Điện biên phủ dưới mắt người trong cuộc – Phan Quân

Điện biên phủ dưới mắt người trong cuộc

db-phuLần đầu tiên ở Việt Nam, những nhà báo trẻ duyệt lại lịch sử nước mình bằng cách thuật lại hồi ức của những cựu binh Điện Biên Phủ, nơi mà ngày 7 tháng 5 1954, Việt Minh đã chiến thắng thực dân Pháp một cách dứt điểm. Xuyên suốt qua những lời thuật lại, huyền thoại của tuyên truyền cộng sản đã lòi bộ mặt trơ trẽn.

Sau một cuộc chiến, lịch sử thường thường được viết lại theo quan điểm của phe chiến thắng. Kết quả là một sự thật bóp méo đã được trưng bày và tiếng nói của phía thua trận bị khỏa lấp. Vậy mà, quái gở thay ở Việt Nam, trong cuộc chiến chống Pháp, những người chiến thắng im hơi lặng tiếng khá lâu.

Vậy mà, theo nhà sử học Jean Pierre Roux, chuyên viên về những vấn đề này, thì chiến thắng quyết định của Việt Minh ngày 7 tháng 5 1945, tại Điện Biên Phủ là “cuộc thua trận duy nhứt của quân đội châu Âu ở những trận đánh có chiến tuyến đàng hoàng, trong suốt lịch sử giải phóng thuộc địa”.

Phía Pháp, 16.000 người trang bị đầy đủ được thả dù xuống vùng đó. Bên Việt Nam có 55.000 bộ đội, trang bị kém hơn, cùng với 260.000 dân công, phần lớn đi chưn không. Đừng quên việc sử dụng có tính quyết định của 21.000 xe đạp để thồ vũ khí và lương thực.

Trong khi có nhiều bằng chứng của Pháp nói về cuộc thất bại, thì bên phía Việt Nam chỉ có vài ba bài tường thuật được gói ghém cẩn thận trong những bài diễn văn tuyên truyền. Luận điệu nhà nước về những sự kiện, dùng để cổ võ đoàn kết và lòng tự hào dân tộc, đã che lấp những tường thuật cá nhơn và riêng tư.

Đứng trước những sự thiếu xót ký ức trong lịch sử đất nước mình, sáu nhà báo Việt Nam, trong đó có một cựu binh Điện Biên Phủ, 55 năm sau biến cố, đã đứng ra điều tra những nhơn chứng cuối cùng của trang lịch sử. Từ năm 2007 đến 2009, họ đã đi cùng khắp đất nước tìm ra những sự thật nhỏ nhen khác về trận đánh huyền thoại đã mở ra con đường giải thể thuộc địa trên thế giới thứ ba.

Như vậy, họ đã thu thập được lời thuật của 250 cựu binh từ Bắc vô Nam Việt Nam, trong đó có cả danh Tướng Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy quân Việt Minh, để gộp lại thành một tập sách đầy dẫy tình người và chưa hề xuất bản.

Được xuất bản năm ngoái ở Việt Nam, quyển “Điện Biên Phủ nhìn từ bên kia”, do Jean-Pierre Roux đề tụa, nay xuất bản ở Pháp.

Những người thồ gạo, tải đạn, nghệ sĩ đưa ra tiền tuyến để tác động tinh thần bộ đội, ký giả, thầy thuốc, y tá, phụ nữ đàn ông, chiến đấu bên cạnh những người bộ đội, ăn mặc màu xanh, đầu đội nón cối mà lính Pháp phải nể.

Nhưng đây là lần đầu tiên trong đời, họ kể lại không phải “những hành động dũng cảm do Đảng dìu đắt và đưa đến chiến thắng của nhơn dân”, những sự kiện đã đuợc đọc tới đọc lui trong sách vở học trò và trên nhựt báo nhà nước. Lần này, thì những lời thuật lại những nỗi lo sợ của họ, những tình cảm của họ, những giấc mơ của họ, tất cả những tư tưởng thầm kín qua ngang đầu khi súng đạn nổ, trong cái lòng chảo khủng khiếp Điện Biên Phủ đó.

Để triệt tiêu cứ điểm trú phòng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, Quân Đội Nhơn Dân Việt Nam đã mở ba đợt tấn công. Xuyên suốt qua các trang sách, huyền thoại về “chiến thắng cuối cùng của những anh hùng có lòng yêu nước bất biến” đã phai mờ trước những tiết lộ tầm thường của những người chiến sĩ trong đoàn quân ma. Chẳng hạn như cô vũ công kia đã vào bộ đội đễ tránh sự kiểm soát của gia đình và để đi đây đi đó.

Hoặc người dân thành phố nọ, mà bạn đồng ngũ nông dân gọi là “tên tư sản hoắc con” vì họ bực mình phải làm chuyện tay chưn thay thế vì gả quá vụng về. Đổi lại, hắn kể chuyện “Người Khốn Khổ” của Victor Hugo cho họ nghe. Còn chuyện nữa, trong một chiến hào trong khi súng đang nổ, cô y tá trẻ sợ điếng người vì thẹn khi một chiến binh bị thuơng nhờ cô giúp cho anh đi tiểu.

Cuộc hội ngộ ngẫu nhiên đã làm cho những tác giả, vốn là những người được chế độ Hà Nội nuông chiều, thấy rõ. Đặng Đức Tuệ kể: “Cho đến năm 2004, chúng tôi đâu có biết gì Điện Biên Phủ nhiều. Mọi chuyện đều mờ ám. Tệ hơn nữa, chúng tôi không dám thắc mắc gì về những chuyện dũng cảm mà thiên hạ đã lấy đó mê hoặc chúng tôi.”

Nhà báo tài ba này, có lúc được đào tạo bên Pháp, được mời dự Hội Nghị Báo Chí Điều Tra ở Genève hồi tháng rồi để kể lại chuyện điều tra trong một đất nước còn bị kiểm duyệt về chánh trị. Đồng nghiệp của ông, bà Đào Thanh Huyên, cũng tham dự cùng hội nghị, cho biết thêm: “Chúng tôi đã thừa hưởng một cách thụ động di sản tập thể đó, được viết trong sách vở học đường và trong báo chí. Pháp Mỹ là bọn xâm lược tàn ác và chúng ta thắng tất cả các cuộc chiến. Nhưng tại sao và bằng cách nào thì chúng tôi mù tịt.”

Năm 2004, hai nhà báo đào tạo một khóa học trong vùng Điện Biên Phủ. Trong số khóa sinh có Bác Mai, hồi Điện Biên Phủ là giao liên trẻ tuổi, kể lại kỷ niệm trận đánh. Bà Huyên tâm sự: “Có một chuyện làm đảo ngưọc cái nhìn của chúng tôi. Qua lời kễ của ông thì những người nam nữ liên hệ tới cuộc chiến nay còn sống. Theo hướng dẫn của Bác Mai – nay trở thành đồng tác giả của tập sách – hai nhà báo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Ngạc nhiên to lớn khi một nhà sử học quân đội, được mời tham dự với tư cách chuyên viên của khóa đào tạo, tiết lộ một bí mật chủ yếu trong chiến thắng Điện Biên Phủ: “Các bạn có biết không, làm gì có cờ Việt Minh cấm trên hầm trú ẩn của Tướng De Castrie, ngày 7 tháng 5 năm 1945?”

Họ được biết rằng hình ảnh đó được dựng lại sau chiến tranh cho nhà đạo diễn Liên Xô Roman Karmen. Hình ảnh trong khi quay phim được phát ra sau đó trên khắp thế giới. Thay thế cho thực tế, cảnh đó đã làm nên biểu tượng không chối cải được của chiến thắng Việt Minh và những nước bị đô hộ chống lại thực dân.

Đất nước cần có nhiều bằng chứng của nhà nước khi mà giặc giả cứ tiếp nối ở Việt Nam. Giặc chống Mỹ, chống Tàu và chống Khmer Đỏ ở phía Nam. Vậy nên phải cần duy trì lòng yêu nước.

Nhờ vậy, khi hòa bình đã lập lại trong những năm 1980, sự thật bóp méo đó đã hằn sâu, ngay đối với những cựu binh. Ngày nay, khi chiến cuộc Điện Biên Phủ đã lâu trên nửa thế kỷ, Việt Nam có dám sửa sai lịch sử lớn để cho dân chúng thấy được cái lịch sử nhỏ của mình chưa? Đó cũng là điều mà những tác giả quyển sách mong muốn.

Theo ông Tuệ thì: “Công tác không phải chẳng gặp khó khăn. Chúng tôi đã gặp nhiều cựu binh từ chối. Một vài người không nói tại sao, một số người khác cho biết không muốn nghe lập lại luận điệu cũ của nhà nước. Những người khác nữa không muốn bị những nhà báo không muốn nghe ai khác ngoài sự giải thích của Đảng gạt lần nữa.”

Ông Tuệ cho biết rằng sở dĩ ấn bản Việt Nam được phổ biến là nhờ có dịp may ăn mừng 55 năm chiến thắng Điện Biên, có nhà chép sử uy tín của đất nước đề tựa và nhờ sự ủng hộ của Nhà Xuất Bản Chánh Trị Trung Ưong, cơ quan chánh thức của Đảng.

Ông Jean-Pierre Rioux cho biết một quyển sách như vậy làm cho trận Điện Biên Phủ thoát khỏi lịch sử quốc doanh của nhà nước Việt Nam. Mari Carmen Gonzalez, sử gia chuyên viên về thời kỳ Franco bên Tây Ban Nha, nhận xét: “Người ta có thể phát hiện ra nhà cầm quyền chọn lựa và dựng lên những anh hùng như thế nào, trong khi chính những người đó không cảm thấy như vậy.”

Như khi người bộ đội nọ kể lại: “Tôi là người nghèo nhứt, và gia đình tôi đều bị Pháp giết hồi năm 1949. Có lẽ nhờ hai lý do đó mà tôi được phong anh hùng, trong khi chúng tôi rất nhiều người cùng chung một chiến hào.” Một người bộ đội khác cho biết: “Tôi biết tiếng Tây. Đôi khi những người lính đối phương la lớn trước khi chết. Những người đồng đội dốt nát hỏi tôi: “Họ nói gì thế?” “Họ kêu mẹ…” Lính đánh thuê hay thực dân sắp chết đều như chúng ta, là người trẻ chưa có gia đình nên gọi mẹ trước khi nhắm mắt.

Mari Carmen Rodriguez nghĩ rằng, một thái độ đầy tính con người như vậy trước nỗi đau của kẻ khác không thể nào là một cách tuyên truyền. Những tác giả cũng nhấn mạnh là cung cách làm sách của họ mang tính cách tường thuật báo chí chớ không mang màu sắc chép sử. “Chúng tôi trước hết muốn bảo tồn những hồi ức trước khi những nhơn chứng biến đi.”

Jean-Pierre Rioux xác nhận: “Những chứng tích này là tài liệu quý giá. Đấy là những lời nói tự do. Nhưng muốn khai thác những lời khai đó theo diện lịch sử thì phải có tài liệu lịch sử. Bây giờ thì không được rồi, nhứt là phía Việt Nam. Bao giờ sử liệu nhà nước còn khống chế thì vẫn còn khó khăn. Vã lại, đâu phải riêng gì chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Algérie cũng thế.

Dẫu sao đi nữa thì bánh xe đã chuyển ở Việt Nam. Tuệ vui mừng vì từ lúc quyển sách ra mắt độc giả ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiều nhà báo tại chỗ đã tiếp tục điều tra để biết rõ hư thực. Bây giờ họ để ý đến những người đã làm nên lịch sử, thay vì chỉ chú ý đến vài anh hùng do nhà nước đua ra. Vậy cũng đáng khích lệ rồi!

Phan Quân dịch
(Từ bài điểm sách “Dien Bien Phu vu d’en face”, parolres de vétérans vietnamiens của Carole Vann, Tribune des droits humains)
Dien Bien Phu vu d’en face, Paroles de Bô doi – éd. Nouveau monde – 2010 – 23€.

Điện Biên Phủ tâm sự chú bộ đội

Phan Quân

Trước khi vào chuyện: Quyển sách nầy không thuật lại toàn bộ trận đánh từ đầu chí đuôi, mà chỉ đưa ra những tâm sự lẻ tẻ của bộ đội. Như vậy, xin người đọc hãy chấp nhận những giai thoại tản mạn của những người lính đã tham dự cuộc chiến và phán xét thực hư, vì không sao tránh khỏi những trường hợp cường điệu, không nhiều thì ít, thái độ cố hữu của con người.

Khỏi nói ai cũng biết tiếng tăm của Điện Biên Phủ. Từ phía Pháp, người ta đã đọc nhiều bản phân tách, rất đa diện và đa dạng, về lý do tại sao “thua”, trong khi bên phía Việt Nam thì chỉ có một số bài báo và bài viết trong sách vở học trò, nặng tính tuyên truyền tâm lý chiến để ca ngợi tại sao “thắng”. Hơn nửa thế kỷ đã qua rồi, giờ đây nhiều nhà báo trẻ đầy bức xúc của Việt Nam, bỏ ra mấy năm để tự ý đi lùng sục khắp nước, ghi lấy tâm sự của chính những người, đã tự tay mình, làm nên lịch sử. Chớ không chịu tin theo “những bài có viết có tánh cách sử-thi-anh-hùng-ca-hoành-tráng theo kiểu quốc doanh”.

Năm 2004, anh Đào Thanh Huyền – người chủ biên trong nhóm sáu nhà báo làm thành quyển sách “Điện Biên Phủ vu d’en face – Paroles de bộ đội”, nxb Nouveau Monde, 2010, 271 trang – bay bên trên Điện Biên lần đầu tiên với nhiều nỗi ngạc nhiên. Anh thấy nhiều người chạy mô tô rượt đuổi bầy trâu để giải tỏa phi đạo cho máy bay. Một sân bay mới, vắng lạnh, một thành phố bé tẹo với ba trục lộ chánh, không một bóng người và đầy bụi bậm, với những ngôi nhà mới khỏa lấp những ngọn đồi nổi tiếng một thời.

Trên bức tường rộng lớn của nghĩa địa, dưới chưn đồi A1 (Éliane-2), thấy ghi tên những bộ đội hy sinh, xếp theo sinh quán. Trong hai nghĩa trang gần ổ kháng chiến cũ Béatrice và Gabrielle thì không có danh sách ghi trên tường, chỉ có những dãy mã ngang dọc. Tổng cộng 3976 mộ bia, chỉ có bốn là có tên, “bốn anh hùng quân đội và nhơn dân” mà thành tích đuợc nhắc đến từ lâu trong sách vở học trò.

Nhiều tốp thanh niên nam nữ dửng dưng dạo chơi đón mừng ngày kỷ niệm năm mươi năm thành phố mình làm nên chiến thắng lịch sử. Điện Biên Phủ dự trù đón chào hàng trăm ngàn khách Việt Nam và ngoại quốc. Tất cả các nơi chiến tích đều thành công trường, vì kế hoạch chỉnh trang của nhà nước. Trên địa điểm A1, người ta đào hầm trở lại và giăng kẽm gai.

Một cựu binh đang đốt nhang van vái trước tượng đài kỷ niệm trên đồi than phiền:
– Chuyện thật là nhục nhã!

Không ai còn nhận ra Điện Biên của thuở oai hùng nữa. Nhà báo kêu ca: “Tôi đến để tìm một địa điểm mở lớp học báo chí về trận đánh lịch sử, nhưng chẳng thấy Điện Biên Phủ đâu hết. Trong sách, trong phim, qua các trang sách ở trường học thì đâu đó rõ ràng. Có quân xâm lược hung ác, có người yêu nước dũng cảm, có những chuyện hy sanh và có chiến thắng vẻ vang, có cây cờ trên nóc hầm của Tướng De Castries, chỉ huy trưởng lực lượng Liên Hiệp Pháp trong lòng chảo, có những đoàn tù binh…”

Đành rằng trí nhớ con người có thiếu sót, nhưng không thể chấp nhận được những sai biệt quá đáng. Những con số thiệt hại chánh thức không khớp với những tình hình khủng khiếp của trận đánh mà người ta kể lại, với những chứng cớ do những người còn sống sót thuật lại. Đồng thời, một nửa thế kỷ sau Điện Biên, truyền hình nhà nước chiếu lại cuộn phim thời sự Điện Biên Phủ của Roman Karmen, còn phải báo trước với khán giả là: “Phần lớn hình ảnh mà quý vị sẽ xem là được thể hiện trở lại.”

Quả vậy, theo lời những kẻ mục kích cảnh quay phim thuật lại, người dựng phim Liên Xô đến hiện trường mấy hôm sau ngày 7 tháng 5 1954. Thậm chí, một vài cảnh trong phim đã được quay cách xa hiện trường. Người xem đâu có quan tâm chuyện đó. Cái bậy nhứt là những sự kiện lịch sử đã được ngụy tạo. Như vậy, chuyện cây cờ Việt Minh trên nóc hầm chiến đấu của Tướng De Castries có thật hay không? Cây quốc kỳ đó tiêu biểu cho chiến thắng của một nước Việt Nam thuộc địa nhỏ bé chống lại thế lực thực dân kết xù và lâu đời.

Vậy thì, làm sao hậu thế phân biệt được hư thật giữa chuyện đã xảy ra và điều dàn dựng đã được kiểm duyệt. Làm sao người dân tìm hiểu lịch sử lựa lọc được giữa những gì có thiệt và cái mô phỏng, dẫu mang tính chánh trị nghiêm túc hay được trét phấn thoa son cho đúng với ý thức hệ? Từ đó, những nhà nghiên cứu sau này phải thắc mắc còn có bao nhiêu ấn bản Điện Biên Phủ nữa đây?

Nên chi, tập đoàn nhà báo này quyết tâm tìm ra sự thật Điện Biên qua những nhơn chúng còn sống, trước khi họ vĩnh viễn ra đi. Từ tháng Mười Hai năm 2007 cho đến tháng Hai năm 2009, họ đã phỏng vấn 250 cựu binh Điện Biên từ Bắc chí Nam, để thâu lượm những sự thật của chính các đương sự.

Vì vậy cho nên, trong quyển sách này không có những hành động anh hùng tuyệt vời và siêu phàm, những sự hy sanh cao cả và hành động dũng cảm phi thường. Mà chỉ có những chuyện vui cỏn con, những giây phút sợ hãi, những mối hận thù vặt, những nỗi chán chường, những cơn giận, những tình yêu và tình chiến hữu… những tình cảm thông thường của con người.

Lãnh đạo cộng sản hay sử dụng khẩu hiệu để kích động quần chúng thi đua làm những chuyện mà nhà nước mong muốn. Do đó, để khuyến khích nhơn dân góp công vào chiến dịch Điện Biên, họ đưa ra khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”. Mười năm sau trận đánh, chính Tướng Giáp cũng có viết: “Chưa từng thấy hàng hàng lớp lớp người Việt Nam hướng ra tiền tuyến như vậy bao giờ.”

Cuối 1953, hậu phương tập trung sức người, sức của cho tiền tuyến. Hầu hết những dự trữ của tám măm kháng chiến (từ 1946) đều dành cho chiến dịch Tây-Bắc của đất nước. Hai mươi bảy ngàn tấn dụng cụ và lương thực, thực phẩm được chuyển ra phía trước. Trên 260.000 dân công, trên 22.000 thanh niên xung phong, phối hợp với lực lượng chánh quy của Quân Đội Nhơn Dân để làm mặt trận hậu cần, phụ trách việc xây cất và bảo vệ hệ thống đường sá, bảo vệ tuyến giao thông, lo việc chuyên chở vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm và thương bịnh binh…

Dân công là những nông dân các tỉnh Thanh Hóa, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang,… Đông đảo người xuất phát từ miệt đồng bằng và châu thổ sông Hồng, những người khác xuất phát từ vùng núi Tây-Bắc. Với đòn gánh, gùi hay chỉ với đôi vai và đôi khi dùng ngựa và 20.900 xe đạp, đạo quân dân công nầy đã làm đảo lộn những tính toán của lực lượng Pháp, liên quan đến khả năng tiếp tế của Việt Minh. Thanh niên xung phong lo đảm bảo hệ thống đường liên lạc giữa hậu phương với tiền tuyến trước và trong chiến dịch. Nhiều người đã vĩnh viễn yên nghỉ trong thung lũng và núi đồi Tây-Bắc. Du kích và quân dân địa phương phần lớn là người dân tộc thiểu số vùng Tây-Bắc. Họ bảo vệ vòng ngoài của mặt trận. Khi trọng pháo êm tiếng thì họ trở về buôn làng canh tác. Rất nhiều người đâu biết rằng họ cũng có phần trong chiến thắng Điện Biên.

Nhà báo và văn nghệ sĩ cũng có chưn trong trận đánh, với danh xưng là chiến sĩ, những người lính trên mặt trận thông tin tuyên truyền và cổ võ tinh thần lính chiến. Thầy thuốc và y tá áo trắng làm việc ngày đêm, săn sóc và chăm lo thương bịnh binh với phương tiện hết sức thô sơ. Nhờ “đôi tay vàng và lòng tận tâm” của họ mà năm ngàn thương bịnh binh Việt Nam có thể trở về hàng ngũ chiến đấu của họ.

Xuyên suốt chiến dịch “Trần Đình” (ký tín ám hiệu của Điện Biên Phủ) vô vàn giai thoại buồn vui của những người tham dự, chớ không phải chỉ riêng những “thành tích anh hùng quốc doanh” do nhà nước dựng nên xưa nay. Chị dân công Đào Thị Vinh kể chuyện gồng gánh đồ tiếp tế bận đi và thương bịnh binh bận về. Ngày nghỉ, đêm đi để tránh quan sát trên không của giặc Tây. Gồng gánh đồ tiếp tế thì đi đứng thoải mái, trái lại chuyển vận thương bịnh binh thì phải vô cùng thận trọng.

Gần tới Tết, gia đình gởi cho chị nào là bánh chưng, nào là dồi heo. Nhưng hệ thống liên lạc bưu cục bộ đội chạy chậm hơn rùa nên khi quà cáp đến tay chị đã hư thúi. Bánh chưng thì vứt đi, dồi lợn thì luộc lại với nước muối thật mặn, chớ của đâu của bỏ. Rau xanh thì lấy đâu, hái tạm “rau tàu bay” trong rừng mà trám bụng.

Anh Lò Văn Tun, đem con ngựa gia đình để thồ tiếp tế cho tiền tuyến. Những khi buồn ngủ, mắt nhắm mắt mở, anh phải nắm lấy đuôi ngựa mà đi. Còn cô Trần Thị Ngà tự thú là cô vào chiến dịch không phải vì lý tưởng cao cả gì, mà chỉ với ý nghĩ phù phiếm là được đi đây đi đó với thiên hạ.

Cô sống xa gia đình, mẹ mất sớm, đông anh chị em. Mười lăm tuổi đã đăng lính, vào đoàn văn công. Không có chuyên môn gì, múa, hát, đóng kịch đủ hết. Tưởng đâu xướng ca là ngành sinh hoạt được nuông chiều, nào ngờ cũng cực khổ không kém. Sau những ngày lặn lội lên đèo xuống suối, đêm đến cô phải ôm chưn mà khóc thầm trong bóng đêm. Hơn nữa vì khá tròn trịa đẫy đà nên đi rừng cô cứ té hoài.

Đêm đến, phòng ngủ chia hai, trai nằm xung quanh, gái nằm ở giữa, nhờ vậy nên khỏi sợ ma! Cũng đêm di hành, ngày ngủ lấy sức hay tập kịch, đúng theo quy luật của đoàn quân ma. Có khi diễn kịch bất cứ nơi đâu để cho thương bịnh binh tiêu khiển và với hy vọng làm cho họ bớt đau.

Áo quần đóng kịch thì có gì mặc nấy. Khi chiếm được Him Lam (Béatrice), mới có y phục đàn bà Thái, tịch thu trong đồn địch, tăng thêm màu mè. Trang điểm thì lấy màu đỏ bao nhang thay son môi, lọ nồi đánh bóng mắt.

Có lần đang diễn giúp vui một đơn vị công binh thì trên không máy bay địch bay lượn. Bộ đội tản mác theo phản ứng tự nhiên, trong khi kịch sĩ chẳng biết làm gì. Quýnh quáng, thủ trưởng đơn vị hô to: “Nghệ sĩ, nghiêm!” Vậy là toán trên sàn diễn đứng im như tượng đá. Máy bay qua rồi, có khẩu lịnh: “Nghệ sĩ, nghỉ!” Nhờ mọi người đứng im nên máy bay chẳng thấy động tĩnh gì.

Đối với những chiến sĩ Quân Đội Nhơn Dân Việt Nam, cuộc chiến Điện Biên kéo dài một trăm bảy mươi ngày đêm trong miền núi Tây-Bắc hẻo lánh. Chiến dịch của họ từ ngày 20 tháng Mười Một 1953, khi quân Pháp thả quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, và chấm dứt ngày 7 tháng Năm 1954, khi quân trú phòng đầu hàng.

Có những bộ đội đã kinh qua nhiều chiến dịch quân sự, còn những người khác thì mới vừa tập kỹ thuật nhà binh hoặc tập liệng lựu đạn. Bốn mươi ngàn người ở tuyến đầu, mười lăm ngàn ở tuyến sau. Binh sĩ hay sĩ quan cán bộ ai đi ra trận đều nằm lòng khẩu hiệu “Xanh cỏ, đỏ ngực”. Ý nói nếu không chết trận thì sẽ được quay về trong chiến thắng với huy chương đầy ngực.

Năm 1953, chiến tranh Đông Dương đã kéo dài tám năm. Sau chiến dịch Tây-Bắc hồi 1952 và trận đánh cứ điểm Nà Sản mà quân cộng sản bị thua, bộ chỉ huy Việt Minh nhứt quyết phải chiếm lại để phục thù. Họ coi việc quân Viễn Chinh muốn củng cố Nà Sản như là một hành động đánh trả cuối cùng trong miền rừng núi. Nếu bộ đội Việt Minh triệt hạ được các đồn bót kiên cố do những tiểu đoàn thiện chiến trấn giữ thì chắc chắn quân cộng sản sẽ nắm được ưu thế.

Một trong những mục tiêu trong chiến dịch thu-đông 1953 là phải làm sao hủy diệt được cứ điểm Nà Sản. Chiến lược gia cộng sản cho rằng chiến thắng sẽ tùy thuộc ba yếu tố: quân sĩ thuần thục, tấn công đúng đắn và tăng cường pháo mặt đất và pháo phòng không. Ba tháng đầu năm 1953, trung đoàn pháo nặng 105ly đã trở về nước sau một thời gian thụ huấn bên Tàu. Trung đoàn pháo phòng không 37ly, thành lập ngày 1 tháng Tư 1953 cũng sẵn sàng chiến đấu. Trận đánh Nà Sản chỉ còn chờ đợi mùa khô.

Ngày 8 tháng Năm 1953, Tướng Henri Navarre được bổ nhiệm Tổng Tư Lịnh lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông. Ngày 19 tháng Năm, ông đã có mặt ở Đông Dương, với nhiệm vụ tìm “một lối thoát danh dự” cho cuộc chiến. Kế hoạch Navarre dự trù giữ thế phòng ngự ở miền Bắc, bình định ở miền Nam để giao lại cho quân đội Bảo Đại, đưa quân Pháp ra Bắc mở thế tiến công chiến lược để tìm ưu thế trên bàn hội nghị.

Ngày 12 tháng Tám 1953, Pháp thình lình rút khỏi Nà Sản, cộng sản bị bất ngờ. Bộ Tư Lịnh họp lại duyệt xét tình hình và chuẩn bị chiến lược mới cho Đông-Xuân 1953-1954. Chủ trương của Pháp nhằm tập trung lực lượng cơ động. Theo khuyến cáo của Vi Quốc Thanh, trưởng ban cố vấn Tàu, cộng sản chủ trương phân tán lực lượng Pháp để đánh bại họ.

Pháp đã chiếm cứ Điện Biên Phủ từ năm 1888. Năm 1945, Nhựt hất cẳng Tây và kiểm soát vùng này. Sau khi Nhựt đầu hàng, Điện Biên rơi vào tay Trung Hoa. Tháng Sáu 1953, Navarre dự định thiết lập căn cứ quân sự tại Điện Biên vì ông cho rằng địa điểm đó có một vị thế chiến lược huyết mạch ở Đông Dương, vì nằm trên đường đi qua Lào, Thái Lan và Miến Điện. Cân nhắc lợi hại cho hai bên trong việc chiếm cứ vị trí chiến lược này, Navarre vẫn thấy cần phải nắm lấy Điện Biên để giải quyết chiến cuộc.

Ngày 20 tháng Mười Một, Pháp mở hành quân “Castor”, cho quân nhảy dù xuống Điện Biên. Tướng Giáp nhận định rằng dẫu thế nào đi nữa hành động này của Pháp cũng có lợi cho phía cộng sản, vì đúng theo ước tính của họ. Như vậy, vùng Tây-Bắc là mấu chốt chủ yếu của cuộc chiến, như chiến dịch Đông-Xuân 53-54 của Bắc Việt đã dự liệu.

Sáng ngày 20 tháng Mười Một, vùng trời Điện Biên Phủ đầy ngập vô vàn cánh dù đủ màu trắng, hoa ngụy trang và đỏ. Hành quân “Castor” đã mở màn. Trong ba ngày, lối 4.500 quân Liên Hiệp Pháp đã tập trung xuống vùng thung lũng. Lúc bấy giờ ở Điện Biên chỉ có một bộ phận của Tiểu Đoàn 910 đang di chuyển về Mường Pồn, bất chợt phải chiến đấu. Dù đỏ là của cấp chỉ huy vì rất ít, do đó quân Việt Minh được lịnh phải tiêu diệt ưu tiên dù đỏ. Từ mười giờ sáng đến mười sáu giờ, hai bên đánh nhau cật lực, quân cộng sản hết đạn và thiệt mất sáu mươi người. Cộng quân được lịnh rút vào rừng Hồng Cúm và Sam Mứn để bảo tồn lực lượng, cài lại sáu người giả dạng thường dân để dọ thám.

Không gạo, chẳng có tiền túi, toán thám báo này đi tìm dân chúng đã bị Tây bố ráp gom đi. Mất dân như cá thiếu nước, họ phải ngủ trong hang động, thâu lượm lúa để giã ra gạo và hái cải và bí rợ của dân mà ăn. Sau đó họ gặp được dân chúng chạy trốn Tây giúp đỡ.

Đêm 20 tháng Mười Một, Tướng Giáp được báo cáo Tây đổ bộ Điện Biên bèn triệu tập phiên họp tại Đồng Đau (Thái Nguyên) để điều chỉnh kế hoạch Đông-Xuân 53-54. Trung Ương Quân Ủy quyết định chuyển hướng trọng tâm chiến lược đến thung lũng Điện Biên.

Theo tiết lộ của Lê Trọng Nghĩa, Trưởng luới tình báo, thì sau chiến dịch Tây-Bắc năm 1952, chánh sách của Việt Minh là tiếp tục thế công ở đồng bằng. Nhưng cố vấn Tàu gợi ý là nên mở hành quân ở Tây-Bắc và Thượng Lào. Tình hình lúc bấy giờ là Tây đánh lẻ tẻ để thử VM còn VM thì bố trí quân chánh quy quanh đồng bằng, chỉ phái một vài cánh quân lên Tây-Bắc. Nghĩa là hai bên còn đang thăm dò nhau.

Quân Ủy Trung Ương, cũng như tình báo VM đều bị bất ngờ với việc quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên. Họ chỉ dự đoán Tây tấn công liên khu VI (Nghệ An, Thanh Hóa) và liên khu V (Quảng Nam) hay Việt Bắc (Tây-Bắc nhưng không tới Điện Biên). Việt Minh chưa nghĩ tới Điện Biên Phủ. Trong hồi ký của mình, Tướng Giáp có viết: “Sau khi quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, vùng Tây-Bắc thực sự đã trở thành trục chánh, như đã dự trù trong kế hoạch hành quân của ta. Tôi thảo luận với những cục trong Bộ Tổng Tham Mưu để điều chỉnh kế hoạch.”

Ngày 12 tháng Mười Hai 1953, Tướng Cogny ra lịnh quân trú phòng Lai Châu di tản khỏi thị trấn này, rút về tăng cường Điện Biên Phủ. Phạm Quang Vinh, Phó Chánh Ủy Trung Đoàn 98, Sư Đoàn 316, được lịnh đưa Tiểu Đoàn tiếp quản Lai Châu khi vừa tới Tuần Giáo. Từ Tuần Giáo đến Lai Châu TĐ phải di chuyển trên bốn xe tải. Đi được bốn mươi cây số, bộ đội, vốn là nông dân, không quen đi xe hơi nên ói mửa tùm lum nên phải xuống xe hành quân bộ đến Lai Châu.

Cán bộ quân báo Nguyễn Việt, Bộ Tổng Tham Mưu tâm sự là Việt Minh không có bản đồ quân sự của vùng Điện Biên, mà chỉ có bản đồ hành chánh, trên đó địa danh Điện Biên Phủ chẳng thấy đâu hết. Qua điều tra tù binh Tây, cộng sản thâu lượm được một số chi tiết để vẽ nên bản đồ địa hình Điện Biên.

Ngoài ra, họ còn phái quân đi tìm dữ kiện và tin tức liên hệ đến cứ điểm Điện Biên. Trong đêm Giáng Sinh 1953, họ đi săn nhặt những chiếc dù mà Tây nhảy xuống rồi bỏ lại trên ruộng, bên ngoài vòng rào kẽm gai. Họ lượm được hai chiếc dù màu đỏ và trắng, có cái hộp thiếc còn dính trong dù. Mở ra thì “buồn ngủ lại gặp chiếu manh”, họ tóm được hai mươi lăm bản đồ tỷ lệ 1/25.000 và ba mươi hai không ảnh Điện Biên Phủ.

Các đơn vị chánh quy Quân Đội Nhơn Dân được điều động đi Điện Biên đều mù tịt không được biết nơi đến. Chỉ khi nào gần đến nơi mới được cho biết. Phần đông đều nói rằng “hồ hởi phấn khởi” khi được lịnh ra tiền tuyến. Dọc theo các tuyến đường ra tiền tuyến, nhà nước tổ chức một bầu không khí lễ hội để tác động tâm lý. Những cánh quân đang di chuyển thường sinh hoạt trong đêm để tránh máy bay Pháp quan sát, kể cả việc nấu ăn.

Trong hàng ngũ quân đội nhơn dân cũng có trường hợp “lính cậu” như anh bộ đội Lê Hải, TĐ 536 thuộc SĐ 316. Anh ta là sinh viên bị bắt lính nên đồng đội coi như là thứ “tiểu tư sản”. Mặt còn cấu ra sữa, yếu đuối, tay chưn vụng về, không như những người nông dân. Cái gì bạn bè đồng ngũ cũng phải làm cho anh. Để đền bù lại, anh kể chuyện đời sống đô thị, kể chuyện phim cao bồi, thuật chuyện “Les misérables” của Victor Hugo cho họ nghe.

Đoạn đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên bị bỏ hoang từ lâu, nên phải dọn dẹp gấp, bằng dụng cụ thô sơ, cho nhu cầu hành quân. Trong vòng một tháng, với sự trợ lực của tiểu đoàn dân công và thanh niên xung phong, đơn vị công binh của Ung Răng cũng hoàn thành được sáu mươi cây số đường. Ngụy trang công tác tùng tu con đường cũng gay go không kém. Phải vào rừng sâu hái lá tươi để che phủ những đoạn đường mới làm và vài ba ngày phải thay lá mới.

Việc nuôi quân trong bước đầu vào chiến dịch khá phức tạp. Vùng Sơn La, Lai Châu, Yên Bái thưa dân, nông nghiệp lạc hậu nên nguồn lương thực thực phẩm tại chỗ là cả một vấn đề. Lúa thì có đó, tuy ít ỏi, nhưng biến thành gạo thì không có nhà máy xay xát. Bộ đội và dân công biến thành lực lượng xay xát với cối chày thủ công.

Công tác chuẩn bị để bắt đầu trận đánh gặp nhiều trễ nải vì nhiều lý do. Trọng pháo chưa tới kịp vị trí vì đường đi khó khăn, lương thực thực phẩm hao hớt vì bộ đội và dân công phải ăn trong thời gian chuẩn bị. Vậy mà, giữa Tướng Giáp cùng bộ tham mưu và cố vấn Tàu của ông có mâu thuẫn với nhau về cung cách hành quân. Tướng Giáp chủ trương “Đánh Chắc, Thắng Chắc” trong khi bộ tham mưu và cố vấn Tàu lại chủ trương “Đánh Nhanh, Thắng Nhanh”.

Bởi những trục trặc ở cấp chỉ huy, lịnh tấn công của Việt Minh được dự trù vào ngày 25 tháng Giêng bị nghi ngờ là đã bị tiết lộ vì một bộ đội bị bắt đã khai ra. Thật ra kế hoạch mở màn tấn công bị tiết lộ vì Tây đã giải mã được một công điện của Tổng Cục Hầu Cần tiền tuyến gởi cho hậu phương. Năm nghi, mười ngờ, không cấp chỉ huy nào dám bảo đảm sẽ chiến thắng trăm phần trăm, nên mọi người đều gợi lại lời dặn của Hồ Chí Minh: “Trận đánh nầy là tối quan trọng. Nhất định ta phải thắng. Chỉ tấn công khi nào ta chắc được. Bằng không, thì thôi!”

Như vậy là lịnh tấn công quân trú phòng Điện Biên được dời đi, dẫu đã tới gần thời điểm. Cố vấn Trung Quốc cũng phải chịu thôi. Tướng Giáp ra lịnh: “Tôn trọng tinh thần và quyết định của Bác, tôi tuyên bố dời cuộc tấn công đêm nay đến một thời hạn sau. Kéo pháo trở về, rút lui chiến sĩ, ta chuẩn bị tiến công theo khẩu hiệu “Đánh chắc, tiến chắc”

Quân Việt Minh bỏ ý định tấn công ngày 26 tháng Giêng 1954 mà chẳng có giải thích gì hết, chỉ có lịnh “Rút lui”. Mệt mỏi, xao xuyến vì hao hụt đồng chí quá nhiều trong thời kỳ chuẩn bị, bộ đội phải rút vô rừng, tinh thần xuống dốc vì chưa đánh đấm gì đã rút. Lịnh thu quân để thay đổi chiến thuật tấn công làm cho bộ đội nghi ngờ là Việt gian đưa tin vịt phá hoại. Sau này, nghĩ lại nhiều người công nhận dời ngày tấn công và thay đổi chiến thuật là đúng.

Đình chỉ tấn công xong, cộng sản làm một hành động nghi binh, phái Sư Đoàn 308 di chuyển qua Luang Prabang ngay. Để dánh lạc hướng quân Pháp và để cho quân cộng sản rút khỏi lòng chảo Điện Biên dễ dàng. Sư Trưởng Vương Thừa Vũ nhận lịnh trực tiếp của Tướng Giáp lúc 14g30 và 16g00 phải lên đường ngay. Trong khi đó một đài phát tin, cứ ba lần trong ngày loan tin mật mã cho biết SĐ 308 đã đến đâu đó, giả như SĐ đã rút về vùng châu thổ.

Tháng Hai 1954, chiến thuật “Đánh chắc, tiến chắc” đã được phổ biến cho toàn quân. Từ hậu phương đến tiền tuyến ai cũng chờ đợi giờ G, giờ tấn công. Trong khi chờ đợi không phải nằm yên bất động mà cũng có nhiều hoạt động quân sự như đụng độ lẻ tẻ của những bộ phận thám sát, như củng cố vị trí pháo binh, như sửa đường,…

Cái gì phải đến đã đến, đợt tấn công thật sự đầu tiên vào cứ điểm Điện Biên bắt đầu lúc 17g ngày 13 tháng Ba 1954. Mấy ngày trước đó quân Việt Minh đã chuẩn bị. Phạm Văn Nhâm, tổ đặt chất nổ SĐ 312, cho biết là từng tổ “tam chế” được lịnh lấy tre làm những lồng cao 1m, dài 2m chứa thân chuối rừng để làm khiên chống đạn. Đêm đến, họ xếp hàng một, lấy tay, không được xài cuốc xuổng, đào giao thông hào đừng để cho địch phát hiện. Vậy mà địch cũng bắn nhiều loạt súng làm thiệt hại khá nhiều. Công tác tiến triển chậm chạp, suốt đêm mà chỉ đào được 20cm, 30cm chiều sâu.

Sự xuất hiện lần đầu tiên của pháo 105mm và pháo cao xạ làm cho quân Pháp phải ngạc nhiên. Tuy vậy trong ngày đầu giao chiến, pháo cao xạ không hạ được chiếc nào. Nhâm cho biết: “Suốt hai giờ đánh nhau không chọc thủng được tuyến của địch mà chất nổ gần cạn kiệt. Tình hình rất căng vì thiệt hại nặng, đạn pháo rơi tới tấp. Bỗng sau lưng chúng tôi có tiếng la to khẩu hiệu để động viên tinh thần ‘Đảng viên, trung kiên của Đảng hãy tiến lên!'” Bấy giờ, con đường duy nhứt đúng là lao lên phía trước, không còn cách nào khác vì nằm lại cũng chết.

Ngày 15 tháng Ba, sau khi giải quyết xong chiến điểm yểm trợ Gabrielle ở phía Bắc, quân cộng sản định dòm ngó đến các chiến điểm yểm trợ trung tâm (Mường Thanh) và phía Nam (Isabelle). Suốt đợt tấn công, phần lớn quân Việt Minh chiến đấu dưới giao thông hào.

Đặng Hùng Mạnh tâm sự rằng, quân cộng sản sinh sống thường trực dưới giao thông hào. Hệ thống này rất nhiều đến đổi phải có bảng chỉ đường nếu không thì chẳng biết lối nào mà đi. Mưa xuống là hầm hố đầy bùn nhão nhoẹt đặc quánh như cháo nếp. Bọc cơm sấy dính đầy bùn, phải lấy lưỡi lê vạc bỏ mà ăn. Đói lòng, bộ đội phải lượm thóc dân bỏ ngoài ruộng mà giã thành gạo để nấu ăn. Muốn có chất thịt thì bắt trâu, heo của dân chạy lạt mà giết.

Trâu khôn lắm, gặp nguy là túm tụm lại thành đàn, những con lớn bao vây vòng ngoài, day mặt ra ngoài, che chở những con nhỏ. Thấy nguy, một con bỏ chạy là cả bầy phóng theo. Như vậy, chúng làm ồn lên báo động Tây nả súng tới tấp.

Trần Quốc Chân, Trung Đội Trưởng một Tiểu Đoàn Cao Xạ kể rằng đơn vị anh đóng dưới chưn đồi Gabrielle. Sáng sớm ngày 15 tháng Ba, máy bay Tây bắn phá và ném bom ồ ạt xuống mấy ổ pháo cao xạ. Đại Đội Trưởng, Đại Đội Phó, một số cán bộ và binh sĩ tử thương. Cụm pháo chỉ còn lại hai cây súng, trong đó một cây bị kẹt nòng, Trung Đội Trưởng được trên chỉ định nhiệm chức chỉ huy ổ pháo. Sau hai ngày 17 và 18, bắn hạ được sáu máy bay địch, trong đó có một B26.

Ngày 28 tháng Ba, Pháp mở cuộc phản công về phía Tây, nhằm tiêu diệt những ổ pháo cao xạ. Lối 400 bộ đội hy sinh và Quân Đội Nhơn Dân mất nhiều súng đại liên và trọng pháo. Bộ đội Bùi Minh Đức thuộc Đại Đội 229, Tiểu Đoàn 322, Trung Đoàn 88, Sư Đoàn 308 kể rằng:

“Sáng ngày 28 tháng Ba, từ phía sau, tôi mang khẩu phần gạo đến đơn vị. Khi đến ngã rẽ giao thông hào dẫn tới vị trí Đại Đội, tôi nghe một tiếng súng nổ chát chúa. Đem giấu phần ăn, súng cầm tay tôi lao tới vị trí đơn vị.”

“Trong tổ “tam chế” của tôi, Lẫm là trưởng tổ, người thứ ba tên Thanh, lính mới, trẻ nhứt, nhỏ hơn tôi hai tuổi. Khi thấy quân dù cách xa chúng tôi chừng ba mươi thước, Lẫm ra lịnh nổ súng. Vài tên lính dù ngã xuống, những tên khác mọp xuống và bắn tiếp tục. Bỗng nhiên, không nghe tiếng súng phía Lẫm nữa, tôi chạy tới thì Lẫm đã ngã xuống, người đầy máu.”

“Uất hận, tôi lấy khẩu tiểu liên của Lẫm, nhả đạn ra phía trước, về hướng mấy nón sắt. Rồi Thanh cũng bị một viên đạn vào ngực chết tốt. Đơn vị tôi mười hai người có nhiều người chết và bị thương. Tuy vậy, chúng tôi cứ tiếp tục chiến đấu. Những người bị thương nạp đạn, mở chốt lựu đạn cho những người lành mạnh. Xung quanh tôi súng nổ, khói đen và bụi bay tùm lum. Hai tay hai súng, tôi bắn trả hai hướng khác nhau, chạy tới chạy lui trong giao thông hào.”

“Đợt tấn công đầu tiên rồi cũng lắng dịu. Trong đoạn giao thông hào của Trung Đội 2 chỉ còn lại hai người có khả năng chiến đấu là y tá Phương và tôi. Phương bảo tôi ở lại để Phương cỏng một thương binh ra phía sau. Phương trở lại thì địch lại bắt đầu tấn công. Phương và tôi chạy tới chạy lui để cố đẩy lùi cuộc tấn công.”

“Rồi đợt thứ ba lại tiếp nối. Quân dù nả súng làm Phương bị thương. Một lát sau, tôi nghe tiếng súng nổ rồi tất cả tối sầm, máu chảy xuống gò má tôi. Hai mắt tôi trúng đạn. Tôi bảo Phương: “Tớ còn hai tay, cậu còn đôi mắt. Cậu hướng dẫn, tớ nổ súng.” Đúng lúc đó, Tiểu Đoàn kéo tới tiếp viện.”

Năm giờ chiều ngày 28 tháng Ba, Lê Văn Huỳnh một Tiểu Đội Phó của SĐ 308 được lịnh chánh ủy đem ba mươi người đến làng Pe Luông để phụ chôn xác chết. Chúng tôi đến nơi trời bắt đầu tối. Một cảnh tượng hết súc não lòng. Cả Đại Đội tiêu điều, công sự tang hoang, xác chết mất tay, cụt chưn, mặt mày biến mất vì bị chiến xa địch nghiền nát.

Trời tối đen, chúng tôi chôn cất đồng đội đồng chí trong bóng tối, nuốt nước mắt hận thù, quyết tâm phải chiến thắng để rửa hận. Mỗi xác được quấn trong vải dù của Tây, thâu lượm trên chiến trường, tất cả cho vào hố chôn tập thể. Đến một giờ sáng mới xong. Mỗi người trong chúng tôi giữ một phút yên lặng để tưởng niệm những bạn bè đã tức tưởi ra đi.

Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. Quân cộng sản nhứt định phải chiếm cho được các cao điểm phía Đông và những điểm yểm trợ phía Tây sân bay Mường Thanh. Đó là những vị trí then chốt của cứ điểm Điện Biên. Vì vậy nên những trận đánh qua lại tới lui cứ cù cưa kéo dài từ 30 tháng Ba đến 4 tháng Tư, làm cho thương vong hai bên đều nặng nề. Bên Việt Minh, bên Tây, bên nào cũng cho đồi Eliane là quan trọng, là “mắt thần”, phải chế ngự nó mới làm chủ được chiến trận.

Nguyễn Dũng Chí, TĐ 251 của SĐ316 tiết lộ một kinh nghiệm sống chiến trường là bỗng nhiên tất cả đều hoàn toàn yên lặng, một sự im lặng dễ sợ, sau bao nhiêu tiếng ồn, súng nổ, đạn bay, tiếng phi cơ nhào lộn, tiếng người la hét,… Đêm tối đen, quân tôi thiệt hại bộn bàng, tôi bàng hoàng lo sợ, tay chưn bủn rủn. Tôi có cảm tưởng như đồng bạn đồng chí đã tiêu tan hết, chỉ còn lại có mỗi mình tôi. Tôi không biết địch quân có đang rình mò tôi không. Tôi kêu lên đại “có ai không?” May quá có tiếng người quen trả lời. Giây phút đó một tiếng nói của con người quý hóa vô cùng!

Trận đánh đồi Eliane thật gay go. Trong đêm 30, quân Việt Minh không tài nào dứt điểm được với mục tiêu. Quân Pháp đánh trả quyết liệt. Bình minh, TĐ 249 SĐ 316 chỉ còn lại chừng mươi người. Tiểu đoàn khác cũng cho biết là chẳng còn mạng nào hết. “Chiến hữu chúng ta chiến đấu dũng cảm và hy sinh oai hùng!”

Chúng tôi vào trận trên đồi Eliane mà không biết địa thế gì hết. Súng đạn bọn Tây quét như điên. Nhiều cánh quân tấn công chẳng giao thông hào gì hết, phải tiến lên trên bãi trống trơn nên thiệt hại quá nặng nề. Tiếp tế không đến kịp, quân còn sống phải tước lấy gạo xấy của người chết mà ăn. Hột gạo đẫm máu cứng đờ cũng phải nuốt, chớ làm sao bây giờ. Sáng ngày 2 tháng Tư, trên cho lịnh rút, TĐ 174 vào thay thế. Trước khi vào trận TĐ gồm có ba Đại Đội lối ba trăm quân. Kiểm điểm lại chỉ còn mười bảy người nguyên vẹn.

Đơn vị rút về phía sau để bổ xung. Chúng tôi phải thâu nhận những cậu bé mười sáu tuổi đầu làm tân binh, chưa biết gì về cây súng. Đơn vị tổ chức khẩn trương dạy cho họ tháo ráp súng, nhắm bắn. Đào tạo, huấn luyện họ mà trong đầu nghĩ rằng các cậu này rồi sẽ chết trận ngay ngày xuất quân đầu tiên. Những người đó dấn thân vào cuộc chiến mà không ai có thì giờ đâu ghi nhận lý lịch và ghi nhận chiến tích của họ.

Thương bịnh binh nằm la liệt chờ dân công di tản, còn xác chết thì, ôi thôi nói sao cho xiết. Thây người cứ nằm chờ, làm bia cho súng đạn pháo cứ đua nhau dập. Đánh nhau đã thô bạo và tàn nhẫn, thân người thương và bịnh binh bị súng đạn dày vò trông còn dã man và độc ác hơn nhiều. Có những xác phải nằm chờ mấy ngày liền, thịt xương còn lại gì. Có ngất ngư rồi cũng chết thôi. Còn ai lo nhận diện, còn ai ghi họ, tên, quê quán, thân nhơn để báo tin. Những chiến sĩ hy sinh không cần để lại tên tuổi.

Ngày 30 tháng Ba, Sư Đoàn 312 chiếm được đồi Dominique, biến nó thành cứ điểm phòng ngự của mình. Nguyễn Hữu Chấp, trưởng một toán súng cối của Sư Đoàn 312 kể rằng họ ở trên đồi Dominique được một tháng bốn ngày, tinh thần hết sức căng thẳng. Chỉ cần một quả đạn súng cối bắn đi là hàng chục quả pháo của Tây bắn trả, có cả pháo 105mm. Máy bay vần vũ trên đầu và đua nhau ném bom.

Căng thẳng thần kinh, mệt nhọc, thiếu ngủ đủ hết. Chúng tôi luân phiên nhau nhắm mắt và ngủ như chết đến đổi súng đạn nổ ì ầm cũng cứ ngủ. Các “anh nuôi” từ phía sau tiếp tế cho chúng tôi, cơm vắt ăn với cá khô, nước mắm đặt hay muối rang mè và nước uống bằng ống tre. Có hôm tổ “anh nuôi” bị pháo chết, vậy là chúng tôi phải nhịn đói.

Từ đầu tháng Tư, mùa mưa đã bắt đầu, hai SĐ 308 và 316 phải hội tụ về hướng Tây của lòng chảo và hướng sân bay Mường Thanh. Đất đai nhão nhoét, họ phải đào công sự và giao thông hào nhằm cắt ngang đường băng sân bay và để chiếm đóng cứ điểm yểm trợ Huguette. Đây là cứ điểm then chốt của địch vì nó bảo vệ đường băng và bãi nhảy dù. Chuyện đào hầm hố rất khó khăn vì trong tầm quan sát của địch nên phải nằm mà đào. Một ngày và một đêm đào được chừng 50m. Cuối cùng hai SĐ cũng gặp được nhau và cắt được đường băng Mường Thanh.

Bây giờ đến phiên điểm tựa Isabelle, ở phía Nam của cụm cứ điểm, có một sân bay nữa, sân bay Hồng Cúm. Đây là mặt trận thứ hai, quan trọng không thua gì Huguette. Mục đích là phải làm sao cô lập Isabelle với tập đoàn cứ điểm phía Bắc.

Đến tháng Tư, quân Bắc Việt mở đợt tấn công thứ ba, với những chỉ thị hành quân mới và có thêm võ khí mới. Phải tiếp tục quậy phá địch không ngừng, phải làm cho chúng mất tinh thần và phải cho chúng thường xuyên bị căng thẳng, chẳng lúc nào được yên thân. Quân cộng sản đưa vào hai chiến cụ mới, một là dàn phóng hỏa tiễn Katyusha tục gọi là “dàn pháo Staline” (orgue de Staline) và đường hầm chứa chất nổ.

Vũ Đình Sáo, cán bộ Đại Đội Thám Báo 98 thuộc SĐ 316, cho biết rằng trên yêu cầu làm sao lấy tin tức về đồi Eliane. Điểm tựa này được chín vòng kẽm gai bao quanh. Việt Minh chủ trương bắt cóc một lính canh Pháp để tìm hiểu hệ thống phòng ngự. Vào lúc sáng sớm, lính canh mỏi mệt thường hay chểnh mảng nên thời điểm đó rất thuận tiện. Phải mất ba đêm mới tìm được lối vào qua chín vòng rào kẽm gai. Ba người bộ đội bò vào, một cặp cổ, một bịt miệng và một cướp súng. Điều tra ngay tại chỗ, chúng tôi vẽ lại được sơ đồ cứ điểm yểm trợ, nhưng không biết sao đơn vị không tấn công.

Đỗ Ca Sơn, cán bộ quân báo thuộc SĐ 316, tâm sự rằng nghe người ta nói “Giẫm lên xác quân thù mà đi” có vẻ cải lương quá, nhưng sự thật ở cứ điểm Điện Biên là như vậy, dẫu biết rằng làm như vậy là vô nhơn đạo. Thậm chí còn phải đi lên xác quân bạn nữa. Mưa, nắng, chiến trận rất nhẫn tâm với xác chết. Chúng tôi ngại ngùng bước đi trong giao thông hào vì bùn nhão nhoét bám chặt vào chưn và trong bùn đó có cả máu thịt quân bạn lẫn quân thù. Tôi có trình độ, tôi biết chút ít tiếng Pháp. Đôi khi tôi nghe quân lính đối phương la to trước khi buôn súng ngã ra chết. Họ kêu “Mẹ ơi!” Còn sống họ muốn giết đối phương cũng như mình muốn giết họ. Nhưng chết đi thì thực dân hay lính đánh thuê đều như chúng tôi, cũng còn trẻ chưa vợ, kêu mẹ trước khi nhắm mắt.

Trước đợt tấn công thứ ba, Quân Đội Nhơn Dân được tăng cường một tiểu đoàn phóng hỏa tiển sáu ống, tên gọi H6. Vì võ khí mới nên phải có huấn luyện trong bảy ngày ở hậu tuyến Tuần Giáo. Tiểu đoàn gồm có mười hai giàn phóng. Cố vấn Tàu phụ trách việc huấn luyện.

Từ ngày 01 đến 06 tháng Năm, đợt tấn công thứ ba của quân Việt Minh đã biến thành đợt tấn công dứt điểm. Tất cả nỗ lực hành quân đều tập trung vào cứ điểm Eliane và những điểm yểm trợ phía Bắc và phía Tây sông Nam Youn. Thời điểm nổi bật là tiếng nổ của một tấn thuốc nổ mà quân cộng sản đã cày dưới Eliane qua những đường hầm.

Trước khi một tấn thuốc súng nổ tung, phần lớn bộ đội ai cũng có cảm tưởng là mình sẽ hy sinh, nên đòi mặc quân phục mới và ăn hai phần ăn để có chết khỏi tiếc rẻ. Trần Quý, trưởng một đội chất nổ của SĐ 316 tâm sự:” Đêm 6 tháng Năm, khi hầm chất nổ sắp hoạt động, tôi chỉ cách nơi đó không đầy 50 thước. Tôi không còn đầu óc đâu để nghĩ đến cái chết. Tôi nghĩ đến gia đình. Bố tôi là quan lại đã hy sinh cho Cách Mạng. Lâu rồi tôi chẳng có tin tức gì của mẹ tôi. Tôi thầm nghĩ, tôi mà chết đi trong trận này, gia đình tôi chẳng còn ai nối dõi. Tôi là con một. Cuộc tấn công bắt đầu, tất cả suy nghĩ đó bay đi đâu mất.”

Ngày 7 tháng Năm 1954, là ngày cuối cùng của Điện Biên Phủ. Tạ Quốc Luật chỉ huy một toán tiến đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân (PC) của địch để bắt sống Tướng De Castries. Luật, Bùi Văn Nhỏ và Hoàng Đăng Vinh, ba người tiến vào PC, chừng hai mươi sĩ quan Pháp đứng lên. Đồng chí Luật hô to: “Rendez-vous!” Chỉ một mình Tướng De Castries cứ ngồi yên. Vinh đi thẳng đến De Castries, trừng mắt. Ông Tướng đứng lên, đưa tay mặt ra bắt. Giựt mình, Vinh chĩa súng vào ngực ông ta và hô to: “Haut les mains!”, câu tiếng Tây duy nhứt của Vinh. De Castries đưa tay lên và nói một câu được Luật dịch lại “Ne tirez pas, je me rends.”

Vũ Lăng, Trung Đoàn Trưởng của SĐ 316 bảo Phạm Minh, Tham Mưu Phó: “Dây điện thoại của Trung Quốc viện trợ nặng quá, của Tây thì mảnh khảnh và nhẹ hơn nhiều. Nói tù binh Tây cho biết sơ đồ hệ thống dây của bọn chúng để mình thu hoạch.”

Bộ đội Trần Hữu Đức kể lại có một tù binh Tây bị bịnh không thể đi theo được đoàn, bộ đội cho anh ta nằm lên mình trâu đi theo. Bị một bộ đội làm té xuống rãnh. Lính Tây giận quá trừng mắt và chửi thề. Anh bộ đội có hiểu gì đâu cho đến khi một cán bộ giải thích đó là câu chửi thề nặng, thì anh bộ đội nổi sùng. Hôm sau, anh chận đường một sĩ quan Tây cho tên này một trận đòn, nhưng rủi thay không phải người chửi thề hôm qua!

Hoàng Đăng Vinh, người đã bắt Tướng De Castries tại bộ chỉ huy cứ điểm Điện Biên tâm sự:

“Tôi gặp lại De Castries lần thứ hai, ngày 20 tháng Năm, nhơn dịp nhà làm phim Xô Viết Karmen quay đoạn phim tài liệu, trong một khu rừng già. Tôi lại đối diện với tên tướng địch. Một cán bộ chỉ tôi và hỏi ông tướng:
– Ông có biết ai không?
– Nếu tôi không lầm thì dường như tôi đã có lần gặp ông ấy.

“Người cán bộ khen ông tướng có trí nhớ tốt. De Castries quay sang tôi nói:
– Tôi rất hân hạnh nếu được chỉ huy những người lính dũng cảm như các ông.

Tôi phản ứng ngay:
– Xấc láo! Làm sao ông có thể chỉ huy tôi? Chính tôi đã bắt ông mà.

Về sau, tôi cảm thấy xấu hổ đã nói thế…

“Mấy hôm sau ngày 7 tháng Năm, nhà làm phim Xô Viết Roman Karmen và nhiều chuyên viên Việt Nam “lưu lại hậu thế” một cuộc dàn cảnh được thể hiện lại trên phim, hàng đoàn tù binh nối đuôi nhau đi. Hai tay đưa cao, vải dù làm cờ trắng, dung nhan tiều tụy, chiến trường tràn ngập chiến sĩ của Quân Đội Nhơn Dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với cờ xí tung bay… Người ta đã thắng Điện Biên Phủ như thế đó.”

Ngày hôm sau 8 tháng Năm 1954, Hội Nghị Genève về Đông Dương được triệu tập ở Thụy Sĩ. Kết quả đương nhiên là Hiệp Định ký kết ngày 21 tháng Bảy, kết thúc chiến tranh Đông Dương đợt một, cắt đôi đất nước ở vỹ tuyến 17, và chứa đựng mầm móng của cuộc chiến Việt Nam tiếp theo sau đó.

Phan Quân

Hung Lee's photo.
Hung Lee's photo.

Tìm hiểu Trump để biết đường đối phó, họ Tập đã phải gặp Kis.!

Không hiểu nổi Donald Trump, Trung Quốc viện tới “người bạn cũ” Henry Kissinger

binh-kis

Ông Kissinger và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong cuộc gặp ngày 2/12. Ảnh: Getty Images.

Giống như hàng chục năm qua, Henry Kissinger một lần nữa lại đóng vai trò như một “con thoi” giải tỏa căng thẳng và kết nối Mỹ với Trung Quốc. Lần này, vị cựu Ngoại trưởng nay đã 93 tuổi sẽ giúp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiểu hơn về Donald Trump.

Năm 1971, trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Trung đang dần ấm lên sau một thời gian dài căng thẳng, Kissinger khi đó là Ngoại trưởng Mỹ đã có một chuyến đi tiền trạm bí mật sang Bắc Kinh nhằm dọn đường cho chuyển thăm lịch sử của Tổng thống Richard Nixon.

Và hôm thứ 6 vừa qua (2/12), nhà ngoại giao nổi tiếng này đã quay trở lại Bắc Kinh để gặp mặt các nhà lãnh đạo Trung Quốc sau 2 tuần bàn bạc với Tổng thống đắc cử Donald Trump. Với những cam kết của Trump về thái độ đối với Trung Quốc trong suốt chiến dịch tranh cử, chắc hẳn các nhà lãnh đạo của đất nước châu Á đang cố gắng đánh giá sắp tới động thái của Mỹ sẽ là gì.

“Chúng ta đang ở trong thời khắc lịch sử. Chúng tôi, bên phía Trung Quốc, đang theo dõi tình hình rất sát sao”, Bloomberg dẫn lại lời Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong buổi tiếp đón ông Kissinger tại Đại lễ đường nhân dân Trung Hoa. “Chúng tôi sẽ chăm chú lắng nghe ngài nói về tình hình thế giới hiện nay và về tương lai quan hệ Mỹ – Trung”.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ đã đáp lại bằng lời cảm ơn Trung Quốc vì đã nói rõ những suy nghĩ và mục đích dài hạn của những chính sách mà Trung Quốc theo đuổi.

Những lời đe dọa về một cuộc chiến thương mại

Việc phải dùng đến một “người bạn cũ” nay đã ở tuổi 93 và rời chính trường từ hơn 40 năm nay cho thấy giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang có một khoảng cách rất lớn bất chấp số phận của hai cường quốc này ngày càng bện chặt vào nhau.

Theo Gao Zhikai, thông dịch viên cho cố lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và là người từng thường xuyên làm việc với ông Kissinger, việc có một người đóng vai trò là “chiếc cầu nối” không chính thức có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với Trung Quốc và Mỹ để hai quốc gia này có thể phát triển lợi ích chung và tránh được những tính toán sai lầm đáng tiếc. Kissinger là một người mà chẳng ai có thể thay thế được.

Trong khi Trung Quốc hiểu quá rõ về cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, họ gần như không có bất cứ dữ liệu lịch sử nào để đánh giá Donald Trump. Tất cả những gì họ có là những cam kết khi tranh cử của Trump – những lời dọa nạt chưa chắc đã trở thành hiện thực. Trump từng buộc tội Trung Quốc cướp mất việc làm của người Mỹ, gắn cho nước này cái mác thao túng tiền tệ và dọa sẽ áp mức thuế cao chót vót đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

“Donald Trump không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ nào”

Phía Trung Quốc kỳ vọng sau cuộc gặp với Kissinger, thái độ của Mỹ với một vài vấn đề chính sẽ dần sáng tỏ. Trong cuộc điện đàm hôm 14/11, ông Tập cũng đã nói với Trump rằng hợp tác là lựa chọn đúng đắn duy nhất cho mối quan hệ Mỹ Trung.

Theo các nguồn tin thân cận, ngày 18/11, ông Kissinger đã có cuộc gặp mặt với Donald Trump sau một vài cuộc điện thoại trước đó. Sau cuộc gặp, Kissinger nói với phóng viên CNN rằng mọi người “không nên cố đóng đinh ông ấy vào những vị trí mà Trump đã thể hiện trong suốt chiến dịch tranh cử”. “Donald Trump là vị Tổng thống đắc cử độc đáo nhất mà tôi đã từng tiếp xúc: ông ấy không có chút hành lý chính trị nào. Trump không có bất kỳ nghĩa vụ nào trước bất kỳ nhóm người cụ thể nào, bởi ông ấy trở thành Tổng thống dựa trên chiến lược của riêng mình. Đây thực sự là tình huống độc nhất vô nhị”.

Người bạn cũ của nhân dân Trung Hoa

Kissinger, tác giả của cuốn sách “On China” viết về Trung Quốc xuất bản năm 2011, đã tới thăm Trung Quốc tổng cộng hơn 80 lần kể từ chuyến công tác bí mật năm 1971. Mỗi chuyến thăm đều được truyền thông nhà nước Trung Quốc ca ngợi, họ miêu tả ông là một “người bạn cũ của nhân dân Trung Quốc”.

Kissinger cũng là một trong những chuyên gia Mỹ (bao gồm cả cựu Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson và Elaine Chao, người vừa được Trump đề cử làm Bộ trưởng Giao thông vận tải) gặp Tập Cận Bình năm 2012, trước khi ông lên làm Chủ tịch. Nhóm này đã cố vấn cho ông Tập rằng thường xuyên liên lạc với các lãnh đạo Mỹ sẽ là điều quan trọng hơn so với những chuyến thăm chính thức.

Tim Summers, chuyên gia đến từ tổ chức tư vấn độc lập Chatham House (Hồng Kông), nhận định trong thời gian tới Trung Quốc và Mỹ sẽ thiết lập được một số kênh ngoại giao nhưng cần phải có thời gian. Không giống như Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, ông Tập Cận Bình “sẽ không ghé thăm tòa tháp Trump” ngay lập tức, bởi vậy sẽ có một khoảng thời gian quan hệ Mỹ – Trung là một ẩn số lớn.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

Hoàng Hải Thủy – Viết Ở Rừng Phong Tháng Mười Hai 1, 2016 !

Posted on by hoanghaithuy.

nguyendinhtoan2

Sáng vào Thu, mưa nhẹ trên Rừng Phong, những cành cây trụi lá. Người lưu vong già ngồi nhìn trời qua cửa sổ. Những con sóc theo nhau chuyền cành. Loài sóc không di chuyển dưới đất, sóc bao giờ cũng đi đôi. Và đi trên cây.

Việt Nam có sóc hay không? Tôi không biết. Khi đến Hoa Kỳ  tôi mới thấy sóc.

Một buổi sáng 20 năm xưa, anh Nguyễn Sơn, nhân viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA. Voice of America – đưa tôi đến trụ sở Đài trong Washington DC. Xe của anh phải đậu trong một chỗ đậu xe xa trụ sở đài. Tôi theo anh đi bộ đến đài. Trên đường đi tôi nhín thấy những con sóc chuyền cành, chạy qua đường. Đấy là những con sóc đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời tôi. Trong 20 năm tôi thắc mắc: loài sóc sống bằng trái cây. Những cây xanh trong thành phố không cây nào có trái, loài sóc trong thành phố sống bằng gì?

Ra khỏi giường lúc 5 giờ sáng, 6 giờ sáng tôi ngồi uống cà phê, xem TiVi, nhìn trời qua khung cửa sổ. Trong 40 năm tôi sống và viết ở Sài Gòn nhiều năm tôi muốn được ngồi viết trước khung cửa sổ nhìn ra trời xanh. Ước muốn ấy của tôi ít khi được toại. Nay căn phòng của vợ chồng tôi có cửa sổ mở ra hướng đông nam, buổi sáng nắng vàng chan hòa trong phòng. Đêm trăng Mỹ qua cửa sổ vào nằm giữa phòng tôi. Có những nửa khuya tỉnh giấc, nhìn khung trăng vàng nằm trên sàn phòng, tôi nhớ Thơ Lý Bạch;

Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

Trước giường nhìn ánh trăng
Tưởng như sương trên đất
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.

o O o

nguyendinhtoan

Bẩy giờ sáng, mở computer, thấy thư của Nguyễn Đình Toàn:

Gửi HHT

Tụi mình đứa nào cũng ngoài Tám Bó, nhưng còn sống thì cứ sống thôi. Bà vợ tao nay gần như hoàn toàn không biết gì, phải được trông nom như một đứa trẻ. Nay tao lấy cái Buồn làm Vui.

Tao vẫn đọc mày những khi tao có báo đăng bài mày.

Thỉnh thoảng Văn Quang gọi phone cho tao, chuyện trò lan man, sức khỏe, thuốc, cấp cứu, bệnh viện. Nay chàng lên cầu thang không nổi, nên bỏ cả chuyện ra phố uống cà phê với các ông bạn ở nước ngoài về.

Mày với tao chắc khó lòng còn có ngày gặp lại Văn Quang. Hai thằng mình sống ngay trên đất Mỹ mà còn khó gặp nhau, nói gì đến chuyện gặp VQ ở Sài Gòn.

Nhớ Meo luôn cho tao nhé.

Nguyễn Đình Toàn

o O o

Nguyễn Đình Toàn, Hoa Kỳ, năm 2000.

Nguyễn Đình Toàn trên Internet

Nguyễn Đình Toàn sinh 6 Tháng 9, 1936.  Ông có bút hiệu là Tô Hà Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.

Ông sinh tại huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh, di cư vào Nam năm 1954.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, bút ký. Tác phẩm Áo mơ phai của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Nguyễn Đình Toàn viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo chí Miền Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Ông có công trong việc phát triển tân nhạc Miền Nam qua chương trình phát thanh Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh quốc gia VTVN mỗi tối Thứ Năm.

Sau năm 1975, ông bị chính quyền Cộng sản bắt và giam học tập cải tạo. Năm 1998 ông cùng vợ được xuất cảnh sang Mỹ và định cư ở California nơi ông tiếp tục viết.

Một số bản nhạc của ông được nhiều người biết là “Sài gòn niềm nhớ không tên” (Đúng ra tên là “Nước mắt cho Sài Gòn”)[ và “Tình khúc thứ nhất” do Vũ Thành An phổ nhạc. Ca sĩ Khánh Ly đã thâu âm và phát hành 2 đĩa nhạc với những sáng tác của ông.

o O o

Nữ Ca sĩ Quỳnh Giao viết về Văn sĩ Nguyễn Đình Toàn:

Ngày còn bé, Nguyễn Ðình Toàn không biết đánh đáo.

toan2Ông đánh mạt chược thuộc loại đáo để và ăn nói còn đáo để hơn trên bàn mạt chược, nhưng Quỳnh Giao nghi là ông không biết đánh đáo. Hoặc có lẽ không thèm đánh đáo. Ở tuổi ấu thơ, Nguyễn Ðình Toàn ham mê chuyện khác, để ý đến chuyện khác, chuyện thi ca chẳng hạn, thơ và nhạc.

Người ta có thể kết luận như trên khi đọc tập bút ký của ông viết về 190 tác giả, có tựa đề là “Bông Hồng Tạ Ơn” vừa được ra mắt tại báo quán Người Việt chiều 28 Tháng Mười vừa qua. Quỳnh Giao không viết về ông trước ngày đó như để giới thiệu sinh hoạt này.

Nguyễn Ðình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu.

Nguyễn Ðình Toàn có lẽ không đánh đáo với chúng bạn đồng tuổi vì ông mải nhìn mây, nghe nhạc, đọc văn và tìm hiểu về thơ. Không vậy, ông đã chẳng có một ký ức đầy ắp về những nghệ sĩ đã nổi danh từ thập niên 1950. Ông biết về họ rất tường tận, trước khi chính mình bước vào thế giới đó.

Giới yêu văn học thì biết Nguyễn Ðình Toàn qua các tác phẩm văn chương. Ông là một nhà văn nổi tiếng, có độc giả và từng được Giải Thưởng Văn Chương với Áo Mơ Phai, tác phẩm làm ông bị khổ sở không ít sau năm 1975.

Ông còn khổ sở hơn vì không chịu cúi đầu, vẫn cứ ngang ngạnh khi gặp cảnh tù đày.

Sau khi được thả ra, ông còn ngang ngạnh (dùng chữ hiên ngang tất sẽ làm ông khó chịu!) và khi chế độ trong nước thay đổi, xin tái bản lại Áo Mơ Phai, ông vẫn ngang ngạnh: “Các anh muốn làm gì chẳng được, nhưng đã hỏi tôi khi muốn tái bản thì tôi chỉ xin các anh ghi vào lời tựa lý do vì sao đã kết án tác phẩm và bỏ tù tác giả!” Ðược tái bản sách, nhiều người rất thích và đành nhịn. Nguyễn Ðình Toàn lại có cách từ chối đáo để như vậy thì… ai mà nhịn được!

Giới yêu thơ cũng từng mê thơ Nguyễn Ðình Toàn, đã được đọc lại còn được nghe.

Quỳnh Giao xin nói về chuyện nghe thơ này.

Thời ấy, vào thập niên 1960 trở về sau, các ban tân nhạc trên đài phát thanh đều có xướng ngôn viên của đài hoặc chính các ca sĩ tự giới thiệu lấy trước khi trình bày.

Và người ta không có lời giới thiệu (tiền thân của giới EmXi MC thời nay) để cho tác phẩm một cái mũ, một cái “châpeau” dẫn vào tác phẩm và nghệ sĩ trình bày. Ngoại lệ có tính chất tiên phong là chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của Anh Ngọc, do Mai Thảo viết châpeau dẫn thính giả vào nhạc. Ông có cách hành văn rất tây, với lối dùng chữ mới lạ, dễ “bắt tai” thính giả. Hàng tuần, thính giả chờ đón để được nghe các ca khúc nghệ thuật mà người hát, hòa âm, và cả lời giới thiệu đều trau chuốt bóng bảy. Người đọc những dòng giới thiệu thường là Anh Ngọc, Mai Thảo, đôi khi Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và cả Quỳnh Giao.

Người không đội mũ nhưng gắn hoa và thổi mây lên từng ca khúc nghệ thuật là Nguyễn Ðình Toàn, với chương trình gọi là “Nhạc chủ đề”.

Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong của ông cổ điển hơn, khác với lối viết của Mai Thảo hay lời nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc.

Chương trình ăn khách và thực sự tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ, của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy ông thầm thì với riêng mình về những cảm xúc do ca Ðáng lẽ, chương trình ấy phải được gọi là “Dẫn em vào nhạc” mới phải, nhưng thời ấy chúng ta chưa dám táo bạo như thế! Qua cách nói… “hỡi em yêu dấu”, rõ là Nguyễn Ðình Toàn chỉ nói với phái đẹp. Vào quãng thời gian ấy, ông còn quá trẻ để gọi thính giả nam phái là “em”!

Mà ông không cao ngạo như Ðinh Hùng khi xưng là “ta” với người đẹp, ông mộc mạc nhũn nhặn xưng là “tôi”.

Thế mới chết… chị Thu Hồng!

Nhớ lại thì nếu Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc gồm những giọng hát thượng thặng của thời đó trình bày, được chính ông chọn lọc và bầy bán giới hạn tại cửa hàng Au Printemps gần thương xá Tax, đã dẫn tới một ngành sinh hoạt mới là các trung tâm thực hiện băng nhạc, thì chương trình Nhạc Chủ Ðề của Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên những ca sĩ sau này là tên tuổi lẫy lừng, như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu…

Phải nói rằng nhiều ca sĩ thường xuyên cộng tác với đài phát thanh hoặc xuất thân từ các gia đình nghệ sĩ thì đã được… “lăng xê” từ trước và họ thực sự là những người chuyên nghiệp vì sự đòi hỏi của các đài phát thanh. Chương trình của Nguyễn Ðình Toàn lại khác.

Ông mời những giọng hát tài tử trong tinh thần “hát cho vui”, hát vì nghệ thuật.

Luật gia Khuất Duy Trác thuộc thành phần ấy và đóng góp rất nhiều cho chương trình này. Một thí dụ khác là kỹ sư địa chất Võ Anh Tuấn – người tham dự việc tìm ra mỏ dầu đầu tiên – được mời hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca với giọng Nam như Trần Văn Trạch. Theo Quỳnh Giao, bài thành công nhất của Võ Anh Tuấn là Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong. Miền Nam không có mưa Thu Hà Nội, Nguyễn Ðình Toàn khơi dậy Mùa Thu ấy trong tâm cảnh của chúng ta ở miền Nam qua cách trình bày của Võ Anh Tuấn.

Không có cái tai thẩm âm, ai lại dám làm điều ngược ngạo ấy vì thời đó và sau này, hát theo giọng Bắc mới được coi là hay! Cũng qua chương trình Nguyễn Ðình Toàn, mà Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác hay Sĩ Phú, v.v… đã là những tiếng hát vượt không gian. Ra khỏi các sân khấu thành phố mà vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật và tạo ra một làn sóng ngưỡng mộ từ đó không nguôi. Ngay cả những ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn cũng đã như cánh vạc bay, và bay mãi, là từ chương trình Nhạc Chủ Ðề, qua tiếng hát Khánh Ly và lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn.

“Những bản tình ca không có hạnh phúc” qua tiếng hát của “nàng góa phụ của cuộc chiến này” là cách Nguyễn Ðình Toàn giới thiệu ca khúc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Có MC nào của đời nay làm chúng ta xúc động như vậy không?

Nguyễn Ðình Toàn là nhà văn, là thi sĩ và ông giới thiệu nhạc bằng cảm nhận của nhà thơ.

Ông cũng là nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều trong những năm về sau nhưng tác phẩm bị trùm lấp trong biến cố 1975. Khi ông ra đến ngoài này, sự thẩm âm của thiên hạ đã thay đổi. Người ta “hát giọng răng” (nói theo lối ví von của Phạm Duy, vì cô ca sĩ có hàm răng khấp khểnh) và giới thiệu ca khúc bằng vũ khúc…

Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ðình Toàn chưa cho ra mắt một tác phẩm đáng lẽ phải có tên là “Dẫn em vào nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, mà lại viết về những người nghệ sĩ ông sợ là chúng ta sẽ quên. Ông gửi tới họ những bông hồng tạ ơn qua tài năng cố hữu của ông, là dùng thơ dẫn người đọc vào ngôi vườn hoa của người khác.

Khi viết bài này, trong dư âm của một chương trình nhạc chủ đề của Nguyễn Ðình Toàn, (chủ đề cuốn băng là “tình ca”) Quỳnh Giao bồi hồi nghĩ là “áo mơ chưa hề phai” trong tâm khảm ông.
Nguyễn Ðình Toàn chỉ sợ những kỷ niệm cần trân quý của chúng ta bị phai lạt dần…  Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng điệu nghệ để người nghe chuẩn bị đón nhận…

Lời thủ thỉ ấy đẹp như thơ làm thính giả phái nữ thấy lòng mình chùng xuống.

QUỲNH GIAO

o O o

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
BÔNG HỒNG TẠ ƠN

Liên lạc mua Sách: toandinh@yahoo.com

Một Trong Những Vụ “Đổi Tiền” (Sau năm 1975)

Yesterday at 12:50pm ·

 Kinh Nghiệm Bản Thân  Một Trong Những Vụ Đổi Tiền (Sau năm 1975) [*]

Ghi chú [*]  Bài trích FB Ta Lien – Đề tựa bởi tunhan!

Năm 1985 lúc đó tôi ở Ngã Bảy – Sài Gòn , làm việc tại Tổ hợp Sản xuất & gia công phụ tùng xe đạp , các mặt hàng gia dụng bằng nhôm .
Thời đó để được “định mức điện cao “, phải ký những hợp đồng gia công với Cty Quốc doanh , dù từ lỗ đến huề vốn vì chi phí ngoài sổ sách .
Một chiều nhân viên Ngân hàng vẫn thường giao dịch gọi điện thoại báo :

  • ” Tiền đã về , sáng mai chị lên sớm để ký nhận “.

Sáng hôm sau đầu giờ làm việc tôi đi cùng ông thư ký đến lãnh tiền , bước đến quầy của cô nhân viên NH ” đã biết nhau “, sau khi ký các giấy tờ cổ đưa một bọc giấy căng phồng đã để sẵn . Mở ra dòm thấy toàn cọc tiền 1ng mới và cũ lẫn lộn gần 20ng đồng ( lần nhận tiền cuối của hợp đồng gia công vè xe đạp đã giao nhận xong) . Lấy làm lạ vì khác với mọi khi nên tôi hỏi :

  • ” Sao toàn tiền lẽ không vậy em ? ” , cổ nói nhỏ :
  • ” Chị cứ cầm về đi ” ,

Nhìn ánh mắt cổ ý muốn nhắn nhủ điều gì nên tôi ôm luôn bịch tiền về .

Giới xì thẩu Chợ Lớn rất nhạy tin , mấy hôm trước đã đồn râm ran việc đổi tiền . Chiều hôm đó loa phường vẫn ra rã bác tin đồn thất thiệt , tối lượn xe dạo Lakai thấy mấy quầy lề đường bán bánh kẹo , đồ hộp … ngoạị , người Hoa xúm mua chộn rộn (đã thấy cảnh này trước đợt đổi tiền 1978), tui cũng tắp rinh về một mớ .

Ngủ đêm tới sáng lúc tỉnh dậy thì biết : Đổi tiền từ lúc 0g. Tiền giấy 1ng vẫn được tiếp tục xử dụng.

Nhờ cô nhân viên NH tình thương mến thương nên lúc đó tôi đủ tiền trả lương hàng tuần cho công nhân . Bữa cơm nhà có cá , có thịt . Có tiền xài rủng rỉnh .

//

Cuba không dùng tên Fidel Castro để đặt tên đường!

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2016

Cuba không dùng tên Fidel Castro để đặt tên đường

Đ.K.L.

TTO – Chủ tịch Cuba, Raul Castro – em của lãnh tụ huyền thoại Fidel Castro – tuyên bố sẽ không dùng tên Fidel Castro để đặt tên đường hay công viên.
Lý do là vì lãnh tụ Fidel Castro không muốn tôn thờ cá nhân. Trong cuốn tự truyện, Fidel Castro viết: “Tất cả ai lãnh đạo đất nước này đều là người, không phải thánh thần”.

Tờ Telegraph dẫn lời chủ tịch Raul Castro: “Sẽ không có tượng đài hay tên đường, công viên được đặt theo tên Fidel Castro bởi vì điều Fidel Castro muốn là không được tôn thờ cá nhân”.
Trả lời trang CTV News, nhà kinh tế học về hưu 70 tuổi Juan Antonio Gonzalez, nói: “Tất cả chúng tôi đều muốn dùng tên Fidel Castro đặt cho mọi thứ nhưng thật ra, Fidel chính là tất cả Cuba. Quyết định không dùng tên Fidel Castro đặt cho đường sá, công viên… là ý muốn của Fidel, do đó cần phải được tôn trọng”.
Isael Martinez, một người 46 tuổi tại Biran – nơi sinh của lãnh tụ Fidel Castro, cách thành phố Santiago 100km – nói: “Fidel Castro đã mang lại cho đất nước những gì cần thiết: sức khỏe, hòa bình, giáo dục, an ninh”. Vừa nắm chặt tay hai đứa con nhỏ, Martinez nói thêm: “Đó là lý do vì sao Fidel Castro được kính trọng khắp thế giới”.
Tối thứ bảy 3-12 (giờ địa phương), hàng trăm ngàn người dân Cuba đã đến Quảng trường Cách mạng tại Santiago để viếng lãnh tụ Fidel Castro. Theo kế hoạch, tro cốt của lãnh tụ Fidel Castro sẽ được an táng ở nghĩa trang Ifigenia tại Santiago.
Những thành viên còn lại trong gia đình lãnh tụ Fidel Castro gồm cha Angel, mẹ Lina và anh trai Ramon được chôn cất tại khuôn viên gia đình ở Biran, nơi hiện đã trở thành một viện bảo tàng.
//

Như thế nào thì gọi là ‘ngụy’?

Như thế nào thì gọi là ngụy?

Nguyễn Dư (Danlambao)  Chắc nhiều người biết chữ “Ngụy” là có nguồn gốc từ chữ Hán, người mình dùng quen, cho nên đến những thế hệ của chúng ta sau này nó trở thành từ Hán-Việt thông dụng. Chữ “Ngụy” đi kèm với những từ sau nó thì sẽ làm biến đổi ý nghĩa của câu. Thí dụ như: ngụy quân tử.
.
Người Á đông quý trọng người quân tử, vì thế cho nên nhiều người lợi dụng điều đó mà cải trang cho bản thân bằng những phong cách giống như người quân tử, nhưng bản chất thật thì không được nhiều người quý trọng. Trong trường hợp này, ngôn ngữ bình dân người ta gọi những người như thế là đóng kịch, giả dối, giả tạo, hay văn vẻ hơn: là ngụy quân tử.
 .
Thí dụ tiếp theo: như chữ ngụy trang, ngụy triều, ngụy quân, ngụy quyền… Ngày xưa, cộng sản gọi chế độ Việt Nam Cộng Hòa là ngụy quân, ngụy quyền, chắc có lẽ họ lấy ý từ hai chữ ngụy triều mà ra. Họ cho rằng “triều đại” Việt Nam Cộng Hòa là do Mỹ dựng nên, là chế độ kềm kẹp, bù nhìn, là giả tạo; còn họ (cộng sản Bắc Việt) đánh là đánh cho Liên Sô và Trung Quốc thì là… chính nghĩa(?!). Trong vấn đề này chúng ta đã nói, phân tích nhiều, không cần phải tranh cãi nữa. Cũng cần phân biệt thêm nước Ngụy ngày xưa bên Trung Hoa và họ Ngụy của người Á Đông.
 .
Tôi đã trải qua hai thời kỳ, bắt đầu từ khi ông Diệm còn làm thủ tướng, rồi sau đó thành lập Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa; cho đến ngày hôm nay ngồi ôn lại quá khứ, chưa bao giờ thấy chế độ miền Nam Việt Nam là chế độ ngụy, kềm kẹp, giả dối, giả tạo như cộng sản gán ghép, “gắp lửa bỏ tay người” một cách gian trá như người cộng sản thường tuyên truyền, xuyên tạc. Rồi từ khi gọi người Việt hải ngoại bằng “khúc ruột ngàn dặm”, có lẽ vì trơ trẽn quá nên họ bỏ dần, thấy sau này không còn sử dụng từ ngụy quân, ngụy quyền nữa.
 .
Ngày hôm nay thì mọi người thấy rõ, chính cộng sản mới là ngụy quyền (gọi theo cách của người xưa là ngụy triều), bởi lẽ, họ cướp chính quyền miền Nam Việt Nam, “soán ngôi” bất chính, mà họ dùng ngụy từ là đi giải phóng để che đậy. Ai cần giải phóng ai thì chúng ta và mọi người điều biết. Đáng lý ra người miền Nam cần giải phóng người miền Bắc thoát khỏi cảnh kềm kẹp mà trở nên nghèo nàn, lạc hậu rồi đi đến ngu dốt, thì mới là hợp lý.
 .
Từ cái chỗ bất chính, cho nên họ mới quản lý ngôn luận gắt gao và dùng những ngụy ngữ để che đậy những gì xấu xa do chế độ tạo nên. Thí dụ như chữ Osin là từ vay mượn nước ngoài, mới xuất hiện gần đây để thay cho động từ ở đợ trong tiếng Việt. Đình công thì họ gọi là ngừng việc tập thể; biểu tình thì là tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng. Tàu Trung Quốc bắn giết ngư dân thì họ gọi là tàu lạ…
 .
Người cộng sản nhận ra, nếu nói rằng đi làm công hay bán sức lao động ra nước ngoài thì nghe nó kỳ khôi quá, cho nên họ gọi hợp tác lao động hay xuất khẩu lao động, nghe nó có vẻ nhẹ nhàng hơn. Bây giờ thì có khác; chứ còn ngày xưa trong chế độ xã hội chủ nghĩa có lẽ chẳng có gì để xuất khẩu nên đành phải xuất khẩu lao động vậy!
 .
Hợp tác lao động, gọi như thế là họ chơi ăn gian, bởi lẽ hai chữ hợp tác nó mang hàm ý là hùn hạp, cùng làm, cũng có nghĩa là phải công bằng. Thí dụ: có liên quan tới tiền bạc thì chia theo tỉ lệ; trong công việc thì phải cùng làm chung, ăn lương theo giờ tùy khả năng. Còn một người bỏ tiền ra mướn người khác làm việc cho mình rồi trả lương, tức là chủ trả lương cho người làm công (thợ); có khi người làm công còn bị chủ bóc lột sức lao động thì không thể gọi là hợp tác được.
 .
Những gì xấu xa mà cộng sản “gắp lửa bỏ tay người”, gán ghép cho Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa như: kềm kẹp, tư bản bóc lột, ngụy quân, ngụy quyền, bọn phản động bán nước, thì bây giờ thời gian đã trả lời, họ đã hiện nguyên hình trong những cái xấu xa đó.
 .
Chế độ cộng sản – cần phải gọi chính xác cho đúng nghĩa – mới là chế độ ngụy quyền.
 .
02/12/2015
{border-bottom: 1px dotted #95ec24;}

Phạm Thế Định – TRƯỜNG XƯA, THẦY CÔ CŨ

TRƯỜNG XƯA, THẦY CÔ CŨ

Phạm Thế Định

Trường xưa, thày cô cũ
—————————

Hôm  thứ bẩy  tuần trước,  chẳng hiểu  sao anh bạn  người  thành nội (Huế) của tôi  lại hứng  tình rủ đi ăn cơm Việt Nam, ở tiệm 1 người quen của chàng.

Anh giới  thiệu rằng “ăn ở  đấy, chẳng những ngon lành, chỗ ngồi  đẹp lịch sự, mà còn  có thể tiếp chuyện với anh,  chị chủ tiệm tên T.,  rất văn nghệ …”

Mà thiệt, đồ ăn chị T.  nấu rất tinh tế, món nộm sứa Bắc Kỳ  để ăn entrée với vài  cái bánh phồng tôm; món bò  lúc lắc Nam Kỳ để  nhậu lai rai trước khi tổng  tấn công đợt  1, món cơm  với gà xào  xả ớt; đợt 2, với món rau  xào cà ry, đợt 3, với canh chua cá lóc; và chúng tôi  chỉ ngưng trận khi đã hoàn toàn no đủ.

Nhưng  cái  mục  hấp  dẫn  nhất  là  được dịp trò chuyện với anh, chị T., bằng tiếng mẹ đẻ, để cùng hồi tưởng đến   quê hương.

Vì anh là  giáo sư, nên câu chuyện  rất mau chóng quay về chốn học đường. Anh là cựu học sinh trường Chu Văn  An,  sau  này  học  Khoa  Học.  Tôi  thì  là dân Võ Trường Toản tới 7 năm,  nhưng vì trong nhà tràn ngập môn  sinh của  trường CVA,   từ bố  là cựu  học sinh Trường Bưởi,  đến 2 ông anh  trưởng đã mài nhẵn mấy cái  đũng quần ở  CVA SàiGòn, nên cũng hơi quen thuộc với cái trường vào loại cổ nhất VN này. Còn anh bạn hiền  “người ưu tư thành nội”, và mấy nàng tiên  đi cùng, thì đều  đã có  giai đoạn nhập tịch Sài  Gòn,  nên  cũng  không  xa  lạ  gì với tên những trường nổi tiếng đó.

Tôi  khai  mào  nhắc  về  những  người học trò nổi tiếng, xuất thân  từ Chu  Văn An,  anh T.  có vẻ  hãnh diện  khi nghe  nói đến  những nhân  vật như Nguyễn Hiến  Lê,  Nguyễn  Xuân  Vinh,  Duy  Lam, Thế Uyên, Phan Nhật Nam, Dương Phục …

Học trò khá, một phần là nhờ truyền thống, và 1 phần nhờ ơn  các thày, cô,  anh nhắc lại  những hình bóng xưa cũ:

– Hồi  đó các thày oai  lắm, ăn mặc bảnh  ra phết, nghiêm nghị, có ông mới hai mươi mấy, mà tướng mạo đã ra vẻ mô phạm lắm rồi, cử chỉ đĩnh đạc. Mà sao hồi  ấy, chúng mình kính,  sợ mấy thày quá nhỉ.  Tôi nhớ  có 1  ngày, thày  H.. đến  trường đi giầy và  đeo thắt lưng da  cá sấu, 1 học  sinh la lên “thày H.. có dây lưng, và  giầy da cá sấu “, thế là, chả hiểu  sao, ông thày  rút ngay cái  thắt lưng quất túi bụi,  rồi lên gối,  thúc cùi chỏ  liên tiếp vào tên học  sinh… Chuyện vô lý  thế, mà chả có  ai lên tiếng  cả, mà  bây giờ  nghĩ lại,  tôi cũng  chả dám trách thày.

Mà  cũng có thày hiền  lắm, một  hôm  thi, tôi không thuộc,  đành phải  “quay” bài,  đang lúi  húi chép thì thấy thày  tới gần, thúc vội  quyển sách bửu bối vào ngăn bàn, không ngờ nó hụt rơi ra ngoài, ông thày bình tĩnh tới gần, nhặt lên hỏi “cuốn sách này của ai thế… có quay thì phải  học, sao cho quay  khéo, chứ quay  như  vậy, thì  tồi quá!”  rồi  thản nhiên để cuốn sách lại trên bàn tôi, đi tiếp, không phạt.

Và  tuy hầu  hết là   các thày  ăn bận  nghiêm trang, nhưng cũng có mấy ông lè  phè lắm, như giáo sư Ð Ð M..  dậy toán  nổi tiếng   Sài Gòn,  mà ở  dơ thấy khiếp, vừa giảng bài, vừa kỳ ghét, vừa búng lia chia về phía  môn sinh, vừa gầm  gừ : “đồ mấy  tên ngu ngốc, học như các anh thì  ra cái đếch gì, tối ngày bê tha  như chó… rái …“. Mà … quý  vị biết không, ông ta có hôm đi dậy không mặc quần lót.

Cả nhóm lao nhao lên hỏi : “Tại sao anh biết ổng không mặc quần lót?”

– Tại vì ..  . hôm đó, ông ta cũng quên cả … kéo fẹc mơ tuya (Zíp) Cả lũ  cười bò lăn, tôi  còn cười dữ hơn,  là vì có dạo tôi cũng đã thụ  giáo thày Ð Ð M… vài giờ, thày dậy hình học giải  tích, vòng tròn Eucler … rất hay. Tuy nhiên thày bị lé, thày mà nhìn mình, là thằng bạn bên cạnh dật nẩy lên vì sợ  bị kêu lên  bảng giảng toán.

Anh T. tiếp tục nhắc lại mấy ông nổi danh khác, thày T B Lan là nhà thơ Nguyên Sa, dạy triết, thơ tình ướt  át:

Nắng Sài Gòn anh đi mà  chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông…

hay

Trời  hôm ấy  mười lăm,  hay mười  tám Tuổi  của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba …

Thày là dân  đi du học Pháp về,  trường Sorbonne chứ   bộ, thế mà  trông ổng không có dáng  thi sỹ tí nào, coi như  ông chủ tiệm  ăn Tàu; và  ai mà học  trường Văn Học cũng  có thể gặp cô, phu  nhân của thày, nghe nói xinh lắm;  nhưng hình như thày hơi  sợ … cô thì  phải.

Tôi vừa nghe, vừa cố  mường  tượng  ra hình ảnh của người  đẹp  của  nhà  thơ,  mà  mình  đã một thời thuộc thơ của ổng:

Hôm  nay, Nga  buồn như  một con  chó ốm 
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Ðôi mắt cá ươn …

Và nhủ thầm,  bây giờ mà tán mấy  cô với mấy câu thơ như vậy, là có  ngày bị “Hội phụ nữ đòi quyền sống” kiện  chết, mấy thày lucky  nên sinh nhằm thế kỷ. Rồi  nhân dịp,  tôi cũng  xin ké  mà nhắc  về những thày, cô dậy tại Võ Trường Toản, của một ngày xưa yêu  dấu:

– Thày Ðinh  Căng Nguyên, rất hắc,  làm Hiệu Trưởng Võ Trường Toản lúc tôi  vừa nhập môn. Kỷ niệm tôi còn giữ  với thày là ổng  táng bạt tai một  thằng bạn đứng xếp hàng trước tôi,  chỉ vì hắn có cục thịt dư  ở tai,  nên không  muốn cởi  nón khi  đứng xếp hàng; thày táng  nó một cái, mà tôi  đứng đàng sau, nổ hào quang cho tới bây giờ còn ngán.

– Thày Tuân,  Tổng Giám Thị đáng  yêu nhất của cuộc đời  tôi. Kỷ  niệm tôi  còn giữ  với thày, là cái còi cảnh  sát thày lúc  nào cũng đeo  trên cổ, “hoét,   cái anh kia, sao không  mặc đồng phục? phù hiệu đâu?  25  cái hít  đất“. Thày  là họa  sỹ Mạnh  Tuân, xuất sắc trong những bức minh họa của tờ Tuổi Xanh.

– Thày Thiềm, bị bọn học  sinh nhất qủy, nhì ma, đặt tên  là Thiềm  lủi, vì  một hôm  có kẻ  chứng kiến thày đang đi  đường, bỗng “lủi” vô 1  gốc cây để đứng… đáị  Thày để  lại những  giai thoại  về giảng  dậy rất  tếu, rất  điên; mà  phải dành cả một  bài mới tả hết.

– Cụ Lê  Ân, người gầy,  bé. Cụ hay  thắt một cái cà vạt cũ ơi là cũ, vừa gãi ngứa ở tay, vừa giảng bài  “Các anh  ở thời  đại   này  quá yếu, chúng tớ ngày  xưa  khỏe  lắm,  có  lần  chính  tớ  đã “quai” (đấm)  một thằng  Tây cùng  lớp lăn  quay đơ…“.Số học  sinh tin  chuyện thày  kể có  lẽ đếm trên đầu ngón tay. Một hôm, một tên  liều giơ tay lên: “Thưa thày  … Cái  gì hở anh?  … Thày thắt  lầm cái giải  rút của cụ  bà rồi ạ“,  cụ tức quá  ném cục phấn đang cầm trên tay vào tên quỷ sứ, đang nhẩy qua mấy cái bàn chạy ra khỏi lớp.

– Cô Nguyệt, rất xinh, được tặng danh hiệu là Bạch Y Thiếu Nữ. Khi cô lấy chồng, chúng tôi đoán là ít nhất cũng có hai thày buồn thê thảm vì thất tình.

Riêng một hình ảnh, tôi  luôn luôn muốn được kể lại  là  kỷ niệm  ngày tôi  được học  nhà văn Thế Uyên  Nguyễn Kim Dũng.  Ðó là năm đầu tiên  nhà văn Thế Uyên về dậy  ở Võ Trường Toản. Tôi  háo hức để biết  mặt tác  giả  “Tiền  Ðồn”, “Những  Hạt Cát”,  nhân vật  “Duy” lừng khừng  trong tác phẩm  “Gia Ðình Tôi”  của Duy  Lam. nhưng  mấy thằng  bạn tôi thì mặc kệ, thày nào chả là thày.

Trưa  hôm đó,  tôi đang  lang thang  trước lớp, bỗng thấy một người gầy, mặt hơi nám đen, mặt nhỏ, xương xương,  riêng  cặp  mắt  có  nét  sáng  mà buồn, áo trắng dài  tay rất đàng  hoàng, nhưng cũ  và màu đã đổi sang màu ngà, cái quần kaki vàng, kiểu quần bán quân sự, và đặc biệt là đôi giầy, chắc để quá lâu không  đi, cái mõm cong  vòng lên trên, nhìn  như hai cái hia  của mấy ông quan  văn. Ðó là Thế  Uyên, nhà văn chống đối trong  nhóm  “Thái Ðộ”, cháu gọi Nhất Linh là bác, nhà văn có những tư tưởng rất bạo về sex,  và hình  như là  người đầu  tiên gọi các nhân vật  đàn bà  trong tiểu  thuyết của  ông  là người nữ.

Trước khi dạy, ông có vài  lời nói với học sinh “…tôi  về  đây,  dậy  các  em  vì  được lệnh thuyên chuyển về  ngành giáo dục, mới  vài hôm trước, tôi còn  là lính  chiến, tuy  đang đứng  đây, tôi  thành thật  không biết  bao giờ   sẽ bị  gọi lại  ra chiến trường, tôi  đã dặn vợ  tôi rằng, em  hãy giữ kỹ đôi  giầy bốt  trận của  anh trong  tủ ,  có thể anh phải dùng đến chúng một ngày rất gần …

Khi  nghe những  câu đó,  tôi thấy  cái “đôi  hia dân sự” của  thày tự nhiên  rất đẹp, và  đẹp cho đến bây giờ. Và cái câu hỏi là “Người chiến sỹ VNCH là những anh hùng hay những kẻ ngụy hèn?”, đối với tôi không cần thiết, tôi biết  là, nhờ những chiến sỹ ấy, tôi mới  còn được ngồi đây, và  mãi mãi, họ là những  ân nhân của  tôi với  niềm biết ơn không phai lạt.  Trong những chiến sỹ  đó, có những người chưa  bao giờ  khoác một  ngày quân  phục, đó  là những thày, cô cũ,  những chiến sỹ văn hóa  đã làm việc, để xây dựng những thế  hệ tương lai, trong đó có tôi.

Chúng  tôi quả  có đùa  khi nhắc  tới các  thày, cô. Nhưng lòng kính trọng không bao giờ giảm, chẳng tăng, bất đổi vì nguyên vẹn.

Chiều hôm  đi ăn đó, tôi  rất vui và tôi  cũng nghĩ những người khác như vậỵ  Thỉnh thoảng có thì giờ tưởng nhớ về những thày, cô thì đó là những khoảng thời gian không phí phạm.

Và sẽ có một ngày, lũ  môn sinh cũ sẽ trở về đóng góp cho những  ngôi trường VN. Ðó có  lẽ là những lời cảm ơn chân thành  nhất cho đất nước, trường lớp, thày, cô và những bạn bè đã khuất.

Phạm Thế Ðịnh
——————-
(Nov, 1994)