghiệp, thường được hiểu là biết nhảy, biết ca hát… Tại sao lại pha chế thuốc kích dâm (aphrodisiaques) trước khi liên hoan”? (13)

Năm 1942, Hồ Chí Minh rời căn cứ Cao Bằng trở qua Hoa Nam hơn hai năm. Trên đường trở lại Cao Bằng vào tháng 8-1944, Hồ Chí Minh lại có một phụ nữ cùng đi là Ðỗ Thị Lạc và sau đó có cùng bà này một cô con gái.

Chỉ riêng với những trường hợp đã được ghi nhận rõ ràng, hơn hai mươi năm hoạt động đấu tranh của Hồ Chí Minh cũng là hơn hai mươi năm liên tục đắm chìm trong lạc thú yêu đương.

Nói như Bùi Tín, như Duiker v.v… chuyện này chẳng có gì xấu. Nhưng trong lúc sống như vậy, Hồ Chí Minh lại dối gạt mọi người rằng mình là một lãnh tụ cách mạng thanh cao, đạo đức luôn khép mình trong cuộc đời khổ hạnh của một đấng chân tu, một vị Thánh.

Chính Bùi Tín từng nghĩ Hồ Chí Minh tự nhận là cha già dân tộc và xưng Bác với đồng bào trong đó có cả cụ già 70, 80 tuổi là không ổn… và cho là mỉa mai đến buồn cười khi Hồ Chí Minh ký tên khác để viết về bản thân mình, tự khen mình là vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo, tự nói về mình rằng: “Bác Hồ rất khiêm tốn, Người không bao giờ muốn nói đến bản thân…”

Bùi Tín nêu một loạt tiêu chuẩn cho việc nhận diện Hồ Chí Minh là cần khách quan, công bằng, không nên dự đoán và suy diễn. những tác giả như William Duiker, Halberstam, Douglas Pike, Sainteny, Bernard Fall… và hết thẩy những người khác hẳn cũng nghĩ thế. Vấn đề là hết thẩy có theo nổi đúng những tiêu chuẩn do chính mình đã nêu không?

Riêng với Bùi Tín chắc chắn là “không”, qua lời phát biểu: “Cá nhân tôi kính trọng ông Hồ Chí Minh… Ðây chính là con người thẳng thắn lương thiện (honnête), sống rất giản dị, yêu thích trẻ con và dễ gần gụi với những người hèn mọn nhất (humbles)… Tôi cực lực bác bỏ giả thuyết cho rằng đó chỉ là cái tài đóng kịch của ông.”

Bởi vì, có thể gọi là người thẳng thắn, lương thiện không, khi người đó dùng mọi cách che giấu những hành vi thực của mình, thậm chí giả xưng nhà văn, nhà báo viết sách ca ngợi mình là anh hùng vĩ đại, là khiêm tốn, là cao thượng?

Có thể gọi người luôn tìm cách đẩy vợ vào bóng tối để trình diễn cuộc sống độc thân và rũ bỏ những đứa con của chính mình là người giản dị, yêu thích trẻ con không?

Có thể gọi người thản nhiên vô cảm trước hành vi sát nhân mà nạn nhân chính là kẻ đầu gối tay ấp với mình là người nhân ái, dễ gần gụi với những kẻ hèn mọn không?

Có thể gọi người nhân danh lý tưởng để lạm dụng quyền hành vào việc thỏa mãn những thú vui riêng của bản thân là người tận tụy hy sinh không?

Có thể gọi người ôm ấp phụ nữ trên giường giữa lúc khắp nơi dân chúng kêu khóc và máu của những đồng chí đang tuôn đổ là người lo trước dân, hưởng sau dân không?

Có thể gọi người luôn ngoảnh mặt làm ngơ trước những chuyện bất bình đau đớn bằng cách viện dẫn phải chiều theo một áp lực nào đó là người chí công vô tư không?

Và, có thể gọi một người làm tất cả những việc đó mà luôn xuất hiện trước đám đông với bộ mặt dịu dàng, cử chỉ âu yếm, lời lẽ ngọt ngào khuyên nhủ cần sống hợp đạo lý, cần hết lòng thương yêu kẻ khác là người không biết đóng kịch không?

Duiker, Halberstam, Douglas Pike, Bùi Tín v.v… có thể kính trọng, ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, chọn Hồ Chí Minh làm thần tượng không cần giải thích lý do.

Tuy nhiên, mọi câu trả lời khách quan cho những nghi vấn trên chỉ phác họa chân dung một kẻ luôn che giấu cuộc sống thực bằng những thủ đoạn trình diễn kiệt xuất như chính Douglas Pike và Halberstam đã nhìn nhận “…Hồ luôn luôn chứng tỏ là kẻ đại tài về xảo trá và tàn bạo”.

Bùi Tín cũng đã kết án việc “vu khống chụp mũ, ám sát, thủ tiêu những người lãnh đạo trốt-kýt như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch là… một tội ác trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc”. Tuy Bùi Tín thận trọng ghi tội ác này là của những người lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, nhưng lại xác nhận mọi việc khởi từ chỉ thị của Hồ Chí Minh, nhân danh thực hiện chủ nghĩa Stalin.

Không dễ tìm nổi mối tương đồng giữa kẻ chủ trương vu cáo, thủ tiêu những người yêu nước, phạm tội ác trong lịch sử đấu tranh với người nhân ái, có công đầu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Cũng không dễ tìm nổi mối tương đồng giữa kẻ xảo trá tàn bạo với người thẳng thắn lương thiện, giữa kẻ gạt bỏ tất cả những đứa con của mình và nhẫn tâm sát hại chính vợ mình với người giản dị, yêu thương con trẻ và người hèn mọn…

Càng khó tìm nổi mối tương đồng giữa kẻ đã nhúng tay vào tội ác và có cuộc sống riêng nhầy nhụa, lén lút nhưng luôn tô vẽ mình là anh hùng vĩ đại, đạo đức tuyệt vời, gương mẫu bậc nhất với người luôn thẳng thắn, không hề biết đóng kịch.

Nhiều người vì một lý do riêng nào đó đã cố gắng xóa lằn ranh giữa tàn bạo và nhân ái, giữa lương thiện và xảo trá, giữa giản dị và quanh co, giữa thẳng thắn và gian dối… nhưng đây là việc bất khả thi dù tốn hao công sức cỡ nào.

Lằn ranh kia sẽ tiếp tục tồn tại và tồn tại mãi mãi để phân biệt hai mặt thực tế và xác định ý hướng của mỗi con người trong cuộc sống.

Chọn lựa thẳng thắn hay gian dối, chọn lựa giản dị hay quanh co… nằm trong ý hướng và nỗ lực của mỗi con người được chứng minh bằng chính hành vi của con người đó.

Hành vi của Hồ Chí Minh đã chứng tỏ ý hướng và nỗ lực của ông nghiêng về phía nào, bất chấp mọi biện giải của những người khác ở xung quanh ra sao.

Cho nên, để nhận diện Hồ Chí Minh một cách khách quan và công bằng không thể dựa vào những biện giải mà chỉ có thể nhìn thẳng vào hành vi của chính Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, Hồ Chí Minh từng có vợ, có con và có nhiều vợ, nhiều con từ tuổi ba mươi tới cuối đời. Ðây là một thực tế không thể phủ nhận.

Suốt thời gian đó, Hồ Chí Minh luôn tránh né đề cập đến việc vợ con và năm 1967, khi Bernard Fall nêu câu hỏi về vấn đề này, chính Hồ Chí Minh đã cho rằng tất cả chỉ là tin đồn sai sự thực. (14) Ðây cũng là một thực tế hiển nhiên.

Sự hiện diện song song của hai thực tế này đủ bài bác mọi lời biện giải khởi từ những dự đoán hay suy diễn mang tính chủ quan của mọi người.

Bùi Tín luôn kính trọng Hồ Chí Minh cũng không thể phủ nhận tiếng nói này của thực tế. Tuy nhiên, theo Bùi Tín, Hồ Chí Minh phải tuân hành ý Ðảng.

Giả dụ cứ cho rằng ý nghĩ này không phải dự đoán và suy diễn để coi là thực tế thì lại gặp một thực tế ngược lại. Ðó là sự có mặt của cuốn sách do chính Hồ Chí Minh giả xưng nhà báo Trần Dân Tiên để viết về mình với những dòng mở đầu: “Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng mãi đến nay chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế mình”.

Bùi Tín nói đây là điều mỉa mai đến buồn cười vì cảnh Hồ Chí Minh ngồi nắn nót hàng chữ trang trọng “Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế”. (15)

Nhưng đây mới chỉ là bước mở đầu cho những bước tiếp không còn buồn cười mà phải cười ra nước mắt khi hình dung chính Hồ Chí Minh đang viết những dòng sau: “Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm nhường dường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được.”

Kiều Phong trong Chân dung Bác Hồ phát biểu: “Nếu bác tôn trọng lời bác nói thì cuốn sách… không bao giờ được viết ra vì từ ngày 4-9-1945 cho tới chết, có bao giờ hết cảnh “rất nhiều đồng bào đang đói khổ” hay có khi nào bác hết “những công việc cần kíp đâu.” (16)

Tất nhiên Hồ Chí Minh không tôn trọng lời nói của mình vì biết rõ mình đang nói dối và thấy nói dối là cần nên đã tiếp tục kể: “Khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên mười lăm tuổi… đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào… đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào… đã tham gia công tác bí mật, nhận việc liên lạc… nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào, vì: Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Ðiều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám trực tiếp chống Pháp, nhưng còn nặng cốt cách phong kiến. Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi…”

Hồ Chí Minh tả tiếp về mình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau khi đã chọn được con đường nên đi: “Ngày hôm đó, lần đầu tiên thủ đô Hà Nội được “mắt thấy” người con yêu quý nhất của dân tộc Việt Nam… Nhân dân nhận thấy Hồ Chủ Tịch giản dị, thân mật như một người cha hiền về với đám con… Quần chúng cảm thấy sâu sắc lòng thương yêu của một người Cha…”

Và, hình ảnh Hồ Chí Minh do Hồ Chí Minh giới thiệu trước công chúng như sau: “Nhân dân Việt Nam muôn người như một, nghe theo lời Hồ Chủ Tịch, vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ Chủ Tịch, họ hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ Tịch. Không có gì so sánh được với lòng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh… Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng yêu nước, yêu nhân dân… Hơn bốn mươi năm nay, Hồ Chủ Tịch chỉ đeo đuổi một mục đích giải phóng Tổ Quốc và đồng bào… Chủ Tịch đã từng chịu đựng khổ sở vất vả không thể tưởng tượng được suốt trong thời kỳ hoạt động bí mật… Nhưng Chủ Tịch dũng cảm và kiên quyết vượt qua mọi khó khăn. Chủ Tịch không bao giờ thay đổi, vẫn luôn luôn là một người yêu nước trong sạch và nhiệt tình… Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng hy sinh và lòng nhân từ của Người. Ðúng như lời nói của Mặc Tử, nhà triết học Trung Quốc đời xưa: “Nếu có lợi cho thiên hạ thì dù mình bị mài mòn từ gót đến đầu cũng vui lòng”… Chủ Tịch không bao giờ nghĩ đến mình. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân. Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do tính cương trực và lòng trong sạch của Người. Thái độ của Người ngay thẳng… Vì Bác Hồ mà những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng tăng thêm năng suất. Ðối với nhi đồng, tên bác Hồ như là một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là những em trở nên ngoan ngoãn… Nhân dân gọi Chủ Tịch là Cha Già của Dân Tộc…” (17)

Kiều Phong nhận xét: “Hãy bỏ qua những câu chuyện dại dột, lố bịch…. chỉ cần nhìn lại chính cái giây phút Bác ngồi nắn nót viết câu đó là thấy Bác man trá chừng nào. Ðất nước còn nghèo, nhân dân còn đói, chiến tranh còn khốc liệt… con người “chỉ nghĩ đến nhân dân” ấy lại tranh nghề của bọn văn nô, bỏ hết thời giờ tâm trí vào việc ngồi viết văn tự tâng bốc. Vào lúc người dân Việt đang thi đua gục ngã ở chiến trường theo sự hướng dẫn của Chủ Tịch thì vị “cha già dân tộc” cứ say sưa bận rộn với sự nghiệp tự nâng bi. Có ông Cha già nào trên đời lại nhố nhăng, vị kỷ và bất nhân đến thế!” (18)

Thực ra phải nói không một người nào, dù chỉ đạt mức thẳng thắn và lương thiện tối thiểu, lại dám tự gán cho mình những mỹ hiệu tột đỉnh như “người con yêu quý nhất của Việt Nam, người cha hiền của quần chúng, người được toàn dân kính yêu không gì so sánh nổi, người sẵn sàng mài mòn từ gót đến đầu để mưu lợi ích cho thiên hạ, người dũng cảm, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, người chịu đựng mọi gian khổ cùng cực, người cương trực, trong sạch và người được nhân dân gọi là Cha Già của Dân Tộc…”

Trong lịch sử nhân loại chắc chỉ duy nhất có một người hoàn hảo như vậy, một người mà danh hiệu Thánh Sống cũng chưa diễn tả hết những đức tính tuyệt vời.

Nhưng thực tế cuộc sống của người đó ra sao?

Mức gian khổ cùng cực được đưa ra là gì?

Phải chăng là vỏn vẹn hai lần bị bắt tại Trung Hoa vì lý do hoạt động cho Cộng Sản với không đầy ba năm tù và chưa từng bị đòn vọt?

Phải chăng là những năm tháng đóng vai nhà báo, đóng vai sĩ quan Trung Cộng… với nguồn tiền bạc do Ðệ Tam Quốc Tế cung cấp đều đặn?

Phải chăng là những buổi liên hoan có cả thuốc kích dâm ngay giữa mật khu và ở đâu, lúc nào cũng không thiếu đàn bà bên cạnh?…

Theo Bùi Tín, Nguyễn Tạo và cả Vũ Thư Hiên, Hồ Chí Minh ở vào thế không thể đi ngược ý muốn của tổ chức, cụ thể là do Ðảng quyết định.

Ðảng muốn biến Hồ Chí Minh thành “Thánh Sống” trước mắt dân chúng để trở thành “Cha Già Dân Tộc” và Hồ Chí Minh bắt buộc phải tuân theo.

Như vậy, tội xảo trá lừa gạt là tội của Ðảng còn Hồ Chí Minh đã trở thành Thánh Sống, thành Cha Già Dân Tộc một cách bất đắc dĩ.

Nhưng cả Bùi Tín lẫn Vũ Thư Hiên đều thấy việc Hồ Chí Minh giả xưng nhà báo để viết hai cuốn sách về mình không do lệnh Ðảng. Bùi Tín nghĩ là điều mỉa mai buồn cười còn Vũ Thư Hiên cho là hành động ngớ ngẩn thừa thãi.

Thực ra, người ngớ ngẩn đáng buồn cười không bao giờ là Hồ Chí Minh. Chính Bùi Tín từng nói Hồ Chí Minh tuyệt đối tin tưởng ở đường lối và kinh nghiệm của Liên Xô với thái độ giáo điều, đã đi đầu trong việc mang chủ nghĩa Mác-Lênin được Stalin hóa vào Việt Nam.

Như vậy, hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức rất rõ tầm vóc quan trọng của võ khí tuyên truyền, trong đó việc tạo dựng thần tượng là một yếu tố quyết định thành bại của nỗ lực đấu tranh.

Thần tượng tạo sức mạnh thu hút, đồng thời cũng tạo sức mạnh chi phối đối với quần chúng và dư luận. Ðể đạt mục tiêu này, thần tượng phải bao gồm mọi khía cạnh đáp ứng đúng nhu cầu tình thế và nguyện vọng quần chúng.

Trong hoàn cảnh toàn dân sôi sục nhiệt tình yêu nước, thần tượng không thể chỉ hiện ra như một nhân vật tài năng quán thế mà còn phải là biểu tượng tột cùng của tinh thần dân tộc.

Ðây cũng là khía cạnh vô cùng quan trọng trong đòi hỏi của tình hình thế giới đang bắt đầu hình thành trận tuyến giữa tự do và cộng sản. Chính vì thế, mặc dù tự gán cho mình mọi màu sắc tuyệt vời, Hồ Chí Minh đã nỗ lực che giấu niềm tự hào cao nhất là tính chất Cộng Sản.

Hồ Chí Minh không hề ngớ ngẩn thừa thãi hoặc làm trò cười khi vùi lấp vóc dáng thực là Vị Thánh của Chủ Nghĩa Cộng Sản như Krutshchev đã mô tả để tự gán cho mình danh hiệu Cha Già Dân Tộc.

Danh hiệu này chính là võ khí cần thiết cho việc thu hút những người yêu nước, đặt tất cả dưới sự chi phối đồng thời vận động sự hỗ trợ trên khắp thế giới để tạo một thế trận dư luận bao vây cô lập mọi đối thủ.

Diễn trình cuộc chiến Việt Nam trước và sau 1954 đã nói lên thực tế này rất rõ ràng với không ít chứng liệu.

Hồ Chí Minh, như Bùi Tín diễn tả, là người đi đầu trong việc truyền bá lý tưởng Cộng Sản, là tín đồ nặng tinh thần giáo điều của chủ thuyết Stalin, nên không thể nhắm mục tiêu nào ngoài việc phát triển ảnh hưởng Cộng Sản để đi tới thiết lập nền chuyên chính vô sản trên toàn thế giới.

Nhưng đã không ít lần, Hồ Chí Minh cũng như những thủ hạ từng tuyên bố mình không hề là Cộng Sản, mục đích của mình chỉ là giải phóng dân tộc.

Luận điệu tuyên truyền này được phụ họa với dàn đồng ca xưng tụng thần tượng là Cha Già Dân Tộc cất lên không ngừng ở bất kỳ nơi nào đã tạo ảnh hưởng không nhỏ trong dư luận thế giới mà chứng tích đầy rẫy trong sách báo. Ảnh hưởng đó đã góp phần quyết định thắng lợi cho Cộng Sản trong mục tiêu giành quyền thống trị.

Tự phong là Cha Già Dân Tộc, Hồ Chí Minh không hề ngớ ngẩn mà đã mở ra một chiến dịch lớn trên mặt trận tuyên truyền tấn công thẳng vào dư luận cả trong lẫn ngoài nước để củng cố chiêu bài giải phóng dân tộc cho Ðảng Cộng Sản theo đuổi mục tiêu độc chiếm quyền lực tại Việt Nam.

Tầm mức quan trọng đó khiến Hồ Chí Minh phải đích thân tự tô vẽ bức tranh thần tượng của mình thay vì trao cho thủ hạ. Cho tới nay, nhiều hình ảnh Hồ Chí Minh được giới thiệu ở khắp nơi đều rập theo khuôn mẫu do Hồ Chí Minh đưa ra từ đầu năm 1948 cho thấy ảnh hưởng của trận đánh tuyên truyền này sâu rộng tới mức nào.

Nhưng dù nhắm mục đích nào, lường gạt vẫn là lường gạt.
Hồ Chí Minh đã lường gạt quần chúng Việt Nam và lường gạt cả dư luận thế giới để giành thắng lợi cho Cộng Sản.
Biện giải để trút bỏ trách nhiệm lường gạt từ Hồ Chí Minh qua Ðảng Cộng Sản Ðông Dương là điều ngược với thực tế.

Bởi lẽ, Ðảng trị chỉ là tên gọi khác của một kiểu mẫu chế độ độc tài mà trong đó lãnh tụ luôn nắm quyền uy tuyệt đối của một bạo chúa.
Bùi Tín đã nhìn về Ðảng Cộng Sản Việt Nam như sau: “Ðảng độc quyền lãnh đạo, không cho phe phái xuất hiện trong Ðảng, giữ một khối thống nhất nguyên khối (monolithique)… Ðảng là nhà nước, đồng nhất với nhà nước, Ðảng là luật pháp, coi thường luật pháp… Ðảng và chính quyền là của một nhóm lãnh đạo, là của một lãnh tụ duy nhất”. (19) Khi Ðảng đã là thứ nằm dưới quyền sai xử của một lãnh tụ duy nhất thì có thể ban chỉ thị cho lãnh tụ chăng?

Nếu Ðảng có đủ uy lực ép buộc Hồ Chí Minh phải làm ngược ý muốn chắc chắn Hồ Chí Minh đã không thể có cuộc sống hoang tàng như từng có.
Ðể diễn tả chính xác, chỉ có thể bảo Ðảng chính là một công cụ vận dụng tối đa uy lực để phục vụ Hồ Chí Minh.
Trước hết, chính những cán bộ cao cấp của Ðảng đã phải đi kiếm gái đẹp về cho Hồ Chí Minh. Trường hợp cô Xuân là một chứng minh và có thể kể thêm trường hợp bất thành với cô Nguyễn Thị Phương Mai tại Thanh Hóa.

Kế tiếp, chính những cán bộ cao cấp của Ðảng phải cúi đầu nhận cái công việc đêm đêm lén lút đưa gái tới với Hồ Chí Minh.

Sau đó, cơ cấu chỉ đạo cao nhất của Ðảng cùng những cơ quan viên chức Nhà Nước lại lên tiếng ca ngợi Hồ Chí Minh là ông Thánh Sống, là bậc chân tu đạo hạnh tuyệt vời để dối gạt dư luận. Hồ Chí Minh đã hóa thân thành Ðảng và nhân danh Ðảng để biến đồng chí thành một nhóm thủ hạ tận trung tới mức sẵn sàng làm mọi việc kể cả nhúng tay vào máu như trường hợp cô Xuân, khi phát giác thấy dấu hiệu đe dọa sự nguyên vẹn của tấm áo thần thánh mà Hồ Chí Minh đang mặc.

Chiếu theo thực tế, uy quyền của Hồ Chí Minh trong tương quan với Ðảng Cộng Sản Việt Nam còn vượt khỏi phạm vi diễn tả của Bùi Tín.
Trước 1945, Ðảng chỉ có tư cách một chi bộ độc lập trực thuộc Ðệ Tam Quốc Tế mà Hồ Chí Minh là đại diện nên người ra chỉ thị cho Ðảng, quyết định mọi đường đi nước bước của Ðảng chính là Hồ Chí Minh.
Trong tương quan cá nhân, hết thẩy tập thể lãnh đạo Ðảng đều thuộc vai học trò của Hồ Chí Minh nên Hồ Chí Minh từng thoải mái tuyên bố là không ai có thể làm được điều gì nếu không có Hồ Chí Minh.

Kể từ 1945, khi Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo Ðảng thì uy quyền trở nên tuyệt đối hơn. Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng… đều đã bày tỏ thái độ tuân phục triệt để trước Hồ Chí Minh mà chứng cớ cụ thể là lời lẽ phát biểu về lãnh tụ trong những tác phẩm viết nối tiếp sau tác phẩm của Hồ Chí Minh tự ca ngợi mình.

P.J Honey từng mô tả về uy quyền lãnh đạo của Hồ Chí Minh trong Ðảng và Nhà Nước ở Hà Nội: “Chỉ một mình ông quyết định những vấn đề chính trị cao cấp, còn những kẻ khác, kể cả những ủy viên bộ chính trị, chỉ có việc chấp nhận và tuân hành mệnh lệnh của ông về những vấn đề liên quan”.

Cho nên, không thể cho rằng Ðảng ép buộc Hồ Chí Minh phải trở thành Thánh Sống.
Trên thực tế, chính Hồ Chí Minh đã chỉ đường vạch lối cho Ðảng phải thần thánh hóa mình và còn vẽ ra cả hình thù của vị thánh Hồ Chí Minh. Bằng chứng về ý muốn này của Hồ Chí Minh đã hiện diện ngay trước mắt mọi người là 2 cuốn sách ký tên Trần Dân Tiên và T. Lan.

Dù 2 cuốn sách được viết ra bởi bất kỳ lý do nào thì vẫn chứa đựng ý của người viết muốn tô điểm mình thành một khuôn mẫu nhân vật do chính mình diễn tả bằng mọi thứ mỹ từ như anh hùng cứu nước, con yêu của đất nước, cha già dân tộc…

Khởi từ đây, Ðảng đã tô vẽ cuộc đời đấu tranh không thiếu niềm vui của Hồ Chí Minh thành cuộc đời đầy gian lao khổ hạnh, đã làm mọi cách để vùi lấp những người đàn bà sống bên cạnh Hồ Chí Minh kể cả nhúng tay vào máu, đã phải đi từ khuyến dụ tới ép buộc mọi người dành riêng tiếng Bác để gọi Hồ Chí Minh và tô vẽ cho Hồ Chí Minh những màu sắc huy hoàng nhất bằng những màn trình diễn suy tôn Thánh Sống trong những buổi sinh hoạt với dân chúng trên toàn miền Bắc từ năm 1946.

Khi Hồ Chí Minh giả xưng nhà báo có tên Trần Dân Tiên tạo ra khuôn mẫu thần tượng cho bản thân mình thì toàn Ðảng có nhiệm vụ phổ biến khuôn mẫu thần tượng này. Ðảng chỉ tuân hành chỉ thị còn người chủ trương xảo trá, lừa gạt không là ai khác, ngoài Hồ Chí Minh, dù đã có những biện giải ra sao.

Với thực tế này, việc Hồ Chí Minh có tài đóng kịch đã trở thành rõ ràng. Bởi kẻ thiếu tài đóng kịch để che giấu chân tướng thì không lường gạt nổi ai.

Cho tới giờ này, sự kiện Hồ Chí Minh vẫn được Bùi Tín kính trọng vì cho là người lương thiện, vẫn được Sainteny nghĩ là người tin ở Chúa Jésus, vẫn được Nguyễn Tạo, Vũ Thư Hiên tội nghiệp do bị áp lực đến nỗi phải im lặng khi vợ mình bị thủ hạ sát hại và vẫn được nhiều người cho là nhà ái quốc vĩ đại hết lòng lo cho dân, cho nước… chứng tỏ Hồ Chí Minh không chỉ có tài đóng kịch mà còn là kịch sĩ kiệt xuất đã che mắt không chỉ một người mà nhiều người trong một thời gian dài.

Tài đóng kịch của Hồ Chí Minh có thể do thiên phú và phần khác do được rèn luyện về những kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng điệp báo…

Truy tầm nguồn gốc những kỹ năng này hoàn toàn không cần thiết bởi chủ điểm của vấn đề ở đây chỉ là Hồ Chí Minh có tài đóng kịch hay không. Chủ điểm đó đã có lời giải đáp qua thực tế con người hai mặt không thể phủ nhận của Hồ Chí Minh với đủ loại huyền thoại.

Dù sao, công bình mà nói phải nhận là về phương diện này Hồ Chí Minh đã chứng tỏ tài trí hơn người. Cứ tưởng tượng một diễn viên điện ảnh hay một điệp viên quốc tế đã phải tốn biết bao công phu rèn luyện mới leo lên đến bậc siêu sao hay điệp viên thượng thặng. Thế mà Hồ Chí Minh, ngoài cái tài xuất chúng về tuyên truyền chẳng khác gì một nhạc trưởng của dàn nhạc giao hưởng, ông còn có tài “đóng kịch” một cách kiệt xuất, đến nỗi những kẻ gần bên ông như Bùi Tín, hay những bậc thức giả như Bernard Fall đã phải thốt lên: “Không phải kịch!” hay “Không thể nào đóng kịch tài đến thế trong suốt một thời gian dài đến thế!” Nhiều người đã đánh giá ông Hồ quá thấp khi bảo tuyên truyền chỉ là nói dối, ai làm không được. Hoặc đóng kịch chỉ là đánh lừa, cái tài của bọn gian manh!

Thực ra tuyên truyền chính trị là một khoa học, hơn nữa đồng thời cũng là một nghệ thuật mà người lãnh đạo mặt trận này được ví như nhạc trưởng tài ba vừa thông thạo nhạc lý, vừa có khả năng sử dụng một cách điêu luyện nhiều nhạc cụ, lại có uy tín đủ để tập họp được một tập thể nhạc công có tài… Và nghề điệp báo hay diễn viên điện ảnh cũng là cả một khoa học phức tạp không có tài thiên phú khó mà thành công. Cho nên phải nhìn nhận Hồ Chí Minh đã phải có chí lớn, có một lý tưởng mà ông tôn thờ, say mê nhắm tới mới có thể bền chí khổ công rèn luyện mà thành. Chỉ tiếc rằng lý tưởng của ông là ảo tưởng (của chủ nghĩa Mác-Lênin), và cái tài của ông đã được sử dụng để đánh lừa và nhấn chìm cả một dân tộc vào cảnh máu lửa triền miên.

Hồ Chí Minh đã có hàng trăm huyền thoại về cười, khóc, về cung cách thân mật, về lời lẽ ngọt ngào, về hành vi nhân ái… Giữa những huyền thoại đó, huyền thoại về đôi dép râu được nhắc lại không biết bao nhiêu lần như một chứng liệu về nếp sống giản dị và sự quên mình của Hồ Chí Minh.

Theo lời kể, Hồ Chí Minh gần như không khi nào rời đôi dép râu, kể cả khi đón tiếp quốc khách quan trọng như Mao Trạch Ðông. Chuyện kể ngụ ý Hồ Chí Minh có tính tình giản dị và luôn tiết kiệm, nhất là có xu hướng gần gũi với người nghèo khổ.

Sau năm 2000 Lữ Phương còn say sưa kể lại chuyện này để đề cao lãnh tụ: “Bác Hồ đi dép râu thì ai cũng biết. Bác đi một đôi dép đến mòn lẳn. Cậu bảo vệ đề nghị Bác thay nhiều lần nhưng Bác nhất định không chịu. Cuối cùng nài nỉ mãi không được, cậu phải lấy lén đôi dép ấy đi đổi. Khi phát hiện, Bác không vừa lòng và nhất quyết bắt cậu bảo vệ đi lấy lại đôi dép cũ.” (20)

Nhưng Hồ Chí Minh trung thành với đôi dép râu tới mức đó chưa hẳn do ý hướng như người kể muốn nhắc.

Trên thực tế, chuyện đã gợi nhớ lời kể của Võ Nguyên Giáp: “Bác chỉ định mấy đồng chí cùng đi. Thấy một đồng chí mang dép, Bác bảo về nhà thay giày. Bác nói: Khi nào gặp “người ta”, tôi ăn mặc thế nào cứ mặc tôi, nhưng những chú thì phải cho tề chỉnh”.

Lời kể này diễn tả khá đầy đủ ý nghĩa việc Hồ Chí Minh nằng nặc đòi lại đôi dép cũ và đã phản ảnh sự việc không hề do bản tính tự nhiên mà có chủ ý rõ rệt. Mấy câu thơ của Nguyễn Chí Thiện trong Hoa Ðịa Ngục có lẽ cũng bắt nguồn từ giai thoại về đôi dép này:

Chân đi dép lốp
Mồm đốt đôla
Bác Hồ chúng ta
Kịch gia xuất sắc.
Phía sau con người thánh thiện Hồ Chí Minh đã hiển hiện một con người đúng như Olivier Todd diễn tả là dù “chết hay sống, chúng ta không có quyền nhìn quá lâu, hoặc quá gần”. (21)

Minh Võ
Monday, October 03, 2005
Trích chương 49 tác phẩm biên khảo HỒ CHÍ MINH, nhận định tổng hợp do Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở Virginia (điện thoại: 703-573-1207) xuất bản cách đây hơn một năm.

CHÚ THÍCH

(01) Những năm tháng không thể nào quên – Võ Nguyên Giáp, tr. 76.
(02) Về những đoạn trích dẫn, xin đọc thêm những chương về những tác giả liên hệ.
(03)-(11)-(19) Mặt Thật – Thành Tín, tr. 91, 91-92, 98-99.
(04)-(12)-(13) Hồ Chí Minh – Pierre Brocheux, Presses de Sciences PO, Paris 2000, tr. 104, 105-106
(05) Vũ Thư Hiên chỉ ghi tên Xuân không xác định họ. Nguyễn Minh Cần ghi họ Nguyễn trong khi nhiều tài liệu khác ghi họ Nông.
(06) Nguyễn Tạo nguyên Phó Tổng Giám Ðốc Nha Công An thời Lê Giản làm Tổng Giám Ðốc cho tới cuối năm 1954 Nha này biến thành Bộ Công An do Trần Quốc Hoàn làm Bộ Trưởng mới chuyển qua làm Thứ Trưởng Lâm Nghiệp.
(07)-(10) Ðêm giữa ban ngày, Văn Nghệ, Cali 1997, tr. 605- 609, Phần phụ lục, tr. I-VII
(08) Thế kỷ 21 số 96. Cali, tháng 4-1997 – Nguyễn Minh Cần: Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh.
(09) Sau khi cô Xuân bị giết, đứa con được giao cho Nguyễn Lương Bằng nuôi tới khoảng 1961-1962 gửi cho Chu Văn Tấn, tới 1969 khi Hồ Chí Minh chết, được giao cho Vũ Kỳ nhận làm con nuôi, đổi tên là Vũ Trung.
(14) Xin coi thêm chương về Bernard Fall và tác phẩm Ho Chi Minh on Revolution.
(15) Tác giả Kiều Phong châm biếm: “Không muốn nhắc mà lại tự mình ngồi viết cả một cuốn sách bốc thơm mình….” Không” cái kiểu ấy hơi lạ. Ðáng lẽ phải viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn đứa khác viết về thân thế của Người. Chính người phải tự viết lấy, tự ca tụng mình thì mới đã đời”.- Chân Dung Bác Hồ, Cali 1989, tr. 87.
(16) – (18) Chân Dung Bác Hồ – Kiều Phong, Cali 1989, tr. 20 và 137.
(17) Xin đọc thêm chương 8 về Những mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch.
(20) Huyền Thoại Hồ Chí Minh – Lữ Phương, đăng trên nhiều báo ở Mỹ, tháng 10-2001.
(21) Xin coi thêm chương về Nhóm Ðường Mới, phần nói về Olivier Todd.

//

Hình trích Internet- posted bởi tunhan-

Bac Ho

Nên Tránh Dùng Chữ “TRUNG QUỐC”

TẠI SAO KHÔNG NÊN DÙNG 2 CHỮ “TRUNG QUỐC”

No automatic alt text available.Bản đồ cổ của Bách Việt và Tàu 2000 năm trước

Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.

Hai chữ Trung Nguyên quá mơ hồ không rõ ràng, cho cả vùng rộng lớn. Trong vùng này có một địa phương, khá đông dân cư, gọi là Hoa Âm (thuộc địa phận tỉnh Hoa Nam hiện nay), nên còn được gọi là Trung Hoa. Từ đó hai chữ Trung Nguyên hay Trung Hoa thường được dùng lẫn lộn. Để phân biệt với Bắc Mạc (北 漠), tức vùng sa mạc phía bắc sông Hoàng Hà, họ gọi là Trung Nguyên. Để phân biệt với Lĩnh Nam (嶺 南), tức vùng đồng bằng có núi cao (lĩnh) phía nam sông Dương Tử, họ gọi là Trung Hoa.

Thế rồi, qua nhiều thời kỳ, các kẻ nắm quyền cai trị tự vẽ vời ra đủ điều để sơn phết cho hai chữ Trung Hoa nhằm đánh bóng thân thế đối với các xứ lân cận.

image

Lúc này, bọn cầm quyền bắt tên bồi bút Khổng Khâu, mà người Việt thường gọi là Khổng Tử, vẽ vời cho rằng Trung (中) là ở giữa, Hoa (化) là có văn hóa, có học thức. Ý muốn tôn xưng rằng chỉ có nơi đây mới là trung tâm văn hóa của con người. Một loại “đỉnh cao trí tuệ” tự xưng của thế giới vào thời bấy giờ. Vì thế họ gọi những dân tộc sống vùng chung quanh là súc vật như: Nam Man (chó); Bắc Địch (sâu); Đông Di (rắn); Tây Nhung (khỉ). Cũng bởi ngu si và đầu óc bán khai, kém tiến hóa, nên họ không hề biết rằng gọi như thế tự chính họ còn thua cả súc vật. Kẻ ngu si thường mắc phải căn bệnh hoang tưởng này để giải tỏa ẩn ức tâm lý hèn kém, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn nhận thấy.

Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (述 而 不 作 – thuật nhi bất tác – chỉ kể lại chứ không phải sáng tác). Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng trà và lúa của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn, uống mà kẻ có văn hóa nên dùng. Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon, thấy ghiền. Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu. Cả đến chữ Tàu cũng bắt nguồn từ bộ chữ Khoa Đẩu của tộc Bách Việt. Thế nhưng không có mấy người Việt Nam dám chấp nhận điều này. Căn bệnh nô lệ truyền đời đã ăn sâu vào tận tâm trí của họ. Điều gì cũng cho là của Tàu thì mới thỏa mãn căn bệnh nô lệ truyền kiếp này của người dân Việt hiện nay. Cũng theo lệnh kẻ cầm quyền, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như; thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân.

Con trời, gì mà bị kẻ khác soán ngôi tàn sát thẳng tay không chừa một mống. Ngũ thường gì mà trong cung đình, con giết cha để cướp ngôi, hai cha con cùng lấy một vợ, con cướp vợ của cha rồi loạn luân, chém giết, tàn sát lẫn nhau đủ kiểu. Thế nhưng chúng bắt mọi người dân phải trung thành với kẻ cai trị mới gọi là yêu nước. Điều này chẳng khác gì hiện nay bọn giặc cộng cố tình nhét vào đầu người dân Việt câu thần chú “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

image

Thật ra, tên Khổng Khâu này chỉ là một kẻ bồi bút cho bọn cầm quyền vào thời bấy giờ. Chẳng khác nào Tố Hữu, Cù Huy Cận, Văn Cao, Chế Lan Viên, Xuân Diệu sau này của Việt cộng. Và hiện nay, để áp đặt ách nô lệ này, giặc Bắc ra lệnh cho bọn tay sai Việt cộng thành lập viện Khổng Tử tại Hà Nội để bắt dân Việt thờ lạy như ngày trước trong thời đại phong kiến gọi là Văn Miếu.

Những người Việt mang nặng tinh thần nô lệ nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (萬 世 師 表 – vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn kiếp nô lệ và thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc. Nghĩa là khi nghe người khác hiểu sai, nói sai, chúng ta nên trình bày, giải thích cho họ hiểu rõ sự việc. Cùng giúp nhau hiểu rõ vấn đề, thì không có gì phải ngần ngại, hay lo sợ cả. Mà đây lại là vấn đề sống còn của cả một dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người Việt, không riêng gì ai cả. Mọi người dân đều hiểu rõ tức là dân trí được nâng cao. Sự hiểu biết của người dân càng nhiều, bọn Việt cộng càng lo sợ. Điều này ai cũng hiểu cả.

image

Để áp đặt tinh thần nô lệ và phong kiến trở lại, kẻ cầm quyền Việt cộng đang âm thầm đem các từ ngữ mang nặng tính thần quan liêu, phong kiến, vào đầu người Việt như: quan chức, ngài. Người Việt sống tại Miền Nam trước năm 1975 sẽ dễ dàng nhận ra điều này. Danh từ quan chức hoàn toàn không có trong ngôn ngữ Miền Nam. Thay vào đó, là nhân viên, hay viên chức chính quyền. Hoàn toàn không có chữ quan trong đầu người dân sống dưới chế độ tự do dân chủ Việt Nam Cộng Hòa. Danh từ ngài, chỉ dùng cho các đấng tối cao, giáo chủ trong tôn giáo. Trường hợp ngôi thứ hai trong văn bản, thì chỉ là: “Thưa tổng thống.” Không bao giờ có hình ảnh của kẻ nô lệ cúi đầu khuất phục như trong câu: “Kính thưa ngài thủ tướng,” như hiện nay trong xã hội cộng sản. Nêu ra điều này để mọi người cùng nhận ra rằng, qua ngôn ngữ, Việt cộng đã cố tình đưa người dân Việt trở về thời kỳ quan liêu phong kiến và nô lệ cũ.

Từ xưa, Trung Nguyên này là nơi tranh giành quyền lực tự do và được xem là vườn hưu hoang không có chủ. Kẻ nào giành được thì mặc sức mà cai trị. Và họ cũng chẳng có khái niệm gì về quốc gia dân tộc. Kẻ nắm quyền cai trị luôn có tham vọng bành trướng và xâm chiếm các nước chung quanh. Thời kỳ Chiến Quốc là một thí dụ điển hình lịch sử về sự tranh giành quyền lực nơi vườn hưu hoang này. Với tinh thần đó, và nhằm trấn áp người dân để cai trị nên kẻ nào lên nắm quyền cũng tự xưng mình là con trời, là lớn, là đại. Như Đại Chu, Đại Tần, Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh. Đại sau thẳng tay tàn sát tiêu diệt đại trước. Và đại cuối cùng thì bị tám cường quốc Tây phương cùng nhau xẻ thịt. Nên thực tế chẳng có ma nào là đại cả.

image

Cho nên người Tàu chỉ có khái niệm về triều đại chứ không biết thế nào là dân tộc và tổ quốc. Điều này còn hiện rõ trong nếp sinh hoạt của người Tàu hiện nay nơi hải ngoại. Thí dụ; Tàu Hồng Kông, Tàu Singapore, Tàu Đài Loan, Tàu Phúc Kiến, Tàu Quảng Đông, Tàu Mã Lai, vân vân. Không Tàu nào chịu chơi chung với Tàu khác cả. Bởi điều dễ hiểu, trong đầu người dân đến cả kẻ nắm quyền cai trị, không có dân tộc Tàu, không có dân tộc Trung Hoa, hay Trung Quốc. Bởi thế, để thực hiện Bước Tiến Nhảy Vọt, dùng lương thực của Tàu đổi lấy kỹ thuật của các nước cộng sản Đông Âu, Mao Trạch Đông sẵn sàng cho 17 triệu người Tàu chết đói mà chẳng hề bận tâm.

Chữ triều có nghĩa là nhiều lượn sóng có ngọn gập đầu xuống cùng nhau chạy về một hướng, là tấp vào bờ, như thủy triều, hải triều. Từ đó, bọn cai trị dùng chữ triều mang ý nghĩa cùng khoanh tay cúi đầu chầu và hướng về. Bởi vậy, trên trang phục chúng luôn cho thêu nhiều lượn sóng cuốn gục đầu trên áo quần các quan lại, hoặc các nơi như sảnh đường xử án. Và khi gặp nhau, kẻ dưới phải khoanh tay và cúi đầu theo đúng hình ảnh của chữ triều đã thêu trên quần áo, và hiện hữu khắp nơi qua tranh ảnh, chạm khắc. Nói theo ngôn ngữ trong khoa Tâm Lý Học, đó là những kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh vi và ma quỷ.

image

Triều cống nghĩa là cúi đầu dâng nộp phẩm vật quý giá lên cho ông chủ. Triều đình là cái sân để cả đám quan lại đứng khoanh tay cúi đầu chầu về ông vua ngồi trên cao. Triều đại có ý nghĩa nguyên thủy là khoanh tay cuối đầu hướng về ông chủ lớn. Những chữ này, thể hiện tinh thần ngạo mạn, tham vọng quyền lực, luôn bắt các nước nhỏ xung quanh phải quy phục kẻ cai trị ngồi ở giữa. Các chữ Trung Hoa hay Trung Quốc cũng mang tinh thần ngu xuẩn nhưng ngạo mạn này. Ngày nay với kiến thức về địa dư thế giới, mọi người Việt đều biết rõ xứ này chẳng có gì để tự xưng là Nước Ở Giữa cả. Thế nhưng nhiều người Việt vẫn đang chấp nhận điều này qua ngôn ngữ. Đây là biểu hiện của một kiến thức kém cõi và nặng tinh thần nô lệ.

Người Việt, sống trên vùng đất phía nam sông Dương Tử, từ vùng núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình trở về nam, nên gọi là xứ Lĩnh Nam. Họ vẫn luôn biết mình là dân tộc Bách Việt. Để chống lại ý tưởng bá chủ, hống hách của những kẻ phương Bắc, và quyết tâm giữ vững tinh thần tự chủ và độc lập, người Việt luôn nêu cao tinh thần Đại Việt, Đại Nam qua mọi thời kỳ lịch sử.

Lưu Bang, một tên thôn trưởng lưu manh sống bên dòng sông Hán Thủy, cướp công Hạng Võ, diệt Tần lên nắm quyền cai trị (256 trước TL). Để thành lập triều đại, Lưu Bang lấy chữ Hán từ tên con sông rồi gọi là Triều Hán, và tự xưng là Đại Hán. Sự cai trị của dòng họ lưu manh này kéo dài suốt 400 năm, nên hai chữ đại hán đã ăn sâu vào đầu của nhiều thế hệ dân cư trong vùng. Để sống còn, tránh cảnh bị tàn sát và tiêu diệt, dân tộc hay bộ tộc nào trong vùng bị cai trị cũng tự gọi mình là người Hán. Ngay cả chữ viết đã có trước đó từ lâu chúng cũng bắt mọi người gọi là chữ Hán. Người Việt sau này, dưới sự áp đặt của Tàu mấy trăm năm trước cũng mặc nhiên chấp nhận điều này. Cho đến nay, hầu hết người Việt cũng vẫn còn gọi là chữ Hán. Không mấy ai dám gọi là chữ Tàu cả. Vì họ sợ. Sợ điều gì họ cũng không rõ. Nhưng vẫn cứ sợ và gọi như thế là đủ an tâm. Nêu điều này ra để chúng ta cùng nhận rõ cái tinh thần nô lệ này đã truyền đời đến cả ngàn năm nay vẫn còn nhiều người Việt không chịu nhận ra và quyết tâm tiêu trừ.

image

Sau khi Mông Cổ diệt Đại Tống lập Đại Nguyên cai trị xứ này cả trăm năm. Đến khi Trần Hữu Lượng (Lượng là con trai Chiêu Minh Vương Trần Ích Tắc – qua việc thông đồng với giặc, vương bị anh là vua Trần Thánh Tông không giết nhưng đuổi ra khỏi Việt Nam và qua Tàu sống ở vùng Trường Sa, Quảng Đông ngày ngay) đánh đuổi Mông Cổ chuẩn bị lên ngôi thì bị Chu Nguyên Chương cướp công và lập nên Đại Minh. Dòng họ Ái Tân Giác La của bộ tộc Mãn Châu (Nữ Chân, Kim sau đổi là Thanh) diệt Minh, rồi cũng gọi là Đại Thanh. Thời kỳ nầy không còn ai dám nhận mình là Đại Hán hoặc Đại Minh nữa cả. Và bọn đại hán (trong đầu người Việt) phải cạo đầu thắt bính như người Mãn Châu. Nếu không sẽ bị chặt đầu ngay. Lúc bấy giờ, trong dân gian, vì quen miệng họ vẫn gọi xứ này là Trung Nguyên hay Trung Hoa. Tuy rằng biên giới đã vượt qua sông Dương Tử và tiến xa xuống phương nam.

Sau này một vài người Tây phương, vốn không biết nhiều về xứ này, nên cho rằng người sống ở đây là dân Hán, nhưng họ lại gọi là nước Tần. Người Việt vốn nặng tinh thần nô lệ lại tôn thờ khoa học tây phương, nghe người da trắng Âu Châu gọi thế nên vội vã cho là có tộc Hán. Đây là sự di căn của căn bệnh nô lệ. Ngày trước họ thờ Tàu. Khi Tàu đi, Tây đến thì họ đành phải thờ Tây. Đối với họ hễ người Tây phương nói là phải đúng, và họ không hiểu rõ nghĩa chữ tộc trong tiếng Việt. Điều này cũng ngây ngô chẳng khác nào hiện nay bảo những người sống tại Mỹ là dân tộc Hoa Kỳ. Ai cũng biết chỉ có người công dân Mỹ chứ không có dân tộc Hoa Kỳ. Xứ Tàu cũng chỉ là một loại hợp chủng quốc ở Châu Á mà thôi. Hiện nay, ngoài hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số, Tàu vẫn còn xử dụng sáu ngôn ngữ chính. Ngay cả Mao Trạch Đông vẫn nói tiếng Hồ Nam, khiến nhiều người Tàu nghe không hiểu. Không có ngôn ngữ Tàu chính thống, tuy rằng phần lớn là tiếng Việt do dân Bách Việt sống khá nhiều ở vùng phía Nam sông Dương Tử, mà còn giữ rõ âm Việt nhất là tiếng Quảng Đông, Quảng Tây. Vì sự kiện này nhiều người Việt Nam, không chịu tìm hiểu lịch sử của tộc Bách Việt, lại nặng tinh thần nô lệ, nên cứ cho rằng tiếng Việt hiện nay là mượn từ tiếng Quảng Đông của Tàu. Dù vẫn còn sáu ngôn ngữ chính, nhưng chữ viết chỉ một, do Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, thống nhất chữ viết để dễ bề cai trị, và gọi là quan thoại, tức ngôn ngữ của quan lại. Đến thời bạo chúa Mao Trạch Đông, vốn xem Tần Thủy Hoàng là thần tượng, cũng bắt chước Doanh Chinh bắt sửa lại chữ Tàu và gọi là chữ Tàu đơn giản. Ở đây chúng ta gọi là chữ Tàu, nhưng sẽ còn vô số người Việt quyết tâm giữ chữ Hán trong đầu cho đến chết, và truyền lại cho con cháu.

image

Dưới áp lực xâm lăng của giặc Bắc, người Việt từ vùng Động Đình Hồ, dần dần bị đẩy xa về phương nam. Qua thời gian, người Việt còn ở lại vùng phía Nam sông Dương Tử đã quên mất nguồn gốc Bách Việt của mình. Nhưng họ không hề bị đồng hóa, vì dân số Việt tộc ở những vùng này vẫn luôn nhiều hơn những bộ tộc hỗn tạp nhỏ khác. Họ chỉ mất gốc. Một điển hình trong lịch sử cận đại là Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen), sinh ở Quảng Đông, người mà dân Tàu đang thờ phượng và suy tôn là cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tam Dân, vốn là người Việt. Ông ta biết rõ điều này. Tuy vậy, vì quá lâu đời và vì sự nghiệp chính trị ông không dám nói rõ thân thế. Trong khi đó dòng họ Lý của Việt Nam sống tại Đại Hàn gần ngàn năm nay vẫn luôn tự hào mình là người gốc Việt. Nên khi vừa lên cầm quyền, tổng thống Lý Thừa Vãng của Nam Hàn đã nhờ tổng thống Ngô Đình Diệm truy tìm gia phả của dòng họ Lý tại Việt Nam.

Chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mọi người Việt đều đã biết. Sau khi đánh quân Thanh một trận nhớ đời và đuổi ra khỏi bờ cõi, Quang Trung Hoàng Đế liền có kế hoạch lấy lại đất bị giặc Bắc cướp trước đó. Theo chương trình, vua Quang Trung sẽ đuổi Mãn Thanh trở ngược về phía Bắc sông Dương Tử, quyết lấy lại vùng Lĩnh Nam của dân Bách Việt ngày xưa. Bước đầu, nhà vua bắt Càn Long phải gả con gái và trả lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây. Sau đó sẽ làm bàn đạp để bắc tiến và tây tiến. Càn Long liền gởi chiếu mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh để đàm phán. Nhắm để phòng sự tráo trở của giặc Bắc cùng sẵn dịp hạ nhục Càn Long của Đại Thanh, vị Hoàng Đế Đại Việt cho người giả trang dẫn phái đoàn sang Tàu. Trên đường đi phái đoàn Việt cố tình hành hạ bọn quan lại Tàu đủ điều, nhưng chúng cũng phải cúi đầu chịu nhục. Càn Long vẫn biết rõ trưởng phái đoàn chỉ là vị vua giả. Nhưng mở miệng ra lại sợ nhục nhã, nên hắn đành phải câm miệng và dùng đủ lễ nghi để tiếp đãi phái đoàn. Đây cũng là một sự nhục nhã nặng nề mà Càn Long của Đại Thanh đành phải nuốt sâu vào lòng.

image

Vua Quang Trung cho Càn Long biết, nếu không chịu trả đất, vua Việt sẽ giúp bọn phục Minh nổi dậy diệt Thanh.

Vừa mới bị đánh một trận kinh hoàng, lại muốn giữ ngôi để tiếp tục cai trị xứ Tàu, Càn Long đành phải nuốt nhục cúi đầu chấp nhận. Nhưng mọi việc chưa xong thì vua Quang Trung băng hà. Thế là việc đòi lại đất của người Việt xem như bất thành.

Nếu vua Quang Trung không mất sớm và bắt Càn Long của Đại Thanh trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Đại Việt thì hôm nay đã không có Tôn Dật Tiên cho dân Tàu thờ làm Quốc Phụ. Nêu ra điều này để người dân Việt thấy được sự ngu ngốc của người Tàu. Đúng ra, mọi người Việt đều có bổn phận phải nói rõ điều này cho người Tàu, và nhất là cho Tập Cận Bình biết mỗi khi hắn cúi đầu lạy Tôn Dật Tiên.

Chữ Qin được Tàu phát âm là Ch’in, người Việt phát âm là Tần. Từ âm Ch’in này người da trắng gọi xứ này là China hay Sino. Khi nắm quyền Doanh Chính dùng chữ Đại Tần vì lấy tên địa phương của xứ Tần (hiện nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cho nên người Tây phương dùng chữ China, Sino, Chinois là do sự diễn âm chữ Tần (Ch’in), để gọi xứ này. Hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Xin người Việt không nên đem hình ảnh của hai chữ Trung Quốc trong đầu của mình mà áp đặt lên chữ China, Sino của người da trắng.

Người da trắng gọi họ là Tần. Tại sao chúng ta không dám gọi họ là Chệt hay Tàu? Hỏi tức đã trả lời rồi vậy.

Mãi đến thời kỳ Mãn Thanh vẫn chưa có hai chữ Trung Quốc [1]. Năm 1927, Nhật tiến chiếm vùng Mãn Châu, lập ra Mãn Châu Quốc, sau đó cai trị toàn xứ Tàu. Tiếp theo xứ Tàu bị Hoa Kỳ chẻ ra làm hai thế lực chính trị vào năm 1949. Ngay sau khi đánh bại Nhật, năm 1945, lúc đầu Mỹ tính giao cả nước Tàu cho Tưởng Giới Thạch, để loại trừ Trương Học Lương, vốn gốc Mãn Châu, lên nắm quyền. Nhưng sau đó, năm 1948, Mỹ đổi ý muốn đổi thế cờ đánh Nga cộng, nên đem giao cả đại lục cho Mao Trạch Đông, được gọi là People’s Republic of China. Đảo Đài Loan thì Mỹ giao cho Tưởng Giới Thạch được gọi là Republic of China [2]. Để làm vui lòng kẻ bị bạc đãi vì chia đất cho quá ít, Mỹ cho Tưởng Giới Thạch vào Liên Hiệp Quốc để xoa dịu tự ái. Đến năm 1972, sau thời gian đủ lâu, Mỹ đuổi Tưởng ra khỏi Liên Hiệp Quốc, đem Mao Trạch Đông vào thay thế. Và bắt Tưởng phải dẹp bỏ danh xưng Republic of China, mà từ đó về sau chỉ được gọi là Taiwan, không có vị thế quốc gia trên chính trường quốc tế.

image

Theo lệnh Mỹ, Tưởng Giới Thạch & Mao Trạch Đông phải cùng bắt tay hợp tác
(và chụp hình chung trong buổi ra mắt ở Nam Kinh)

Hai xứ này, lúc bấy giờ, nếu dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa quốc tế, ở đây chúng ta sẽ dựa trên tiếng Mỹ, phải là Cộng Hòa Nhân Dân Tàu (Tần), và Cộng Hòa Tàu (Tần). Cũng như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Socialist Republic of Vietnam, hay Việt Nam Cộng Hòa là Republic of Vietnam.

Ở đây, chúng ta nhận ra thêm một điều vô cùng quan trọng là, do bản chất nô lệ giặc Bắc, Việt cộng đã âm thầm dùng tiếng Việt theo kiểu Tàu. Các chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đi trước hai chữ Việt Nam. Có nghĩa là tính từ đi trước danh từ. Trong khi đó danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, tính từ phải đi sau danh từ. Người Việt chúng ta chỉ nói trái ổi xanh, hoặc biển xanh. Chỉ có dân Tàu mới nói xanh trái ổi, và thương hải.

Có người sẽ cho rằng chỉ là thứ tự trước sau, ý nghĩa vẫn có đủ, việc gì mà phải chẻ sợi tóc làm tư.

Xin thưa. Một người đảng viên cộng sản, dù nói hay viết, mà dùng chữ nhân dân, hay nhà nước trước chữ đảng, chắc chắn sẽ bị giết ngay. Thực tế, không có người nào dám làm điều này. Bởi họ biết rõ nguyên tắc sinh tử của băng đảng sắt máu côn đồ này là: Nói Bậy Là Chết.

image

Trở lại hai chữ Trung Quốc. Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt. Sau khi được Mỹ giao cho cai trị toàn miền đại lục, Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục truyền thống ngu si và bạo chúa nên tự gọi là Trung Quốc. Thứ nhất; nhằm kích thích tinh thần ngông cuồng của dân trong xứ. Thứ hai; bắt cộng sản Việt Nam phải tuân dùng theo, để tròng ách nô lệ lên đầu người Việt, mà trước nhất là những kẻ tay sai Việt cộng. Hiểu một cách rõ ràng, chữ Trung Quốc vẫn hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Bởi chữ Trung vốn có gốc từ chữ Trung Nguyên từ thời xa xưa. Tuy vậy, Tàu cộng vẫn mập mờ để bắt Việt cộng phải áp đặt vào đầu những người Việt, kém hiểu biết lại nặng tinh thần nô lệ phương Bắc, nên tự suy diễn ra là Nước Ở Giữa để nuôi trong đầu.

Xin mở một dấu ngoặc. Trong hồi ký của mình, ông bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông cho biết; kể từ khi nắm quyền đến lúc chết (1949-1976), suốt 28 năm Mao không hề tắm, và nhất định không chịu đánh răng súc miệng. Tên bạo chúa này tuyên bố hắn chỉ cần “tắm” trong âm hộ của người đàn bà là đủ, và hắn không tin có loại bệnh có thể truyền nhiễm qua đường tình dục. Để tránh tình trạng này, ông bác sĩ riêng phải gạt hắn ta bảo là uống thuốc bổ tăng cường sinh dục, nhằm tránh tình trạng Mao truyền bệnh giang mai cho cả ngàn người đàn bà mà hắn xem là cung tần phi nữ. Một loại bạo chúa ngu si của thời đại. Nêu điều này nơi đây để mọi người Việt biết sự ngu si và bệnh hoạn của Mao, và cũng là của dân Tàu. Thế mà tên cáo họ Hồ bắt dân Việt Nam phải học tập tư tưởng của Mao.

Vốn là kẻ tôi tớ luôn cúi đầu phục tùng mệnh lệnh của ông chủ, lại sống kiếp sống của kẻ vô tổ quốc, phi dân tộc, nên người cộng sản Việt Nam không dám gọi là Tàu. Và họ bắt người dân phải gọi là Trung Quốc để áp đặt và nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người Việt qua ngôn ngữ.

image

Trước năm 1975, người Việt tại Miền Nam thường gọi hai quốc gia này là Trung Hoa Cộng Sản và Trung Hoa Quốc Gia để chỉ cho hai thể chế chính trị, nhưng vẫn gọi chung là người Tàu. Như; Tàu Đài Loan, Tàu Chợ Lớn, Tàu Hồng Kông, Tàu Đại Lục. Chính những người Tàu sống ở Việt Nam cũng tự gọi họ là người Tàu. Từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấm không cho người Tàu làm 11 nghề chính để bảo vệ kinh tế cho người dân Việt Nam. Nguồn gốc phát xuất âm Tàu trong tiếng Việt, cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Có thể là do nghe và nói lại một cách sai lạc âm của chữ Tần mà người Tây Phương tại Việt Nam thường dùng vào thế kỷ 18, 19. Cả Philippines, Thailand, Kampuchia, trong ngôn ngữ của các quốc gia này, họ cũng không gọi xứ này là Nước Ở Giữa. Riêng người Nhật dùng chữ China với ý nghĩa khinh miệt là lũ người bệnh hoạn, ngu si, nhu nhược, yếu hèn. Đến nay chỉ có người Tàu và dân Việt dùng chữ Trung Quốc. Nêu điều này ra nơi đây, để mọi người cùng nhận thấy rõ sự nô lệ trong tư tưởng, thể hiện qua ngôn ngữ của người Việt, do sự tiếp tay của Việt cộng, đã bị Tàu cộng áp đặt sâu nặng đến thế nào.

Một thí dụ điển hình cho căn bệnh nô lệ giặc Bắc, là cho đến hôm nay, trong đầu khá nhiều người Việt vẫn tin chắc rằng võ thuật của Việt Nam thì phải “bắt nguồn từ Trung Quốc.” Hỏi tiếp nữa thì họ chống chế rằng bởi từ Thiếu Lâm Tự, và do Đạt Ma Sư Tổ truyền ra. Quả là khôi hài. Nếu vậy thì phải bảo rằng võ thuật của Tàu vốn do Ấn Độ truyền sang. Khổ thật. Kiến thức của họ đã kém, khả năng suy luận cũng không có, lại mang nặng căn bệnh thờ Tàu. Từ thời Khổng Khâu xa xưa mãi cho đến hôm nay, bọn người này chỉ có truyền thống chuyên nghiệp là đi ăn cắp và ăn cướp, xong đem về bôi xóa dấu vết rồi cho là của mình.

image

Vì thế, để thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của dân tộc, người Việt nên ý thức rõ điều này. Và không nên dùng hai chữ Trung Quốc. Bởi đây là thâm ý của cộng sản Việt, theo lệnh ông chủ Bắc Kinh, cố tình nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người dân Việt Nam.

Do đó, để chống Tàu, trước hết mọi người Việt nên chống lại âm mưu áp đặt tinh thần nô lệ này, qua ngôn ngữ, của giặc Bắc.

Nếu vẫn có người chưa chịu tin điều này, xin hãy nhớ lại chữ triều và hình ảnh những lượn sóng cuộn đầu trên áo quần quan lại thời phong kiến của Tàu ngày xưa. Xin nhắc lại, đây là kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) nhắm đánh sâu vào vô thức (subconcious, 88%), không nằm trên bình diện ý thức (concious, 12%) nên khó lòng nhận biết.

Việc chống Tàu qua ngôn ngữ nô lệ và mất nước này sẽ không dễ dàng vì bọn tay sai Việt cộng, theo lệnh chủ, đang tận sức phá nát ngôn ngữ Việt chính thống nhắm thay thế và áp đặt ách nô lệ qua ngôn ngữ trong mọi hoàn cảnh. Người dân Việt vô tình, nhưng bọn Việt cộng lại quyết tâm. Tránh sao khỏi cảnh này. Bao năm qua vì vô tình, không đế ý, nhiều người đã dùng đến quen miệng. Bây giờ mở miệng ra nói khác đi chắc chắn sẽ khó làm được ngay. Nếu không tin, mọi người hãy thử và sẽ thấy rõ tác dụng này.

Bảo rằng do thói quen, thì nên tự hỏi mình có dám bỏ cái thói quen này hay không? Dĩ nhiên, không mấy ai dám chấp nhận rằng vì sợ nên phải dùng hai chữ Trung Quốc. Vẫn có nhiều người sẽ tìm đủ lý do để biện minh cho hai chữ Trung Quốc nơi cửa miệng.

Chắc chắn có người sẽ cho rằng Trung Hoa hay Trung Quốc cũng chỉ là danh xưng, đâu có gì quan trọng. Những người này đang tự lừa dối chính mình và cố tình dùng xảo ngôn để lấp liếm và che dấu căn bệnh nô lệ truyền đời. Nếu chỉ là danh từ, và không có ý gì, thì tại sao không dám gọi là Tàu cộng?

image

Nhưng xin hãy tự hỏi mình rằng; cô nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên dù đang sống dưới sự cai trị của Việt cộng, vẫn dám gọi là Tàu khựa. Và chính họ cũng gọi họ là Tàu. Vậy tại sao mình phải tìm đủ lý do để dùng hai chữ Trung Quốc? Hãy cố gắng tự nhớ lại xem mình bắt đầu dùng từ lúc nào, để bây giờ gọi là quen miệng? Và tại sao mình không dám gọi là Tàu cộng?

Nếu không dám tức đã có nỗi lo sợ ẩn sâu trong đầu. Bởi sợ mới không dám. Sợ điều gì? Sợ ai? Hoàn toàn tìm không ra dấu vết. Đây chính là cái tác dụng của sự nô lệ và hèn nhược qua ảnh hưởng của ngôn ngữ. Đây cũng là hậu quả của sự khống chế tư tưởng (mind control) đã nêu ra ở trên. Có vài người, vì mặc cảm tự ti kém khuyết, để tự gạt mình nhằm che dấu căn bệnh nô lệ ẩn sâu trong tư tưởng, họ bảo rằng gọi như thế sẽ làm giảm giá trị trình độ trí thức và lịch sự của họ. Vì thế họ chỉ dám dùng chữ Trung Quốc, Trung Hoa để chứng tỏ họ là kẻ có học thức, là người lịch sự.

Khi vua Quang Trung tuyên bố trước ba quân: “Phải đuổi hết lũ giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Đánh cho chúng nó không còn manh giáp.” Ai dám bảo vua Quang Trung là phường vô học?

Trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, tháng 1/1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa: “Các anh cứ đánh tụi nó thẳng tay cho tôi.” Ai dám bảo tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người thiếu lịch sự?

Để giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc, mong rằng những người Việt này cũng nên từ bỏ cái ảo giác có học thức và lịch sự của mình.

Nên hiểu rằng khi người Tây phương gọi những xứ này là China, Sino, Chinois, qua ngôn ngữ của họ, trong đầu họ vẫn xem đó là xứ Tần. Qua ngôn ngữ xử dụng, họ hoàn toàn không có khái niệm hay ý nghĩ gì về một Nước Ở Giữa cả. Trong khi đó, người Việt nói đến hai chữ Trung Quốc, chắc chắn cái hình ảnh Nước Ở Giữa đã thấp thoáng trong đầu. Xin mọi người để ý đến điều này.

Nếu người đọc vẫn tìm mọi cách để chống chế, vẫn chưa đồng ý, và chưa hiểu rõ tác dụng của ngôn ngữ, xin nêu ra một thí dụ để chúng ta cùng nhận xét.

Khi nghe nói đến các chữ; cô ấy, bà ấy hay mụ ấy, trong đầu người nói và người nghe đều có ba hình ảnh khác nhau. Một cô gái trẻ đẹp (cô ấy), một người phụ nữ lớn tuổi (bà ấy) và một người phụ nữ xấu xí, lôì thôi lếch thếch (mụ ấy). Khi nói và nghe chữ Trung Quốc hay Tàu cộng cũng có tác dụng tương tự. Xin mọi người hãy tự suy nghiệm.

image

Ngôn ngữ thể hiện tâm lý là điều ai cũng hiểu và đồng ý. Nếu không thế, cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã không nói: “Tàu khựa hãy chết đi.” Và nếu không hiểu ý này, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không bắt cô ta. Thật ra, vì hiểu nên họ quá lo sợ bị ông chủ phương Bắc trừng trị, nên họ phải bắt cô ta. Hãy thử tượng tượng cái tác dụng tâm lý khi cô sinh viên này nói: “Trung Quốc khựa hãy chết đi.” Rõ ràng, câu này hoàn toàn không có tác dụng. Bởi tự nó đã thể hiện cái tâm lý nhu nhược hèn yếu và nô lệ qua hai chữ Trung Quốc trong câu. Hy vọng nhiều người Việt sẽ nhận rõ điềư này.

Khi đăng những bản tin ghe thuyền của Tàu cộng tấn công ngư dân Việt, báo chí Việt cộng chỉ dám dùng hai chữ tàu lạ. Mọi người đều hiểu tại sao. Ở đây chúng ta không cần diễn giải thêm. Rõ ràng là ngôn ngữ thể hiện tâm lý của người xử dụng. Và ai cũng hiểu đó lá cái tâm lý hèn hạ nhu nhược nô lệ của người cộng sản Việt Nam đối với bọn giặc phương Bắc.

Tương tự như thế, bất kỳ ai, mở miệng dùng hai chữ Trung Quốc cũng không thoát khỏi tâm lý này, dù họ có lớn tiếng hô to: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược.” Hãy tự hỏi chính mình, tại sao mình không mở miệng nói được câu: “Đả đảo Tàu cộng xâm lược.” Chẳng lẽ mình vẫn còn muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là con người có học thức và lịch sự?

Đã không xóa nổi hai chữ Trung Quốc ra khỏi đầu thì khoan nói đến chuyện chống Việt cộng hay Tàu cộng. Nếu chỉ là danh từ, tại sao không dám gọi là Tàu cộng? Không nên tiếp tục lừa dối chính mình nữa. Xin suy nghĩ kỹ điều này.

image

Việt Nam cộng sản gọi là Việt cộng. Trung Hoa cộng sản gọi là Trung cộng. Đâu có gì là không học thức, không lịch sự ở đây. Mà đối với bọn giặc Bắc, trong khi họ luôn tìm cách tiêu diệt mình, mà mình cứ mãi lịch sự với họ thì quả là một tâm lý bệnh hoạn. Ở đây chúng ta không thể dùng chữ nhu nhược, mà phải gọi là bệnh hoạn. Chúng ta thấy vẫn còn nhiều người Việt mang nặng cái tâm lý bệnh hoạn này trong đầu.

Những người đảng viên cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không bao giờ dám mở miệng nói đến chữ Tàu, dù là; ông Tàu vĩ đại, bác Tàu kính yêu. Chỉ nghe đến cái âm Tàu họ cũng đã hoảng sợ đến kinh người. Vì quá kinh sợ họ trở nên tức giận điên cuồng. Đối với họ, đó là loại ngôn ngữ phạm thượng. Quen sống kiếp nô lệ, họ không thể nào chấp nhận loại ngôn ngữ phạm thượng này đối với ông chủ phương Bắc được. Và cho đó là ngôn ngữ phản động. Bởi thế họ phải bắt ngay cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên.

Đến hôm nay, chúng ta đều thấy rõ rằng; nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam chỉ giỏi hèn với giặc, nhưng luôn ác với dân. Để chứng tỏ mình không hèn với giặc, như bọn người đang sống kiếp nô lệ này, điều đầu tiên và dễ dàng nhất là mọi người nên vất bỏ hai chữ Trung Quốc ra khỏi ngôn ngữ của mình. Bảo là dễ dàng nhưng sẽ có rất nhiều người không làm nổi điều này.

Tùy theo thái độ tâm lý, mỗi người sẽ tự chọn cho mình một loại ngôn ngữ thích hợp. Người nặng tinh thần nô lệ và bệnh hoạn sẽ có lý do để bảo vệ và tiếp tục xử dụng hai chữ Trung Quốc. Người nặng tinh thần tự trọng, hiểu rõ trách nhiệm trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc sẽ có lý do để loại bỏ chữ Trung Quốc và thay vào đó là Tàu.

Tâm lý tức giận sẽ dùng ngôn ngữ phẫn nộ. Tâm lý tự chủ sẽ dùng ngôn ngữ độc lập. Tâm lý hèn nhược sẽ dùng ngôn ngữ nô lệ. Điều này không ai chối cãi được. Và vì thế, xin mọi người Việt chúng ta nên loại bỏ hai chữ Trung Quốc để thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và bất khuất ngay trong ngôn ngữ xử dụng hằng ngày. Hy vọng nhiều người sẽ đồng ý với đề nghị này. Nhưng đối với người đảng viên cộng sản Việt Nam thì vô phương. Họ đã chọn kiếp sống tay sai, nô lệ, vô tổ quốc, phi dân tộc từ thuở chào đời. Chúng ta không mong gì họ thay đổi được.

Đã giúp mình và cũng giúp người. Mọi người Việt cùng nhau giữ nước qua ngôn ngữ. Vô cùng quan trọng nhưng lại không hề tốn một giọt máu. Tại sao chúng ta không chịu làm?

Đây là điều đầu tiên và căn bản, vô cùng quan trọng, trong tinh thần chống lại bọn giặc phương Bắc.

Xin nêu ra nơi đây một bài học lịch sử để mọi người cùng suy nghiệm.

Chọn ngôn ngữ để làm quốc ngữ cho một quốc gia vừa mới khai sinh là điều vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn nền độc lập. Ngay sau khi Hoa Kỳ giành độc lập từ tay đế quốc Anh, người Mỹ đã nghiên cứu cẩn thận trong việc chọn tiếng Anh hay tiếng Đức dùng làm quốc ngữ. Họ không chọn tiếng Tây Ban Nha vì lúc bấy giờ, ảnh hưởng của Tây Ban Nha đã tràn khắp Nam Mỹ và phần đất phía tây Bắc Mỹ. Cuối cùng, do kết quả cuộc bầu phiếu, tiếng Anh được chọn vì hơn tiếng Đức một lá phiếu.

image

Nhưng ngay sau đó, ông Noah Webster đã bỏ ra 20 năm liên tục để thành lập tiếng Mỹ, như trường hợp tiếng Nam dưới thời nhà Trần. Ngoài việc sửa đổi cấu trúc văn phạm và ngữ pháp, ông còn thay đổi cả ngữ vựng, và thành lập cuốn Tự Điển Di Sản Hoa Kỳ (American Heritage Dictionnary) cho dân chúng Mỹ xử dụng. Điều đáng lưu ý, đáng khâm phục, và đáng để mọi người Việt chúng ta học hỏi, là từ đó và mãi về sau, từ tổng thống đến thường dân, mọi người Mỹ đồng lòng quyết không dùng tiếng Anh mà chỉ dùng tiếng Mỹ. Đến hôm nay chúng ta đều nhận biết sự phổ thông của tiếng Mỹ trên khắp thế giới mà hầu hết người Việt biết tiếng Mỹ đều quen thuộc.

Xin ghi ra nơi đây vài thí dụ để mọi người cùng nhận thấy tinh thần quyết tâm giữ gìn độc lập và tự chủ của người dân Hoa Kỳ qua ngôn ngữ:

Anh Mỹ
colour color —-bỏ bớt giữa
programme program —bỏ bớt cuối
theatre theater —đảo chữ
randomise randomize — đổi chữ
water closet restroom — đặt danh từ mới
Hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ đối với nền độc lập của một dân tộc, giặc phương Bắc đã tìm mọi cách hủy diệt chữ Nam của người Việt ngay từ thời nhà Trần. Chúng gọi một cách nhục mạ khinh bỉ là tiếng nôm na, hèn mạt để gạt ngưởi Việt biết chữ không thèm dùng đến. Thế mà đến nay vẫn có nhiều người trí thức học giả miệt mài gọi là chữ nôm. Điều này chẳng khác nào có kẻ côn đồ bảo trẻ con nên về nhà gọi cha mẹ chúng bằng thằng và nó. Vì ngu khờ kém suy nghĩ, đứa trẻ liền nghe theo và cứ thế mà gọi.

Hiện nay, Tàu cộng bắt Việt cộng phải du nhập tiếng Tàu, và bằng mọi cách phải nhét vào đầu để nô lệ hóa người Việt qua ngôn ngữ. Xin nêu ra vài chữ như: động thái, quan ngại, bức xúc, tham quan, hộ khẩu, cải tạo, sự cố, hoành tráng, hiện trường, quan chức, đăng ký, hỗ trợ, đột xuất, và còn nhiều nữa. Vì cùng hệ thống đơn âm, họ chỉ cần dùng mẫu tự Việt diễn âm Tàu, và bắt mọi người Việt phải dùng, tức nghe và đọc trước rồi nói sau. Lúc đầu quen tai, quen mắt. Sau quen miệng. Thế là xong.

Xin mọi người, còn nghĩ đến dân tộc và chống cộng, hãy nhớ lại xem mình đã bắt đầu dùng những từ ngữ này từ lúc nào. Và từ bây giờ trở đi mình có dám loại bỏ ngôn ngữ này và quyết tâm không dùng nữa hay không.

Tại sao phải loại bỏ những ngôn ngữ này? Nếu hỏi người Mỹ, họ sẽ giải thích cho chúng ta hiểu lý do tại sao.

Xin thưa thêm. Vì đây là loại ngôn ngữ mà ông Nguyễn Văn Luận, một người dân Hà Nội bị kẹt lại Miền Bắc từ năm 1954 đã nhận ra ngay là “ngoại ngữ Việt cộng” do Tàu cộng đem sang. Suốt 28 năm, mãi cho đến khi vượt biển tìm tự do và cuối cùng định cư tại Hoa Kỳ, ông Luận vẫn nhất định không dùng đến loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Thế mà hiện nay vẫn có nhiều người Việt, dù đang sống tại hải ngoại, hăng hái chống Tàu, chống cộng, nhưng sẵn sàng xử dụng loại ngôn ngữ nô lệ này. Lại có nhiều người dù không hiểu ý nghĩa nhưng vẫn dùng một cách hàm hồ và sai hoàn toàn ý nghĩa gốc trong tiếng Tàu. Thí dụ; chữ đột xuất có nghĩa là sự nổi bật (outstanding) hoàn toàn không có nghĩa của trạng từ chỉ thời gian như các chữ bất thình lình hay bất ngờ, trong tiếng Việt. Thật ra, bọn giặc Bắc đâu cần thắc mắc chuyện người Việt dùng đúng nghĩa hay sai nghĩa. Cứ nhét được những loại ngôn ngữ này vào đầu dân Việt là chúng thành công. Một vài kẻ đã không biết mình ngu và dại, lại còn lớn tiếng biện minh cho hành động bệnh hoạn này. Vua Quang Trung mà còn sống, chắc chắn ngài sẽ phân thây bọn người mất gốc này để diệt trừ mầm nô lệ cho dân tộc.

image

Báo chí và truyền thông tại Việt Nam cộng sản hiện nay bắt buộc phải dùng loại ngoại ngữ Việt cộng này. Với kiếp sống của kẻ tay sai và nô lệ, họ không thể làm khác hơn được. Bởi đây là sách lược nô lệ của Tàu cộng đưa ra và bắt Việt cộng phải thi hành.

Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn ineternet của người Việt hải ngoại hiện nay chúng ta vẫn thấy đầy dẫy loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Về quy định ngôn từ, nơi nào cũng đưa ra những điều lệ căn bản là; không chấp nhận ngôn ngữ thô tục, và ngôn ngữ ca tụng Việt cộng; để chứng tỏ đây là nơi của những người có học thức, lịch sự, và quyết tâm chống cộng.

Nhưng than ôi. Họ chấp nhận loại ngôn ngữ nô lệ ẩn chứa mầm hủy diệt tinh thần dân tộc của giặc phương Bắc mà họ không hề bận tâm. Không những thế loại ngôn ngữ này được truyền bá và phát huy khá mạnh mẽ.

Đây là sự thể hiện một trình độ dân trí quá thấp kém của người Việt chúng ta.

Bởi chúng ta chưa nhận thức rõ được sự quan trọng của ngôn ngữ đối với sự tồn vong của dân tộc. Hãy nhìn lại gương của dân chúng Hoa Kỳ trong việc xử dụng tiếng Mỹ để giữ gìn độc lập, may ra mọi người sẽ hiểu rõ vấn đề vô cùng quan trọng này cho dân tộc và đất nước.

Là người Việt, hầu hết chúng ta ai cũng đã từng nghe và nói câu: “Tiếng Việt còn, Người Việt còn.” Nhưng chúng ta quên một điều vô cùng quan trọng là; tiếng Việt nô lệ, thì người Việt nô lệ. Và sự nô lệ này sẽ dẫn đến mất gốc và dân tộc bị hủy dìệt là điều không tránh khỏi.

Mất đất, mất đảo còn có cơ hội lấy lại được. Nhưng mất người thì lấy ai mà đòi lại đất, giành lại biển?

Chống cộng mà không chống nổi ngôn ngữ Việt cộng trong đầu thì vẫn là tự lừa dối chính mình. Người cộng sản Việt Nam biết chắc chắn họ luôn luôn thành công trong việc khống chế tư tưởng người dân Việt. Rõ ràng nhất là qua ngôn ngữ. Xin mọi người hãy nhìn lại ngôn ngữ mình xử dụng để chứng minh điều này.

Có nhiều người chống cộng cảm thấy hài lòng qua việc xử dụng những danh từ miệt thị, khinh bỉ đối với những người cầm đầu cộng đảng Việt Nam hiện tại như: Trọng Lú, Sang Ngu, Dũng Dốt. Những người này vẫn mãi say sưa, tự thỏa mãn với câu: “Người khôn phải gọi thằng ngu bằng thầy!”

Xin thưa! Nếu chúng ta khôn hơn họ, thì đã không bị họ khống chế từ cái đầu đến cái miệng suốt bao năm qua.

Năm 1954, sau khi Việt cộng chiếm Miền Bắc, thi sĩ Trần Dần đã bàng hoàng thốt rằng:

“Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.”

Hai câu thơ đã cho thấy hình ảnh thê lương tang tóc của đất nước dưới ách cai trị của người cộng sản, qua lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản Phúc Kiến [3], mà Hồ phải xử dụng làm cờ Việt cộng theo lệnh Mao. Thế nhưng, từ năm 1954, người dân Miền Bắc đã không chịu nhìn thấy điều này. Và người dân Miền Nam, năm 1975, cũng không muốn nhìn thấy điều này. Như thế, dù âm thầm không ai hay biết, nhưng số phận của đất nước Việt Nam đã được quyết định từ lâu.

image

Tiền bạc là vật mà mọi người dân, dù không biết chữ, vẫn phải dùng đến hằng ngày. Thế là từ thời kỳ tem phiếu, mãi cho đến hiện nay, không một tờ giấy bạc nào không có hình của tên bán nước Hồ Chí Minh. Sau khi chết, chúng vẫn đem cái xác cáo mục rữa trấn ngay thủ đô Miền Bắc và bắt mọi người phải chiêm ngưỡng. Đến khi cướp Miền Nam, chúng liền xóa ngay địa danh Sài Gòn, tên gọi thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vào đó là tên cáo Hồ đã chết. Rồi chúng xây con đường trên cao nguyên dọc Trường Sơn, xương sống của bản đồ Việt Nam với tên đại lộ Hồ Chí Minh. Tất cả mọi việc trên đều nhằm mục đích thực hiện kế hoạch to lớn và lâu dài. Đó là khống chế tư tưởng toàn thể dân Việt qua những hình ảnh này. Hãy thử tính xem trong một ngày, hình ảnh của tên cáo Hồ bán nước đánh vào đầu người dân Việt bao nhiêu lần qua tờ giấy bạc. Đây là một kỹ thuật trấn áp tư tưởng vô cùng hiệu quả trên bình diện vô thức mà khoa Tâm Lý Học gọi là khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh xảo và thâm độc.

Xin được nêu ra ở đây để những người vẫn còn ngây thơ cho rằng Việt cộng là những kẻ ngu ngốc nên suy nghĩ lại.

Là một người Việt cộng nằm vùng tại Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh cướp nước, nên lúc bấy giờ ông y tá Nguyễn Tấn Dũng bắt buộc phải dùng ngôn ngữ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng ngay sau khi cộng sản cướp được Miền Nam, chắc chắn ông Dũng và bao nhiêu người cộng sản nằm vùng khác đã không thèm dùng tiếng Việt của Miền Nam ngày trước. Năm 2010, trong buổi trả lời trước quốc hội cộng sản, vì lúng túng, thủ tướng cộng sản họ Nguyễn đã lỡ miệng phát ra hai chữ “bảo đảm” của Việt Nam Cộng Hòa. Biết bị hớ và sợ nguy hiểm, liền ngay sau đó ông ta vội vàng tìm mọi cách để chữa lại bằng hai chữ “đảm bảo” của Việt cộng cho mọi người ngồi dưới kia cùng nghe thật rõ. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để dạy cho nhiều người Việt trí thức chống cộng cần học bài học về sự quan trọng của ngôn ngữ, cùng thái độ quyết tâm của ông ta khi xử dụng ngôn ngữ. Có thể lỡ lời nói ra hai chữ bảo đảm. Nhưng chắc chắn ông Dũng không bao giờ dám lỡ miệng đảo thứ tự để nói nhà nước (trước) và đảng (sau) cả. Đến đây, hy vọng nhiều người sẽ nhận ra sự quan trọng cùng sự quyết liệt của những người cộng sản trong việc xử dụng ngôn ngữ. Nói một cách khác, nhưng vô cùng thực tế, họ hiểu rõ quy luật sinh tử là, đối với họ: Dùng Chữ Sai Là Chết.

Khi dùng ngôn ngữ Việt cộng để chống cộng, chống Tàu, chúng ta có thể nghe họ lớn tiếng cười mỉa mai khinh bỉ và bảo nhau rằng: “Cứ để cho bọn người đang sống ở hải ngoại đó chống cộng. Ngôn ngữ, tức cái đầu của chúng, mà đảng ta đổi tới thay lui chúng chẳng hề hay biết. Thế thì chúng chống cái chi. Ta vo tròn bóp méo cái đầu của chúng như thế mà chúng chẳng hay biết. Thì chúng chống được điều gì. Chúng đang sống nơi hải ngoại cách xa ngàn dặm, nhưng đảng ta nhét vào đầu chúng điều gì cũng được, thì có chi mà lo ngại. Ha ha ha. Chỉ cần mười năm nữa thì bọn người này sẽ nằm trong các nghĩa địa. Chẳng có chi để chúng ta phải bận tâm cả.”

image

Chống Tàu cộng xâm lược, mà không chống nổi ngôn ngữ nô lệ của chúng đang bám chặt trong đầu, thì chỉ làm trò cười cho bọn tay sai Việt cộng là thế đấy. Nên hiểu rằng, Việt cộng không bao giờ lo ngại chuyện mìn bom súng đạn, chúng chỉ sợ cái đầu của người dân. Mà thể hiện của cái đầu là qua ngôn ngữ đang xử dụng. Mong mọi người nên suy nghĩ kỹ điều này.

Hãy nhìn cô sinh viên trẻ tuổi Nguyễn Phương Uyên sẽ biết mình thế nào. Hãy nhìn bài học quốc ngữ của người Mỹ, hy vọng, và may ra, có người sẽ hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc.

Xin chuyển đến mọi người để cùng suy nghiệm và chọn loại ngôn ngữ thích hợp cho chính mình.

Trần Đức Dũng

[1] Tên chính thức của Tàu cộng trên chính trường quốc tế là:

中 华 人 民 共 和 国 — trung hoa nhân dân cộng hòa quốc

Nhưng vì Tàu cộng cố tình đặt tên cho thật kêu để gạt thiên hạ, nên tên quá dài, và làm biếng nên đành dùng chữ đầu và chữ cuối để gọi tắt. Vì thế mới có hai chữ Trung và Quốc. Và dĩ nhiên bọn Việt cộng Hà Nội cũng không thể gọi khác hơn những gì ông chủ đã dùng. Và chúng bắt người dân Việt phải dùng theo. Cũng nên biết thêm, ngay cả người Tàu ở Đài Loan cũng không gọi họ là Chinese (người Tần) mà tự gọi là Taiwanese (người Đài Loan) mà thôi.

[2] Cuộc Vạn Lý Trường Chinh của Mao chỉ là một huyền thoại bịp bợm. Lúc bấy giờ, quân Tàu cộng của Mao bị đánh tan nát, chỉ còn khảng chục ngàn lo chạy chết. Trong khi quân của Tưởng có đến gần cả triệu người. Mao sống sót nhờ Mỹ thúc ép Nga, bắt Tưởng phải mở đường cho Mao rút về Diên An. Nếu không, Nga sẽ giết Tưởng Kinh Quốc, con trai của Tưởng, đang bị giữ làm con tin ở Moscow. Sau đó, Mỹ còn bắt cả Mao lẫn Tưởng phải bắt tay liên minh. Điều này khiến Tưởng tức muốn hộc máu nhưng chẳng làm gì được vì đứa con trai đang nằm trong tay Stalin. Còn Mao thì cuộc đời được lên hương. Sau khi Mao lên ngôi, Mỹ đưa Tống Khánh Linh, đang sống ở Moscow trở về Bắc Kinh đứng sau lưng Mao, giữ chức phó tổng thống Tàu cộng, nắm toàn quyền về tài chánh để kiến thiết Tàu cộng cho Mao. Còn cô em Tống Mỹ Linh, vốn là vợ Tưởng, giữ chức tư lệnh không quân và bộ trưởng quốc phòng ở Đài Loan. Tức là sau lưng Mao và Tưởng đều có hai chị em nhà họ Tống nắm toàn quyền ở hậu cung. Hai chị em họ Tống này thường bay sang Mỹ gặp nhau tại tòa Bạch Ốc và nói chuyện với tổng thống Roosevelt. Bà Roosevelt còn đem một trung tá Không Quân Mỹ tặng Tống Mỹ Linh làm phi công riêng, để làm vui lòng Tưởng. Tuy nhiên Tưởng rất hận Mỹ về vụ ném bom ở Tây An (chẳng khác nào vụ ném bom dinh Gia Long thời tổng thống Diệm, và dinh Độc Lập thời tổng thống Thiệu), và tướng Marshall bắt Tưởng phải liên minh với Mao, rồi sau đó bị đuổi ra khỏi đại lục. Vì thế, sau này Tưởng rất có cảm tình với tổng thống Diệm, cũng như tổng thống Thiệu, của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tưởng đã quá ê chề với những nước cờ khó hiểu của Mỹ.

[3] Lịch sử cờ đỏ sao vàng của cộng sản Việt Nam. Ngay từ đầu, Mao ra lệnh cho Hồ phải dùng cờ cộng sản Phúc Kiến để chứng tỏ thân phận tay sai giặc Bắc của bè đảng bán nước Hà Nội.

(Trần Đức Dũng)

No automatic alt text available.
Image may contain: one or more people and beard
Image may contain: 1 person
Image may contain: horse
Image may contain: 3 people, cloud, sky and outdoor
+2

Hoàng Hải Thủy — Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 1)!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 1)

bietkich.jpg
Tác giả dưới ngọn cờ đỏ quang vinh. Ảnh chụp tháng 12, 1975.

Khi báo với bạn đọc loạt bài “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” sẽ được đăng trên tờ Bán nguyệt san Ngày Nay, ấn hành ở Houston, tôi viết: “Mời bạn đọc trên Ngày Nay “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, bản kết tội của Minh Kiên – Nam Thi, nguyên Đại tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng Biên Tập Tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần trả lời của Hoàng Hải Thủy, một trong những người bị Cộng sản Việt Nam gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút.”

Đọc lại, tôi thấy tôi thật ngớ ngẩn, vô duyên, không giống ai, Công An Thành Hồ cho tôi nằm ngâm thơ của Cố Thi sĩ Trần Văn Hương hai lần, trước sau là Tám Mùa Thu Lá Bay. Họ đã bỏ tù tôi, và tôi đã ở tù. Tôi còn có gì để “trả lời” họ và tôi cần gì, tôi việc gì phải “trả lời” họ. Bỏ nước chạy lấy người không kịp, kẹt lại, ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ, không ra đầu ngõ cũng bị bật ngửa vì nón cối, giép râu, nhìn đâu cũng thấy ảnh Bác Hồ “Muôn Kính, Ngàn Yêu” với những hàng chữ “Không có gì….” đỏ lòm, tôi không thể tự làm tôi mắt mù, tai điếc, tay cùi, miệng câm, tôi can tội mần một số thơ Con Cóc bắt chước Ca Dao mà tôi gọi là Phóng Dao, ngồi gù lưng trên căn gác tối om viết một số bài kiểu Tạp Ghi Tiền Tuyến để than thân, trách phận, thương nhớ kẻ ở người đi, não nùng tâm sự, đời tàn ngõ hẹp, đói không những chỉ đói cơm mà còn đói cả cà phê, thuốc lá, đói đủ mọi thứ. Tôi viết những bài gọi văn huê là “tác phẩm chứng nhân Thành Hồ Trần Ai Khoai Củ” và viết xong tôi không cất chúng dưới đáy tủ, gầm giường, tôi gửi chúng ra nước ngoài để anh em ta ở hải ngoại đăng báo. Và thế là tôi bị Công An Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước đi cất kỹ trong sáu niên. Sống giữa gọng kìm công an cộng sản mà lén lút làm thơ phú vẩn vương diễn tả đời sống đen hơn mõm chó mực của nhân dân để gửi ra nước ngoài thì bị Công An Cộng sản bắt, bị Cộng sản cất đi năm bẩy niên trong tù là chuyện tất nhiên.. Cũng là sòng phẳng. Có gì gọi là “trả lời, trả vốn”.

Cộng sản thù ghét nhất những anh Con Trai Bà Cả, Bà Hai Đọi sống trong chế độ của họ mà bới móc, phơi bày những cái xấu của họ qua văn thơ, châm biếm họ bằng thi ca. Họ thù nhất là những anh viết và gửi những bài tố cáo chế độ họ ác ôn côn đồ ra phổ biến ở nước ngoài. Chẳng cần phải tố cáo, chỉ cần than khổ thôi là đã bị coi là phản động và được công an ưu ái hỏi thăm sức khỏe. Mối hận thù truyền kiếp bọn văn nghệ sĩ được đàn anh công an Nga Xô trích vào máu thằng đàn em công an Việt Cộng “… thẳng tay trấn áp bọn văn nghệ sĩ phản động, không cho chúng than khóc…” Công an Việt cộng đã, đang và vẫn làm đúng lời dậy ấy.

Năm 1988, khi bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, sau bốn năm tù ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu và Khám Lớn Chí Hòa, sắp “được” đưa ra xét xử lần thứ hai ở cái gọi là Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM, “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh vào nhà tù Chí Hòa gặp chúng tôi, anh là người sẽ “biện hộ” cho nhóm bị gọi là Biệt Kích Văn Nghệ trước tòa. Anh nói:

– Các anh viết bài gửi ra nước ngoài làm cho họ đau lắm. Họ thù các anh và các anh đã bị khổ sở mấy năm rồi. Bây giờ đưa các anh ra tòa tôi thấy họ có vẻ muốn làm cho xong đi. Các anh làm họ đau, họ bỏ tù các anh. Như vậy là huề. Lần này ra tòa, tôi nghĩ các anh không nên găng với họ. Mềm dịu cho xong đi. Các anh ở tù mấy năm như vậy cũng là đủ …

Ai tù hào hùng, khí phách thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết tôi tù thôi. Tất nhiên là tôi thấy tôi ở tù mấy mùa lá rụng ngoài song sắt như vậy là – không phải đủ – mà là quá đủ. Năm 1986, trước ngày Đại Hội Đảng Kỳ 6, Công An Thành Hồ đã dàn dựng đưa bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” ra tòa với cái tội “gián điệp”. Năm ấy họ muốn dựng một vụ Xử Án Điển Hình kiểu “Sát Nhất, Nhị, Tam, Tứ Nhân, vạn vạn nhân cụ, ” một vụ án làm cho tất cả những anh Con Trai, Con Rể, Con Nuôi, Con Hoang, Con Rơi, Con Rớt Nhà Bà Cả trên cõi đời này sợ teo luôn. Nói rõ hơn năm 1986 họ muốn xử chúng tôi với mức án đại khái như vầy:

  1. Doãn Quốc Sĩ: Tử hình hay chung thân.
  2. Hoàng Hải Thủy: Chung thân – 20 niên.
  3. Dương Hùng Cường: 18 niên.
  4. Lý Thụy Ý: 15 niên.
  5. Nguyễn Thị Nhạn: 12 niên.
  6. Hiếu Chân Nguyễn Hoạt: 10 niên.
  7. Khuất Duy Trác: 8 niên.
  8. Trần Ngọc Tự: 8 niên.

Xin quý vị thương cho mà đừng nghĩ là tôi tự đề cao anh em chúng tôi. Việt Cộng sài Luật Rừng, nhưng Luật Rừng cũng vẫn là Luật. Trong cái gọi là Bộ Luật Hình Sự CHXHCNVN có điều quy định tội danh và án phạt bọn “gián điệp” như sau.

Tôi đọc điều luật này trong Ô Ten 10 Sao Chí Hòa năm 1986 và tôi thuộc nằm lòng từ ngày đó:

– Bị coi là gián điệp những kẻ cung cấp tin tức, tài liệu an ninh, quốc phòng cho những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài.

Cũng bị coi là gián điệp những người tuy không cung cấp tin tức cho Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài nhưng bằng cách nào đó vô tình tiết lộ những tin tức an ninh, quốc phòng để những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài có thể khai thác.

Án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.

– Những tên gián điệp đầu sỏ bị tử hình.

– Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.

Theo điều luật về xử trị gián điệp trên đây thì nếu năm 1986 Công An Thành Hồ đưa bọn “gián điệp 8 tên” chúng tôi ra tòa xử thì chuyện xẩy ra đã có thể là:

– Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: tử hình.

– Tay sai nguy hiểm Hoàng Hải Thủy: chung thân hoặc có thể cho đi cùng chuyến xe bít bùng với Đầu Sỏ Doãn Quốc Sĩ lên bãi bắn Thủ Đức trong buổi sáng mù sương lạnh. Hai gián điệp cùng đi một chuyến xe không có bông cho đỡ tốn xăng dầu và công sức của anh em công an chuyên giết nhân dân.

Năm 1986, Công An Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, cho quảng cáo tùm lum trên hai tờ Tuổi Trẻ-Công An: “… Ngày.. . tháng… năm… bọn gián điệp sẽ phải ra trước Tòa Án Nhân Dân trả lời về những tội trạng của chúng…” Nhưng rồi họ tẽn tò, không kèn, không trống, không lời xin khán giả cảm phiền vì phiên tòa bị bãi bỏ, họ im luôn. Phiên tòa năm 1986 hoãn dài ngày .

Năm anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, và tôi, được Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà rước vào Số 4 Phan Đăng Lưu cùng trong đêm Mùng 2 tháng 5 năm 1984. Chịu thẩm vấn ở Phan Đăng Lưu một năm, tháng 5 năm 1985 xe bông đưa chúng tôi sang Thánh thất Chí Hòa. Anh em chúng tôi được đoàn tụ trong lòng xe tù khoảng 20 phút đồng hồ. Trên xe có thêm hai em Trợ tá “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút Nữ”: Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn.

Tù xa từ Bà Chiểu sang Đa Kao, qua rạp xi-nê Casino Đa Kao, vào đường Hiền Vương một chiều, chạy qua bên hông Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Thánh Tây trước 1956 – nay đã thành công viên mang tên một anh cà chớn mà tất cả nhân dân Sàigòn đều không ai từng biết: Công viên Lê văn Tám. Chàng Công Tử Hà Đông ghé mắt nhìn qua song sắt tù xa bỗng thấy trái tim chàng đi một đường cảm khái. Đoạn đường Mayer – Hiền Vương từ Đa Kao đến ngã tư Hai Bà Trưng là đoạn đường những năm từ 1954 đến 1958 anh qua lại mỗi ngày vài lần. Anh gặp tình yêu và từng sống tình ái, yêu đương với nàng Alice trong căn nhà 78/5 của con đường Mayer-Hiền Vương này mấy mùa thu vàng. Ngày ấy môi anh còn thắm, tóc anh còn đen, có bao giờ anh ngờ rằng sẽ có ngày anh te tua trên tù xa đi qua con đường thơ mộng này.

Tháng 5 năm 1986, từ Nhà Tù Chí Hòa bọn cai tù đưa Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn trở về nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu. Bọn Công An Thành Hồ chia bọn “gián điệp” ra làm hai trước khi đưa ra tòa. Lần đầu trong đời gặp cảnh tay còng, áo dấu ngơ ngáo ra tòa, choáng váng nhận ra vợ con trong đám thân nhân láo nháo chạy theo, tôi hồi hộp nghe tin con tôi báo: “Hoãn xử…” Trên tiền sảnh chính của Pháp Đình Sàigòn, nơi 50, 70 hay 80, 90 năm trước, các quan Đại Pháp xây lên và cho đặt hai bức tượng Bà Đầm Pháp Luật Phú Lang Sa to tổ bố đứng đưa … bàn cân công lý vào mặt con dân A-na-mít – Anh Mít nào cao lớn lắm cũng chỉ đứng vừa đến đầu gối Hai Bà chớ chưa với được đến bàn cân – Tòa Cộng Thành Hồ có đặt tấm bảng đen ghi những hàng chữ phấn đại khái như:

– Vụ Gián điệp Doãn Quốc Sĩ,

Phòng A …

Dưới hàng chữ có viết thêm hai chữ “Đình Xử”, tức là hôm nay tòa không xử Vụ Gián Điệp. Tòa đình xử, nhưng bọn tòa án không báo cho bọn cai tù Chí Hòa biết. Cai tù Chí Hòa, được lệnh cả tuần trước, cứ đúng lệnh áp giải bọn tội nhân ra tòa. Xe chở tù đổ hàng xuống Tòa xong là đi ngay, chiều mới đến đón tù trở về. Cai tù áp giải phải gọi điện về Chí Hòa, phải chờ xe đến chở hàng về Chí Hòa. Nhờ vậy, bọn “gián điệp 1986” được ngồi ở tòa án từ sáng cho tới trưa thơ thới hân hoan.

Thơ thới, hân hoan vì mấy anh được ngồi trò chuyện thân mật với vợ con. Vợ con mấy ảnh hối lộ cai tù nên được cai tù cho phép vào phòng cách ly ngồi với chồng, với bố. Hai năm trời đằng đẵng mới được nhìn mặt nhau, ngồi gần nhau, cầm tay nhau… Thương cảm, bùi ngùi đứt đuôi con nòng nọc. Tình cảnh ấy khỏi cần diễn tả. Alice nói với tôi:

– Đừng sợ. Anh em mình bên ngoài mạnh lắm. Can thiệp dữ dội. Nó phải hoãn xử, tối qua đài VOA đọc một bài dài lắm, kêu gọi Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc bảo vệ văn nghệ sĩ Việt Nam… Có người nghe thâu băng được cả bài… Lại có tin triệu tập đến hai ngàn ký giả, văn nghệ sĩ khắp thế giới về họp ở New York để lên tiếng về vụ mình…

Tôi hỏi ai triệu tập, Alice nói:

– Em không biết rõ. Nghe nói người đọc bài tố cáo đàn áp văn nghệ sĩ trên đài VOA là Nguyễn Ngọc Linh…

Nguyễn Ngọc Linh hay Nguyễn Ngọc Bích…? Ngọc Linh, Ngọc Bích đều là Ngọc cả. Hôm nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, nhân danh tám anh em chúng tôi tù tội ở Thành Hồ – hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường đã chết thảm trong tù – tôi trân trọng nói lên lời cám ơn của chúng tôi đến anh em bầu bạn khắp năm châu.

Năm 1986, chúng tôi bị kết tội “gián điệp”, án tù tối thiểu 12 niên đến tối đa tử hình. Nhờ anh em bầu bạn khắp năm châu la ó, phản đối dữ dội nên dù muốn, dù đã treo bảng quảng cáo, đã cho bọn văn nô reo hò, nhẩy múa, Công An thành Hồ cũng không xử được chúng tôi. Trở về Chí Hòa nằm ngâm thơ Ngồi Rù thêm hơn một niên nữa đến đầu năm 1988, chúng tôi mới lại “được” trở ra tòa án thành phố HCM chuyên xử tội nhân dân lần thứ hai.

Lần này án “gián điệp” ác ôn đã được bỏ, thay vào đó là tội “Tuyên truyền phản cách mạng”. Tội này có thể gọi là “tội nhẹ nhất trong các tội phản động dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.” So với tội gián điệp, mức án xử bọn phạm tội tuyên truyền phản cách mạng quá đỗi nhẹ hều: Tù từ 2 niên đến 12 niên tối đa. Không có bị tử hình, tử ảnh, chung thân, chung sơ gì ráo trọi. Đang từ tối thiểu 12 đổi sang tối đa 12 niên, chàng Công Tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu, chàng còn cay cú hay hung hăng con bọ xít gì nữa. Chàng đã bóc được bốn cuốn lịch rồi.

Anh em tù gọi như thế là “đã có vốn.” Tất nhiên khi ra tòa chàng sẽ không nói năng gì để bọn Chánh án tay sai phạng chàng 10 hay 12 mùa Tết Trung Thu Em Không Rước Đèn Đi Chơi – Nàng Alice trẻ lâu thật nhưng nàng cũng không có thể như nàng Hạ Cơ Đông Châu Liệt Quốc trẻ mãi không già – Chàng đã trả cái nợ Hai Mươi Niên, từ 1954 đến 1975 chàng sống và để người khác chết, để vợ con người khác khóc như vậy cũng tạm gọi là đủ, chàng phải lo thân để trở về Ngã Ba Ông Tạ thôi .

Nhưng khi nghe “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh khuyên nên “mềm dẻo đừng nói gì gay cấn” để tòa xử cho xong đi, tôi cũng nói:

– Nếu người ta không chửi bới chúng tôi thì chúng tôi sẽ không nói gì đâu. Còn nếu người ta mạt sát chúng tôi thì chúng tôi không thể nói trước được phản ứng của chúng tôi sẽ ra sao.