Dân phải trả cả “nợ” (công) cho nạn tham nhũng của Nhà nước CS Hà Nội!

Mỗi người Việt Nam đang “gánh” 20 triệu đồng nợ công: Có nguy hiểm?

Kinh tế

Hoàng Lực

31/03/14 07:24

 

(GDVN) – Nợ công của Việt Nam vừa được công bố không phải lớn tuy nhiên nguy hiểm là con số này tăng dần theo từng năm…

Mới đây đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The Economist.com cho thấy, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 80,070 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 886,36 USD (gần 20 triệu đồng/người); nợ công chiếm 48,0% GDP, tăng 11,2% so với năm 2013.

Như vậy, ở thời điểm này, tổng nợ công Việt Nam tăng thêm 2,634 tỷ USD; bình quân nợ theo đầu người tiếp tục tăng thêm 27,31 USD/người. Con số nợ công Việt Nam ngày càng tăng lên, tính riêng giai đoạn 5 năm 2006-2010, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng gấp đôi.

Trung bình, mỗi người dân Việt Nam đang chịu 868,36 USD nợ công (gần 20 triệu đồng), thông tin từ Bản đồ nợ công toàn cầu hôm 23/3 (Bản đồ nợ công toàn cầu. Ảnh chụp màn hình tối 23/3).

Liên quan đến con số nợ công của Việt Nam, TS Nguyễn Trí Hiếu chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng, nợ công của Việt Nam vừa được công bố không phải lớn tuy nhiên nguy hiểm là con số này tăng dần theo từng năm. Nguyên nhân việc tăng nợ công do việc áp dụng công thức tính trần nợ công.

Hiện trên thế giới các nước có hai cách tính trần nợ công: Thứ nhất khống chế trần nợ công bằng một số tiền cụ thể. Thứ hai trần nợ công được tính theo tỷ lệ tăng của GDP nước đó.

“Việt Nam áp dụng trần nợ công không vượt quá con số 65% của GDP, như vậy GDP tăng có nghĩa con số nợ công cũng tăng lên. GDP trong những năm tới của Việt Nam được dự báo sẽ tăng lên rất nhanh do Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển vì thế số tiền nợ công bổ trên đầu người Việt Nam sẽ ngày một lớn hơn”, TS Hiếu cho biết.

Ngoài ra, thu nhập người Việt Nam không đồng đều, nếu đặt vấn đề gánh nợ con số 20 triệu đồng/người ở vùng sâu vùng xa thì nợ công mới được công bố là con số lớn.

“Về con số cụ thể không phải là lớn nhưng nếu xét trên khía cạnh sự tăng trưởng phát triển của kinh tế Việt Nam, thu nhập của người Việt Nam, thì con số nợ công trên đầu người của Việt Nam quả là gánh nặng”, TS Nhận định..

Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, trần nợ công của Việt Nam đang được áp dụng ở mức 65% GDP, tức là nợ công Việt Nam bằng hoặc dưới 65% GDP là con số có thể chịu đựng được. Với nền kinh tế yếu, chịu tác động của khủng hoảng… trần nợ công được quy định dưới 100% của GDP là tốt.

“Tuy nhiên theo tôi không nên dùng tỷ lệ GDP vì khi đó tỷ lệ tăng GDP sẽ tăng nợ công theo kiểu “nước lên thuyền lên”, thay vào đó nên đặt con số trần tuyệt đối là bao nhiêu tỉ USD, khi vượt quá con số trần đó thì Chính phủ cần làm tờ trình trước Quốc hội xin tăng lên”, TS Hiếu nêu quan điểm.

Đặt giả thiết nợ công vượt quá trần, mất khả năng kiểm soát TS Hiếu cho biết: Nếu vượt trần, nợ công không kiểm soát được sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ, với một đất nước có nền kinh tế đóng cửa, chỉ có giao dịch trong nước thì không có chuyện đóng cửa. Nhưng với một nền kinh tế mở, khi đó các khoản vay nợ nước ngoài phải trả bằng ngoại tệ thì khả năng vỡ nợ lớn đặc biệt là khoản nợ của nước ngoài.

“Khi một nước không có khả năng trả nợ những nước cho vay sẽ tuyên bố vỡ nợ, khi đó tất cả gói tín dụng ngừng lại, đất nước rơi vào khủng hoảng, thất nghiệp mất việc làm, trái phiếu chính phủ không còn giá trị, giống như Hy Lạp vừa qua”, TS Hiếu cho biết thêm.

Đồng quan điểm cho rằng con số nợ công của Việt Nam không phải là lớn, TS Nguyễn Minh Phong – chuyên gia kinh tế độc lập cho rằng, con số nợ công này còn thấp hơn con số Việt Nam thừa nhận.

“Chúng ta thừa nhận tình trạng nợ công tính theo GDP lên tới hơn 50%, trong khi đây có hơn 40%. Con số này thực ra nó không có nhiều ý nghĩa bởi nếu nói về tỉ lệ so với GDP không phải là lớn, như so với Mỹ là 100%, Nhật 250%… Tuy nhiên, nếu so với khả năng trả nợ, thu nhân sách, hoạt động hiệu quả với các nước thì con số này nói lên nhiều điều”, TS Nguyễn Minh Phong cho biết..

Theo TS Nguyễn Minh Phong, hiện nay cơ cấu nợ công của Việt Nam hơn 80% là vốn vay ODA, bên cạnh đó còn có các khoản phát hành trái phiếu, khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước do nhà nước bảo lãnh vả ba khoản này đều có xu hướng tăng.

“Nhìn từ con số nợ công mới nhất của Việt Nam có thể thấy: Thứ nhất tỷ lệ nợ công của Việt Nam đang tăng lên vượt xa khỏi dự báo của cơ quan quản lý theo nghĩa nó nhanh hơn đồng thời áp lực dịch vụ nợ công tăng nhanh, buộc phải trả nợ gốc và trả nợ lãi.

Thứ hai quản lý chưa chặt chẽ, ngay cả con số nợ công nắm được, con số nợ công dự báo chưa chính xác, cơ chế trả nợ chưa rõ ràng. Đó mới là những áp lực còn bản thân con số gần 20 triệu/người không có nghĩa tất cả người dân phải trả mà đây tất cả là tiền thuế của dân trong ngân sách nhà nước phải trả”, TS Phong nói.

Hoàng Lực
.

PV VOA phỏng vấn TS Cù Huy Hà Vũ !

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt cách đây bốn thập niên, nhưng mâu thuẫn trong nội bộ người Việt dẫn tới cuộc chiến và phát sinh từ sau ngày 30/4/75 tới nay vẫn chưa được hóa giải bất chấp những nỗ lực ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’.

… hòa giải với những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa là hòa giải về mặt tinh thần. Còn hòa giải với những người có quan điểm đối lập với chính quyền do đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát hiện nay là hòa giải thực tế.

.

Nguyên nhân vì sao và làm thế nào để người Việt thật sự ‘hòa hợp-hòa giải’ với nhau? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi hôm nay giữa Trà Mi VA với một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng xuất thân từ gia đình cách mạng có công lớn với chế độ cộng sản Việt Nam, người từng lãnh án tù vì các hoạt động đấu tranh dân chủ và bị trục xuất sang Mỹ tị nạn chính trị cách đây một năm: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn với TS Cù Huy Hà Vũ
  • Chế độ cộng sản VN sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp hòa giải?I

VOA: Khái niệm ‘hòa hợp hòa giải’ được nhắc tới rất nhiều, nhưng mấu chốt của mâu thuẫn cần hòa hợp hòa giải là gì?

TS Hà Vũ: Mọi người vẫn hay nói tới ‘hòa hợp hòa giải’, nhưng cần phải làm rõ rằng thứ nhất đây là sự hòa giải giữa chính thể cộng sản hiện hành với những người đã làm việc trong chính thể Việt Nam Cộng hòa trước 30/4/1975. Thứ hai là sự hòa giải với những người đang sống tại Việt Nam và phản đối chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam. Tựu chung lại, hòa giải với quá khứ hay hiện tại. Nói cách khác, hòa giải với những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa là hòa giải về mặt tinh thần. Còn hòa giải với những người có quan điểm đối lập với chính quyền do đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát hiện nay là hòa giải thực tế.

VOA: Theo nhận xét của ông, giữa người Việt trong và ngoài nước, giữa hai ý thức hệ cộng sản và dân chủ tư bản trong lòng người Việt đã ‘hòa,’ ‘hợp’ và ‘giải’ đã đạt tới mức nào sau 40 năm chiến tranh kết thúc?

TS Hà Vũ: Phía chính quyền cộng sản Việt Nam không hề có thiện chí bởi vì nói đến hòa giải tức là phải  chấp nhận quan điểm chính trị đối lập. Đằng này họ chỉ là lợi dụng nhằm tháo gỡ những khó khăn về mặt kinh tế, tháo gỡ những cái nhìn rất xấu về một chế độ toàn trị luôn thù địch với những ai có quan điểm ngược lại với quan điểm của mình. Để bắt đầu đi vào hòa giải thực chất với quá khứ, yêu cầu đầu tiên là phải công nhận Việt Nam Cộng hòa là một chính quyền của người Việt ở miền Nam trước năm 1975. Thứ hai, để thực hiện sự hòa giải, khi mời người Việt ở nước ngoài về nước thì cũng phải bảo đảm cho họ quyền tự do ngôn luận, thể hiện quan điểm chính trị của họ về dân chủ-tự do hoặc thậm chí về chính thể Việt Nam Cộng hòa.

không thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ cộng sản này đi. Một khi chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì tự dưng sẽ có sự hòa giải giữa các quan điểm khác nhau. Bởi vì lúc đó, chế độ sẽ là dân chủ-đa đảng, ai cũng có quyền nói lên quan điểm của mình, không còn ai bị coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính trị mà thôi.

VOA: Ông nhận xét thế nào về thiện chí hòa hợp hòa giải của phía những người có quan điểm đối lập với đảng cộng sản Việt Nam?

TS Hà Vũ: Tôi nghĩ người Việt bất cứ lúc nào cũng hướng về Tổ quốc, muốn đóng góp để vừa bảo toàn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam, đặc biệt trước sự xâm lăng từ phía Trung Quốc. Tôi biết tất cả người Việt ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ, đau đáu chuyện đó, rất muốn đóng góp. Mọi người muốn dùng tiềm năng từ kinh tế cho tới chất xám, kể cả các quan hệ chính trị và ngoại giao, để giúp Việt Nam có thể phát triển thành một nước được kính trọng trên thế giới. Thế nhưng, đúng là có sự luôn luôn chống cộng sản tới cùng, không chấp nhận chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay. Tôi không cho đấy là thiếu thiện chí, mà đấy là một quan điểm chính trị.

VOA: Những người thân chính phủ cộng sản Việt Nam cho rằng chỉ có thể hòa hợp hòa giải với những người có thiện chí, có tinh thần xây dựng, chứ không thể hòa hợp hòa giải với những thành phần chỉ muốn đối đầu, chỉ muốn mặc cả để làm điều kiện. Ý kiến ông ra sao?

TS Hà Vũ: Quan điểm như vậy là độc tài, tức là họ chỉ cho rằng họ là duy nhất có chân lý, họ cho rằng những người nào chấp nhận chế độ cộng sản mới là người có thiện chí. Trong khi đó, hòa giải là đi đến giải quyết một cách hòa bình giữa các quan điểm chính trị khác biệt, thậm chí đối lập với nhau, để tìm ra một mẫu số chung.

VOA: Vấn đề ở đây là mỗi bên cần thay đổi cách nhìn về nhau. Phía bên kia cũng có thể lập luận ngược lại rằng ‘Nếu muốn tôi thay đổi cách nhìn và tạo niềm tin hơn nữa đối với tôi, thì anh cũng phải thay đổi cách nhìn về tôi. Thay vì anh chỉ muốn xóa bỏ chế độ cộng sản Việt Nam, thì có thể có một cách khác cùng hàn gắn và cùng nhau phát triển.’ Phản hồi của ông thế nào?

TS Hà Vũ: Tôi đã có những kinh nghiệm rất cụ thể rồi. Năm 2010, chính tôi đã đưa ra những giải pháp đầu tiên để bắt đầu những sự hòa hợp hòa giải. Đó là phải gọi tên đúng của cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến. Tôi cũng đưa ra một giải pháp nữa là công nhận những chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh tại Hoàng Sa trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng, cho tới giờ, chính quyền cộng sản Việt Nam không những không chấp nhận đề nghị của tôi, (tôi đã làm kiến nghị gửi Quốc hội), mà lại còn bỏ tù tôi. Thành ra, cuối cùng tôi rút ra kết luận là không thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ cộng sản này đi. Một khi chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì tự dưng sẽ có sự hòa giải giữa các quan điểm khác nhau. Bởi vì lúc đó, chế độ sẽ là dân chủ-đa đảng, ai cũng có quyền nói lên quan điểm của mình, không còn ai bị coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính trị mà thôi.

VOA: Nhiều người đặt vấn đề vì sao đối với ‘người ngoài’ như quốc gia cựu thù Mỹ, chính phủ cộng sản Việt Nam có thể hòa hợp hòa giải, bỏ qua quá khứ, tiến tới cùng hợp tác xây dựng nhanh chóng và hiệu quả hơn đối với ‘người nhà’ là những đồng bào khác ý thức hệ với họ? Phải chăng lòng hận thù của người Việt mình chưa được hóa giải nên mâu thuẫn mới kéo dài cho tới ngày hôm nay?

TS Hà Vũ: Trước hết, tôi khẳng định chuyện chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, nước cựu thù trong chiến tranh, là vì vấn đề ngoại giao và vụ lợi về mặt kinh tế. Tiếp nữa, chính quyền cộng sản Việt Nam đang bị Trung Quốc tấn công trên mọi phương diện nên họ cần tìm kiếm những hỗ trợ từ bên ngoài.

VOA: Hoa Kỳ là một bên tham chiến góp phần tạo sự rạn nứt trong xã hội Việt Nam. Theo ông, quan hệ Việt-Mỹ có ảnh hưởng ra sao đến việc hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam?

TS Hà Vũ: Việc Mỹ quay trở lại Châu Á, Đông Nam Á và có thiện chí tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, tôi tin rằng sự trở lại đó của Mỹ chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến việc dân chủ hóa Việt Nam. Trên cơ sở đó, phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ được tạo điều kiện để phát triển. Chính phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ là nhân tố quyết định để đưa đến một sự hòa giải thật sự, tức là giải thể chế độ cộng sản Việt Nam.

VOA: Ngoài sự ảnh hưởng của mối quan hệ Việt-Mỹ, riêng đối với những người Việt với nhau, ông có đề nghị gì không để tạm gác chuyện ‘được-mất’ trong quá khứ để cùng hướng tới chuyện ‘được-mất’ trong tương lai người Việt?

TS Hà Vũ: Đảng cộng sản Việt Nam hãy chủ động từ bỏ chế độ toàn trị của mình đi, thực hiện dân chủ-nhân quyền mà bước đầu là phải xóa bỏ các điều luật đàn áp dân chủ-nhân quyền như 79, 88, và 258 trong Bộ luật Hình sự, trả tự do cho các tù nhân chính trị, bảo đảm những quyền cơ bản của công dân Việt Nam bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do tôn giáo và đề ra lộ trình tiến hành bầu cử tự do.

VOA: Trong lộ trình hòa hợp hòa giải ông đề nghị, bản thân là con trai một công thần của nhà nước cộng sản Việt Nam thoát ly đấu tranh dân chủ dẫn tới cuộc sống lưu vong tại Mỹ hiện nay, nhìn thấy ý hướng của người cộng sản từ trong nước và hiểu được mong muốn khát khao của người Việt hải ngoại khi ra đây, ông nghĩ mình có thể góp phần thế nào thúc đẩy tiến trình hòa hợp hòa giải của người Việt nhanh và hiệu quả hơn?

TS Hà Vũ: Việc tôi có mặt tại Mỹ, đương nhiên tôi vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân chủ-nhân quyền Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp vào tiến trình hòa giải thực chất, tức là đưa tới chế độ dân chủ-đa đảng, bằng cách nêu quan điểm của mình trên các phương tiện đại chúng đặc biệt là internet để người Việt trong nước hiểu thêm thế nào là chế độ dân chủ; gây sức ép với chính quyền Mỹ cả lập pháp lẫn hành pháp để Mỹ có biện pháp thúc đẩy dân chủ-nhân quyền Việt Nam thông qua hợp tác kinh tế, hợp tác tương trợ về quân sự, và ngoại giao; ủng hộ trực tiếp những người đấu tranh dân chủ trong nước. Kết luận lại, việc hòa giải chỉ có thể diễn ra khi chế độ cộng sản Việt Nam được chấm dứt.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Có phải ‘Phế Thải’ đã chạy chức Chủ tịch Hà Nội bằng tiền (?)

TIN TÌNH BÁO NÓNG- NGUYỄN THẾ THẢO MUA CHỨC CHỦ TỊCH HÀ NỘI BẰNG TIỀN CỦA “TRUNG NAM HẢI” 1.500 TỶ ĐỒNG ĐƯỢC CHIA CHO BỘ CHÍNH TRỊ.

  • Nguyễn Thùy Trang Văn Hóa Thông Tin

Thứ Hai, ngày 23 tháng 3 năm 2015

Đây là tin tình báo thuộc loại chính xác là 99.9%. Vào tháng 6 năm 2008, cuộc chạy đua vào chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội chỉ còn 2 nhân vật được Bộ Chính Trị CSVN đưa vào danh sách là (1) ông Trịnh Đình Dũng vào thời điểm 2008, ông là Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc. (2) Vào thời điểm 2008, Nguyễn Thế Thảo chỉ là Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh.

Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ngày hôm nay đúng ra là được BCT điều động vào chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội, tuy nhiên chỉ 1 tháng trước khi ông được bổ nhiệm thì Nguyễn Thế Thảo được thay thế vào vị trí.

Vào ngày 1 tháng 8 năm 2008, Nguyễn Thế Thảo được Trung ương đảng cộng sản Việt Nam điều động từ vị trí đương nhiệm là Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh (nhiệm kỳ 2005-2011) về Hà Nội làm phó bí thư thành ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Cả hai “ứng cử viên” bí mật của BCT là Trịnh Đình Dũng và Nguyễn Thế Thảo đều CHẠY chức bằng tiền tỷ, nhưng Trịnh Đình Dũng bị đánh bại vì số tiền Nguyễn Thế Thảo chia cho BCT là 1.500 tỷ (Một ngàn năm trăm tỷ).

Đây là số tiền CỰC KỲ LỚN đối với cá nhân Thảo, và Thùy Trang truy tìm nguồn tiền “Chạy Chức” nầy có nguồn gốc từ Trung Nam Hải được đưa cho Thảo qua một tay ANH CHỊ có bí danh là HOÀNG ở Quảng Châu. Hoàng chính là cháu đích tôn của Hoàng Văn Hoan.

(*) Hoàng Văn Hoan nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Năm 1979, trong một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979, rồi trốn sang Trung Quốc sau đó.

Số tiền 1.500 tỷ mà Nguyễn Thế Thảo nhận được từ Trung Quốc được Thượng Tá Công An Nguyễn Đức Chung (Phó Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội) là con của Lê Hồng Anh làm nhiệm vụ giao tiền cho BCT.

(*) Nguyễn Đức Chung được bổ nhiệm làm Giám đốc Công an thành phố Hà Nội từ tháng 9 năm 2012, thay thế Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh về hưu, được phong hàm Thiếu tướng ngày 13 tháng 7 năm 2013.

Vào khóa thứ 2 chức vụ Chủ Tịch UBND T.P Hà Nội, Trịnh Đình Dũng ra chạy đua lại lần nữa nhưng bị Nguyễn Thế Thảo đánh bại.

NGUYỄN THẾ THẢO TIÊU DIỆT TRUNG TƯỚNG NGUYỄN ĐỨC NHANH NHƯ THẾ NÀO?

Sau khi Thảo thương lượng với tướng Công An Nguyễn Đức Nhanh, nhường ngôi cho Công An thân Trung Quốc là Nguyễn Đức Chung vào chức vụ Giám đốc Công an thành phố Hà Nội nhưng Nguyễn Đức Nhanh phản đối.

Nguyễn Thế Thảo dằn mặt tướng NHANH bằng cách liên lạc với HOÀNG (Quảng Châu) đưa XÃ HỘI ĐEN Trung Quốc từ Hồng Kông sang giết chết con trai Nguyễn Đức Nhanh.

Đầu tháng 9/2011, Nguyễn Đức Quang, tự Quang Béo, con trai của trung tướng Nguyễn Đức Nhanh bị bắn trọng thương tại dốc Bác Cổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Lúc đó Quang bị thương nặng, được đưa vào bệnh viện và qua đời 3 ngày sau đó.

NGUYỄN THẾ THẢO LÀM MAI ĐỖ THỊ HUYỀN TÂM CHO NỒNG ĐỨC MẠNH.

Đỗ Thị Huyền Tâm, sinh 17/10/1966, quê tại Ninh Xá, Bắc Ninh (cùng quê với tướng Phạm Văn Trà). Về tuổi đời, người vợ mới của Cụ Tổng trẻ hơn con trai Cụ là Nông Quốc Tuấn, Bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang 3 tuổi. Cô dâu là Tổng giám đốc một công ty TNHH Minh Tâm , là đại biểu Quốc hội khoá 12 và khoá 13 hiện nay.

Vào tháng 3 năm 2012 thì Đỗ Thị Huyền Tâm chính thức làm vợ của Nồng Đức Mạnh về ở chung tại Dinh Thự tại Hồ Tây, Hà Nội.

Đường giây Trung Nam Hải hiện nay ở Hà Nội là:

(1) Chủ tịch UBND T.P Hà Nội Nguyễn Thế Thảo

(2) Giám Đốc Công An T.P Hà Nội Nguyễn Đức Chung

Đường giây nầy liên quan mật thiết với Hoàng (Quảng Châu) cũng là ông Trùm Gỗ Lậu, Trùm Du Đảng ở Trung Quốc. Đường giây chuyển Gỗ Lậu sang Trung Quốc từ Hà Nội sẽ đưa sang cho Hoàng với sự tiếp tay của Chủ tịch UBND Thành phố Bắc Ninh là Nguyễn Quốc Liêm.

Như vậy chúng ta thấy là bàn tay của Trung Nam Hải rất chặt chẽ, là những tay lãnh đạo từ Bắc Ninh cho tới Hà Nội.

(*) Kỳ HAI sẽ là TIN TÌNH BÁO nói về T.T Nguyễn Tấn Dũng bị Trung Nam Hải ÁM SÁT hụt 2 LẦN tại Hà Nội như thế nào.

Thân Ái

Nguyễn Thùy Trang Văn Hóa Thông Tin

[Photos from Thuy Trang Nguyen’s post]

.

Phó giáo Tiến sỹ Hiển – cốt khỉ không giấu được cái đuôi !!

Chuyện viên phó giáo và con khỉ

Tú Kép (Danlambao) – Vừa rồi, đài BBC Tiếng Việt mở cuộc phỏng vấn viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển về chính sách của Cộng sản Bắc Việt Nam (BVN) sau năm 1975 và về vấn đề tù binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN), được đăng thành hai kỳ báo trên trang web BBC Tiếng Việt.
.
Trên BBC ngày 18-4-2015 (kỳ báo 1), viên phó giáo sư tiến sĩ, dạy tại Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, dõng dạc tuyên bố: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. Chính sách này đã công bố công khai ngay từ thời chiến tranh, chứ không phải sau hậu chiến mới có chính sách đó…”
.
Phát biểu của viên phó giáo không khác gì mấy ông cán bộ phường hay cán bộ xã, học tập theo cái loa đài phát thanh Hà Nội sau ngày 30-4-1975. Không biết lúc đó, 40 năm trước, viên phó giáo nầy lên mấy tuổi và sống ở đâu? Y có sống ở miền Nam không để biết sự ngược đãi, cướp của, cướp nhà của CSVN. Viên phó giáo có nghe câu danh ngôn bất hủ của một lãnh đạo CS khi vào được Sài Gòn: “Nhà ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai”. Viên phó giáo có chứng kiến cái cảnh đánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới để cướp nhà, cướp đất của người ta không? Sự ngược đãi tràn lan trong xã hội, từ thượng tầng xuống tới làng xã. Suýt nữa quên nhắc cho viên phó giáo rằng chẳng cần đi đâu cho xa, ngay tại Đại học, sau năm 1975, bảng xếp hạng tuyển sinh vào Đại học CS gồm 14 hạng, trong đó con ngụy quân ngụy quyền ở hai hạng chót thứ 13 và 14. Sơ sơ như thế có ngược đãi với trẻ con vô tội không thưa ngài phó giáo?
.
Sự ngược đãi của CSVN không thể nào kể hết cho xiết. Có một chuyện giỡn thời danh được lưu truyền như thế nầy: Sau khi Lê Duẫn chết, Lê Duẫn xuống địa ngục. Bị hành hạ khổ sở vì tội ngược đãi tàn bạo sau năm 1975, Lê Duẫn hỏi viên cai ngục làm sao thoát khỏi nơi chốn lao tù nầy. Viên cai ngục nói: “Dễ lắm, nhà ngươi phải sám hối tội ngược đãi, bạo hành ở miền Nam sau năm 1975. Nhà ngươi hãy đi lên cho hết các bậc thềm nầy, mỗi bậc thềm đọc to một tội, khi hết tội thì sẽ đến cửa thiên đàng. Mỗi lần lên một bậc, hãy nhớ dùng phấn đánh tréo làm dấu cho biết.” Lê Duẫn nhìn bậc thềm mà mừng thầm, vì quá dễ. Y từ từ bước lên, đọc một tội của mình, và đánh phấn làm dấu. Tuy nhiên khi lên mãi các bậc thềm, Lê Duẫn xài hết cả một hộp phấn, rồi hai hộp phấn, cho đến khi địa ngục hết phấn, không còn phấn để viết, mà Lê Duẫn vẫn không thấy cửa thiên đàng, đành buồn bã quay về địa ngục…
.
Trở lại với viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển. Viên phó giáo Hà Nội còn ba hoa chích chòe trên đài BBC: “Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy… Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc.”
.
À cái nầy, viên phó giáo nói cũng có phần đúng. Chuyện đi học tập cải tạo và chuyện tù đày có phần khác nhau, vì tù đày còn có tòa án xét xử, định tội rõ ràng, xong có kêu án, có thời hạn ở tù và chỉ định nơi giam tù; thậm chí ác ôn như Cải cách ruộng đất còn có Tòa án nhân dân. Còn đi học tập cải tạo thì chẳng có tòa án, chẳng ai kết án, chẳng có thời hạn, chẳng biết giam ở đâu, chẳng biết khi nào về, nhiều khi đi mút mùa lệ thủy. Khác nhau quá đi chớ. Trại tù có quy chế rõ ràng, còn trại học tập cải tạo là nơi giam giữ vô thời hạn, bạo hành, ngược đãi, trả thù, bóc lột tối đa sức lao động tù nhân. Khẩu phần của một người học tập cải tạo rất thấp so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chính thể VNCH. (1) Trại cải tạo là một loại trại trừng giới ác độc tàn bạo nhứt trong lịch sử Việt Nam.
.
Viên phó giáo tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội phải biết rằng chính sách học tập cải tạo không do đảng CSVN bày ra, mà chính sách nầy đã có lịch sử lâu dài từ quê cha đất tổ của CS, tức từ Liên Xô mà ra, thời năm xửa năm xưa. Sau đó Tàu cộng đem về khai triển, rồi bày cho Việt cộng học tập. Việt cộng chỉ việc vâng lệnh thi hành, tàn ác không kém các bậc thầy tý nào.
.
Cần nhắc lại là khi cướp được chính quyền năm 1917 ở Nga, CS Nga thiết lập chế độ cải tạo vào các năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933. Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (tức lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957. (2)
.
Tại miền Bắc, sau năm 1954, một số ít quân nhân, công chức không di cư vào Nam mà ở lại đất Bắc, liền bị bắt giam vào tù cải tạo. Chính sách cải tạo do quốc hội Bắc VN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy. (3)
.
Mấy món ăn chơi nầy viên phó giáo Vũ Quang Hiển không lẽ chưa học tập? Chưa học tập mần răng mà mò lên tới phó giáo tiến sĩ lận. Không lẽ tên nầy thuộc loại “dốt chuyên tu, ngu tại chức”? Ngoài ra, hình như trí nhớ của viên phó giáo chưa già mà đã cụt. Nên xin thêm ở đây chính sách học tập của Việt cộng theo tài liệu của nhà văn trong nước viết như sau.
.
Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: “Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ, quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên, sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định, chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ.” (4)
.
Viên phó giáo còn giả nai làm như không biết: “Hai là đã không có nhà tù nào để giam cầm tất cả anh em sỹ quan binh sỹ quân đội Sài Gòn, cũng như (nhân viên) chính quyền Sài Gòn trước đây, trong nhà tù để mà đánh đập, để mà tra tấn, thì hoàn toàn không có.” (trích nguyên văn từ BBC ngày 18-4-2015.)
.
Khổ quá, lại phải tìm giùm nhà tù cho cái anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Encyclopedia of the Vietnam War (5), sau biến cố 1975, số sĩ quan, công chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa bị bắt bỏ tù khoảng hơn 1 triệu người trên tổng dân số VNCH lúc đó khoảng 20 triệu người, tức 5% dân số. Tất cả bị giam trên 150 trại tù trên toàn quốc. Trong số 1 triệu người bị tù, khoảng 165,000 người (tức 15%) bỏ mình trong các trại tù (6). Cộng sản hứa sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả, nghĩa là chẳng có luật lệ quy định thời gian giam giữ tù nhân. Còn việc thả tù hoàn toàn tùy cảm hứng của CSVN.
.
Rồi tiếp đó, trả lời phỏng vấn trên BBC ngày 20-4-2015 (kỳ báo 2), viên phó giáo Đại học Quốc Gia Hà Nội lại lếu láo về hòa giải hòa hợp dân tộc: “Nếu chúng ta tính mỗi thế hệ khoảng 20-25 năm, thì hơn một thế hệ, hai thế hệ đã ra đời sau chiến tranh đến bây giờ rồi. Thì những gia đình đó, con cái của họ, con em của họ vẫn có công ăn, việc làm bình thường, được học hành một cách bình thường… Và người ta có thể gả vợ, gả chồng cho nhau… Thì tôi nghĩ sự hòa hợp ấy về cơ bản đã được giải tỏa.”
.
Đúng là cho đến 2015, đã 40 năm qua, ai cũng phải kiếm công ăn việc làm, vì không lẽ 40 năm qua, người ta ngồi không, nhịn đói chờ chết. Bị ngăn sông cấm chợ, bị đổi tiền ba lần, bị đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tiểu tư sản, tiểu chủ, bị cướp trước, cướp sau, dân chúng cũng phải lo kiếm sống nuôi gia đình. Còn việc một số gia đình kẻ Bắc người Nam dựng vợ gả chồng cho con cái là chuyện bình thường trong cuộc sống xã hội, chứ đó không phải là chuyện hòa hợp hòa giải chính trị. Nói thế mà cũng nói được thưa phó giáo tiến sĩ.
.
Nói chuyện hòa hợp hòa giải, là nói chuyện hòa hợp hòa giải chính trị và giữa ai với ai? Dĩ nhiên ở đây kẻ mở miệng kêu gọi hòa giải hòa hợp là nhà cầm quyền CSVN. Còn đối tượng nhà cầm quyền CSVN muốn hòa giải hòa hợp là người Việt Nam, chứ ai vào đây. Hiện nay, có hai thành phần người Việt: người Việt ở trong nước và người Việt ở hải ngoại.
.
Sau khi CS cưỡng chiếm Sài Gòn năm 1975, những người Việt có điều kiện, tìm cách ra đi tìm đất sống tự do khắp năm châu, đông nhứt ở Bắc Mỹ. Ngày nay, người Việt họp thành những cộng đồng đông đúc, có khoảng 3 triệu người, tuy nói tiếng Việt, viết và đọc được tiếng Việt, nhưng họ đã ổn định cuộc sống, đã là công dân các nước khác, không phải là công dân Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Giai đoạn khó khăn của họ đã qua. Bây giờ họ sống ở nước ngoài, làm việc cho nước ngoài, lãnh lương nước ngoài, đóng thuế cho nước ngoài, hưởng quyền lợi và tiện nghi nước ngoài… Họ chẳng còn gì liên hệ gì đến nhà nước CSVN, họ chẳng có gì cần hòa giải hòa hợp với với đảng CSVN. Nếu vì công việc nhà, nếu phải về thăm gia đình, bà con còn ở trong nước, họ được đối xử theo quy chế người nước ngoài, luật lệ đối với người nước ngoài, và phải trả chi phí theo giá người nước ngoài, từ khách sạn, ăn uống, di chuyển, du lịch… Nói tóm lại là họ chẳng có gì cần để hòa giải hòa hợp với nhà nước CSVN.
.
Vậy thì chỉ có hòa giải hòa hợp giữa nhà cầm quyền CSVN và dân chúng trong nước. Muốn hòa giải với người dân trong nước thì chẳng có gì khó, mà rất đơn giản, chỉ cần CSVN dẹp bỏ độc tài, ngưng đàn áp, để cho người dân tự do sinh sống thoải mái, tự do làm ăn, tự do chính trị, tự do báo chí, tự do tôn giáo, ngưng cướp đất, giải quyết khiếu nại kiện tụng một cách công bằng, và việc đầu tiên là phải cất giùm cái mũ điều 4 Hiến pháp của CSVN. Cái điều luật lạ lùng nầy đặt CS ngồi trên đầu dân chúng Việt Nam. Đang ngồi trên đầu dân, đảng CS ngoan cố đời nào chịu bỏ điều 4 Hiến pháp. Thế thì làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng Việt Nam? Anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội nầy đùa dai quá hà!
.
Đảng CSVN còn nhân danh đất nước Việt Nam, ký kết những mật ước với Tàu Cộng, nhượng bộ và bán nước cho Tàu Cộng để duy trì quyền lực và quyền lợi, rồi bắt nhân dân Việt Nam gánh chịu hậu quả các mật ước đó, mà nhân dân chẳng biết mặt mũi là những mật ước gì? Ngay cả trước khi qua Mỹ ngoại giao, tên Tàu khựa gọi viên tổng bí thư CSVN sang chầu rìa, thế là tên tổng CSVN phải lò mò sang xin triều yết, cúi đầu ký kết thêm nhiều hiệp ước do Tàu khựa soạn sẵn. Tồi đến thế là cùng.
.
Như thế mà làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng được? Còn ba cái đám cưới lẻ tẻ là chuyện nhỏ như con thỏ, chẳng nhằm nhò gì, làm sao gọi đó là đã hòa giải rồi. Sao cái con vẹt hót líu lo như giọng lưỡi các viên chính ủy phường xã nầy, lại có thể giảng dạy được sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, nghe nói là tinh hoa của Việt Nam ngày nay?
.
Để kết thúc bài viết về chuyện tên phó giáo Đại học, ở đây xin ghi lại câu chuyện vui trong giới tiếu lâm Hà Nội. Chuyện kể rằng trong một đại hội áo thuật (trò xiếc) trên thế giới, một phóng viên quốc tế phỏng vấn viên trưởng đoàn ảo thuật Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Việt Cộng ba hoa kể lể như sau:
.
“Tớ ấy à, tớ có một khả năng đặc biệt, đó là tớ chẳng những điều khiển đoàn của tớ, mà tớ còn có thể điều khiển bất cứ đoàn xiếc của bất cứ nước nào.” Người phóng viên rất kinh ngạc, ghi nhận ý kiến của tên trưởng đoàn Việt Cộng và báo cho Ban tổ chức biết. Lúc đó, trên sân khấu, có một đoàn xiếc Đông Âu đang trình diễn. Người huấn luyện viên điều khiển một con khỉ ra sân khấu. Ông nói nhỏ với con khỉ, nó liền mỉm cười. Ông nói nhỏ lần thứ hai thì nó mếu máo muốn khóc. Ông nói nhỏ lần thứ ba thì con khỉ đứng dậy, lịch sự chào khán giả rồi đi vào. Khán giả vỗ tay ầm ỹ.
.
Nghe ông phóng viên ca ngợi khả năng điều khiển trò xiếc của viên trưởng đoàn Việt Cộng, Ban tổ chức liền quyết định thử tài của y và mời y lên sân khấu.
.
Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng lên sân khấu, người ta đem con khỉ cho y điều khiển. Cũng lạ thật. Y nói nhỏ gì không biết, con khỉ phá lên cười ha hả khoái trá. Rồi y nói câu thứ hai, con khỉ khóc nức nở, nước mắt ràn rụa, nước mũi chảy tùm lum. Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng nói câu thứ ba, con khỉ vụt đứng dậy, chưa kịp chào khán giả, liền chạy trốn mất biệt vào hậu trường sân khấu. Cả hội trường đứng dậy vỗ tay khâm phục viên trưởng đoàn Việt cộng.
.
Tối lại, tại khách sạn, viên trưởng đoàn Tàu Cộng đến khen ngợi viên trưởng đoàn Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Tàu Cộng hỏi: “Đồng chí sao tài thế, hay nhẩy, đồng chí nói gì mà con khỉ cười hả hê vậy? Có thể cho anh em biết bí quyết tài tình của đồng chí không?”
.
Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: “Có gì đâu, chuyện rất đơn giản như đang giỡn đồng chí ạ. Em tự giới thiệu với nó: Nầy đằng ấy, tớ là phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam đấy. Nghe nói mấy chữ phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam, con khỉ cười quá trời. Đúng là khỉ, dám giỡn mặt với phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam.
.
Rồi đồng chí nói gì mà nó khóc nức nỡ vậy? Trưởng đoàn Tàu Cộng tò mò tiếp.
.
Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: “Cũng chẳng có gì. Đàn em nói với nó: Tớ là phó giáo sư tiến sĩ, dạy Đại học, mà lương hàng tháng của tớ chỉ tạm đủ sống đạm bạc một mình tớ mà thôi, còn gia đình tớ phải tìm cách cải thiện đấy.” Nghe thế, nó tủi cho thân phận em, nó khóc nức nở, nó cũng tốt nhẩy.”
.
Trưởng đoàn Tàu Cộng nói ngay: “Sao lúc đó đồng chí không nói thêm với nó, tớ bán bài, bán đề thi, cho sinh viên lên lớp, bán bằng, kiếm khối tiền đấy. Ngoài ra, thỉnh thoảng có con nhạn là đà cho hưởng tý sex để đổi chác việc lên lớp nữa. Sướng chán.” Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời ngay: “Ấy chết, ai lại nói thế, bí mật nghề nghiệp mà đồng chí, nói thế bể mánh ngay, nên đàn em chỉ làm thinh qua cầu.”
.
“Thế đồng chí nói thế nào mà con khỉ bỏ chạy lẹ vậy?”, viên trưởng đoàn Tàu Cộng hỏi tiếp.
“Dạ em nói với nó thế nầy: “Khỉ ơi, mày ở nước ngoài làm gì, về Việt Nam hòa giải hòa hợp với tụi tao cho vui.” Nghe nói hòa giải hòa hợp với mình, nó bỏ chạy trốn mất đất. Thật là đồ khỉ. Về Việt Nam hòa giải hòa hợp mà không chịu. Đúng là con khỉ dại hơn mấy ông bà trí ngủ, khoa bảng đầy mình, giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ hay kỹ sư gì đó, mấy ông cũng ở các nước Tây phương đấy, mấy ông bà về Việt Nam hòa giải hòa hợp, được bằng khen của nhà nước Hà Nội. Thế mà con khỉ lại chê…”
.
Chuyện viên phó giáo tiến sĩ muốn hòa giải hòa hợp với con khỉ ngang đây bắt đầu bốc mùi xú uế, đến nỗi con khỉ cũng chê. Thôi xin tạm ngưng. Bái bai bà con cô bác, chờ hồi sau, khi nào đài BBC tiếng Việt phỏng vấn thêm vài thằng ngố khác, mới có đề tài cho lời bàn Mao Tôn Cương, tiếp tục chuyện vui trời ơi đất hỡi như thế nầy.
.
24/04/2015
(Toronto, Canada)
.
 
_____________________________________
Chú thích:
 (1) Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada, 2000: tr. 239-250.)
(2) Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada: 2000, tr. 19.)
(3) Phạm Hữu Trác, bđd.
(4) Huy Đức, Bên thắng cuộc tập I, Sài Gòn: Osin Book, 2012, tr. 39.
(5) Spencer C. Tucker, California, 1998, tr. 602.
(6) Orange County Register, số Chủ Nhật 29-4-2001, ngày 30-4, tt. 2-3.
.

“Búa Liềm” tượng trưng cho lá Cờ của Cộng Sản (VN)!
[posted by tunhan]

30/4/75 – “Giải phóng gì ông, phỏng giái tôi!”

3796. Giải phóng đấy, phỏng?

Posted by adminbasam on 27/04/2015

26-04-2015

H1“Hoan hô giải phóng, hoan hô phỏng..!
Ruột héo gan bầm có biết không?”

(PĐ.)

30 tháng 4, ngày mà Võ Văn Kiệt, một người của “bên thắng cuộc”đã cho rằng đó là: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn!” Hôm nay, nhìn lại đất nước, chắc là số triệu người buồn nhiều hơn số triệu người vui.

Đó là ngày mà, người dân miền Nam có nhiều tên gọi: “Ngày Quốc Hận – Ngày Mất Nước – Ngày Đứt Phim – Ngày Tan Hàng – Ngày Miền Nam Sụp Đổ – Ngày Sài Gòn Thất Thủ – Tháng Tư Đen…” “Ngày Đại Hồng Thủy,” “Ngày Đại Họa” và tiếp theo là “Tị nạn và hội nhập,” “Hành Trình Đến Tự Do…” để ngậm ngùi tưởng nhớ.

Bắc Việt gọi ngày này là “Ngày Giải Phóng Miền Nam,” ngày “Thống Nhất Đất Nước” “Đại Thắng Mùa Xuân,” tổ chức ăn mừng, diễn binh, đốt pháo hoa… nhưng không bao giờ tự hỏi, chúng đã đưa đất nước này đi về đâu? Trong những cái tên, tên “Giải Phóng” phải được coi là trơ trẽn nhất, mà một số nhỏ người Việt tị nạn Cộng Sản không ở lại với “giải phóng” chạy sang đây, mà đầu còn đặc, trí chưa thông vẫn còn dùng một cách vô ý thức những câu “trước giải phóng,” “sau giải phóng!” Những người “lính cụ Hồ” luôn luôn mang theo hai chữ “giải phóng” bên mình, họ tự nhận là “giải phóng quân,” “quân đội giải phóng.”

Giải phóng được coi như là làm cho thoát khỏi sự áp bức, giam hãm, như chuyện nước Pháp và Paris bị Đức Quốc Xã chiếm đóng trong 4 năm và thế giới vẫn dùng danh từ “giải phóng Paris,” để nói đến việc De Gaulle tiến vào Paris trong những ngày cuối tháng 8, 1944. Giải phóng như chuyện Tết Mậu Thân ở Huế, quân đội VNCH chiếm lại Huế sau 23 ngày, dân chạy về phía “lính mình,” nơi có ngọn cờ vàng, mừng rỡ ứa nước mắt. Bắc Việt không thể cắt nghĩa hai tiếng “giải phóng” khi lính Việt Cộng vào đến đâu, dân chúng ùn ùn bỏ nhà chạy “giặc” ở đó. Tiếng “giặc” mà người miền Nam dùng ở đây chính là để chỉ những người mang danh “bộ đội giải phóng.”

Sau khi Hiệp Định Geneve 1954 giao miền Bắc cho Cộng Sản, đã có gần một triệu người dân Bắc di cư vào Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV) đã khiếu nại cho rằng việc di cư là do cưỡng bách. Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra, trong số 25,000 người ủy hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả. Sau đó, theo những ghi chép của học giả Đoàn Thêm (*):

– 4 tháng 10, 1956: 3 người liều chết bơi qua sông Bến Hải vào Nam tìm tự do.

– 19 tháng 11, 1956: 19 người dân Nghệ An dùng ghe vượt biển vào Nam.

– 8 tháng 4, 1957: 41 người dùng thuyền vượt tuyến vào Nam.

– 28 tháng 10, 1957: 2 sinh viên vượt tuyến vào Nam.

– 11 tháng 2, 1958: 14 người xuyên qua Lào đến được miền Nam.

Tiêu biểu là câu chuyện một người đã tập kết ra Bắc là nhà văn Vũ Anh Khanh, nhưng ba năm sau, ông thấy rõ bộ mặt của Cộng Sản, muốn trở lại miền Nam, ông bơi qua sông Bến Hải và bị bắn chết giữa dòng. Chúng ta chưa nói đến những người mất xác trên con sông chia cắt hai miền hay chết trước khi qua sông đến được bờ Nam. Chưa thấy có ai khùng điên bơi qua sông Bến Hải qua bờ Bắc để được hưởng độc lập – tự do – hạnh phúc!

Từ tháng 3, 1975, khi nghe tin Bắc Việt sắp giải phóng Huế rồi Đà Nẵng hàng chục nghìn người dân miền Nam đã liều chết lên tàu, ghe, thuyền, và những chiếc “sà lan” không thức ăn, nước uống, chấp nhận cái chết để tránh xa “quân đội giải phóng!” Nhưng tiếc thay, vì quân “giải phóng” lại đuổi kịp, nên không phải ai khi đến được Cam Ranh, Phú Quốc hay Sài Gòn cũng đều có cơ hội được ra đi!

Từ ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm Đội Số 7 ngoài khơi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dùng trực thăng di tản một số người Việt, trong đó có chiến dịch Babylift. Trong tình trạng này ai cũng muốn ra đi, nên cảnh hỗn loạn xảy ra trên những bến tàu, sân bay vì không có đủ phương tiện cho những người đang chen chúc để tìm một chỗ “đứng” để ra đi. Hơn 50,000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn ra đi an toàn trước khi Việt Cộng vào thành phố. Lần này không nghe Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khiếu nại cho rằng việc di tản là do cưỡng bách.

Ý nghĩa 2 chữ "Giải phóng" của VC ! - Tranh hí họa của Babui (Danlambao)http://danlambaovn.blogspot.com/

Ý nghĩa 2 chữ “Giải phóng” của VC ! – Tranh hí họa của Babui (Danlambao) http://danlambaovn.blogspot.com/ [posted by tunhan]

Sau khi Việt Cộng lập chính quyền ở miền Nam, và những biện pháp trả thù, vơ vét xảy ra như chính sách tập trung quân-cán-chính vào trại tù, chính sách đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng “kinh tế mới,” bần cùng hóa nhân dân, kỳ thị, phân biệt “cách mạng” với “phản động” đã xô đẩy người dân miền Nam vượt biên, vượt biển tìm đến các đất nước tự do. Đây là cuộc “bỏ nước” vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.

Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849, 228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ. Nhưng sự thật con số này là con số ước tính còn xa sự thật.

“Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3 triệu người).” (Theo Trần Gia Phụng)

Giải thích việc dân chúng miền Nam chạy trốn Cộng Sản trong những ngày Sài Gòn thất thủ, phe chống miền Nam giải thích rằng đó là sự “hoảng loạn” nhưng sao mãi đến 38 năm sau, chỉ riêng năm 2013, đã có gần 800 người Việt vượt biển đến Úc, và trong số này phần lớn là xuất phát từ Nghệ An-Hà Tĩnh, đất “cách mạng,” quê hương của Nguyễn Tất Thành. Mới tuần trước đây hải quân Úc đã đưa trả gần 50 thuyền nhân Việt Nam về nước sau khi chặn bắt được nhóm này ngoài khơi vùng biển phía bắc Úc hồi đầu tháng 4.

Tại sao đất nước đã “được giải phóng” gần 40 năm mà vẫn còn người liều chết ra đi tìm một nơi có tự do và cơm áo.

Trong thời gian bức tường Berlin, được Đông Đức (Cộng Sản) dựng lên từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989, khoảng 5000 người đã tìm cách vượt qua bức tường này để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt khoảng từ 86 đến 200 người.

Từ ngày Nam Bắc Triều Tiên bị chia cắt ở vĩ tuyến 38, đã có hơn 23,000 dân Bắc Hàn đã vượt biên giới đến được Nam Hàn. Những người kém may mắn nếu không bị bắn chết trên đường di tìm tự do thì cũng đang bị giam cầm trong số 200,000 tù nhân ở các trại tù “lao cải.”

Khi Cuba ngã theo Liên Xô, thoạt đầu, từ năm 1980, nước này đã mở cửa, để cho bất cứ ai cũng có thể ra đi với giấy thông hành, gần 125,000 người Cuba đã chạy sang Mỹ. Sau khi Fidel Castro cấm cửa, đã có hàng nghìn người Cuba bằng mọi cách, vượt biển sang Hoa Kỳ, mà con dường ngắn nhất là tới Florida. Chỉ mới năm ngoái, 2014, tuần duyên Hoa Kỳ đã chặn bắt được hơn 2,000 di dân Cuba liều chết mạo hiểm tìm đường vượt biển chạy khỏi chế độ Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản chưa bao giờ là thiên đàng, đem tự do và hạnh phúc lại cho con người, “sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!” Nhà văn Nguyễn Khải trong bài viết “Đi tìm cái tôi đã mất” đã miêu tả rất đúng dân tình miền Bắc sau khi “bộ đội giải phóng” vào Hà Nội tháng 10, 1954:

“Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do thì cái đầu cũng được trưng thu luôn, từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối…”

“Một nửa nước” năm 1954 được đổi lại là “cả nước” năm 1975!

Vậy thì, nói chuyện, ngày 30  tháng 4, 1975 là ngày miền Bắc Cộng Sản “giải phóng miền Nam” là một chuyện hoang tưởng, trơ trẽn. Ai cần ai “giải phóng?”

Tôi xin mượn lời dân gian, nôm na, mách qué để kết luận bài này:

– “Giải phóng gì ông, phỏng giái tôi!”


(*) Ghi lại tài liệu của Viên Linh

.

"Búa Liềm" tượng trưng cho lá Cờ của Cộng Sản! [posted by tunhan]

“Búa Liềm” tượng trưng cho lá Cờ của Cộng Sản!
[posted by tunhan]

t.h.ơ. Ngô Minh Hằng – MUÔN ĐỜI LÀ QUỐC HẬN !

NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ĐỜI LÀ QUỐC HẬN !

(gởi những kẻ có ý đồ muốn đổi NGÀY QUỐC HẬN đau thương trong lịch sử Việt Nam thành ngày tự do hoặc ngày của thuyền nhân để bịp lừa nhân loại.)
*

Ngày Quốc Hận phải là ngày Quốc Hận
Không tự do mà cũng chẳng thuyền nhân !
Tự do gì khi tám chục triệu dân
Bị đàn áp, bị tù đày, bị giết ?!

Bị đảng xem như con giun cái kiến
Bắt Dốt, bắt Mù, bắt Điếc, bắt Câm
Khi đảng lạy Tàu, cắt đất quì dâng
Dân phản đối, đảng vu là phản động …

Cánh cửa nhà tù thét to, mở rộng
Và người tù không án vẫn chung thân
Ðảng cấm vợ con, cha mẹ, xa gần
Ðến thăm viếng. Tự do à ??? Gian lận !!!

Ngày Quốc Hận thì gọi là Quốc Hận
Sao lại lập lờ ngày của thuyền nhân ?
Ba Mươi Tháng Tư nếu lũ vô thần
Không cướp miền Nam, thuyền nào vượt biển ???

Cướp miền Nam, đảng gây thêm oan nghiệt
Thu đất, đoạt nhà, vơ vét, quan liêu
Máu thịt dân lành, gia sản tan tiêu
Nên mới có thuyền nhân sau cuộc chiến

Cướp nước rồi, nếu đừng tù, ngưng giết
Ðừng trả thù người tàn ác, bất lương
Bắt tay nhau cùng dựng lại quê hương
Thì đã chẳng có tên ” NGÀY QUỐC HẬN ” !

Bất nhân thế, sao hèn, không dám nhận
Là tháng Tư, loài qủi đỏ dã man
Tàn bạo, gian hùng, bức tử miền Nam
Gieo tang tóc, xô dân vào ngục tối ???

Sao muốn đổi tên ? Sợ mà chối tội ?
Hay gian ngoa, điên đảo bịp lừa người ?
Bịp cách nào, tay vẫn máu dân tươi !
Vì tội ác vẫn còn kia, chất ngất ….

Ngày Quốc Hận thì gọi là Quốc Hận
Nghe rõ chưa hỡi kẻ thiếu tim người !
Món bịp bây giờ đã ế, đã ôi …
NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ĐỜI LÀ QUỐC HẬN !

Ngô Minh Hằng

[KVVNNCVC]= Không Về VN Nếu Còn VC !- Đừng nghe Cộng sản “NÓI”!!!

VNTB – Làm sao để tin: “Sau 40 năm ai chưa về quê hương, hãy trở về”

.

VNTB: Có thể ghi nhân cảm xúc và phần nào thành tâm của ông Nguyễn Thiện Nhân – Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc VN qua lời kêu gọi “Sau 40 năm ai chưa về quê hương, hãy trở về”, bởi lẽ ông có xuất phát điểm và quá trình là một cán bộ dân chính và chưa từng tham gia ngành công an. Nhưng cũng bởi thế, lời lẽ kêu gọi của ông thuần túy mang tính”mặt trận”.

Thế nhưng lời kêu gọi này vô hình trung lại khoét thêm hố ngăn cách giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với chính quyền trong nước. Lý do rất đơn giản là chính sách nói một đằng làm ngược lại của chính quyền trong nhiều năm qua, và đặc biệt trong vài năm gần đây, đã củng cố thêm nhiều bằng chứng hùng hồn về sự thật nhiều người Việt hải ngoại không được cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cấp visa cho về nước, hoặc một số trường hợp được cấp visa nhưng đến khi bay về sân bay Nội Bài hoặc Tân Sơn Nhất thì lại bị công an cửa khẩu “cấm cửa”, đành phải trở ra nước ngoài.

Sau 40 năm “giải phóng” và sau hai chục năm thực hiện chính sách “hòa hợp, hòa giải dân tộc”, tất cả vẫn còn gần như nguyên vẹn vét thương chiến tranh – gây ra bởi giới lãnh đạo quen nối dối hơn hẳn bản năng nói thật.

                              *
Tin liên quan: Sau 40 năm ai chưa về quê hương, hãy trở về

Chúng tôi chỉ mong tất cả đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nếu trong 40 năm qua chưa có dịp về nước thì nên về – Chủ tịch UB TƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân nói với báo giới nhân 40 năm ngày thống nhất đất nước.Ông Nguyễn Thiện Nhân chia sẻ cảm xúc về ngày 30/4/1975:

Nguyen thien Nhan 2
Chủ tịch UB TƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân. Ảnh: Hoàng Long
.[Posted by tunhan].

Đối với tôi, đó là ngày hết sức đặc biệt, như một giấc mơ. Tôi sinh ra ở miền Nam nhưng năm 1954, tôi theo cha mẹ tập kết ra Bắc và đến năm 1964, cha mẹ tôi trở lại miền Nam chống Mỹ. Từ đó tôi luôn luôn muốn biết cha mẹ mình còn sống hay không. Tôi nghĩ rằng cuộc chiến đấu này còn kéo dài cho đến khi mình lớn lên đi bộ đội năm 1970 và không nghĩ rằng trong đời mình đã đánh giặc xong, có khi đến đời con mình phải đánh giặc tiếp.Ngày 30/4/1975, khi nghe tin giải phóng, tôi thật sự òa khóc.Suy nghĩ đầu tiên của tôi, vậy là thế hệ của mình không phải đánh nhau nữa, vậy là đất nước đã thống nhất thật rồi. Tôi mong được biết tin sớm cha mẹ mình còn sống hay không, bởi trong chiến tranh cha mẹ và tôi không có thư từ gì.

Tôi cũng rất muốn về miền Nam để biết mặt ông bà. Vì kể từ khi đi tập kết lúc 1 tuổi tôi đã không biết mặt ông bà mình. Tiếng là quê ở miền Nam nhưng tôi lại không có khái niệm về quê của mình. Từ nhỏ tôi đã ở miền Bắc và được đồng bào nuôi lớn lên đến khi trưởng thành.

Ngày đó với tôi giống như trong bài hát “đi trong mơ, nước mắt lại trào”.

Góp viên gạch xây nhà cho quê hương

Chủ tịch UB TƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân cũng chia sẻ với báo chí mong muốn kiều bào trở về:

Việc một nước có chiến tranh, chia hai phe trong một đất nước là điều không mong muốn và cũng gây rất nhiều khổ đau. Nhưng đó là thực tế lịch sử. Năm 1946, Bác Hồ nói sau khi đất nước giành được độc lập: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp ở đôi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết. Có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”.

Tôi nghĩ rằng cách nhìn của Bác, lời dạy của Bác luôn thấm. Người Việt Nam cho có những lúc ở hai chiến tuyến, cho dù mỗi bên đều mất mát người thân của mình nhưng nhớ lại lời Bác dạy đều là một gốc cả và đều có lòng yêu nước.

Chúng ta không ai được gặp trực tiếp Vua Hùng cả nhưng 4.000 năm sau đều về giỗ Tổ cơ mà. Vậy thì những người Việt Nam xa đất nước 40 năm qua tôi tin rằng tình yêu quê hương đất nước trong lòng còn cháy bỏng lắm.

Chúng tôi chỉ mong tất cả đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nếu trong 40 năm qua chưa có dịp về nước thì nên về. Đất mẹ luôn sẵn sàng mời tất cả những người con trở về nhìn lại làng xã của mình, chắc chắn sẽ thấy nó phát triển.

Chúng tôi thấy có nhiều trường hợp trở về hiểu được nhau, hiểu được thực tiễn rồi có khi không cần nói tự nhiên mỗi người đều mong muốn hãy làm gì đó, hãy bỏ viên gạch xây nhà cho quê hương, hãy trồng một cái cây cho quê hương mình thêm xanh, hãy góp một sáng kiến cho đất nước mạnh thêm.

Theo Thu Hằng/ Vietnamnet

*

[Posted by tunhan]

[Posted by tunhan]