Đọc Báo Vẹm!! – Số lần: 491

Đọc Báo Vẹm số 491

Do Nguyên Khôi và Hoàng Tuấn phụ trách;

  • Đọc dùm quý vị những tin tức ‘nóng hổi’ được đăng trên các Báo Nhà nước Xã nghĩa, tức Báo của ĐCS VN!
  • Tin ‘TƯƠI’ được trích đọc từ Báo Vẹm!

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/

Bản văn tiết lộ của Nhà biên khảo, Bác sĩ Trần Đại Sỹ! [tn]

  • Fwd. Chuyển tiếp qua điện thư!
    Date: July 25, 2016 at 2:47:30 PM PDT
    Subject:  Trung cộng tiết lộ động trời [1 Attachment] 

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời: Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quốc như thế nào?

 LGT.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiến đất dâng biển cho Trung Quốc ra sao. Bí mật của vụ này đã được Bác Sĩ Trần Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiều Trần trước cơ quan IFA và được Saigon HD Radio trích đoạn các phần quan trọng sau đây:
***
Bác sĩ/Tác giả Trần Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas (Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB), Dr. Trần Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14 VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh (Khóa 16 VB). 
Bản điều trần nêu lên nhiều chi tiết đau lòng. Theo BS Trần Ðại Sỹ, “Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật, theo tinh thần bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn”.
Trong khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây số và Bộ Ngoại Giao CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Lý do, theo BS Sỹ, vì “Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc”.
Các phần quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí ẩn về việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc
Bản điều trần của Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại Sỹ
Dr. Trần Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT: Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc.Ðau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam-quan đi vào tâm tư là niềm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc.
Ngay cả hang Pak-bo là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nhìn vào lãnh thổ Trung-quốc. Trong suốt 25 năm qua, Bác-sĩ TrầnÐại-Sỹ vì ký khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là “không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại; không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam” nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên, ông đã được một cơ quan (chúng tôi giấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo, rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôị (IFA).
Kính thưa Ngài … Kính thưa Quý Ngài,  Kính thưa ông Giám-đốc… Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay, chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Ðây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô  tư vì:
– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần vào thế kỷ thứ 13 mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.
– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu mời tôi về nước (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa, tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ðứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa, anh ta hỏi:
– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?
Tôi lắc đầu, khóc tiếp, anh an ủi:
– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồị, Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiềụ.
Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữẠ Hán như sau:
1.Thử địa cựu Nam-quan,
2.Biên địa ngã cố hương.
3.Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp, khốc, ký đoạn trường.
5.Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường Kiệt truy Bắc phương,
7.Hưng Ðạo đại sát Ðát,
8.Lê Lợi trảm Vương Thông.
9.Nam xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm hồng Bắc-bình vương.
11.Ngũ thiên niên dĩ tải,
12.Hoa, Việt lập dịch trường.
13.Mao, Hồ tình hữu nghị,
14.Nam, Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ thích ô hoang. 
Ðại-Việt vong quốc nhân Trần Ðại-Sỹ-Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôị – Xin tạm dịch:
 
1.(Ðất này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn là biên địa cố hương của mình.)
3.(Hiện nay là đất Trung-nguyên,)
4. (Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua Lê thắng Tống chỗ này,)
6.(Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trần sát Ðát liên miên,)
8.(Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)
9.(Càn-Long chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.)
11.(Năm nghìn năm cũ qua rồi,)
12.(Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoạ)
13.(Ông Hồ kết bạn ông Mao,)
14.(Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng.)
15. (Vạn dân xương trắng đầy đồng,)
16. (Ðể lại trên lá cờ Hồng vết nhơ)
(Người nước Ðại-Việt vong quốc tên TrầnÐại-Sỹ, khóc đề thơ ngày 6 tháng 9 năm 2001)
Câu 5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bạị
Câu 6, Năm 1076, vua Tống Thần-Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánhÐại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổị
Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầụ.
Câu 10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.
Câu 14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Ðông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhaụ Việt-Hoa ví như răng với môị. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ- Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.
 
– Tháng 9 vừa qua, Ðảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất vì năm 1997 , tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt, nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới hình thức hài hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị cuối năm 1997. Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấỵ (2).
Ghi chú (2) Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm khiến họ sợ hãi mà thôi. Ðiều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Ðức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm những vụ đầu độc cùng một phương pháp:
– Cậu-Chó vì dính dáng đến vụ Trương Như Tảng, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc không thành rồi cũng được bán thân bất toại để bảo mật
– Trong kỳ đại hội Đảng 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trưởng Ngoại-giao, ông Ðào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.
– Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam từng dính dáng với phong trào Trương Như Tảng. Sau đó, đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây, nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp, ông lén từ Canada sang Paris gặp bà mưu kiếm ít xôi thịt từ Trung-quốc. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.
Kính thưa Quý-vị:
Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:
“Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam, họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.
Kính thưa Quý-vị
Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay về việc:
– Ðảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
– Ðảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.
3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc.
3.1. Kết quả của văn kiện 14-9-1958.
Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này, toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Ðồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1): những nước liên hệ tới bản tuyên bố là :
– Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), – Nhật-bản, – Hoa-kỳ (hạm đội 7)), – Phi-luật-tân, – Mã-lai, – Brunei, – Indonésia, – VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).
Thế nhưng từ hồi đó đến nay, các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên.
Vì sao?
Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giời cứ nhìn trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ nàỵ.
Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận) nên suốt thời gian 1958-2001:
– Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.
– Chiến hạm của Pháp, Ðức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng mà Trung-quốc đành im lặng.
 
Hôm nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ
Kính thưa Quý-vị,
3.2. những bí ẩn.
Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.
– Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đã phân định từ 1887 giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì chẳng có gì là lạ cả. Nhưng nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi ra vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
– lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
– Phía Ðông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Bruneị
– Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-laị
 
Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc thịìcũng có bản đồ chi tiết nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó thì có nghĩa rằng:
Họ đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ: 
– Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
– Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý nghĩa là toàn bộ biển Nam-hảị
 
Kính thưa Quý-vị,
 
3.3 – Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa) .
Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:
– Tại sao năm 1973, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH? Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa địa, chiến hạm lớn đông gấp 3 lần VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa- Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH?
Nay tôi xin thưa:
Vì:
Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao TrạchÐông), phía Trung-quốc đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đồ, Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc thì Trung-quốc đem hạm đội xuống chiếm Hoàng-sa.
Vì:
Văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được hiến dâng, đã 16 năm bị VNCH xâm lăng.
– cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến tháng 3 năm 1988, Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ.
Nay tôi xin thưa:
Do văn thư của ông Phạm Văn Ðồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm VănÐồng đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc, Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Ðài-loan đóng tại đây mà Trung-quốc không tấn công vì quân Ðài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngã ngũ thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.
Ðối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ có nghĩa là họ gạt Việt-Nam ra ngoài vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quốc. 
3.5 – Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958 và chính phủ VNDCCH.
Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:
– Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc MạcÐăngÐung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.
– Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau, VNDCCH không có ngoại thù.
– Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH, không có áp lực ngoại xâm.
– Năm 1958 là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao động (Cộng-sản), dân chúng… bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng, không còn kẻ nội thù,
– Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy, họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.
– Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?
– Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ, VNDCCH cũng có Quốc-hội nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.
3.6 – Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng? Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.
Tôi không tìm ra vì:
– Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lãnh hải đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn Ðồng hồi ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Ðại-tướng Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ-trương bộ Quốc-phòng vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Ðại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Ðại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn Ðồng ký văn kiện này, Ðại-tướng phải biết. Nay Ðại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người, nếu sĩ khí, dũng khí của Ðại-tướng còn thì xin Ðại-tướng cho quốc dân biết được không?…
– Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn Ðồng thì không thể nào tin được vì chính ông Phạm Văn Ðồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng đất cho Trung-quốc!
– Ví thử ông Phạm Văn Ðồng tự ý ký văn kiện trên thì năm 1977, văn kiện ấy lộ ra ngoài, người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn Ðồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?
– Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Ðảng Cộng-sản bán nước mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, còn Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc nàỵ
Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc trước khi điều trần sang phần thứ nhì.
Kính thưa Quý-vị,
Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:
4. Vụ nhượng lãnh thổ mới đâỵ
* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.
* Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
4.1 – Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định.
Hai hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:
– Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,
– Ông Trần Ðức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
– Ông Nông Ðức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,
– Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
– Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giaọ
 
Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết nhưng có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Không cần biết người ký là Chủ-tịch Trần Ðức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng người quyết định là aỉ ?!?
Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm – Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một mình. Ông Trần Ðức-Lương, Nông Ðức-Mạnh càng không có quyền gì. Vì vậy,tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:
– Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu đều biết trước rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, giấu giếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?
– Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước cũng như Thủ-tướng nhất đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoạị.
– Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Ðức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đốị
– cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam, nhất là Tổng-thống Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-ky. Nói tóm lại, thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.
– cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh. Vậy vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc? 4.2 – Chi tiết vụ cắt đất.
Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999 thì tôi được biết tin chi tiết do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông vào ngày 9-1-2000 nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật theo tinh thần bản hiệp định thì:
– Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước) thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.
– Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là :
– Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam, trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.
– Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.
Thưa Qúy-vị,
4.3 – Ảnh hưởng vụ cắt đất.
4.3.1 – Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt.
Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh địa trong mấy nghìn năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm tự hào của họ. Ðây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt. Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Ðông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch Ðông đã nói:
“Cái tên Ải Nam-quan nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại, coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị”.
Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.
4.3.2 – Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.
Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lạị lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Ðây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:
“Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.
Hoặc : “lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu theo hình chữ S”.
Bây giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy hàng chữ trên mà chỉ thấy câu: “lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.
Thưa Quý-vị,
Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc.
Sát cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:
– Cơ sở Hải-quan.
– Bãi đậu cho hằng trăm xe tải để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
– Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport.
– Ðồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ.
– Hằng chục cơ quan khác như Bưu điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
– Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn…
Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết, kể cả cây cột biên giới. Tuy vậy, sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc, những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất.
4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử
Ði sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Ðồng đăng rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Ðây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Ðộng Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc MạcÐăngÐung mà năm 1540 đã dâng đất cho Trung-quốc để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiềụ
Ði sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Ðầu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Ðầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sự Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại.  May mắn thay, khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt.
Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn Gần đây nhất, trong chiến tranh 1978, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn, sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân nhân họ, nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ.  Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.
4.4 – Vụ cắt lãnh hảị
Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng đức bản đồ.Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Ðại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết). Vào những thời kỳ ấy (1500-1887), Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao nên chưa có những đụng chạm. Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Ðối với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại vì mất một số đảo mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt và dùng y phục Việt. Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983. Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau: Trung-quốc 38% Việt-Nam 62% . Ðối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng thế. Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam. Chứng cớ:
– Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.
– Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Ðông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ? Bây giờ đến hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau: Việt-Nam 53% Trung quốc 47%. So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa!
4.5 – Ảnh hương vụ cắt lãnh hảị
4.5.1 – Mất lãnh hải, quốc sản.
Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng:
– Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quý – Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa – Một số đảo trong vùng nhượng thuộc Trung-quốc.
 
//

‘Bún bò Huế’ – Tạp ghi Huy Phương.

  • Một mặt trận hai kẻ thù:
  • Việt cộng bán nước, giặc tàu xâm lăng

‘Bún bò Huế’

.

Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)
Một tô bún bò Huế. (Hình: Wikipedia.org)

Tạp ghi Huy Phương.

“… Cha mạ ơi! Tụi hắn đem bán cả biển, rừng, đất đai của tổ tiên chưa đủ lòng tham, chỉ còn một món ăn quê hương nghèo khó nghìn đời của mạ tui, tụi hắn còn giành giật cho là tài sản của mình, đăng ký với Cục Sở Hữu Trí Tuệ Ba Đình, ban hành quy chế quản lý và sử dụng, để từ ni, ai bán bún bò Huế thì phải xin phép lũ hắn, mấy thằng ‘cán ngố’ Thừa Thiên-Huế!
.
Răng mà tham lam, độc ác tận mạng rứa Trời! Mả cha cái đồ vô hậu!”
Nếu mạ tôi còn sống, bà sẽ chửi cách Huế như vậy, sau khi nghe tin Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế “cưỡng chế” món bún bò Huế đã có tự nghìn xưa. Hơn nữa đối với những người này, những người vô liêm sỉ, phải dùng loa phường, loa khóm mà chửi ra rả suốt ngày như kiểu “chửi mất gà” may ra mới đã nư!
.
Đối với người Việt Nam, bún bò Huế không phổ biến bằng món phở. Phở là của cả một miền, miền Bắc, không phải của Hà Nội, Hải Phòng hay Hải Dương. Thời còn Tây, người ta đã nói tới phở Bắc rồi, dưới cái tên Tây là “Soup Tonkinoise” để phân biệt những gì của Annam (Trung Kỳ) và Cochinchine (Nam Kỳ). Nhất là sau ngày miền Bắc di cư, chạy nạn Cộng Sản, thì phở Bắc tràn lan trong Nam, đuổi cả món mì, hủ tiếu chạy có cờ. Ngày nay, đã mất chữ “Bắc” rồi, nói đến phở là nói đến Việt Nam hay người Việt, khách ngoại quốc ai ăn rồi cũng muốn trở lại.
.

Nói chung, bún bò Huế không phát triển phổ biến bằng phở, chẳng qua vì khó nấu và cũng khó ăn, vì bún bò không những cay mà còn đậm mùi sả, mùi ruốc. Bằng chứng là sau này, khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam, người ta mời ông đi ăn phở chưa chẳng ai dám mời ông ăn thử một tô bún bò.

Bún bò là món đặc trưng của thành phố Huế, nơi có sông Hương, núi Ngự, và cầu Trường Tiền, thành ra không ai gọi là bún bò Thừa Thiên. Vượt qua đèo Hải Vân thì đã có món mì Quảng thống trị, đi vô nữa rồi mới có nem Ninh Hòa…
.
Ngày trước, ở Huế có bún bò CLB Thể Thao, bún bò Nhà Hát Lớn, bún bò Nam Giao, Đà Nẵng có bún bò Tổng Liên Đoàn Lao Động, Pleiku có bún bò Nhà Xác (vì nó nằm trong bệnh viện), Đà Lạt có bún bò Cây Số 4… Không nóng, không cay không phải là bún bò. Tô bún bò nguyên lai không có huyết, không có chả, cũng không ăn với rau, với giá hay với bắp chuối. Những thứ đó ăn kèm theo thì con chi là mùi vị bún bò.
.

Bún bò Huế còn có một cái tên gọi nữa là “bún bò giò heo.” Nói chữ “bún bò giò heo” thì người ta bỏ chữ Huế đi theo. Cũng nên hiểu “giò” đây là chân hay cẳng, chứ không phải “giò” là “chả” theo cách nói của người Bắc! Người ăn có quyền lựa chọn loại giò: giò khoanh (phần trên có thịt, có xương, có da), giò móng (phần dưới có móng,) gió búp (chỉ có thịt và da).

Cái quê mùa của cách ăn bún bò ngon là chỉ dùng một đôi đũa mà không có muỗng, nghĩa là vừa ăn vừa húp sùm sụp, thỉnh thoảng lại cắn trái ớt nghe cái bụp. Khi một o bán bún bò dừng gánh, múc cho bạn một tô bún, cầm trên tay, không có một cái bàn để tô bún xuống thì làm sao mà dùng muỗng. Cũng là món ăn dùng bún, tôi nghĩ tô bún riêu cua ở quán đầu làng, bên cạnh gốc cây đa của miền Bắc cũng không ai dùng muỗng.
Bây giờ người ta cho lối húp là quê mùa, mất lịch sự nhưng ăn bún, ăn phở mà không húp là mất ngon!
Người Việt Nam có lối ăn canh là phải húp sùm sụp, “Đầu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!” Người Nam ăn bánh bèo, bánh khọt là phải “húp nước mắm,” thì người Trung ăn bún bò mà dùng muỗng là tô bún mất ngon, phải húp.
Ở đâu cũng có quán bún bò, có tiệm bún bò, nhưng chỉ ở Huế ngày xưa, mới có một “trung đội bún bò gánh” từ An Cựu, mỗi buổi sáng tỏa lên thành phố Huế. Mấy o gánh bún bò phải đi chân đất để vừa đi vừa chạy, nhưng luôn luôn mặc áo dài, đó là đặc tính truyền thống của xứ Huế dù là buôn thúng bán bưng, như những o bán rao bánh bèo, bánh ướt, bánh bột lọc, bán bắp nấu hay những o bán đậu hũ… Một đầu gánh là thúng bún, gia vị, chén bát và cả một cái chậu đựng nước rửa tô (Huế gọi là đọi). Một đầu là nồi bún đang nóng, đặt trên mấy cục gạch có mấy thanh củi đang cháy. Một đầu gióng còn giắt một cái đòn (ghế nhỏ) để người bán hàng có thể ngồi mà múc bún cho khách ăn.

Bún bò gánh được coi là bún bò bình dân, giá rẻ. Ngày xưa còn nhỏ, đã nhiều lần tôi được ăn bún bò gánh chứ chưa bao giờ được bước chân vô tiệm bún bò.

Trong hồi tưởng, những tô bún bò gánh của những ngày xa xưa ấy, sao mà ngon đến thế, mà năm thì mười họa mới được ăn một lần. Tô bún bò gánh quá khiêm nhường, miệng tô thì to mà đít tô thì nhỏ, húp mấy miếng là đã hết. Miếng thịt cắt nhỏ, cái móng heo còn xẻ đôi, thèm thuồng thật nhưng làm gì có được tô thứ hai.

Lớn lên rồi, đi tứ phương, vẫn không thấy tô bún bò nào ngon bằng tô bún bò gánh của o Năm, mụ Ba… trong ngõ ngách dĩ vãng ngày xửa ngày xưa. Có người nói đó là cảm giác không thật, chẳng qua vì ngày xưa đói, nghèo mà thèm ăn, nên cái gì cũng ngon, cũng thơm, đậm đà khua rộn ràng con mắt đói nhìn, lỗ mũi thở sâu và cái lưỡi hít hà.

Có thật vậy không? Xin hãy cho tôi lại những ngày tháng cũ.

Bây giờ không ai còn cho tôi một chút riêng tư, vạt đất sau hè là của nhà nước, ngọn rau, củ sắn là thuộc hợp tác xã, miếng thịt, con cá là đồ quốc doanh. Người ta cưỡng chế cả đất đai, ruộng vườn, ao hồ sông rạch, gọi là cướp ngày có dùi cui, súng đạn. Bây giờ trong văn phòng có máy lạnh, vô công rồi nghề, họp hành cho lắm, mới nẩy ra cái sáng kiến “ích quốc lợi dân,” nghìn năm chưa ai nghĩ ra, là lấy cái món ăn của ông cha làm vật sở hữu của phe đảng mình.

Chỉ là một món ăn dân dã, mà họ tiếm đoạt, coi như đây là một sở hữu trí tuệ, mà họ làm chủ, ai dùng thì phải làm đơn xin phép, như đã từng có những lá đơn xin đi ở tù, xin tạm vắng, xin tạm trú.

Tờ giấy làm ra từ thớ thịt của gỗ rừng, nhưng lá rừng không ghi hết tội ác của họ.

Đây chỉ mới là bún bò Huế, món trí tuệ sở hữu của Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế, rồi đây còn bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Nam Giao… cho các huyện ủy địa phương mấy nơi này.

“Mạ ơi! Còn một món cơm Âm Phủ, thôi thí cô hồn cho họ luôn cho hợp tình, hợp lẽ, mạ hí!”

*

 Huy Phương

Người Lính Già Oregon – CA SĨ HẢI NGOẠI….NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ ĐỎ!

CA SĨ HẢI NGOẠI….NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ

Người Lính Già Oregon

I. 
Thời gian gần đây, khi đọc tin một số ca nhạc sĩ hải ngoại kéo nhau về Sài Gòn, Hà Nội trình diễn, tự dưng tôi nghĩ đến Việt Khang, ca nhạc sĩ anh hùng của lòng tôi và của biết bao người Việt Nam trên thế giới và trong nước. Việt Khang sáng tác rất ít, tôi nhớ hình như chỉ đôi ba bài, Việt Nam tôi đâu ? và Anh là ai ? Và đích thân hát bài của chính anh. Nhưng chỉ qua những bài ấy thôi anh đã biểu hiện lòng yêu nước nồng nàn, cao độ, tha thiết hơn bất cứ ca nhạc sĩ nào từ trước đến nay, kể cả thời Việt Nam Cộng Hòa. Lời ca thật đơn sơ, bình dị, không có những câu văn vẻ, khuôn sáo, hoặc sắt máu, dữ dằn, đằng đằng sát khí, theo đơn đặt hàng…Không. 
Tất cả nơi anh nghe như lời than vãn hoặc tình tự thường ngày, âm điệu thật nhẹ nhàng. Dễ dàng đến nỗi các cháu bé hải ngoại năm tuổi cũng có thể trình bày một cách suông sẻ. Như tiếng thổn thức của mẹ già, em thơ, dâng lên tự đáy lòng. Như tiếng nghẹn ngào, nức nở từ nỗi uất hận bao nhiêu năm đè nén nay òa vỡ, miên man chảy theo sông, theo biển… 
Bản thân Việt Khang, sinh năm 1974, chưa hề biết chiến tranh, chưa hề biết cộng sản hay quốc gia, chưa hề hưởng một ơn mưa móc dù nhỏ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, 
– Chưa hề biết những tủi nhục và oan nghiệt đã rơi ập xuống đất nước và gia đình ngày 30.4.1975, 
– Chưa hề chạy trốn việt cộng trối chết, trước hay sau ngày mất nước, hốt hoảng như chuột, 
– Chưa hề khai mình là tỵ nạn cộng sản, 
– Chưa hề tự phong là trí thức tốt nghiệp tại ngoại quốc, là ca sĩ, nhạc sĩ với sự nghiệp âm nhạc 10, 20, 50 năm. 
– Chưa hề…Nhưng, cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, anh đã lớn lên và đang sống ngay trong lòng chế độ việt cộng, trên một đất nước nay biến thành một trại tù khổng lồ. 
Cho nên, cũng như tất cả người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản chân chính trên thế giới, anh đã hiểu thế nào là độc tài, là áp bức, là bất công, biết thế nào là thiếu tự do, nhân quyền, dân chủ, mơ ước như thế nào bóng dáng của hạnh phúc, ấm no, chờ đợi như thế nào ánh sáng bình minh đến xua tan đêm tối vây hãm triền miên cả một dân tộc đọa đày. 
Việt Khang chỉ làm đôi ba bài hát thôi, nhưng đã bị truy tố ra tòa, lãnh ba năm tù ở, bởi lũ lãnh đạo việt cộng khôn nhà dại chợ, chuyên hà hiếp dân lành, tay không một tấc sắt, nhưng lại sợ hãi, khúm núm trước quân thù Tàu Cộng. 
Điều đó cho thấy lũ chúng nó rất sợ anh và ảnh hưởng của hai ca khúc có vẻ nhẹ nhàng, nhưng đâm thẳng vào tim chúng nó, nhức nhối như những nhát kiếm bén nhọn. 
Chỉ cần hai bài thôi, nhưng trong ấy người nghe bao nhiêu tiếng gọi yêu nước ngút ngàn, bao nhiêu lời tình tự dân tộc thiết tha, bao nhiêu thương yêu và thù hận. Anh không hô hào lật đổ ai, nhưng bọn chúng nó phải nể và sợ. 
Việt Khang, tôi gọi tên em với tất cả lòng cảm thương, và thán phục, và tôn vinh, dù chưa một lần được gặp em, quen em, nhìn em, nghe em hát. Nhưng tôi cần em, ít ra trong bài viết này, cần hình ảnh rạng ngời và gương hy sinh cao quý của em cho chính nghĩa, đại cuộcđể dạy một bài học làm người cho lũ hát xướng hải ngoại đang rủ nhau về nước trình diễn. 
Nói đến Việt Khang, tôi lại nhớ một ca sĩ hải ngoại khác ít nhiều chiếm ngự hồn tôi: Nguyệt Ánh. Nguyệt Ánh với lòng yêu nước vô bờ, thôi thúc như tiếng sóng Thái Bình Dương réo gọi, với những bài hưng ca đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, làm vỡ tim người. 
Và xa hơn, ca nhạc sĩ tỵ nạn Cuba qua Mỹ từ lúc nhỏ, có cha từng phục vụ trong Quân Đội Mỹ tại Việt Nam: Gloria Estafan, hiện sống tại Miami. Danh cô vang lừng thế giới, không chỉ vì sự nghiệp ca hát, mà còn và nhất là bởi lập trường của một người tỵ nạn chân chính cương quyết chống chế độ cộng sản phi nhân Fidel Castro và bè lũ. 
– Một lần được mời trở về Cuba hát nhân dịp Đức Giáo Hoàng viếng thăm, cô đã từ chối. 
– Lần khác, được mời qua Vatican hát trong một đại lễ, cô chấp nhận với một điều kiện duy nhất: Xin Đức Thánh Cha cầu nguyện, và làm mọi cách, cho đất nước Cuba của cô được tìm lại tự do, nhân quyền. 
Cô đã sáng tác và trình bày một ca khúc mang tên ‘’Go away’’ bình dị, tương tự ‘’Việt Nam tôi đâu ?’’ của Việt Khang, trong đó cô nhẹ nhàng lên tiếng mắng mỏ và yêu cầu Fidel Castro cuốn gói rời khỏi Cuba: 

Go away 
Won’t you just go away 
Don’t you come back one day 
Take your stuff 
Take all of your precious things 
Leave right now […] 

II. 
Trong khi ca nhạc sĩ anh hùng Việt Khang bị giam cầm trong nước, và đồng nghiệp gốc tỵ nạn Cuba Gloria Estafan cương quyết không trở về quê hương khi chế độ độc tài còn ngự trị thì các ca sĩ, nhạc sĩ thuộc diện xướng ca vô loài Việt Nam hải ngoại vô nhân vô sỉ vô luân, đực có, cái có, đẹp có, xấu có, trẻ có, già có, sang có, sến có, khôn có, ngu có, nổi tiếng có, cắc ké có, đủ cả…rủ nhau làm đơn xin trở về hát cho việt cộng nghe, mặc nhiên, tự nguyện bán linh hồn cho quỷ.Nếu thực sự bọn họ có một linh hồn. 
Bán linh hồn cho quỷ, bọn Việt Gian chỉ có bia ôm, thân xác đĩ điếm và thiếu nữ nghèo khổ. Không có tình yêu cứu rỗi, chúng phải từ chết đến chết, bị khinh chê, nguyền rủa đời đời. 
Riêng lũ xướng ca vô loài Việt Gian còn phải qua những màn phỏng vấn, điều tra về lập trường, số lượng và nội dung những bài sẽ hát, rồi phải hát thử cho công an nghe. 

Một người quen sống tại Việt Nam có kể về những ca sĩ hải ngoại hát ở phòng trà đường Cao Thắng, Sài Gòn, từng đứa một, từ Lệ Thu, Ý Lan, Thanh Tuyền, Giao Linh đến Tuấn Vũ, Chế Linh, Từ Công Phụng v.v… 
Muốn được phép trình diễn, bọn ca sĩ này phải qua một kỳ thử nghiệm hát cho công an việt cộng nhìn, nghe trước những bài đã được chúng cho phép. Chúng gật đầu, chấm đậu mới được lên sân khấu, dù là phòng trà tư. 
Điều này làm người ta nhớ hoạt cảnh thê thảm trong đó những cô gái quê muốn lấy ‘’chồng ngoại’’, phải sắp hàng cởi áo cởi quần cho những thằng Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai đui què sứt mẻ, nửa khùng nửa điên…tha hồ sờ mó, khám, lựa, tuyển, chi tiền, dắt đi. Than ôi. Còn cái nhục nào hơn! 
Nhưng bọn vô loài vô sỉ ấy đâu biết nhục là gì. Cha ông ta cũng đã dặn dò: ‘’đĩ chín phương còn để một phương lấy chồng’’. Đằng này, còn phương nào, mười hay hai mươi, chúng cũng giành nhau làm ráo hết. Không biết nhục, trái lại, chúng lại vênh váo, trơ tráo lên tiếng tự bênh vực cho hành động của mình: đại khái, chúng về, vì: 

• muốn đền đáp lại lòng mến mộ của đồng bào trong nước 
1) Đồng bào nào ? Ba mươi năm nay, có người dân nào thuộc miền Nam cũ đang phải sống thoi thóp, ngột ngạt dưới gông cùm cộng sản, còn nhớ đến bọn ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trước kia đã bỏ rơi đồng bào chạy có cờ, nay ế khứa, hết tiền, về già trông bèo nhèo như những cái mền rách, còn nhớ đến những bài tình ca một thời rên rỉ, sướt mướt, lảm nhảm, lảng nhách của chúng, để viết thư yêu cầu chúng trở về hát cho họ nghe ? 
Rồi đồng bào lấy tiền đâu mua vé cả trăm đô ? 
Nói chi những người dân của chế độ xã hội chủ nghĩa biết chúng là ai, mà mến với mộ, tiếc với nhớ ? 
Ngược lại, thấy chúng lần lượt trở về biểu diễn, ca múa, làm hề, đại đa số nếu không khinh bỉ như những con chó ghẻ thì cũng tỏ ra dửng dưng, thờ ơ, lạnh nhạt. 
2) Đồng bào, hay chỉ là bọn cai thầu văn nghệ cơ hội chủ nghĩa, tham tiền, lợi dụng thị hiếu mới của đám cán bộ, đại gia việt cộng no cơm rững mỡ, trưởng giả học làm sang, hoặc nguy hiểm hơn, bọn tay sai của lũ công an trong biệt đội văn nghệ có nhiệm vụ thực thi điều khoản ‘’giao lưu văn hóa’’, ‘’hòa hợp hòa giải’’ của nghị quyết 36, bày ra những buổi trình diễn để câu những con mồi nghệ sĩ, ca sĩ Việt kiều vì ham tiền, hám danh, mà gục mặt trở về nhận lãnh những lời tâng bốc dõm và đồng tiền tanh hôi của việt cộng bố thí cho ? 
3) Tại hải ngoại, suốt bao năm trời, bọn xướng ca vô loài này được đồng hương tỵ nạn nâng đỡ, đùm bọc, viết bài lăng xê, ca tụng chúng, nuôi sống chúng bằng cách mua vé tham dự những shows văn nghệ, ra mắt CD…mặc dù theo thời gian tài sắc của chúng đi xuống. 
Nay chúng trở mặt, trở cờ, trở thành những đứa Việt Gian quay về cung cúc phục vụ kẻ thù, và điều đó càng làm ta hiểu hơn nỗi lòng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu, một anh hùng kháng Pháp, qua hai câu thơ mộc mạc, thẳng thừng: 
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm 
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà 

• nghệ thuật, mà nghệ thuật thì phi chính trị 
1) Nghệ thuật vị nghệ thuật ư ? Còn lâu. Trên lãnh vực văn chương, hội họa, từ thời Lãng Mạn Théophile Gautier và trường phái Parnassiens bên Pháp, người ta đã tốn nhiều giấy mực và nước bọt để thảo luận, tranh cãi về quan niệm này, nhưng cuối cùng không đi đến đâu. 
Bởi vì không bao giờ có một nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghĩa là bất cứ nghệ thuật nào cũng phải phục vụ nhân sinh, tức con người. Đối với việt cộng, quan niệm này còn khắt khe hơn, gần như tuyệt đối. 
Đối với chúng, nghệ thuật phải phục vụ, không phải con người, mà duy nhất bác và đảng. Nghệ thuật đồng nghĩa với chính trị, tuyên truyền, nói dối. 
– Tố Hữu khi làm thơ khóc Staline sức mấy mà vì nghệ thuật vị nghệ thuật ? 
– Trịnh Công Sơn kêu gào nối vòng tay lớn vì nghệ thuật thuần túy hay vì chủ trương phản chiến, thân cộng của y ? 
Mới đây, tin tức cho biết những ca sĩ của Trung Tâm Chống Cộng Asia bị cấm hát ở Việt Nam, tại sao ? 
2) Cụ thể hơn, bọn xướng ca vô loài hải ngoại về trình diễn bên ấy làm gì có tự do để hát bất cứ bài nào tùy ý ? 
Kìa, Phạm Duy mà một số bơm sĩ phong là cây ‘’đại thụ của làng nhạc’’ Việt Nam, mà văn Trần Mạnh Hảo một lần bị ma nhập đã gọi là ‘’thượng đế của âm giai’’, là ‘’thần linh của tiết tấu’’ v.v…có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, vậy mà khi trở về cũng chỉ được việt cộng cho phép hát, phổ biến, trên dưới mươi bài. 
3) Chưa nói việc bọn ca sĩ phản bội này cố tình mập mờ, nhập nhằng giữa danh từ ‘’chính trị’’ và ‘’làm chính trị’’. Làm chính trị thường được hiểu là hoạt động cho các đảng phái, tổ chức này nọ. 
Nhưng chống cộng, quyết tâm tiêu diệt việt cộng, không phải là ‘’chính trị’’ hay ‘’làm chính trị’’, mà là một bổn phận của toàn dân Việt, đặc biệt là những người quốc gia tỵ nạn cộng sản chân chính, đối với tổ quốc. 

• không theo phe nào 
1) Ngày tắp đảo, trước mặt các viên chức di trú ngoại quốc, có ca nhạc sĩ nào không mếu máo khai mình là người quốc gia tỵ nạn, không thể sống nổi dưới ách thống trị, độc tài của việt cộng. Nay được phép việt cộng cho về, chúng tuyên bố ‘’chúng tôi không theo phe nào’’, quốc gia hay cộng sản, mà trở về với dân tộc, với quê hương có chùm khế ngọt. Ô hô, nhổ rồi xin liếm lại. 
Có đứa như tên Chế Linh, để lấy điểm, còn lên án chế độ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương tiêu diệt dân tộc Chàm, trong khi chính y hoặc đồng chủng được hưởng nhiều quyền lợi: 
– Không đi lính (nhưng được phép mặc đồ lính để trình diễn), 
– không thạo tiếng Kinh, nhưng vẫn được đồng bào ưu ái, 
-không có tú tài nhưng vẫn được đặc cách theo các trường đào tạo công chức, cán bộ… 
Có đứa như Khánh Ly than thở với báo chí việt cộng là hát tại hải ngoại vất vả, khó ăn lắm, hát tại quốc nội được nhiều tiền hơn… 
2) Chiến tranh bằng súng đạn đã chấm dứt, nhưng trận chiến giữa người quốc gia với cộng sản vẫn còn, gay go, khó khăn gấp bội, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi việt cộng, vì cần tiền bạc, tài năng, chất xám, vẫn bám sát gót người Việt hải ngoại, để thi hành nghị quyết 36, dụ dỗ bọn nhẹ dạ và cố xóa cho bằng được lằn ranh Quốc-Cộng rõ rệt. 
Kẻ nào nói mình không theo phe nào là vô tình hay cố ý tuyên truyền không công cho việt cộng. 
3) Không theo phe nào, tức là đứng giữa, bình dân hơn, là cẳng giữa, sau khi đã có cẳng phải, cẳng trái. 
Tôi nhớ câu chuyện có thật đã xảy ra: Trong một bữa họp mặt, bạn bè vui chơi, và đến giai đoạn bàn về chuyện những kẻ tự nhận là mình trung lập trong chiến trận Quốc-Cộng hiện nay, hạng người nửa nạc nửa mỡ, ba phải, ba rọi, cẳng giữa, không theo phe nào. 
– Một người tuyên bố: ‘’Tôi đứng ở ngả ba đường’’. 
– Người thứ hai lên tiếng: ‘’Tôi là con người đứng giữa’’
Một anh bạn, vốn là bác sĩ nổi tiếng chống cộng, ăn nói bộc trực, bình dân, thấy bực bội, bèn trả lời: 
– ‘’Đứng ở ngả ba đường thì xe nào chạy tới cũng đụng mà ngủm củ tỏi’’. Và nhìn chòng chọc vào ‘’con người đứng giữa’’, anh dằn từng tiếng một: ‘’Trong thân thể người ta, tôi biết chỉ có một con đứng giữa, không phải con người, đó là con…’’ 
I

II. 
Trong cái đám ca nhạc sĩ bèo nhèo như cái mền rách về chầu chực, quỳ lụy việt cộng nói trên, có một anh chàng thuộc Cộng Đồng Oregon, cùng thành phố tôi đang cư ngụ. Trong bài ‘’Đền Ơn Đáp Nghĩa’’ (báo Phương Đông Times, số ngày 7.12.2012, trang 22), Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Oregon, đã giới thiệu anh ca nhạc sĩ này, như sau: 
‘’[…] Tôi biết ít nhất một ca nhạc sĩ rất nổi tiếng. Tại địa phương ông cư ngụ, chưa ai thấy ông đóng góp một xu cho những công tác ích lợi chung trong cộng đồng
Ông cũng không hề một lần đóng góp lời ca tiếng hát của ông cho đồng hương địa phương thưởng thức, nếu có thì phải trả thù lao. 
Ông chỉ chu du ca hát xứ người. Vậy mà khi cần tiền, ông bèn tổ chức ‘’tạ ơn em’’ tại địa phương nơi ông không buồn quan tâm trong mấy Thập Niên. Điều buồn cười hay khôi hài, là đã có năm bảy trăm người, mỗi người bỏ ra năm bảy chục Mỹ kim, để mua vé danh dự, hoặc thượng hạng, hầu có thể nghe ông hát ‘’tạ ơn em’’ và mua CD nhạc của ông mang về nghe ông ‘’tạ ơn em’’… 
Điều phũ phàng hơn hết là khi cộng đồng có những buổi tổ chức có tính cách xã hội, giúp đỡ những ai cần giúp đỡ, hoặc biểu tình lên tiếng tranh đấu cho những người bị việt cộng đàn áp tại Việt Nam, thì ông ca nhạc sĩ này lại biệt tăm và số người tham dự buổi ông tổ chức ‘’tạ ơn em’’ cũng mất dạng […]’’ 
Ngoài ra, nghe tin anh ta về nước lần thứ hai, nhiều đồng hương đã lên tiếng, và tôi xin chuyển tiếp hai bức thư bình phẩm tiêu biểu: 
……….. 
………… 
‘’Ủa! tôi tưởng nó đã chết rồi mà. 
Tên này chắc cuối đời vợ cần tiền, cũng như cần Casino như Lệ Thu…cho nên nó về hát phục vụ cán ngố và dân tham nhũng tư bản đỏ for money chứ có con thằng ca sĩ nào hát nào cho dân nghe, dân nghèo nào có tiền 50, 70 đô một vé…mà láo khoét, nếu nó thực sự hát free xin các thái thú cho tổ chức ngoài trời hát cho dân nghe như Việt Nam Cộng Hòa thì sẽ có nhiều người tình nguyện kêu gọi trả tiền cashier cho nó…thật đáng buồn!!! một cái thằng chẳng bao giờ nghĩ đến quân dân Việt Nam Cộng Hòa đã đi trước tầm đạn bảo vệ cho nó sống còn…nó khá hơn Phạm Duy là chưa viết Tục Ca.’’ 
Anh ca nhạc sĩ này, ngoài sự nghiệp âm nhạc, còn được cả nước, trong và ngoài, biết đến, một cách ồn ào, vì căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, sau khi bị ung thư màng óc, cách đây hơn một thập niên, và túi mật tin do bạn bè trong Cộng Đồng và trên Mạng chuyển, chính xác hay vịt cồ, tôi không biết chắc nhưng cả ba lần đều thoát chết. 
Sau đó, nghe nói anh ta đi lưu diễn “tạ ơn em’’ và ‘’kỷ niệm 50 năm’’ tình ca tại Texas, Portland, California, Úc Châu, tôi thật lòng mừng cho anh ta được tai qua nạn khỏi và mừng cho nhân loại từ nay đã có thuốc chữa trị căn bệnh nan y quái ác kia. 
Tuy nhiên, khi đọc tin anh ta trở về Việt Nam trình diễn lần thứ hai và xem hình vợ chồng anh ta tươi rói, tại phi trường, với ‘’vòng hoa chiến thắng’’ trên cổ, tôi phải dằn lòng lắm mới không buột miệng chửi thề, merde, nhưng đồng thời cũng không thể nào không nghĩ đến câu nói trứ danh của Julius Caesar trong vở kịch cùng tên viết bởi Shakespeare: 
Cowards die many times before their deaths, 
The valiant never taste of death but once. 
đã được Mục Sư Huỳnh Quốc Bình, một lần trong một bài viết, dịch ra như sau: 
Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần trước khi chết thật, 
Người dũng cảm chỉ chết một lần thôi. 
Anh ta cũng không xa lạ với đa số đồng hương Oregon và cá nhân tôi. Nhưng có hai lý do, ngoài những điều Mục Sư Huỳnh Quốc Bình nêu lên trong bài viết, đã khiến tôi không thể im lặng mãi: 
a) Anh ta coi thường Cộng Đồng Oregon và những người hâm mộ tại địa phương mới đây đã đến mua vé tham dự buổi văn nghệ tạ ơn vợ và mừng sự nghiệp 50 năm do anh ta tổ chức, để kiếm tiền. Ai cũng biết, Cộng đồng Oregon không chống Cộng ồn ào, dữ dằn như những Cộng Đồng California, Texas, nhưng vẫn chống, luôn luôn chống, và kịch liệt chống. 
Đa số cư dân là những thuyền nhân từ các đảo tỵ nạn đến, hoặc cựu sĩ quan tù nhân cải tạo sang Mỹ theo diện HO, nên chống cộng, tiêu diệt việt cộng có nghĩa thi hành một bổn phận, trách nhiệm đương nhiên đối với tổ quốc. 
Cũng như dân bản xứ, người Việt tỵ nạn tại Oregon hiền hòa, lịch sự, dĩ hòa vi quý, nhưng điều đó không có nghĩa họ thờ ơ, thụ động, khờ khạo. 
Ai chống cộng, ai quốc gia, ai Việt gian, ai tay sai, ai phải ai trái, ai ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, họ đều biết, và biết đúng, biết rõ, nhưng không nói ra đấy thôi. 
Bằng chứng: Cho đến bây giờ,sau nhiều năm nghị quyết 36 được phát động với mưu đồ phá hoại, lủng đoạn các Cộng Đồng Quốc Gia Tỵ Nạn, chưa một thằng tay sai việt cộng nào dám xuất đầu lộ diện tại Oregon. Ló ra là bị chặt đuôikhông sống nổi. 
Lần đầu, anh ca nhạc sĩ Portland này về Việt Nam trình diễn, người ta biết được do chính báo chí trong nước (Tuổi Trẻ và Công An Thành Phố Hồ chí Minh) phổ biến, nhưng đã bỏ qua, vì ai cũng thông cảm cho căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối của anh ta được vợ và báo chí hải ngoại loan truyền ầm ĩ, nghĩ rằng biết đâu có thể đó là chuyến đi sau cùng trong đời. 
Tuy nhiên, lần này, khỏi bệnh, anh ta chơi cái mửng cũ, lại về nữa, âm thầm, sau khi đã moi gần cạn hầu bao của đồng hương hải ngoại với những màn ‘’tạ ơn em’’ và ‘’kỷ niệm 50 năm’’. 
Về, để tái biểu diễn cho những thằng, những con đảng viên, công chức, đại gia, cán bộ, công an và gia đình, đồng bọn, có bạc tiền rũng rĩnh, chứ người dân nghèo, lao động vất vả, đầu tắt mặt tối, buôn thúng bán mẹt, làm gì có cơ hội và điều kiện bước chân vào rạp lớn của thành phố để nghe anh ta cám ơn vợ mình hoặc rên rỉ ‘’bây giờ tháng mấy rồi hỡi em’’ ? 
b) Anh ta trở về Việt Nam trình diễn, mặc nhiên thách đố công luận chống cộng, mặc nhiên chấp nhận trở thành một tên phản bội trắng trợn, vô liêm sỉ trước mắt những đồng hương nạn nhân của bọn cộng phỉ trên toàn thế giới và riêng tại Oregon. 
Trong khi chúng tôi đang giao chiến với việt cộng trên mặt trận ‘’võ mồm’’, bằng những bài pháo kích ác liệt, và thỉnh thoảng bị phản pháo, trong khi đa số đồng hương tỵ nạn ngày đêm thao thức, lo âu cho vận mệnh đất nước đang có nguy cơ rơi vào tay giặc ngoài Tàu Cộng với sự đồng lõa của lũ lãnh đạo thù trong bất tài, khiếp nhược, tham tàn, 
– trong khi bao nhiêu nhân sĩ, thanh niên tại quốc nội, có cả Việt Khang và một số thiếu nữ liễu yếu đào thơ, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần…biết yêu nước thương nòi, quyết tâm tranh đấu cho tự do, nhân quyền, đang bị bạo quyền bắt bớ, giam cầm, đày đọa ở những nhà tù khắp nước, 
– trong khi các phụ nữ, bé gái bị ép bán ra ngoại quốc làm điếm, và những bài học đạo đức, luân lý cổ truyền tốt đẹp từ hàng ngàn năm qua bị phá sản một cách thê thảm, tại học đường cũng như ngoài xã hội, bởi nền văn hóa bần cố nông hủy diệt trí thức, lương tri và mọi giá trị tinh thần, 
– trong khi những thằng lãnh tụ tự phong tham nhũng, no say, béo tốt đang làm mưa làm gió trên mảnh đất khốn khổ, tội nghiệp, 
– trong khi đó thì anh chàng ca nhạc sĩ mặt trơ mày bóng của chúng ta lại lén lút trở về múa hát, mua vui cho những tên đồ tể bán nước hại dân. 
Làm sao tôi có thể im lặng mãi. 

Người Lính Già Oregon 

Portland,
//
khanh-2
Ca ‘sỹ’ Khánh ‘Li’ bày tỏ “lập trường” dưới lá cờ VNCH, thời kỳ đang hái ra Đô-la tại hải ngoại! [Hình chôm trên Internet- posted by tunhan]

THƯ GỬI BẠN TA của Bùi Bảo Trúc 20-8-2016!

bbt-size-nho Các bài viết hàng tuần của Nhà Báo Bùi Bảo Trúc trong mục Thư Gửi Bạn Ta

NHỮNG MẨU NHẮN TIN

Chúng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo Việt ngữ, có khi chúng bị đẩy vào những chỗ khuất lấp, nép cạnh những quảng cáo không liên quan gì tới những nội dung của chúng.

Những quảng cáo rao bán mắm muối, thịt cá, địa ốc, tiệm ăn, nhà hàng… thì dính gì tới những mẩu nhắn tin tìm người quen ấy, như một ông thiếu uý ở một tiểu khu nào đó thuộc quân đoàn I, một người hàng xóm cũ, một người di tản từ năm 1975 tìm hai ba người thất lạc trong chuyến vượt biên bằng thuyền hồi những năm 80, muốn tìm lại một người gặp lần cuối tại đảo Galang, một người bạn tù nằm chung một góc phòng giam… Ngoài việc chúng xuất hiện trên những trang báo, chúng còn được nghe thấy trong mục nhắn tin hàng tuần của một chương trình phát thanh nọ. Mỗi lần thấy chúng, tôi cũng tò mò đọc xem có còn ai kiếm mình không. Một người bạn cũ ở Sài Gòn, thời học trung học, một quen biết thời tuổi trẻ, trong một tiệm nước bên một ly cà phê… những gặp gỡ vài ba chục năm, có khi hơn nửa đời người…

Những đoạn nhắn tin, tìm người ấy vẫn còn, tuy theo tôi nghĩ, có phần tuyệt vọng. Không biết có bao nhiêu người còn để mắt đọc những dòng nhắn tin trên những trang báo, hay đón nghe chương trình nhắn tin với thời lượng không bao nhiêu trên làn sóng phát thanh. Những lời nhắn ấy bay trong không gian không bao giờ nghe lại được nữa.

Nhưng chúng vẫn được đọc thấy, nghe thấy. Những người nhắn vẫn nuôi những hy vọng sẽ tìm được những người cũ, không biết đã trôi giạt về những chân trời góc biển nào, trong khi Kiều thì cũng chỉ luân lạc có 15 năm. Những thất lạc của chúng ta thì dài hơn nhiều. Mười năm, hai chục, ba chục năm, hơn nữa cũng có. Những chi tiết có khi rất rõ như địa chỉ của căn nhà cuối cùng, người ấy có mấy anh em, con cái tên là gì, cha mẹ làm gì, cả những cái tên gọi thân mật ở nhà, xuống thuyền vượt biên tháng mấy, năm nào hay di tản ngay trong những chuyến đầu của cuối tháng 4. Cũng có khi nghe được tin tần chót từ Mỹ ở tiểu bang thành phố nào rồi dọn đi một địa chỉ khác và bặt tin luôn…

Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Những địa chỉ đầu tiên hay cuối cùng ấy không mấy người con nhớ. Cuộc sống hối hả và thay đổi, di chuyển quá nhiều làm sao còn lúc nào ngồi xuống moi móc trí nhớ ra những tháng ngày cũ. Nhưng ngần ấy thứ thỉnh thoảng vẫn trở lại. Người em bặt tin trong một trận đánh hồi tháng 3, gia đình vẫn hy vọng chỉ mất tích, đứa con vượt biển đã thoát, người đàn ông đi tù về cũng vượt biển từ năm 85 rồi sau một hai lá thư là bặt tin từ đó…

Nhưng cũng từ đó đã bao nhiêu chuyện xẩy ra, bao nhiêu đổi thay cho cả hai phía, người nhắn cũng như người được nhắn. Người được nhắn có khi chỉ để lại tấm thẻ bài trong một góc rừng nào đó, hay một ngôi mộ không tên ở một hòn đảo xa vắng của Indonesia, Malaysia, Thái không chừng. Đứa con có thể đang sống đâu đó ở nước Mỹ và đã lâu không còn nhớ về gia đình cũ của nó, mà đời sống của nó củng chẳng có bao nhiêu chuyện đáng để kể cho cha mẹ, anh em ở nhà. Người đàn ông vượt biển có thể đã có những liên hệ mới, ràng buộc mới nên không thể liên lạc lại với người vợ và những người con của đời sống cũ. Cũng có thể có những lúc quả tim lỡ một nhip đập, và ý tưởng nhắn một mẩu tin tìm người nhen nhúm nhưng rồi lại thôi. Cũng có những mẩu nhắn tin chỉ nghe qua cũng hiểu được nửa chuyện. Như lời nhắn tìm cô em của một người bạn hồi ấy hay đi qua nhà nay “duyên ghé về đâu” (như lời bài hát của Lê Trọng Nguyễn). Những năm tháng xa cách nay đã dài hơn cả thời gian hai người tình già của Phan Khôi là 24 năm rất nhiều. Hai bên chắc nay đều đã lục tuần cả. Tìm được thì làm gì đây?

…Khi tôi ngồi xuống ở bên em

Mở tập thư xưa đọc trước đèn

Vẫn ngọn đèn mờ trang giấy lạnh

Tiếng mùa thu lạnh tiếng mưa đêm( Đinh Hùng)

Hay là như Lý Thương Ẩn trong Dạ Vũ Ký Bắc, đêm mưa gửi về bắc:

Quân vấn qui kỳ vị hữu kỳ

Ba sơn dạ vũ trướng thu trì

Hà dương cộng tiễn tây song chúc

Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì

Tạm dịch:

Người hỏi ngày về, chưa thể nói

Ba Sơn mưa tối ngập ao thu

Bao giờ khêu lại tim nến cũ

Kể chuyện bên song vợi nỗi sầu

Nhưng những mẩu nhắn tin vẫn thỉnh thoảng còn để nuôi tiếp những hy vọng đã từ gần nửa thế kỷ.

Posted by NGUYỆT-SAN VIỆT-NAM at 14:24

Labels: THƯ GỬI BẠN TA của Bùi Bảo Trúc 20-8-2016

Nguyễn Thị Hậu – Kể công!

Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016

Kể công

Nguyễn Thị Hậu

(TBKTSG) – Trên các phương tiện truyền thông của Nhà nước thường nhận thấy một hiện tượng là, bất cứ khi nào nói về một công trình dân sinh được xây dựng, một việc làm phục vụ tốt cho dân, thì luôn có người dân phát biểu ý kiến mở đầu bằng câu “nhờ ơn…, nhờ sự quan tâm…”, và chính tác giả bài báo, phóng sự cũng viết “nhờ sự chỉ đạo sâu sát của…, sự nhiệt tình giải quyết của…”. Đặc biệt đối với những vùng sâu vùng xa, nơi nghèo khó thì điều này lại càng được nhấn mạnh!
Nghe riết thành quen mà vẫn không sao thoát khỏi ý nghĩ tại sao và từ khi nào mà nhiệm vụ chức năng của chính quyền là phục vụ người dân lại trở thành “ơn trên mưa móc” như vậy?

Từ đường lối phát triển vĩ mô đến việc vi mô là giải quyết các vấn đề dân sinh, an sinh đều là trách nhiệm của Nhà nước. Không chỉ đề ra đường hướng và tập hợp các nguồn lực từ Nhà nước, tư nhân hay cộng đồng mà phần nhiều hạ tầng cơ sở và công trình công cộng đều do Nhà nước phải đảm trách, vì tính chất phục vụ quốc gia hoặc liên vùng của những công trình này. Những nơi nghèo đói là nơi Nhà nước càng cần phải làm mọi việc cụ thể sao cho dân bớt nghèo bớt khổ. Một con đường, một cây cầu, một trạm xá, một trường học… là những cơ sở tối thiểu mà chính quyền phải cung cấp cho người dân. Ấy vậy mà có khi các nhóm thiện nguyện hay người dân đóng góp tiền bạc công sức làm đường, xây trường vẫn phải xin phép chính quyền, và ngày khánh thành không thể không có mặt các vị lãnh đạo và vài lời “kể công” về sự “quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ”!
Cũng vậy, việc đền ơn đáp nghĩa là đạo lý ngàn đời của dân ta. Nhưng “của cho không bằng cách cho”, một ngôi nhà đơn sơ mà gắn tấm bảng “nhà tình nghĩa, nhà tình thương” nghe như lời nhắc nhở phải “nhớ ơn”, hơn thế, còn là một gánh nặng hơn nhiều lần! Bởi vì, cũng là đạo lý của dân ta “của biếu là của lo, của cho là của nợ”!
Khi người dân nói lên sự cảm kích của mình thì Nhà nước mà người đại diện là chính quyền cũng không thể mặc nhiên chấp nhận “lòng biết ơn” đó. Ngược lại, cần phải nhận lỗi vì đã để tình trạng tồi tệ xảy ra, hoặc vì không giải quyết kịp thời, hoặc đã không lường trước được những hậu quả xấu thì trách nhiệm đầu tiên vẫn là của chính quyền. Cho nên kịp thời sửa sai là trách nhiệm và đạo đức của chính quyền, nhân dân có quyền đòi hỏi điều đó. Bởi vì Nhà nước sinh ra để làm gì nếu như không mang lại cuộc sống yên ổn và đầy đủ cho nhân dân?!
Ngược lại với sự “kể công” phổ biến thì việc các “công bộc” thời nay cần phải biết ơn người dân hầu như lại là một khái niệm xa lạ!
Thời chiến tranh, giữa sự sống cái chết cách nhau gang tấc, có khi sinh mạng một người cộng sản phải đổi bằng sinh mạng hàng chục người dân, lúc đó người ta biết ơn những người cứu mạng cho mình. Nay, có được chức này tước kia ít người nghĩ rằng mình đang mang gánh nặng là phải trả ơn sự hy sinh của nhân dân, mà chỉ coi địa vị là quyền lợi của mình và gia đình, hơn nữa, còn cho đó là đặc quyền đặc lợi.
Có quyền trong tay nên gây thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng, tham nhũng hàng ngàn tỉ, tham ô cỡ hàng trăm triệu có lẽ tính không hết! Mức độ lãng phí đi cùng với tham nhũng ngày càng trầm trọng, không cần che giấu lén lút mà công khai: những công trình, công ty ngàn tỉ mà khi quyết định xây dựng hay phế bỏ các vị “công bộc” coi như “tiền chùa”. Lãng phí, tham nhũng và vô trách nhiệm phải coi là một trọng tội, bởi vì nó tàn phá đất nước, tiêu diệt lòng tin của con người và sự tử tế trong xã hội.
Những người biết suy nghĩ đều nhớ lời dạy của tiền nhân “Làm ơn thì đừng nên nhắc, chịu ơn thì chớ nên quên”. Nhưng có lẽ đối với các vị “công bộc” đang phung phí tài sản thiên nhiên và nhân tạo của quốc gia, tiêu xài vô tội vạ từng đồng tiền thuế đổi bằng mồ hôi nước mắt của người dân, tham nhũng tích lũy của cải cho bản thân, gia đình và phe cánh, cần thiết phải đóng một tấm bảng đồng lên mỗi ngôi nhà và dựng bia đá tại các công trình mà họ đang ngự trị: “Đây là nhà ở, công trình có được từ máu của nhân dân”.
Hàng ngày nhìn thấy lời nhắc nhở như vậy may ra “công bộc” mới thấy hết những món nợ rất lớn của họ đối với nhân dân.
 //

John-Hà Nội = tức John Kerry, cựu quân nhân Mỹ phản chiến

Nước mắt Cá Sấu của John-Hà Nội rửa sạch tội Kissinger

Nguyễn Việt Nữ (Danlambao) – Biệt danh “John-Hà Nội”, có lẽ được các cựu chiến binh Mỹ tặng cho Ngoại trưởng John Kerry từ rất lâu. Nổi bật nhất là từ lúc Nghị sĩ John Kerry là gà nòi được đảng Dân Chủ chọn cho đá với gà Cộng Hòa để làm President-to-be” năm 2004.
Nhưng nhờ những cưu chiến binh Mỹ cùng có mặt ở Việt Nam như tổ chức “Swift Vets and POWs for Truth” (Cựu chiến binh và tù binh tàu cao tốc cho Sự Thật) vạch trần tội nói láo tày trời của Thiếu úy Hải Quân John Kerry, chỉ huy tàu tuần tra cao tốc PCF-60 khi xưa mà Ứng cử viên John Kerry hụt làm Tổng thống!
Còn “Nước mắt Cá sấu” là vì ông Tổng thống Hụt gian-hùng-tính của John-Hà Nội năm 2004, bây giờ là Ngoại trưởng John Kerry, keynote address ngày 27/4, tức ngày thứ nhì của The Vietnam War Summit2016… ông Ngoại trưởng đã khóc khi thuyết trình trong ngày nầy.
Quí độc giả hẳn muốn biết ngay xem lúc nào người ta thấy ông Ngoại trưởng rơi lệ? Vì sao? Lời lẽ thế nào? Nhưng xin đừng nôn nóng, rồi sẽ được trả lời thỏa mãn còn hơn những gì quí vị mong muốn nữa.
Khi chúng tôi so sánh sự gian hùng của John Kerry và Hồ Chí Minh là muốn đem sự thật tội ác diệt chủng ra ánh sáng mặt trời.
Nên xin lỗi, không thể ngắn gọn được vì đây là chuyện liên quan đến lịch sử Chiến tranh Việt Nam: do ai gây ra trước? Mà tới “The Vietnam War Summit2016” vẫn coi là do Mỹ, gọi Mỹ là xâm lăng vì từ năm 1945 TT. Truman từ chối 7 thư của Hồ Chí Minh xin nhìn nhận chính phủ ông ta. Nên HCM mới nhờ Nga Hoa để đuổi giặc Mỹ giành Độc lập, Thống nhất cho đất nước là dĩ nhiên!
Dĩ nhiên chúng ta biết trả lời, là vì TT Truman biết HCM tức Nguyễn Ái Quốc là CS Đệ tam Quốc Tế đeo mặt nạ Quốc Gia. Nhưng ai cho nói chính thức trong Thượng Đỉnh đây?
Vì đọc các báo Việt-Mỹ tường trình 3 ngày Summit, chúng tôi chỉ tóm tắt:
1. Ban Tổ chức đã cố tình sắp xếp những đề tài thảo luận, diễn giả, ca-nhạc sĩ, báo chí Mỹ nghiêng về phe phản chiến. Đại sứ CS tại Mỹ là Phạm Quang Vinh đọc diễn văn có những con số láo như két những gì có sẵn trong “Hồ sơ” VN phát triển vượt chỉ tiêu của ông Ngoại John Kerry dạy trước rồi. Họ cứ mẹ hát con khen hay thôi.
2. Cựu thù được tiếp đón như thượng khách, loại trừ bạn như kẻ thù vì không có tiếng nói nào của người Việt hải ngoại được chính thức mời trước trong chương trình. Chỉ có 1 Dân Biểu Võ ở Texas được phát biểu 5 phút, thì nói được bao nhiêu?
3. Bức tường chữa lành” (The Wall that heels) của Jan Scruggs
Bây giờ vì phe phản chiến hạng nặng như VVAW của John Kerry, của Tom Hayden, của Country Joe McDonald v.v. (Có mặt trong Summit) mà những chiến binh trở về quê hương bị ngược đãi, bị phỉ báng, làm nhục coi như kẻ thù bao năm qua. Nên có bức tường Vietnam Wall, được mệnh danh là “bức tường chữa lành” (The Wall that heels) như tên cuốn sách của Jan Scruggs long trọng khai mạc ngày 22-4-2016, (mà chúng tôi cho là trùng đúng 41 năm tội ác của John-Hà Nội vì bản điều trần của John Kerry trước Thượng viện đúng này 22-4-1971) để “Chữa lành vết đau” của cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở VN bằng cách gắn lại huy chương, một ngày 2 lần cho người nào tới dự Summit.
4. Thế thôi sao?? Chỉ làm cho quân nhân Mỹ hết nhục thôi? Còn Quân đội đồng minh VNCH không bị làm nhục sao?? Chúng tôi muốn hài tội ác tài trời của VVAW John Kerry cho thế giới thấy mà – dùng chữ của VC- là “Thay đổi tư duy” về Hồ Chí Minh-Đỗ Mười và đồng chí John Kerry của hắn. Vì rõ ràng Mỹ chỉ chữa lành Vết thương của Mỹ mà thôi.
Vậy thì chúng ta, người Việt Nam, phải tự chữa lành cho ta, ít nhất là nói ra trong bài nầy!
5. Về bài học sau Summit 2016, John Kerry học gì?
Keynote address John Kerry coi như lịch sử đã sang trang, Chiến tranh Việt Nam đã qua lâu rồi, chuyến về Việt Nam 23/5 nầy là làm cho Mỹ–Việt càng xích lại gần hơn từ năm 1995 BillClinton mở cửa bang giao… John Kerry nhìn nhận là Hà Nội đã thật sự không còn hận thù hay “xóa bỏ hận thù” trước mình lâu rồi nên nhiệm vụ ông ta là tiến tới “Hợp tác toàn diện với Hà Nội để hướng tới tương lai”. Nhiều lần trong bài thuyết trình và cả khi nhỏ “nước mắt Cá sấu” vẫn nói: “Khi đến bất kỳ đất nước nào, muốn thắng họ, phải hiểu lịch sử và văn hóa của họ, và phải nghĩ giống như họ nghĩ”.
Ông ta cũng còn ngoan cố, vờ không nghe trước đó có người khuyên thêm bài học là: “muốn thắng họ, phải ủng hộ quân đội mình”, để gián tiếp lên án lãnh tụ VVAW là John Kerry.
6. Ngay cả sau khi khóc, ông Ngoại John Kerry vẫn phân trần: “đó (bản điều trần năm 1971) là những điều tôi không vui khi phải làm trong những ngày đó và cả cho đến bây giờ khi tôi nhắc lại. Nhưng tôi thật vui và hãnh diện vì bây giờ tôi đã trở lại Việt Nam để làm những điều tốt cho đất nước này”. Xin ông trả lời ngay: Thảm họa cá chết hàng loạt là vì “Tảo Đỏ nở hoa” hay Thủy triều Đỏ là những điều tốt ông đem lại cho VN đó ư?
Vậy vì chuyến công du của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam ngày 23 tháng 5 gần kề và có Ngoại trưởng John Kerry tháp tùng nên chúng tôi xin chuyển câu hỏi của một “nữ đồng chí” của Ông Ngoại nhờ hỏi nhà nước XHCN xem ông dám hỏi không và có phải là điều tốt cho đất nước Việt Nam mà ông hãnh diện đã giúp từ khi bang giao 21 năm qua (1995—2016)??
Người nữ đồng chí nầy tin tưởng Ngoại trưởng mà nhờ hỏi bằng tiếng Anh trên mạng Yahoo mới ngày 20 tháng 5, 2016 đây thôi. Chắc ông Ngoại đã đọc rồi.
*
Le Ly Hayslip, viết sách được Oliver Stone dựng film “Heaven & Earth”
 
Sở dĩ chúng tôi gọi Lệ Lý Hayslip là “nữ đồng chí” của John Kerry là vì rất lâu rồi, TNS Kerry giúp Hayslip rất nhiều việc từ thiện lắm.
Chính trong bài phỏng vấn của ký giả Jamie Reno đăng trên hãng tin Yahoo News với nhan đề “Tưởng nhớ Việt Nam: Le Ly Hayslip mong chờ Obama và Kerry với niềm hi vọng” ngày 20/5/16, (“Remembering Vietnam: Le Ly Hayslip Looks to Obama and Kerry With Hope” by Jamie Reno for Yahoo News, May 20, 2016)
Lệ Lý đã kể ơn Kerry rằng, năm 1994 đích thân ông ta đã gọi báo tin là cố giúp xin được thông hành nhập cảnh Mỹ quốc cho trọn gia đình bà gồm mẹ, hai người chị từ Việt Nam sang Mỹ để kịp dự ngày chiếu phim “Heaven & Earth”. (Hayslip noted that in 1994, Kerry, then a senator, called her personally to say he had tried to obtain entry visas to the U.S. for her family to attend the premiere of Stone’s movie.).
Quá sức thân thiện như vậy đó, nên gọi là “Nữ đồng chí” cũng đúng chớ? Vì đâu phải giúp làm việc từ thiện gì đâu? Cả nhà chỉ sang Mỹ để xem phim thôi. Biết đâu chỉ là dịp để, như hai bà chị, nếu ai không muốn về Việt Nam, thì đây là dịp tốt đó chứ? Còn bà mẹ, theo sách Lệ Lý kể, chúng tôi đọc lâu rồi, thì bà rất quê mùa, không chịu ra khỏi lũy tre làng. Nay “trục” được bà sang Mỹ gần con gái út Lệ Lý thì còn gì bằng? John Kerry tận tình gánh vác cả gia đình “Nữ đồng chí” như vậy thật tuyệt vời. Bởi không phải dễ cho Lệ Lý xin cho gia đình sang Mỹ đâu, phải người có công ơn lớn lắm là giúp cho CS không sụp đổ như John Kerry (chúng tôi sẽ chứng minh sau) mới xin được giấy tờ đó, Còn Hayslip thì không dễ chút nào, vì tuy bà ta ra vào VN quá nhiều lần từ 30 năm nay, nhưng vì sách bà viết “xấu” cán bộ CS rằng đã hiếp dâm bà 2 lần v.v… nên vẫn còn bị coi là phản quốc.
Mạng Yahoo News kể rằng 2 quyển sách của tác giả Le Ly Hayslip xuất bản năm 1989 làm xúc động lòng người trên thế giới là “Khi Trời Đất đổi ngôi”(When Heaven and Earth Changed Places) và: “Hành trình một phụ nữ Việt Nam đi từ Chiến tranh đến Hòa Bình” (A Vietnamese Woman’s Journey from War to Peace) về cách nào mà khi cô gái quê mới 12 tuổi, những chiếc trực thăng Mỹ đáp xuống làng Kỳ Là của cô làm thay đổi hẳn cuộc đời cô. Nên được đạo diễn Oliver Stone dựng thành phim “Heaven & Earth”.(Trời và Đất).
Theo sách, thì Phùng thị Lệ Lý (Hayslip là họ chồng) là một cô gái quê sanh năm 1949 – năm nay 66t – tại làng Kỳ Là, tỉnh Đà Nẵng, là thuộc địa của thực dân Pháp. Nhưng Cộng sản nổi lên đánh (Pháp) dành độc lập (Vietnam was a colony of France, but communist rebels were fighting for independence).
Ban ngày, quân chính phủ (VNCH) trấn giữ làng Ky La của cô. Nhưng về đêm thì thuộc Việt Cộng kiểm soát. Nên cô và cả gia đình cô bị kẹt chính giữa hai bên.
Lệ Lý làm giao liên cho kháng chiến (VC) 2 năm và thường bị thẩm vấn bởi lính VNCH, đôi khi bị tra tấn để lấy tin tức về VC. Nhưng cuối cùng, VC lại nghi ngờ Lệ Lý làm giao liên cho VNCH, nên tuyên án “tử hình” cô.
Cán bộ VC đem cô đi giết, nhưng trái lại, hai tên hãm hiếp cô rồi để cô muốn đi đâu thì đi. Vì muốn lánh mặt không về làng quê, nên cô trốn vào Sài Gòn, rồi từ đó cô (gặp người chồng Mỹ) có nhịp cầu sang Mỹ quốc trong lúc lửa đạn vẫn hoành hành quê hương.
Nhưng từ khi tới Mỹ, cô dồn hết tâm lực cho việc đem VN và Mỹ quốc xích lại gần nhau hơn, và giúp phát triển vùng làng mạc thôn quê như nơi cô sinh ra và lớn lên.
Từ khi Phim “Trời và Đất” được trình chiếu 22 năm qua, Hayslip tránh xuất hiện trước đám đông, dành trọn thì giờ cho công tác từ thiện.
Theo sách Hayslip viết, bà phải bán nhiều căn nhà ở Mỹ (Hiện bà ở San Diego, miền Nam California) và cả mấy triệu đollars tiền bán sách, cộng với sự trợ giúp của Cơ sở thiện nguyện của tỉ phú Bill Gates v.v… để lập hội “Đông Tây hội ngộ”. Hội nầy đã đổ tiền về quê hương Đà Nẵng của bà để xây cất bệnh xá “tình thương” trường học “hòa bình”, viện cô nhi, lo cung cấp hệ thống nước sạch để uống, hệ thống cầu tiêu, khám răng miệng, mỗ tim. List dài chưa hết từ 30 năm nay rồi. Tóm lại, bà rất nổi tiếng trong nước, mà cho đến bây giờ cả hai phe đều vẫn coi bà là kẻ phản quốc: Nhà nước XHCN thì vì bà lấy Mỹ, theo chồng Mỹ bỏ quê cha đất tổ và nói xấu chế độ; còn người Mỹ gốc Việt thì vì hồi nhỏ bà là giao liên cho Việt Cộng. (Hayslip is still viewed by some in her native country and some Vietnamese-Americans as a traitor because as a young girl she sided with the Viet Cong). (Ngưng trích)
Chúng tôi dịch một đoạn dài do trong sách và bài báo nầy để hỏi John Kerry: Chỗ nào để ông dám nói: Cộng sản đã xóa hận thù lâu rồi?? Dù Hayslip đã đem bao nhiêu lợi lộc về cho quê nghèo Việt Nam? Và hồi nhỏ chỉ là giao liên hôi, nhưng bỏ làng VC theo chồng Mỹ thì 30 năm nay vẫn là “traitor”. Vậy thì quân đội VNCH và cả triệu người vượt biên trốn bỏ VC, thì làm sao VC thật tình xóa hận thù được?:
*
Bây giờ khai thác nội dung cuộc phỏng vấn. Hayslip mong chờ gì ở Obama và Kerry? Bà ta nhấn mạnh 2 vấn đề quan trọng về Việt Nam nhưng lại nhập chung trong một câu: “Tôi ngưỡng mộ Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Kerry, nhưng sẽ là một xấu hổ lớn lao nếu hai ông tới đó mà không đề cập thẳng vào thực trạng của Việt Nam, kể cả vấn đề kinh tế nữa.”
 
A. Cá chết hàng loạt và mọi nhu cầu căn bản cho dân đều bệ rạc
Việt Nam hiện vẫn có rất ít cơ hội cho ngành giáo dục, chỉ có chút xíu cho săn sóc sức khỏe, còn ô nhiễm môi sinh thì quá trầm trọng, bên cạnh nhiều thảm họa khác mà Hoa Kỳ có thể giúp VN to tát lắm nếu đặt thẳng vấn đề môi sinh đó.
Hàng trăm tấn cá chết dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung VN. Hayslip cho đó là một thảm họa môi sinh lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Vậy mà cho đến nay chính phủ Việt Nam không hề chính thức giải thích lý do của thảm họa cá chết hàng loạt ấy.
Hayslip và nhiều người tin rằng nó xảy ra do những xứ láng giềng của VN xả hóa chất cực độc từ khu sản xuất của họ ra biển… (It has been called the largest ecological disaster in Vietnam’s history. No official cause for the massive die-off has been announced by the Vietnamese government. But Hayslip and many others believe it happened because Vietnam’s neighboring countries put their industrial toxic chemical load into the ocean).
Hayslip hỏi: Làm sao nhà nước VN có thể xin Hoa Kỳ tài trợ nhiều triệu Mỹ kim để tẩy sạch chất độc da cam trong khi VN để cho những quốc gia khác xả hết tất cả chất thải của họ trên bờ biển của mình?
(She questions how the Vietnamese government can ask the U.S. government to fund millions of dollars to clean up their Agent Orange when Vietnam lets other countries dump their wastes in its coastal waters.)
VN tốt hơn hết phải cần kiểm soát môi sinh; lo cho dân nghèo ở làng xã, trẻ em ở vùng xa, săn sóc sức khỏe và giáo dục.
Vietnam needs to better control its pollution,” she said. “The government also needs to reach out to the poor and needy villagers and children in remote villages with better health care and education). (Ngưng trích)
Tóm lại, tất cả những chỉ trích, đề nghị trên đây không có gì mới lạ, các tổ chức, đoàn thể, hay bloggers từng làm lâu rồi. Nhưng đây là một bài của người rất tin tưởng, mong chờ vào “đồng chí” John Kerry tài ba, đến đổi hi vọng chỉ ở VN 3,4 ngày thôi là làm cho chế độ công an toàn trị thay đổi được!
Đưa bài báo nầy lên là kịp lúc để kết luận những báo cáo thành tích phát triển về mọi mặt trong 20 năm thiết lập bang giao của Đại sứ CS tại Mỹ là Phạm Quang Vinh, nhất là của Ngoại trưởng John Kerry là không biết gì về cái khổ của dân nghèo VN cả. Vì bên ngoài thì thấy xây cất đồ sộ nhưng, sự thật như Hayslip còn chỉ cho thấy, công tác từ thiện của bà ta đã 30 năm rồi với sự trợ giúp của tỉ phú Bill Gates nữa, vậy mà còn phải mong chờ Obama và John Kerry “nhắc giùm” cho nhà nước VN biết rằng: “Khoảng cách giữa giàu nghèo quá đổi cách xa, đến đổi những người như Hayslip cố làm từ thiện cũng không còn làm nổi được”. Tức bà nhận là bất lực để làm từ thiện rồi! (The gap between the rich and the poor is too overwhelming for people like myself to try to focus on from the philanthropic side).
Có nghĩa người giàu càng giàu thêm, còn nghèo thì nghèo thêm nữa, trở thành nhiều quá, từ từ túi tiền nhà từ thiện Lệ Lý dù có nhiều tỉ phú như Bill Gates tài trợ cũng cạn!
Sở dĩ chúng tôi dành nhiều cho bài “mong chờ với hi vọng” là kịp lúc những báo cáo vui mừng của John Kerry ở Hội nghị Thượng đỉnh còn mới mẻ, và bài báo có tên Obama và Kerry đang trên đường đến VN, nhận định của Lệ Lý Hayslip thật chính xác dù theo trong sách bà viết rằng ở VN cô gái quê làng Kỳ La chỉ mới học tới lớp 3 trường làng. Nhưng từ khi về lại Đà Nẵng, bà ta thật sự sống với người nghèo ở xã thôn VN. Cả gia đình nội ngoại đều theo Cộng hay thiên Cộng mà dám lên tiếng như vậy; nên rất cần phổ biến để mọi người có thước đo Sự thật bên trong hơn là bên ngoài phồn thịnh cho John Kerry và lãnh đạo VN học hỏi, nếu muốn.
Còn độc giả cũng trông chờ xem John Kerry dám hé môi hỏi về thủ phạm “láng giềng” nào làm ô nhiễm môi sinh như Hayslip hi vọng không?
Hơn nữa, để ta càng quyết tâm tìm hiểu do đâu mà Lệ Lý Hayslip tin tưởng ở quyền lực của John-Hà Nội đối vói những tên đầu gấu Hà Nội như vậy???
Và độc tố làm cá chết hàng loạt, sẽ hiện diện trong các loại thực phẩm sẽ lần lượt tràn lan khắp thế giới, nhất là Hoa Kỳ là quốc gia giúp mua sản phẩm từ Việt Nam nhiều nhất, vì người Việt ở Mỹ cũng nhiều nhất. Đây có phải là hậu quả của công trận chống chiến tranh Việt Nam để ngăn chận làn sóng Đỏ, giúp CSVN chiến thắng của lãnh tụ VVAW John Kerry trong bản điều trần năm 1971 không?
B. Vấn đề chất độc màu da cam.
Đây là chuyện mà CSVN ưa thích nhất, vì dễ kiếm tiền quá mà, chắc là John Kerry tha hồ nói tới vì ông ta đã từng giúp người kiếm tiền lối nầy mà bài báo Yahoo News cũng có viết. Nhưng lại vô tình cho chúng ta ghi thêm những mưu mẹo của John Hà Nội, vì bổn phận của ông Ngoại là đem lại mọi lợi ích để “vá lành” xứ nhỏ VN mà Mỹ đã đem chiến tranh tới phá tan nát như sau khi khóc, John Hà Nội vui mừng tuyên bố như thế ở Summit mà!.
Riêng Lệ Lý Hayslip hẳn được thỏa mãn với yêu cầu nầy, vì bà tin tưởng Kerry sẽ nói cách nào đó giúp Obama nhắc tới vấn đề chất độc màu da cam vì chính bản thân Kerry có kinh nghiệm ở VN với Agent Orange (She believes Kerry will have a say in how Obama addresses the issue of Agent Orange “because of his personal experience in Vietnam and with Agent Orange”.)
Nhưng kinh nghiệm ở VN lại khiến John-Hà Nội thành nhân chứng là OR vô hại với ông ta. Vì làm sao mà năm 2004 tờ Newsweek báo cáo rằng Kerry đã bị trải thân với Agent Orange lúc tham chiến ngay vùng Châu thổ sông Cửu Long, miền Nam VN, bản thân ông Thiếu Úy Hải Quạn John Kerry chỉ huy tàu Cao tốc phơi bày với Agent Orange cho là từ 1968, 1969 là năm trở về Mỹ mà tới nay 2016, là trên 48 năm rồi mà không bị ung thư hay bệnh gì đó, trừ phi khi chết, sẽ công bố lý do cái chết có dính líu tới chất độc màu Da Cam nửa thế kỷ trước. Vậy là có tiền trợ cấp của chính phủ như cách John-Hà Nội đã giúp bạn đồng đội Giles Whitcomb chết vì bệnh non-Hodgkin’s lymphoma, nhưng rồi cho là liên quan tới Agent Orange. Vì người bạn thân Whitcomb cũng phơi bày với chất độc nầy ở vùng châu thổ sông Cửu Long, Việt Nam
Nên chính Kerry đã hối thúc Bộ Cưu Chiến binh cấp trợ cấp cho gia đình người bạn thân cuối cùng còn lại. (In 2004, Newsweek reported that Kerry was exposed to Agent Orange while captaining a swift boat in the Mekong Delta during the war. In 2006, Kerry told this reporter that his best war buddy, Giles Whitcomb, died of non-Hodgkin’s lymphoma, which is now linked to Agent Orange. said Kerry, who urged the Veteran’s Administration to grant the Whitcomb family disability benefits for his late friend).
*
Xin chú ý một điều ởm ờ kỳ lạ rất hay của đoạn nầy: “Năm 2004 tờ Newsweek báo cáo rằng “Kerry đã bị phơi bày với Agent Orange” rồi không thấy nói gì thêm. Đến năm 2006, Kerry cho ký giả Jamie Reno của Yahoo News (người viết bài nầy) nội vụ Giles Whitcomb chết như trên, Nhưng không có chữ nào do John Kerry xác nhận chính mình đang bị bệnh gì liên quan đến “exposed to O.R” cả. Hay là chờ tới chết rồi mới “linked to”?
Chắc chắn Ngoại trưởng, như Lệ Lý Hayslip tin tưởng là sẽ có cách chỉ cho TT Obama nêu việc nầy, vì bài học ở Summit: “Khi đến bất kỳ đất nước nào.., phải hiểu lịch sử và văn hóa của họ, và phải nghĩ giống như họ nghĩ”.
 
Văn hóa và suy nghĩ của CSVN là gì?
Là văn hóa làm tiền, nên phải suy nghĩ mưu kế để thực hiện “văn hóa” đó. Và John-Hà Nội đã tự hứa tận tụy giúp CS thành công.
Thật tình, dù dân tộc nào bị thật sự nhiễm độc OR, chúng ta cũng muốn trợ giúp, huống chi là người VN. Nhưng phải chứng minh hợp lý, minh bạch. Đã có 2 vụ kiện lớn về OR diễn ra tại Mỹ đều bị bác bỏ chỉ vì VC đem nhân chứng nạn nhân là người miền Bắc. Mỹ bay ra Hà Nội rãi OR chăng?
Mới đây, nhân vụ cá chết hàng loạt, nhà nước chưa dám xác quyết thủ phạm như người tự nhận là học trò lớp 3 trường làng Lệ Lý, nhưng Đảng CS VN lại đưa ra một vụ kiện về OR mới tại Pháp quốc vào Tháng April vừa qua, nếu tôi nhớ không lầm. Nhưng nạn nhân cũng là một nữ Bác sĩ miền Bắc!
Trở lại bài báo Yahoo News về Lệ Lý Hayslip, bà ta cho biết nghiên cứu mới nào đó cho con số hiện có 4 triệu 500 ngàn người dân VN ở vùng bị phun OR bị nhiễm độc tố Dioxin. Đây đúng là con số của “Văn hóa và suy nghĩ” nơi xứ VNXHCN mà ông Ngoại John Kerry biết rành để “Thắng” túi tiền của đối phương Mỹ quốc cho đồng chí dài lâu của mình rồi!
Dù ông ta vẽ cho Obama nói gì đi nữa thì ta có nhân chứng là ông Ngoại John Kerry, sanh năm 1943 cho tới năm 2016 là 73 tuổi thọ mà vẫn chưa chết vì OR dù phơi thân tại vùng Mekong Delta Việt Nam tới… hai năm (?)
Vậy là cùng bị Exposed với OR nhưng còn nhiều yếu tố khác nữa khiến có người chết, người còn sống nhăn răng để nhễu “nước mắt Cá sấu” tại Austin, Texas, để bây giờ ta trở lại tìm lý do tại sao John Hà Nội khóc?
*
 
Bản điều trần tại Ủy Ban Ngoại giao Thượng viện ngày 22 tháng 4 năm 1971
Đó là ngày 27/4, tức ngày thứ nhì của Hội nghị Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam do Ngoại trưởng John Kerry thuyết trình. Ông ca tụng thành quả hợp tác Việt Mỹ từ ngày Nhưng, xem lúc nào người ta thấy ông Ngoại trưởng rơi lệ?
Là lúc Ông nhìn nhận có điều trần tại Ủy Ban Ngoại giao Thượng viện năm 1971 nên xúc động, nghẹn ngào, sụt sịt khóc mà chúng tôi cho là “nước mắt Cá sấu”, chùm chữ ta thường dùng để chỉ sự gian trá của Hồ Chí Minh khóc nhìn nhận “sai lầm” sau khi vụ giết oan hàng ngàn người vô tội trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất vào thập niên 50s ở Bắc Việt.
Diễn giả John Kerry đã nghẹn ngào, nhiều lúc như tắt tiếng để giải thích mục đích của bản điều trần 45 năm xưa ấy.
Nguyên văn như vầy:
Vào năm 1971, khi tôi điều trần trước Thượng Viện về việc chống lại chiến tranh Việt Nam, tôi nói với sự xác quyết của các cựu chiến binh nhằm làm một nhiệm vụ cuối cùng. Như vậy để 30 năm sau, khi những anh em của chúng tôi đi trên đường phố không còn chân hay tay và người ta hỏi tại sao, tôi có thể nói là “Việt Nam.” Đó không phải là một hồi ức đắng cay, mà là mốc thời gian nước Mỹ xoay chiều, và cũng là nơi chúng tôi giúp được trong việc đổi hướng đó. (vỗ tay).
 
[In 1971, when I testified against the war in Vietnam before the Senate, I spoke of the determination of veterans to undertake one last mission, so that in 30 years, when our brothers went down the street without a leg or an arm and people asked why, we’d be able to say “Vietnam” and not mean a bitter memory, but mean instead the place where America turned, and where we helped it in the turning. (Applause.)]
*
Để tiện cho độc giả nào chưa đọc trên DLB bài “Vietnam War Summit, hài tội John và Jane Hà Nội” của Nguyễn Việt Nữ, xin phép lập lại trích đoạn bản điều trần đó rồi chúng ta cùng nhau thảo luận.
Vì những tài liệu chúng tôi trình bày đều là chứng tích lịch sử. Như bài “…hài tội John và Jane Hà Nội” là chúng tôi trình bản điều trần năm 1971 trước khi Summit 2016 khai mạc, và ngày khai mạc thì chính John Kerry nhìn nhận có thực hiện như vậy và khóc.Vì nó giết chết danh dự quân đội Mỹ nên hôm nay xin nhìn lại hình ảnh dưới đây của Quan tòa John Kerry ngồi tuyên “Bản án tử hình” cho quân đội Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ 45 năm trước, nhưng bây giờ Ngài Ngọai trưởng lại “lập công” rằng vì muốn giúp (Nixon) chuyển hướng, đổi chính sách, rút quân về lẹ lẹ vì sợ lính tử trận trong cuộc chiến không chính nghĩa?
Trung Úy John Kerry điều trần trước Ủy Ban Ngoại giao Thượng viện ngày 22/4/1971
Điều trần trước Thượng viện ngày 22/4/1971, Nhục mạ quân đội Hoa Kỳ
Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á không phải chỉ thỉnh thoảng mới có mà nó xảy ra trên căn bản liên tục ngày nầy sang ngày nọ, với sự hiểu biết của hết các cấp chỉ huy trong quân đội.
 
Không thể diễn tả những cảm xúc ghê rợn mà họ nói ở Detroit về kinh nghiệm Việt Nam mà xứ nầy [Hoa Kỳ] bảo họ làm! Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Thành Cát Tư Hãn, bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này.” (…)
Những cuộc biểu tình ở Detroit của nhóm VVAW mà John Kerrycáo buộc do sự ra lệnh của cả hệ thống chỉ huy của quân đội Hoa Kỳ trong buổi điều trần ngày 22-4-1971, được chụp hết hình ảnh những người mặc quân phục nhầu nát, rách rưới để cho vào sách “Người lính mới” mà hình bìa là nhóm quân nhân cầm cờ Mỹ trải lá cờ thấp, còn cán cờ chỏng lên trời với tựa là “The New Soldier”.
Xin bấm vào WinterSoldier.com sẽ tìm được nhiều tài liệu cho biết rằng Mỹ đi tới đâu là có Sô Viết xì tiền nuôi kẻ phá hoại đến đố–tất nhiên là có người chỉ vô tình chống chiến tranh vì sợ chết, sợ nghèo thôi–
 
Đố ai biết tận tim đen của tác giả John Kerry muốn gì? Muốn hòa bình, ghét chiến tranh nên làm mọi sự để bỏ Việt Nam, tiền đồng ngăn cản sự bành trướng của Cộng Sản?
 
Hay ông muốn xóa bỏ Hoa Kỳ như ý của Sô Viết và Trung Cộng, 2 kẻ thù đều muốn tận diệt USA lúc ấy? (Hết trích)
* Vì bài đã quá dài, chúng tôi xin chọn ba nhân chứng để giúp quay lại chủ đề: “Nước mắt Cá sấu của John Hà Nội rửa sạch tội Kissinger”, không “đi lạc đề” như từ đầu tới giờ.
Nhân chứng thứ nhất trong tổ chức “Swift Vets and POWs for Truth” vạch trần thẳng vào “bản án tử hình” Quân Đội Hoa Kỳ, tức gián tiếp giết quân đội đồng minh VNCH nữa.
Trong bản điều trần, John-Hà Nội tố cáo:
 
“Có cuộc điều tra ở Detroit trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á…”
Sự thật: Sử gia Guenter Lewy chứng minh John –Hà Nội lừa bịp, nhiều cựu chiến binh giả mạo trong đó có tên Cộng sản Mỹ đen Maoist Black Panther tên Al Hubbard, Bí thư của John Kerry, không bao giờ công tác ở Việt Nam!
1. Sử gia Guenter Lewy viết trong cuốn “America in Vietnam”, các điều nói láo của John Kerry về các hoạt động của các Tàu Cao Tốc là một phần của mô hình lừa bịp rộng lớn hơn. Những tố cáo của Kerry [trước Ủy ban Ngoại giao Thượng Viện ngày 22.4.1971 đã nói trên đây] dựa trên một hội nghị của VVAW mệnh danh là “Điều tra Binh Sĩ Mùa Đông” (Winter Soldier Investigation), một sự cố tuyên truyền được tài trợ chính bởi Jane Fonda. Không một “chứng nhân” của Binh Sĩ Mùa Đông nào được Kerry liệt kê chịu ký các bản đính hậu (affadavit). Ban Điều Tra Hải Quân khám phá ra rằng nhiều cựu chiến binh được cho là đã tuyên bố trong Binh Sĩ Mùa Đông thực ra là những kẻ mạo danh dùng tên của các cựu chiến binh thật… Bí thư điều hành [của VVAW] Al Hubbard khai là Đại Úy Không Quân bị thương ở Việt Nam khi lái phi cơ vận tải. Thực ra, Hubbard là một trung sĩ không phải là phi công và không bao giờ công tác ở Việt Nam. John Kerry và VVAW cộng tác mật thiết vói các địch quân thời chiến của Mỹ, đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với lãnh đạo Bắc Việt và Việt Cộng và kiên trì ủng hộ các lập trường của họ. Kerry và các đồng chí cấp tiến cũng đóng một vai trò then chốt trong việc định nghĩa hình ảnh xảo trá và tác hại của các cựu chiến binh Việt Nam như là những người nghiện rượu và ma túy bị tật nguyền về tâm lý, bị ám ảnh bởi các tội ác họ đã bị cưỡng bách vi phạm trong một cuộc chiến “chủng tộc”. Tin tức chi tiết về các hoạt động phản chiến của John Kerry và VVAW có thể tìm được tại WinterSoldier.com (“After the way John Kerry treated Vietnam Veterans he doesn’t deserve to be Secretary of the Dog Pound”).
Hoạt động phản chiến và phản sự thật của John Kerry đem lại hậu quả thảm thương cho các đồng đội của ông. Khi họ sống sót trở về từ chiến trường Việt Nam, đáng lẽ phải được đồng bào họ vui mừng đón tiếp trọng thể như những anh hùng. Nhưng dân Mỹ đã – được “anh hùng” mạo danh John Kerry nhồi sọ bằng những mặt trái thổi phồng và xuyên tạc của chiến cuộc Việt Nam – có ác cảm và khinh miệt, đón họ như những phạm nhân chiến tranh. Chính những quân nhân này, ngoài việc bị bạc đãi oan uổng, còn bị mặc cảm tội lỗi dằn vặt đến nỗi từ 100 đến 150,000 người tự tử (theo Andreï Smirnov. “La guerre du Vietnam: au pays des leçons mal apprises” phát thanh trên đài La Voix de la Russie ngày 26.1.2013, hồi 17g21, giờ Mạc Tư Khoa).
2. Tại sao có Biệt danh “John-Hà Nội”? Do các cựu chiến binh Mỹ tặng vì hình ảnh người “Ân nhân của Cộng sản Việt Nam” nầy được trưng bày nhiều tại các viện bảo tàng ở Hà Nội. Còn tại tp Hồ Chí Minh (Sài Gòn) hình ảnh Jane -Hà Nội cũng được trịnh trọng treo tại viện Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh (War Remnants Museum), trước kia gọi là viện Bảo Tàng Tội Ác Chiến Tranh với Tổng Bí Thư Đỗ Mười.
Như có một bức hình được trưng bày trong một phòng dành cho các nhà hoạt động ngoại quốc đã đóng góp cho chiến thắng Mỹ của Cộng Sản trong Chiến tranh Việt Nam, cho thấy John Kerry ngồi với Đỗ Mười với bức tượng Hồ Chí Minh ở phía sau (“John Kerry being honored, by communists, for his contribution to their victory over United States”).
(Có lẽ liên quan đến bài thuyết trình có nước mắt Cá sấu của John-Hà Nội khi kể lại chuyện tới Hà Nội được cho xuống hầm lăng HCM để tìm POW/MIA hầu giải tỏa vấn nạn Hà Nội còn chưa trả đủ POW/MIA nên chưa tiến tới bang giao năm 1995 được)
Như vậy tìm ra lý do nhân dịp Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam ngày 23 tháng 5 nầy có Ngoại trưởng John Kerry tháp tùng, Lệ Lý Hayslip biết Hà Nội ghi ơn John-Hà Nội vô cùng sâu đậm, mới mãnh liệt tin tưởng ông Ngoại trưởng làm được những thay đổi chỉ trong vài ngày của chuyến công du nầy thôi.
– Chắc cũng biết luôn đáng lẽ hai ông tới Hà Nội ngày 22/5 như loan báo trước đây, nhưng tại sao phải lui lại một ngày?
Vì ngày 22/5 là ngày bầu cử Quốc Hội khóa 14, nhưng Tân Chủ tịch Quốc Hội khóa 14 là bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã được tuyên thệ nhận chức ngày 31/3/16 rồi!
Có lẽ ông Ngoại John Kerry thừa biết đó là “Văn hóa… dân chủ đến thế là cùng” của chủ nghĩa Xã hội Công An toàn trị?
– Bây giờ mời thêm nhân chứng thứ ba cũng trong tổ chức “Swift Vets and POWs for Truth” nhắc lại lời khen John Hà-Nội của Đai tướng Võ Nguyên Giáp lúc còn sống để chấm dứt loạt bài nầy:
3. Robert Elder cùng phục vụ ở Việt Nam với John Kerry bảo, “Sự kiện là trong suốt Chiến tranh Việt Nam, chúng ta không thua một trận chiến nào. Chúng ta thất trận ở nhà và ở nhà John Kerry là ‘field general’ <**>. Về những phản kháng phản-dân chủ hồi đó của Kerry, tướng Võ Nguyên Giáp, lãnh đạo quân sự Việt Nam lừng danh nhất, viết rằng nếu không có sự mất đoàn kết do những người phản kháng như John Kerry và Jane Fonda tạo ra thì Hà Nội đã sụp đổ và đầu hàng”. (Nguồn: “John Kerry và Việt Nam” của Kim Bảng)
Tưởng bao nhiêu đây đã quá đủ để thấy quả thật “Nước mắt Cá sấu của John-Hà Nội rửa sạch tội bán đứng miền Nam cho Cộng sản của Henry Kissinger”.
(22/5/2016)