Lễ Tình Yêu Valentine Và Ngôn Ngữ Của Các Loài Hoa!

On Wednesday, February 10, 2016- v d nguyen chuyển tiếp; Cám ơn -tunhan-

© Lê-Ngọc Châu (NamĐức, Nhân dịp Lễ Valentine 2016)

Lễ Tình Yêu Valentine Và Ngôn Ngữ Của Các Loài Hoa

blank

Hoa cho Valentine.

Tương tự như người Việt tị nạn cộng sản lâu nay lấy ngày 30.4.75 làm ngày quốc hận để nhắc nhở nhau đừng quên ngày Việt Nam Cộng Hoà bị cộng sản VN cưỡng chiếm, hay như ở Mỹ có ngày “Lễ Tạ Ơn“ thì người La Mã từ mấy thế kỷ nay đã chọn ngày 14.2 làm ngày “Lễ Tình Yêu“ và từ đó người ta cổ xúy, duy trì ngày Lễ Valentine cho đến ngày nay.

Có vài giả thuyết đã được đưa ra để giải thích nguyên nhân tại sao có ngày Lễ Valentine. Có giả thuyết cho rằng ngày Lễ Valentin là ngày kỷ niệm và tưởng nhớ đến bà hoàng Juno là người đã bảo vệ cho hôn nhân và gia đình. Họ đã tặng cho „người đàn bà“ những bó hoa, được xem như là biểu tượng cho sự biết ơn của người đàn ông.

Một giả thuyết khác thì bảo rằng ngày lễ Valentin là ngày kỷ niệm Thánh Valentin cũng vào ngày 14.2, hai thế kỷ sau Thiên Chúa là ngày mà Đức Hồng Y (ĐHY) Valentin của Terni, một thành phố thuộc miền trung nước Ý, xưa gọi là Interamna bị vua La Mã thời đó là Claudius Goticus xử tử hình, lý do Hồng Y Valentin vẫn một lòng giữ vững niềm tin đối với Thiên Chúa Giáo. Và sau đó vì có truyền thuyết cho rằng ĐHY Valentin đã từng tặng hoa cho những đôi nhân tình khi Ngài còn sống nên để nhớ ơn, dân chúng đã chọn ngày 14.2 làm ngày Lễ Tình Yêu để tưởng niệm đến ĐHY Valentin!

Chúng ta tạm thời không bàn đến nguyên nhân tại sao có ngày Lễ Valentine và hãy chấp nhận ngày 14 tháng 2 là ngày Lễ Valentine, được gọi là Lễ Tình Yêu và Hoa, vì ngày 14.2 đã trở thành thông lệ từ hàng trăm năm qua cho người phái nam và họ không thể quên được „tục lệ“ là đến ngày lễ này đi mua hoa tặng vợ, tặng người yêu hay bạn gái.

Một điều mà tôi nói riêng ghi nhận được kể từ lúc bắt đầu sống kiếp sống lưu vong đến nay là sau Tết Dương Lịch, kể từ trung tuần tháng Giêng trở đi thì người ngoại quốc từ u Châu đến Mỹ và Úc Châu nói chung quảng cáo rất rầm rộ ngày Lễ Valentine, “Lễ Tình Yêu”. Theo dòng thời gian, người đàn ông không phải chỉ mua hoa thôi mà họ còn mua nhiều tặng vật khác làm quà tặng cho „vợ, cho người yêu lý tưởng“ hay bạn gái của mình. Qua hệ thống Internet hiện đang thông dụng thiên hạ quảng cáo rùm beng nhiều loại quà khác nhau, tương xứng tùy theo túi tiền của mỗi người, nhưng quan trọng hơn hết vẫn đề cập đến những bông hoa, những bó hoa đủ loại.

Tôi tò mò tìm hiểu và nay xin được phép giới thiệu với quí đồng hương vài nét đặc biệt về „ngôn ngữ của các loài hoa“ liên quan đến ngày lễ này, để nếu ai đã „sang ngang“, đang yêu hay có bạn gái muốn mua hoa tặng có thể tùy theo đó mà chọn loại hoa thích hợp.

Nếu bạn mua loại hoa (sau đây) Thì hoa này biểu hiệu cho một (sự) …

Hay có nghĩa:

– Acacia

Tình yêu thanh khiết

– Alpine rose

Khi nào chúng ta gặp lại

– Anemonne

Vui mừng hay Tin tưởng

– Aster

Không tin sự trung thành (của người yêu)

– Belladonna

Em đẹp nhưng không kém nguy hiểm

– Nettle(Anh đã nhìn thấy) em hay ghen tuông

– Chrysanthemum

Tim anh còn trống vắng

– Dahlia

Tôi đã có người yêu!- EdelweissEm quá đẹp

– Erica

Tôi thích sự cô đơn

– Feathered pink

Em rất nhẹ dạ

– Lilac

Em cũng trung thành

– GeraniumAnh chờ em ở chỗ hẹn cũ

– Bell flower

Tim chúng ta cùng một nhịp đập

– Wallflower

Anh sầu nhớ đến em

– Immortelle

Tình yêu vĩnh cửu

– Jasmin

Em đẹp quyến rũ, mê hồn

– Comflower

Anh (tôi) chưa mất hy vọng

– Crocus

Tôi cần thời giờ để suy nghĩ

– Lime-tree blossom

Hãy mơ đẹp và nghĩ đến anh (tôi)

– Lily

Tin tưởng, trong sạch

– Mayflower

Ngây thơ, vô tội

– MallowEm lạnh nhạt

– Marguerite

Hãy để anh (tôi) yên

– Myrtle

Chúng ta sẽ làm đám cưới nay mai

– Black nightshade

Em ghen vô lí

– Daffodil / narcissus

Em làm điệu

– Orchid

Em còn ham chơi đối với anh

– Parsley

Anh thích tính ở nhà (hay nội trơ)

– Red Rose

Anh yêu em hơn tất cả

– Yellow Rose

Không trung thành

– Rhododentron

Khi nào chúng mình gặp lại?

– Rosemary

Từ biệt em, anh bỏ cuộc

– Yarrow

Anh kiên nhẫn

– Cattail

Em phải quyết định

– Iris

Anh sẽ tranh đấu vì … em

– Sunflower

Em quá đòi hỏi, đối với anh

– Tulip

Em không có 1 sự cảm xúc chân thật

– Blue viola

Kiên trì chịu đựng

– Forget-me-not

Hãy nghĩ đến anh (tôi)

– Morning glory

Em sẽ thuộc về anh

– Feverfew

Hãy để tôi yên

– Cypress

Anh đau khổ chết đi thôi!

Vậy thì, bạn sẽ chọn hoa để nói giùm những ý tưởng thầm kín của bạn và người nhận hoa cũng đừng quá vô tình, cố hiểu lời nhắn gửi không lời qua những cành hoa mình nhận được!

Cho tôi được mở ngoặc ở đây. Khi vướng vào đường tình, người ta thường hay mơ mộng, nghi ngờ…. Biết bao nhiêu văn – thi- nhạc sĩ đã viết văn, làm thơ hay soạn nhạc để vinh danh tình yêu cũng có và chua chát vì tình cũng chẳng thiếu.

Tình yêu là một phần không thể thiếu của cuộc sống nên chủ đề YÊU được xuất hiện rất nhiều trong văn thơ, phim ảnh, âm nhạc… Tâm trạng của “người trong cuộc đang ngụp lặn trong bể tình” được nhạc sĩ Nguyễn văn Khánh khéo léo diễn tả qua tác phẩm “NỖI LÒNG”.

Thủy chung, đau đớn, nhớ nhung…theo tôi đã được tác giả gói ghém một cách tài tình:

Yêu ai, yêu cả một đời
Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta
Đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…

Khi vướng vào đường tình, chuyện yêu thầm nhớ trộm hay yêu đơn cũng chẳng thiếu. Tâm trạng và hình ảnh đó chúng ta có thể hình dung qua vần thơ sau đây:

…. Năm tháng trôi lạnh lùng hoài
Tình đó nhắc nhở luôn đến ta tình ái
Nhớ cả một đời tình yêu kia mà người nào hay.

Cho dù đôi khi đoán trước sự trắc trở nhưng tình yêu quá mãnh liệt đã không sao lung chuyển nỗi nhớ nhung, vẫy yêu say mê, đắm đuối và bất tận:

…. Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày
Là đến với đớn đau
Nhưng sao trong ta cứ vẫn thương vẫn nhớ !
….
….
Nỗi đau trong lòng người yêu vẫn yêu hoài.

Tuy nhiên cũng không thiếu những câu thơ chế giễu, khuyên răn về tình yêu, ví dụ như:

Vì người mình yêu hãy làm tất cả
Chứ đừng làm tất cả để có được người mình yêu

Khi đã yêu thì hay vẽ vời, ở đâu cũng có thể nghĩ đến người tình trong mộng. Để “cợt đùa” có người đã phác họa hình ảnh này qua hai câu thơ dí dỏm tìm thấy trên Internet:

Đêm qua anh ngủ trên giường.
Nhớ em tỉnh giấc, lọt giường gãy xương.

Và cũng chẳng thiếu những cuộc tình ướt át lúc ban đầu nhưng cuối cùng bị tình phụ, bất thành. Hãy nghe người trong cuộc chua chát (Internet; điều này có thể xảy ra từ phái nam):

Thương anh chín đợi mười chờ.
Đến khi mười một, em lờ bỏ anh.

Vâng, khó mà phân biệt đâu thật đâu giả. Dầu vậy, thiên hạ vẫn ngập lặn trong tình yêu, không ngừng nghỉ. Hãy nhìn sang Holywood thì thấy ngay, nghệ sĩ yêu nhau vội vã và chia tay cũng rất nhanh, sau đó họ lại lao đầu vào những cuộc tình khác. Cứ thế mà tiếp nối…

Trở lại với chủ đề Hoa cho ngày “Valentine”. Một trong các món quà thường được mua tặng cho người yêu vẫn là những bông hoa hay bó hoa. Quí vị nào chưa quyết định mua gì để tặng ” ai đó ” trong dịp Lễ Tình Yêu, tôi nghĩ có thể mua bó hoa toàn hoa hồng đỏ (Red Rose), vừa sang trọng và vừa ngấm ngầm bày tỏ “Anh yêu Em hơn tất cả ”.

Quý vị nào còn độc thân, con tim vẫn còn trống vắng, muốn kín đáo hẹn hò với người yêu hay bạn gái thì có thể chọn mua bó hoa gồm Chrysanthemum và Rhododentron.

Người nào biết bạn gái của mình có nhiều chàng trai theo đuổi nhưng không sờn lòng thì có thể mua tặng bó hoa “ Iris kèm theo Blue Viola và vài cành Cattail “ kín đáo muốn nói là anh kiên trì chịu đựng, sẽ tranh đấu vì em, nhưng em phải có một quyết định, hoặc để nhắc nhở đối tượng đừng quên mình thì hãy mua tặng một bó hoa “Forget-Me-Not !” …

Người viết không phải là người có thú “trồng Hoa”, biết “Hoa” sành điệu hay thông thạo về “Hoa” nhưng muốn góp phần nhỏ vào ngày Lễ Tình Yêu nên đã sưu tầm, mạo muội phóng dịch “ngôn ngữ của các loài Hoa” để giới thiệu đến bạn đọc bốn phương như là một gợi ý để quý vị tùy theo đó mà chọn mua loại hoa thích hợp “riêng tặng ai đó” mà bạn muốn tặng, thay cho lời tỏ tình (nếu bạn rụt rè), cho tâm trạng hay ý nghĩ thầm kín của bạn. Vì thế chắc chắn không làm sao tránh khỏi thiếu sót nên kính mong các bậc thức giả, quý vị am hiểu về “Hoa” rộng lòng thông cảm và chỉ giáo cho. Trân trọng cám ơn.

© Lê-Ngọc Châu (NamĐức, Nhân dịp Lễ Valentine 2016)

Hai BS Việt (bên Mỹ) kiện nhau LƯỜNG GẠT VÀ ĂN CẮP !

FB_Hoang Dung Tran

10 hrs ·

HAI BÁC SĨ TRẺ VIỆT NAM ( bên Mỹ ) KIỆN NHAU LƯỜNG GẠT VÀ ĂN CẮP

Tuần qua, tại tòa Thượng thẩm Santa Ana, Calif, một vụ xử gọi là lịch sử giữa hai bác sĩ trẻ Việt Nam, vì từ cách kết án, đến lời chung kết của chánh án và những nhắc nhở hai chữ “Việt Nam” mà hai bác sĩ, một người tốt nghiệp ở Việt Nam và một tại Hoa Kỳ kiện nhau về tội bội ước và lường gạt tấm chi phiếu 400 ngàn đô.

Chánh án James P. Gray tuyên bố nguyên văn và được ghi trong bản án rằng:

Nguyên văn: ”Both of you are highly educated, intelligent young men, very successful. Personally, I am really, deeply proud of the Vietnamese Americans; I am proud of their work ethic, I am proud of who they are, what they have done and their success, and I can tell you both that from a personal standpoint, I’ve been to Vung Tau when I was in the Navy and in Vietnam, I’ve adopted a son from Vietnam, who’s now 34 years old, and I am deeply proud of that young man and I am ashamed when each of you, in my view, has testified untruthfully in this court room. You have obligation to testify truthfully,to tell the truth to your family, to your friend, to the jury and to your community, and it is a question of integrity that I hope you have…. “.

Tạm dịch như sau: ”Tôi sắp nói một điều mà tôi nghĩ chưa bao giờ làm. Việc hơi bất thường, tuy nhiên tôi có bổn phận phải nói cho chính tôi chứ không phải cho bồi thẩm đoàn. Tôi không ngụ ý nói cho họ và chút nữa quí vị sẽ có cơ hội để nói chuyện với bồi thẩm đoàn. Nhưng là một viên chức tòa án, tôi tin những gì đã diễn ra trong tòa làm cho không ra thể thống tốt đẹp gì cả.

Các anh là hai thanh niên có học cao, thành công. Cá nhân tôi, tôi rất kính nể người Mỹ gốc Việt. Tôi kính nể việc làm đạo đức của họ.Không biết họ là ai, tôi kính nể việc họ đã làm và những thành công của họ, và cá nhân tôi, tôi có thể nói với các anh, tôi từng phục vụ trong Hải quân tại Vũng Tàu, Việt Nam. Tôi nhận nuôi đứa con trai, nay anh ta 34 tuổi, và tôi rất hãnh diện về anh ta và cá nhân tôi, tôi cảm thấy xấu hổ về các anh khi nói những gì không thật trong tòa này. Các anh có bổn phận phải nói một cách thành thật, nói thật với gia đình các anh, với bạn bè,với bồi thẩm đoàn và cả cộng đồng của các anh nữa, và tôi hy vọng các anh có yếu tố liêm sỉ ấy…”

VỤ KIỆN BỘI TÍN

Nguyên cáo, Erick Lê, qua Mỹ 9 năm, tốt nghiệp Bác sĩ y khoa tại Việt Nam, khai trước tòa rằng, ông có mẹ từ Việt Nam qua thăm, bị đau chân. Nghe quảng cáo Trung tâm đau nhức có văn phòng chính tại đường Brookhurst, góc Mc Fadden, ông đưa mẹ đến đó chữa bịnh. Bác sĩ Trần Hồng Phong chữa bịnh cho bà. Trước khi trở về VN, ngoài tiền thù lao, bà tạ ơn Bác sĩ Phong bằng món quà, chiếc dồng hồ đeo tay, trị giá trên 2 ngàn đô. Hai người quen nhau.

Từ đó, Bác sĩ Trần Hồng Phong hay mượn tiền của Erick Lê, lần vài ngàn đô. Vợ bác sĩ Phong cũng vay tiền của Erick. Tổng cộng vay mượn là 16 lần, vay rồi trả. Thường trả đúng hạn.

Tháng 11,2004, bác sĩ Trần hồng Phong cho Erick biết là ông kẹt tiền vì đang xây và trang bị máy móc thêm mấy trung tâm chữa đau nhức nên đang làm thủ tục vay tiền. BS Phong cho biết ông phải vay bằng credit card, tiền lời trên 24% một năm. Nếu Erick cho vay nửa triệu, ông sẽ trả tiền lời 15 phần trăm một năm và sẽ dùng nhà ở trên đường Westminster để bảo đảm món nợ. Khi Erick xem nhà, thấy số tiền nợ và giá nhà chỉ cách nhau khoảng 200 ngàn nên không cho vay. Khi BS Phong bằng lòng dùng thêm các văn phòng Y khoa của ông làm tài sản thế chân thì Erick cho vay tiền, 400 ngàn, trả trong 2 năm, tiền lời 15% một năm. Thế chấp bằng căn nhà đang ở và phòng mạch trên đường Brookhurst. Hẹn nhau 2 P.M ngày 24-11-04 tại văn phòng Luật sư Nhuận làm giấy tờ.

Ngày 22-11, BS Phong gọi cho Erick là công việc đang xây cất, cần gấp tiền vì nhà thầu và thợ làm khó dễ. Cần có chi phiếu cho nhà thầu thấy sắp có tiền. Erick ký cho BS Phong chi phiếu 400 ngàn, hẹn sau khi ký xong giấy tờ mới được cash. Chi phiếu đề ngày 24 tháng 11, 2004.

Sáng 24-11, ngân hàng gọi cho Erick là có BS Phong đang ở ngân hàng, muốn cash số tiền 400 ngàn. Erick không cho cash và nói với BS Phong là tại sao không đợi tới 2 giờ chiều như đã hẹn tại văn phòng Luật sư, làm xong thủ tục giấy tờ mới cash tiền. Sau thời gian thuyết phục và BS Phong trao cho Erick giấy nợ có ghi thế căn nhà đường Westminster và phòng mạch, nói là đàng nào cũng sẽ đến văn phòng LS Nhuận ký sau. Erick cho lệnh ngân hàng cash tiền.

Chiều 24-11 như giao hẹn, sau khi lãnh được tiền, BS Phong không xuất hiện. Sau đó, Erick Lê gọi nhiều lần, lần nào BS Phong cũng bận hoặc không có ở văn phòng. Sau đó, người quen cho biết BS Phong cắm bảng bán nhà. Erick không tin, nhưng khi đến thấy nhà đã có cắm bảng bán nên Erick Lê đưa Bác sĩ Trần Hồng Phong ra tòa về tội bội ước và lường gạt 400 ngàn đô, cộng tiền lời, tiền luật sư và tiền phạt. Trước toà, Erick khai mục đích đưa BS Phong ra toà để ông phải làm thủ tục bỏ căn nhà và phòng mạch vào hồ sơ thiếu nợ chứ chỉ ghi sơ sài trên giấy nợ sẽ không đủ để bảo đảm món nợ.

Trước khi đưa BS Phong ra tòa, Erick còn cho BS Phong vay thêm 15 ngàn tiền mặt. Đến ngày trả nợ, Erick đòi và BS Phong chỉ trả 6 ngàn bằng chi phiếu của công ty Phòng mạch. Erick đặt vấn đề là tại sao ông cho vay bằng tiền mặt mà bây giờ trả nợ bằng chi phiếu của công ty.

Bị thưa, BS Trần Hồng Phong thưa ngược lại, đòi Erick Lê thêm 394 ngàn đô nữa, nói là Erick Lê còn thiếu BS Phong. Trong đơn kiện, Counter Claim, BS Phong khai rằng Erick Lê đã nhờ ông cố vấn để mở một trung tâm trị đau nhức giống như của BS Phong. Theo BS Phong, tiền cố vấn là 788 ngàn đô. Ông “discount” cho Erick 50%. Bây giờ kiện nhau, ông đòi lại hết.

Trước tòa, BS Phong kể thành tích của ông gần 3 giờ đồng hồ. Bác sĩ Trần Hồng Phong, 42 tuổi, 10 năm trong ngành Y khoa chuyên chữa đau nhức, có văn phòng Coastline trên đường Brookhurst, kể những bằng cấp ông đã có như bác sĩ duy nhất có Certified Pain do American Acadamy of Pain Management cấp, có nhiều chi nhánh, công tác với nhiều bịnh viện trong vùng Orange County…. BS Phong cũng có MBA, cao học về quản trị thương mại…BS Phong nói về món nợ 400 ngàn.

Theo BS Phong, Erick Lê muốn mở một trung tâm chữa trị về dau nhức vì Erick Lê cũng là bác sĩ Y khoa tốt nghiệp ở Việt Nam, nên nhờ ông cố vấn. Ông đã cố vấn Erick Lê chi phí tổng cộng là 394 ngàn đô. Erick Lê trả dư 6 ngàn nên ông đã ký trả lại cho Erick 6 ngàn.

Khi chánh án James Gray hỏi là tiền để cố vấn Erick Lê bao nhiêu một giờ?, BS Phong cho tòa biết là ông tính thân chủ là 600 đô một giờ. Nhưng ông chỉ tính 300 đô một giờ, discount 50%. BS Phong cho tòa biết là ông đã cố vấn cho Erick Lê tổng cộng là 1,313 giờ.

Một chi tiết nữa trong vụ kiện bội tín và lường gạt là Erick Lê đã nói vời tòa rằng BS Trần Hồng Phong đã là người ăn cắp chiếc Laptop trong xe của ông. Khi chánh án Jame Gray hỏi là tại sao ông lại quả quyết BS Phong đã ăn cắp Laptop của ông, Erick Lê khai rằng, trong thời gian giao thiệp với BS Phong, ông bị mất chiêc computer Laptop để trong xe. Ông mất, ông không dám nghi ngờ ai, nhưng Erick nhiều lần đã cho BS Phong mượn xe, có khi BS Phong lái, có khi tài xế của phòng mạch lái. Nhưng khi trước tòa, BS Phong đem trình tòa một dự án để làm bằng chứng là BS Phong đã cố vấn về dự án này, mà dự án này chỉ có gia đình Erick Lê có. Ngay cả logo trên các văn kiện chỉ một mình gia đình ông có. Dự án này viết trong Laptop và chưa bao giờ in ra giấy. BS Phong đã sữa chữa một số tên tuổi những người đứng tên trong dự án, nhưng những con số trong hợp đồng lại không sửa, mà chỉ có mình ông, Erick Lê, biết những con số này. Erick Lê cũng cho chánh án và bồi thẩm đoàn biết là sở dĩ ông quả quyết BS Phong đã ăn cắp máy Laptop của ông vì BS Phong đã trình tòa lá thư mà theo ông là BS Phong đã in ra từ cái Laptop của ông vì lá thư này do ông viết, viết mới lưng chừng và bị mất máy luôn.

BS Phong khi bị hỏi về lá thư in lưng chừng bằng chữ và tiếng gì thì BS Phong cho biết thư in bằng chữ Việt và Erick nhờ BS Phong dịch ra tiếng Anh.

Nhưng khi Luật sư của Erick hỏi là thư viết cho người Việt nam, tại sao Erick lại nhờ BS Phong dịch sang tiếng Anh, thì BS Phong có vẻ lúng túng.

Một chi tiết mà BS Phong nói về nguyên cáo Erick Lê là Erick là người thân với Cộng sản. theo BS Phong, nhiều Cộng sản cao cấp từng đến nhà của nguyên cáo… Nhưng chánh
án cho bồi thẩm đoàn biết là những chi tiết BS Phong nói Erick thân Cộng sản này không liên can gì đến vụ án
Sau hai ngày nghe 2 bên trình bày tố cáo nhau, bồi thẩm đoàn nghị án. Chỉ 15 phút sau, bồi thẩm đoàn quyết định Bác sĩ chuyên chữa trị đau nhức Trần Hồng Phong phải trả 400 ngàn cho Erick Lê, cộng tiền lời, tiền chi phí tòa án và tiền luật sư.

Lịch sử tòa án, chưa bao giờ một vụ kiện kéo dài 2 ngày mà nghị án 15 phút đã có kết quả 12/12. tức là không người nào trong bồi thẩm đoàn tin lời BS Phong trình bày. Loại kiện tụng này, chỉ cần 9 người đồng ý là đủ số quyết định ai thắng ai thua.
Cũng trong lịch sử tòa, chưa bao giờ chánh án lại tuyên bố những lời lẽ nặng nề với thân chủ của tòa. Vì những lời tuyên bố có tính cách bình phẩm trên dễ đưa đến cho bên nào bị thiên vị làm lý do xin kháng án.

“Đau” cho cả 2 vị bác sĩ là những lời nhận xét có tính “dạy đời” của vị chánh tòa. Ông này đã mỉa mai là “cảm thấy xấu hổ” khi phải nghe lời khai báo không thật thà của những người được xem là thành phần trí thức, sau khi ông đã công nhận sự kính trọng của mình đối với đa số trí thức gốc Việt. Sở dĩ xảy ra tình trạng lừa gạt nói trên là do tệ nạn cờ bạc. BS Trần Hồng Phong khá “nổi tiếng” về bài bạc cũng như cá độ football (bóng đá kiểu Mỹ). Đã từng có lần mấy thanh niên tới phòng mạch của Trần Hồng Phong làm hùm làm hổ đòi Trần Hồng Phong phải trả tiền thua độ, mà nào có ít, đến mấy chục ngàn USD.

Cũng do ghiền đỏ đen mà BS Trần Hồng Phong đã bị nhiều người từ bỏ. Các y sĩ khi tốt nghiệp đều thề sẽ trung thành với quy tắc “Danh dự và Liêm khiết” khi hành nghề. Những ai quên lời thề Hippocrates (tạm hiểu: lời thề y đức), người ấy sẽ “mang mối ô danh và cam chịu sự khinh bỉ của đồng nghiệp”.

Ngược lại với hành vi của BS Trần Hồng Phong nói trên, hầu hết các bác sĩ gốc Việt đã rất tận tình tận lực với đồng hương. Chúng tôi còn nhớ mới đây thôi, vào khoảng cuối tháng 6.2007, Hội Y sĩ Nam Cali đã tổ chức một buổi tặng sách vào dịp cuối tuần. Hôm đó, hơn cả ngàn đồng hương đến dự, chật kín cả hội trường. Các bác sĩ ngoài việc chữa trị bệnh, đã tâm huyết viết lại những triệu chứng bệnh cùng cách phòng ngừa để in thành tập sách Kiến thức y tế phổ thông rất cần thiết cho mọi người. Hội đã phát không 2.000 cuốn và các bác sĩ thành viên của Hội đã giải đáp thắc mắc về bệnh tật của quý đồng hương. Họ đã hành xử đúng châm ngôn “Lương y như từ mẫu” và nhận được sự kính trọng không những của cộng đồng người Việt mà cả những cộng đồng sắc dân khác.

//

Trang Nguyên – Nhớ Tết !

Nhớ Tết xưa
 
Trang Nguyên
Nhớ lại những cái Tết xưa hồi còn thơ ấu mà thèm thuồng. Tuổi thơ ấu nằm bên ngoài lo toan, nhu cầu, dự tính… thế nên trong sáng làm sao. Nhưng thôi, bỏ đi những phiền toái cuộc sống hiện tại, chỉ dành nói riêng về cái Tết, bởi vì lúc này thời điểm Tết rộn ràng trên khắp nẻo đường quê. Không chỉ là Tết mà lại là Tết xưa lúc tôi còn nhỏ. Quãng thời gian ấy, lòng háo hức đón Tết đã đầy Tết trước khi gặp Tết.
Tet Xua 1

Chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ, trước Tòa Đô Chính Sài Gòn – nguồn panoramio.com

Đúng ra thời điểm Tết lúc này đã đi qua nhưng năm Ất Mùi lại còn chưa đến vì năm Giáp Ngọ là năm nhuận nên Tết năm nay đến trễ hơn mọi năm. Nhớ chuyện ngày xưa, Tết đến trễ hay đến sớm đối với bọn trẻ con chúng tôi không quan trọng. Quan trọng nhất là không khí ngày Tết chộn rộn khởi đầu từ ngày Hăm Ba đưa ông Táo chầu Trời, chợ búa rộn rã kẻ mua người bán, vàng mã cho buổi cúng Tết Ông Công trong những ngày cuối Tháng Chạp.
Nói là Tết Ông Công, Tết Ông Táo cho xôm tụ, chứ thật ra chỉ là một lễ cúng đơn sơ tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình. Xóm tôi ở có đủ người của ba miền Nam, Trung, Bắc và cuộc sống của mỗi gia đình cũng khác nhau, nhà nào cũng đông con, đủ ăn là may lắm. Nhưng cũng có những gia đình khá giả làm mâm cỗ cúng đầy đủ hơn, có hoa quả, bánh mứt, xôi gà. Người miền Nam như gia đình ba má tôi thường chỉ cúng dĩa trái cây và dĩa kẹo “thèo lèo cứt chuột” cùng vài ba miếng mứt bí mứt gừng.
Tet Xua 2

Dưa hấu không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên trong những ngày Tết

Hồi nhỏ tôi cứ tưởng kẹo bông dâu áo đường, bên trong có hạt đậu phộng rang là “cứt chuột”, còn cục kẹo mè đen thui mới là “thèo lèo”. Cứt chuột đâu mà to như hạt trai lại có màu trắng màu hồng đẹp mắt. Thật ra kẹo mè đen mới là “thèo lèo cứt chuột” vì cái hạt mè đen to như cứt chuột nhắt nhưng thơm giòn hơn hạt mè trắng. Nói vậy thôi chứ bọn trẻ nhà nghèo chúng tôi thích nguyên cả đĩa kẹo mứt cúng Ông Táo trên cái mâm nhỏ đặt trước miệng ông lò lấm lem lọ nghẹ. Và tôi nhớ hồi năm lên mười, lần đầu tiên tôi khám phá một việc hệ trọng chấn động thiên đình trong tập truyện tranh thiếu nhi, là chuyện Ông Táo không mặc quần mà chỉ đội mão mang hia cưỡi cá chép về trình tấu Ngọc Hoàng tình hình làm ăn tốt xấu, cách cư xử của mỗi gia đình dưới trần thế.

Chuyện thần thoại thật hấp dẫn, tôi hí hửng học thuộc đem chuyện này đi khoe với mấy thằng bạn hàng xóm cho oai nào ngờ tụi nó quay lưng “xì” một tiếng, “chuyện cũ xì, tụi tao biết hết rồi”. Thằng Tèo bảo, “Ba tao biết nhiều chuyện trên thiên đình hạ giới. Ổng kể, Ông Táo không mặc quần vì suốt cả năm ngồi trên bếp lò nóng đổ lửa, mặc quần áo chi lấm lem tốn xà bông giặt đồ. Hơn nữa suốt ngày Ông Táo ngự trong bếp không lo cái ăn cái mặc như những người lao động xóm mình. Ba tao đạp xe ba gác kiếm ăn mỗi ngày còn không đủ nên Ông Táo nghèo không mặc quần xem ra còn sướng hơn ông Cả làng. Ba tao ngân nga như vầy nè: Ông Cả ngồi trên sạp vàng / Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo / Ông Bếp ngồi trong đống tro / ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm”.
Tet Xua 3
Một góc chợ hoa kiểng chưng ngày Tết

Nghe thằng Tèo kể, thấy ba nó đúng là nhà thông thái. Ông Táo sướng cả năm, chẳng lo, chẳng làm chi cho cuộc sống. Nhiều nhà nghèo trong xóm tôi, buôn thúng bán mẹt, đạp xe ba gác, xích lô quanh năm suốt tháng, nhất là sau ngày Tết Ông Công phải lo may sắm quần áo mới cho đám con đông, lo mua trữ những món ăn ngày Tết cho đủ đầy với bà con chòm xóm. Trong khi bọn trẻ xóm tôi thì lòng lúc nào cũng hớn hở bắt đầu vào ngày tiễn đưa ông Táo. Kể từ ngày này, Tết thực sự đến với chúng tôi bằng những tấm áo mới, mơ tưởng đến những phong bao lì xì sớm vào ngày Mùng Một để có tiền mua phong pháo chuột đốt chơi đì đùng.

Nói là bọn trẻ con chúng tôi vui Tết từ ngày tiễn đưa Ông Táo, chứ tôi thấy người lớn rảnh rỗi mong Tết không thua gì bọn con nít xóm nhà lá tụi tui. Nhà nhà từ đầu trên xóm dưới đều thay màu vôi mới. Màu vàng chanh, màu khói, màu hồng phấn, màu xanh phớt da trời, nói chung những màu mát nhẹ tươi vui làm khuôn mặt những người đi qua xóm ai cũng nở nụ cười chào hỏi, “Chà, năm nay quét vôi ăn Tết lớn hả, anh Hai, anh Ba…” Đâu chỉ vậy thôi, dường như cả không khí mây trời cũng thay đổi, bầu trời xanh cao hơn, gió thoảng nhẹ mang theo hơi ấm mùa xuân tỏa khắp ngõ ngách mọi nhà, tiếng hát ngọt ngào thoát ra từ máy radio nhà ai cũng đầy xuân thắm. “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa. Một chiều xuân em đã hẹn hò…”
Tet Xua 4
Đầu năm đi Lăng Ông Bà Chiểu cúng vái cho một năm làm ăn suôn sẻ

Thường thì sau ngày tất niên nghỉ Tết ở trường, những thằng bạn thân trong xóm chúng tôi cùng hẹn nhau đi ra chợ… ngắm Tết. Chẳng cần đi đâu xa tận đến chợ Ông Tạ hay lén ba má nhảy lên xe lam ra chợ Bến Thành. Chợ Tết nơi nào chẳng đông đúc, nhất là ngôi chợ Hòa Hưng gần xóm nhà tôi. Gian hàng bánh mứt của mấy tiệm buôn mặt tiền cơi thêm ra tận lề đường, chưng bày từng bao mứt vun ngọn đủ loại đủ màu trông thật ngon lành. Tiếng phèng la, nhịp trống ông địa lưng tưng của người rao bán thu hút bọn trẻ chúng tôi. “Bánh mứt Tết nhất bà con ơi, mại dô, mại dô. Hai trăm hạt dưa, nửa ký gừng, thêm bốn trăm chà là cho dì áo xanh. Nhanh tay lên ông Địa, bỏ trống đi, cân cho cô Tám Ù ký khoai, cho kẹo bông dâu đầy đủ, gói giấy đỏ tặng khách…” Bọn nhỏ tụi tui đứng trố mắt nhìn nghe vui tai nhưng cũng chẳng hiểu đầu đuôi tai nheo ra sao giữa những người mua bán. Gì mà hai trăm hạt dưa, bốn trăm chà là. Thằng Tèo tài lanh: “Mày ngu quá! Người ta nói rõ ràng hai trăm hạt dưa tức là hai trăm cái hạt dưa. Còn bốn trăm chà là tức là bốn trăm trái chà là”. Thằng Tí cự lại: “Mày mới đúng là đại ngu! Hai trăm cái hạt dưa mua ăn làm gì cho mỏi răng. Hai trăm đồng hạt dưa, bốn trăm đồng chà là, mới đúng”.

Cãi nhau một hồi, bọn trẻ chúng tôi tiếp tục la cà các gian hàng khác. Nào dưa hấu, lá chuối, lá dong, trái cây, bông cúng, gà vịt, hoa kiểng chưng Tết, quầy bán pháo xen kẽ nối tiếp nhau khắp hai bên đoạn đường bao quanh chợ ra đến ngã tư Tô Hiến Thành và Lê Văn Duyệt vui thật là vui. Chợ Hòa Hưng không phải là chợ đầu mối nhưng trong những ngày cuối năm luôn nhộn nhịp, ồn ào tập trung nhiều hàng hóa. Tôi thích đứng nhìn những chiếc xe tải chở dưa hấu xuống hàng, người quăng người chụp chuyền tay nhau từng trái dưa to hơn trái banh bóng rổ mà chẳng hụt tay bao giờ. Nhưng với tôi, quang cảnh chợ Tết đẹp nhất vẫn là ở góc ngã tư phía trước bởi sản vật buôn bán bày biện đủ màu như một bức tranh cây trái của vùng sông nước miền Tây, từ các cần xé dừa, xoài, cam, bưởi, quýt, cho đến từng đệm bông cúng vàng rực cùng những giỏ hoa kiểng chưng Tết đắt tiền.

Đứng xem một hồi dường như thằng Tèo chán mắt. Nó rủ, “tụi mình lên xe ngựa ra Chợ Bến Thành xem chợ hoa đi, nhiều hoa đẹp hơn ở đây”. Nghe nó rủ tôi cũng muốn đi nhưng ngày mai Hăm Chín, má tôi hứa cho anh em chúng tôi đi chơi Lăng Ông Bà Chiểu để ngày Ba Mươi còn có thời gian nấu nướng cúng đón ông bà và gói nồi bánh tét cuối năm. Ba tôi khó tính, cúng ông bà phải đúng mười hai giờ trưa, mọi người lớn nhỏ ai cũng phải đốt nhang khấn vái mời ông bà về ăn Tết cùng con cháu. Có năm cây nhang tôi cắm trong lư hương, tàn nhang cháy cong vòng mà không rớt xuống suốt ba ngày Tết. Ba tôi bảo rằng, “mình khấn vái thành tâm, ông bà về phù hộ cho cả nhà một năm suôn sẻ”.
Tet Xua 5

Tiếng pháo đì đùng của mỗi cái Tết xưa giờ chỉ còn là hoài niệm


Thật ra không phải năm nào má tôi cũng có thời gian cho con cái đi chơi Lăng Ông, chụp một tấm hình kỷ niệm cuối năm. Má tôi buôn bán gạo, nếp quanh năm ngoài chợ, ngày Tết đắt hàng phải nhờ mấy bà chị ra chợ ngồi bán thế. Tôi khoái đi Lăng Ông không phải thích ông Tả Quân Lê Văn Duyệt mà tôi thích đến vườn nhà bà đồng cốt ở gần miệt chợ Đa Kao. Thể nào má tôi cũng ghé đây trước, xem bói coi năm tới mua bán làm ăn có phát tài, trong khi anh em tụi tôi được chạy nhảy lung tung trong mảnh vườn cây trái bao quanh những ao cá. Không biết bà đồng cốt xem có đúng hay không nhưng người ta đến coi đông lắm, phải lấy số ngồi chờ tới phiên lượt mình. Má tôi thì được ưu ái hơn, có khi xem xong tới giờ ăn trưa được mời ở lại ăn bữa, còn anh em tôi nhận được mỗi đứa một phong bao lì xì với lời chúc dài khó nhớ, “ăn no chóng lớn, học hành tấn tới, thi đâu đậu đó…”

Bao lì xì sớm chỉ là tờ giấy một đồng xanh nhưng lòng tôi vui hơn bao giờ hết. Rồi Ba Mươi Tết sau khi cúng đón ông bà, anh em tụi tui quây quần chăm chúc ngọn lửa bên nồi bánh tét nhỏ cuối năm kéo dài đến trước Giao Thừa. Tôi ngồi bên nồi bánh, tai lắng nghe tiếng pháo xa gần đì đùng chuẩn bị đón Giao Thừa đang tới gần thì cũng vừa lúc những đòn bánh nhỏ được vớt ra, tắm rửa sạch sẽ ngự lên bàn thờ, trên mâm cúng khói hương nghi ngút. Phong pháo nhỏ treo trước cửa rào đã sẵn sàng. Một tràng pháo đầu ngõ báo tin giờ Giao Thừa đã đến, thế rồi tiếp theo sau là một chuỗi cười rộ vang lên khắp nơi đì đùng đì đùng như thế kéo dài suốt một năm tương lai, bắt đầu niềm hân hoan trong mù khói và mùi diêm sinh tống tiễn năm cũ, đón mừng năm mới.

Trang Nguyên

t in Saigon. Vietnam 2016

Đồng chí Kim Jong Un cũng phải ‘coi chừng’!

Bắc Triều Tiên: «Không thể loại trừ khả năng quân đội làm đảo chính»

———————————
RFI Đăng ngày 09-02-2016 Sửa đổi ngày 09-02-2016 12:18
http://vi.rfi.fr/chau-a/20160209-btt-xh

Không ai có thể biết được bộ máy chính trị Bắc Triều Tiên vận hành như thế nào, càng lên cao thì càng nguy hiểm, không thể loại trừ khả năng quân đội tiến hành đảo chính, hoặc việc loại trừ Kim Jong Un có thể sẽ rất tàn khốc. Trên đây là các nhận định của ông Pierre Rigoulot, khi trả lời phỏng vấn báo Libération (đăng ngày 08/02/2016).Ông Pierre Rigoulot là giám đốc Viện Lịch sử xã hội, chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc quyền, và có hơn 20 năm nghiên cứu về Bắc Triều Tiên. Năm 2003, ông đã từng xuất bản sách đề tựa « Bắc Triều Tiên, Nhà nước côn đồ ». RFI giới thiệu bài phỏng vấn này.

Làm thế nào định nghĩa chế độ Bắc Triều Tiên?

Cho dù đất nước này ngày nay thuộc lại chế độ toàn trị, nhưng cũng phải xem nước này như là một phần của thế giới cộng sản. Điều đó đã được phản ảnh qua cái tên chính thức “Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên”.

Dưới khía cạnh này, các hành động của Bắc Triều Tiên không hẳn là không thể đoán trước được. Khi người ta bàn về hạt nhân, tôi nghĩ đến cách thức mà phe Xô Viết đã sử dụng loại vũ khí này như là một phương cách gây áp lực nhưng chưa bao giờ tiến hành tấn công.

Các định chế tại Bắc Triều Tiên mang đậm dấu ấn của các định chế theo chủ nghĩa Lê Nin: một đảng duy nhất, một cấu trúc bộ máy cầm quyền hình tháp, một hệ tư tưởng bắt buộc. Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên đã giữ khoảng cách với chủ nghĩa cộng sản ngay từ những năm 1970.

Bắc Triều Tiên đạt đến trình độ phát triển ở mức nào ?

Bắc Triều Tiên không nằm trong thế giới thứ ba. Đương nhiên, là có kiểm soát tư tưởng, nhưng ở nước này cũng có trường đại học, một hệ thống giáo dục nghiêm túc. Kể từ sau nạn đói 1995-1998, phương pháp phân phối lương thực đã bị chỉ trích không ít.

Nền kinh tế ngầm đã phát triển rất nhiều, người dân đã học cách tự xoay sở một mình. Nhiều khu chợ tư nhân mọc lên, vài khu chợ lớn tới mức có thể thấy được qua vệ tinh. Tình hình kinh tế vẫn còn rất xấu, nhưng cũng không đến nỗi quá nghiêm trọng, 2014 là năm có các vụ thu hoạch tốt nhất từ 20 năm qua.

Từ khi Kim Jong Un lên nắm quyền cách đây 4 năm, nhiều chính sách cải cách đã được thực hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực nông trại tập thể. Điều kiện sống tại nông thôn và nhiều thành phố nhỏ chưa hẳn là bớt khó khăn. Thủ đô trở thành một chiếc tủ kính, nơi tập trung nhiều quan chức và phần đông những người thuộc đẳng cấp ủng hộ chế độ.

Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho biết tại những thành phố trung bình, cũng có xe hơi, tiệm ăn, người dân ăn mặc chải chuốt, như tại thành phố cảng biển Wonsan (vốn chỉ có 300.000 dân và nằm cạnh bờ biển phía tây đất nước).

Nền kinh tế ngầm chiếm một tỷ trọng bao nhiêu?

Nền kinh tế núp bóng các định chế chính thức có một sự phát triển cực kỳ quan trọng. Chẳng hạn, bạn mở một nhà hàng nhân danh một chi bộ đảng tại khu phố. Nhưng trên thực tế, với một chút tiền huê hồng, vị quan chức của đảng để bạn làm kinh doanh như là một ông chủ tư bản, mà không hề bị quấy rầy vì các quy định, luật lệ…

Đương nhiên, đó là một kiểu chủ nghĩa tư bản gần như là hoang dã, chỉ làm giàu cho các quan chức nhận hối lộ. Nghe có vẻ hơi điên khùng: doanh nghiệp tư nhân thì bị Nhà nước cấm nhưng điều đó lại bảo đảm cho sự tồn vong của chế độ.

Mô hình đẳng cấp với 54 cấp độ khác nhau liệu có thể tồn tại lâu dài ?

Có chứ, người dân luôn bị giam hãm trong một hệ thống đẳng cấp rất ư là cứng nhắc, gần như ăn sâu trong gien. Bởi vì điều đó còn lệ thuộc vào cách thức cư xử của ông bà của bạn. Nếu bạn thuộc vào đẳng cấp 10% người « ủng hộ chế độ », bạn sẽ trở nên giàu có.

Ngược lại, không ai có quyền chọn lựa cả nơi sinh sống lẫn nơi làm việc, học hành. Sống tại Bình Nhưỡng vẫn là một ưu tiên. Nhưng nếu, chẳng hạn, bạn tỏ ra không mấy hồ hởi để vui mừng hay bày tỏ thái độ ủng hộ chế độ, bạn có thể bị chi bộ đảng ở khu phố buộc phải chuyển đến một ngôi làng sống với những người bị xem là thiếu niềm tin hay trong một trại nào đó.

Còn nếu chúng ta xem xét đến những đẳng cấp thấp hơn, hình như có khoảng 100.000 người bị nhốt cùng với gia đình của họ do bị nghi ngờ là kẻ thù của chế độ. Bạn có thể bị giam tù cho đến khi nào bạn tìm lại được một « tư tưởng lành mạnh ». Nhưng cũng có những trại tù nhỏ chỉ giam cầm vài tuần cho những tội danh nhỏ.

Làm thế nào biết được chuyện gì đang xảy ra ở bên trong nước này?

Sự hiện diện của điện thoại cầm tay đã làm thay đổi nhiều thứ. Các thông tin về nước này đều được tìm thấy trên các trang mạng nước ngoài. Theo chiều ngược lại, thì bất chấp việc bưng bít, không có quyền trao đổi thông tin…nhưng các bài viết hình ảnh từ bên ngoài vào đang làm thay đổi cách nhìn của người dân.

Bắc Triều Tiên có rất nhiều công nhân lao động ở nước ngoài, tại Trung Quốc, Nga hay Qatar. Các phần đóng góp đến từ bên ngoài đang làm xói mòn dần chế độ. Nhưng khó có một sự nổi dậy. Người dân bị kềm kẹp rất nghiêm ngặt, bị giám sát chặt, và bị trừng phạt khi có sai phạm. Tuy nhiên, cũng có nhiều hy vọng hơn từ phía các công chức và quan chức cấp cao, những người quá bị đe dọa, có lẽ cũng sẽ muốn thử liều mình.

Kim Jong Un chỉ mới có 33 tuổi và đã từng du học ở nước ngoài, liệu ông ấy có thật sự muốn điều hành đất nước như cha và ông nội ông ấy từng làm?

Chắc chắn là ông ấy cũng ý thức được về các chương trình cải cách cần làm và mối hiểm họa đang đến gần. Khi một chế độ độc tài cố thử thay đổi, đó chính là lúc họ đang yếu nhất. Chế độ này được Trung Quốc chống đỡ với một mong muốn duy nhất, đó là sự ổn định trên bán đảo.

MÙA XUÂN trong Nhạc của Nguyễn Văn Đông!

MÙA XUÂN TRONG NHẠC CỦA NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Phan Anh Dũng

Đại tá Nguyễn Văn Đông chụp năm 1971 tại Sài Gòn.

Nếu bàn về những ca khúc Xuân của Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, có lẽ chúng ta phải nhắc tới 2 ca khúc được phổ biến rộng rãi: “Nhớ Một Chiều Xuân”, sáng tác để kỷ niệm chuyện tình lãng mạn với một thiếu nữ bản xứ khi Ông đi tu nghiệp ở Hawaii năm 1957; và “Phiên Gác Đêm Xuân” – sáng tác từ một kinh nghiệm có thật đêm 30 Tết ở một tiền đồn vùng Đồng Tháp Mười năm 1956.


Trong lúc biên soạn, tôi khám phá nét đẹp của “Dáng Xuân Xưa”, một tình khúc ít phổ biến mà Sĩ Phú diễn tả lời ca trong bài rất tới: “bâng khuâng thấy hoa mỉm cười chạnh nhớ đến người … lòng ta lơ đãng mà Xuân vẫn sang“.

 

Sau 1975, Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn tiếp tục sáng tác một số ca khúc đầy tình tự quê hương như: Trái Tim Việt Nam“- Tuấn Ngọc hát , Nguyện Cầu Trên Bến Ngàn Năm” – Thanh Tuyền hát… và dù trong hoàn cảnh khó khăn, Ông vẫn âm thầm sáng tác và trải bày tâm sự với thính giả qua Núi và Gió” – Tâm Hảo hát , Vô Thường” – Giao Linh & Đức Minh song ca …

 

Một số thân hữu yêu nhạc ngạc nhiên vì thấy qua thời gian, Ông vẫn sáng tác với những ca khúc đầy ý tình lãng mạn nồng nàn như: “Nếu Có Em Bên Anh”, “Khúc Xuân Ca”. Riêng tôi yêu quý “Tình Cố Hương”, ca khúc nói lên lòng nhung nhớ quê nhà sâu đậm của người viễn xứ mỗi độ Xuân về.

 

Cảm ơn Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã dâng tặng những đóa hoa Xuân tuyệt đẹp cho đời. Kính chúc Ông được nhiều sức khỏe và an vui trong cuộc sống


Một chút lai lịch về bản nhạc “Nhớ Một Chiều Xuân” – (Thy Nga – RFA 2006)
 

Ngoài tài sáng tác nhạc, Nguyễn Văn Đông còn hát và sử dụng được nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandoline và guitare Hawaiienne. Năm 1957, Nguyễn Văn Đông đi tu nghiệp khóa “Chỉ huy và Tham mưu” tại Hawaii. Trên bãi biển thơ mộng, tiếng đàn Hawaiienne của chàng Trung úy tài hoa 25 tuổi đã làm say mê Gina, một thiếu nữ bản xứ lai Pháp.
Cuộc tình ấy, anh đành khép lại khi mãn khóa tu nghiệp, trở về nước. Thời đó, tức là cách nay nửa thế kỷ, kết hôn với người ngoại quốc là điều khó khăn lắm, anh chỉ còn biết tiếc nhớ …
Một buổi chiều Xuân năm sau đó, khi nỗi nhớ chất ngất, chàng nhạc sĩ viết nên bài Nhớ một chiều Xuân”. Mời quý vị nghe qua giọng hát Lệ Thanh, ca sĩ đầu tiên trình bày bài này. Đây là âm thanh trong dĩa hát Việt Nam thâu vào khoảng thập niên 60 (tiếng đàn Hạ Uy Cầm: nhạc sĩ Đan Phú, em của nhạc sĩ Đan Thọ)
Câu hát “Người yêu dấu bên bờ thành Vienne” làm nhiều người thắc mắc, không hiểu tại sao lại có thành Vienne ở đó? Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đã hỏi và được tác giả Nguyễn Văn Đông giải thích là hình ảnh của Gina trong tâm tưởng ông đã gắn liền với nhạc bản “A beautiful Vienna” mà ông đàn nhiều lần cho nàng nghe vì nàng thích bài này …

 

Lai lịch bài “Phiên Gác Đêm Xuân”

NVD

(trích bài phỏng vấn NS Nguyễn Văn Đông của Hoàng Lan Chi)
Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.
Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay. Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hóa, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phãi được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.
Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:
“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngở rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”
Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây mái nhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”
Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt… vân vân. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.

__._,_.___

Tệ trạng hành lý bị ‘rạch, lấy trộm đồ’ tại các Phi trường ở VN!

Hành lý cuả ‘Việt kiều’ về nước bị Tập đoàn VC bao vây mổ xẽ !!

Kiều bào về quê ăn Tết nhưng rất nhiều người bị rạch một cách lộ liễu. Và mất đồ là điều không thể tránh khỏi. Cùng vietbf.com khám phá thêm.
Những kiều bào từ nước ngoài về quê ăn Tết và thăm gia đình gần đây liên tục gặp tình trạng bị rạch và đánh cắp hàng hóa khi về đến sân bay
Nạn nhân báo cáo cho quản lý Vietnam Airline về tình trạng bị rạch thùng
Anh chỉ mất những món đồ có giá trị, khâu trả hàng mất tới gần 2 giờ Quản lý cũng chỉ biết bó tay dù tình trạng này là vô cùng phổ biến! Rạch một cách quá… lộ liễu

Hành lý tại sân bay Nội Bài.

Một khách bị bẻ khóa va ly

Valy bị bẻ khóa, hành khách kiểm tra lại hành lý thì phát hiện bị rút đồ.

Dù hạ cánh từ 8h55 phút nhưng 3 tiếng sau nhiều khách trên chuyến bay Su 290 (SVO) vẫn chưa lấy được hành lý

Thứ trưởng GTVT Nguyễn Hồng Trường cho biết sẽ cho kiểm tra thông tin hành lý của nhiều hành khách bị rạch ở Nội Bài. Sau khi đăng tải bài viết về tình trạng nhiều hành khách bay quốc tế đến sân bay Nội Bài bị rạch hành lý, mất đồ, bên lề họp báo Chính phủ chiều 29/1, phóng viên VOV trao đổi với Thứ trưởng GTVT Nguyễn Hồng Trường về vấn đề này.
Người Việt hải ngoại liên tục bị rạch và mất đồ khi hành lý về đến sân bay https://www.youtube.com/watch?v=h9Y2iXL8cpM
Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường tỏ ra khá bất ngờ trước thông tin này và cho biết: Bộ đã khá mạnh tay với tình trạng rạch hành lý, lấy cắp đồ của khách ở sân bay. Hành lý tại sân bay Nội Bài. “Tôi sẽ cho kiểm tra cụ thể và sẽ xử lý nghiêm nếu có” – ông Trường nói.
Đồng thời, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường hứa sẽ có câu trả lời sớm nhất. Trước đó, như đưa tin, hành lý của nhiều hành khách trên chuyến bay Su 290 (SVO) của Nga, từ Moscow đến Nội Bài (Hà Nội) lúc 8h55 sáng 27/1, đã bị rạch, bẻ khóa và bị mất đồ. Bức xúc vì hành lý máy bay bị rạch sạch Ngay tại sân bay Nội Bài các hành lý đã bị rạch sạch. Nhiều hành khách quá bức xúc và nên nhớ đừng đi qua đường Nga. Cùng vietbf.comkhám phá thêm. Nhiều kiện hành lý của khách bị rạch tả tơi ở sân bay mà “khổ chủ” chỉ biết nhăn nhó không biết kêu với ai.
Chuyến bay Su 290 (SVO) của Nga, từ Moscow đến Nội Bài (Hà Nội) lúc 8h55 sáng 27/1/2016. Hành lý của nhiều hành khách trên chuyến bay này đã bị rạch, bẻ khóa và bị mất đồ. Một hành khách cho biết, cũng chuyến bay Moscow – Hà Nội ngày 26/1, người nhà của anh cũng thông báo hành lý bị rạch và mất cắp. Một khách bị bẻ khóa va ly Valy bị bẻ khóa, hành khách kiểm tra lại hành lý thì phát hiện bị rút đồ.
Dịp cuối năm, nhiều Việt kiều về quê ăn Tết rất lo sợ tình trạng mất cắp hành lý theo kiểu “rút ruột” ở sân bay Nội Bài. Thực tế, hành lý bị “giam” ở sân bay quá lâu, trong khi các sân bay quốc tế chỉ sau 30 phút khách có thể lấy đồ, ra khỏi sân bay. Còn ở Nội Bài, mất gần 1 buổi sáng. Dù hạ cánh từ 8h55 phút nhưng 3 tiếng sau nhiều khách trên chuyến bay Su 290 (SVO) vẫn chưa lấy được hành lý, chờ đợi trong phấp phỏng lo âu vì hành lý của nhiều người trước đó đã bị gỡ tung rồi được “băng bó” lại một cách sơ sài. Nhiều hành khách bị rạch hành lý ở sân bay
Trước đó, tại hội nghị tổng kết năm 2015 và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2016 mới đây, Bộ trưởng Đinh La Thăng yêu cầu Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) đặt mục tiêu trong năm 2016 không còn tình trạng mất cắp hành lý của hành khách ở sân bay. Bộ trưởng cho biết đã nhận được rất nhiều tin nhắn của hành khách phản ánh về dịch vụ ở một số sân bay, điển hình trong đó là tình trạng mất cắp tài sản. Làm gì khi bị mất cắp hành lý và thất lạc ở sân bay?
Tin tức trên báo Pháp luật Việt Nam, hành lý từ quầy check-in đến khi bạn xuống sân bay ở nơi đến phải trải qua rất nhiều công đoạn: từ soi chiếu an ninh; chuyển lên máy bay; chuyển từ máy bay ra xe chở và vào khu vực băng chuyền trả lại cho hành khách. Những công đoạn này hoàn toàn do nhân viên sân bay phụ trách. Dù có hàng trăm camera với một trung tâm điều hành hoạt động liên tục nhưng hiện tượng cố tình bẻ khóa, mất đồ đạc trong vali không phải là chưa xảy ra và điều này khiến nhiều người vô cùng bức xúc.
Hải quan Việt Nam đã và đang trở thành ác mộng trong mắt người dân Khi phát hiện phía ngoài hành lý nguyên vẹn nhưng bên trong đã bị mất vài món đồ, hoặc có dấu hiệu rạch vali lấy đồ, bạn cần ngay lập tức báo với bộ phận thất lạc hành lý để báo cáo về những dấu hiệu bất thường của hành lý như yêu cầu cân lại hành lý, kiểm tra xung quanh hành lý khi nhận, kê khai đặc tính tài sản bị mất… Hải Quan Việt Nam ăn cắp 6 lon sữa Ensure của người bệnh ung thư sắp chết
*****
Đi VỀ Việt Nam để Ăn Tết , để Du Lịch , để hưởng các thú vui …. v…v….. là bị trúng kế , bị sa lưới , bị mắc bẩy sập của các kế hoạch , các phương án , các mưu mô , các cách thức , xảo thuật ” NUÔI CÁ HỒI ” của Cộng Sản Việt Nam …… Các Việt kiều chỉ có bị thiệt hại , bị lỗ lã nặng nề , thê thảm mà thôi !!!!!!!!! ngoại trừ mục đích để hưởng các thú vui tình dục , thú vui xác thịt với các phụ nữ dâm loạn , thác loạn , xảo quyệt , gian trá , bịp bợm mà thôi !!!!!!! — Ngoài ra , bây giờ mấy lúc nầy ở Việt Nam các kẻ gian xảo khắp nơi đều ngấm ngầm , kín đáo , bí ẩn dùng các loại bùa ngải !!!!!!!! Họ dùng các lá và các hoa của một loại cây ngải gốc ở Colombia , Nam Mỹ trồng phát triển ở các xứ nóng , họ xoa chúng vào tay hay các thẻ danh thiếp giả mạo của họ rồi họ giả đò , giả bộ đến vỗ vai , vỗ chạm đến thân thể minh , đến bắt tay , giả bộ chào và hỏi thăm tin vớ vẩn , gợi chuyện nói vài lời vớ vẩn , thế là các Việt kiều bị mê hồn , mất hết thần khí và hồn phách …. bị bùa , bị ngải rồi thì đâu có biết gì nữa đâu ….. họ bảo đưa trao hết tiền của cho họ , hết tài sản cho họ ….. và các Việt kiều ngoan ngoãn làm theo các lệnh của các kẻ gian tham !!!!!!
Khắp nơi

kim thanh – Một ngày với mùa Xuân Hà Nội!

MỘT NGÀY VỚI MÙA XUÂN HÀ NỘI

 

kim thanh

 
      I. Tôi sinh ra, và lớn lên, tại Nha Trang. Gia đình bên ngoại gốc “Nhe Treng” rặt, và bên nội, gốc Quảng Trị, cũng rặt. Bởi vậy, anh em tôi trong nhà nói một thứ tiếng lai căng, ở trường học không nói tiếng Việt, nên ra ngoài không có cái giọng, kiểu “chu che bữ nê mềnh lợi eng cuôm dí ké nữ” (dịch nghĩa: Chu cha bữa nay mình lại ăn cơm với cá nữa) cố hữu của dân địa phương thứ thiệt, như mấy đứa bạn cùng xóm. Rồi sau năm 1954, người Bắc di cư vô Nam nói, ôi thôi, đủ thứ tiếng Bắc kỳ, nghe rất mệt tai. Trong số, tôi chỉ chấm, và mê, tiếng hát mượt mà, đài các, phát âm chuẩn xác của những nữ ca sĩ chính gốc Hà Nội, như Kim Tước, Thái Thanh, Mộc Lan, Tâm Vấn, và những minh tinh, như Kiều Chinh, Mai Trâm. Tất cả những mỹ nhân một thời ấy đã mang theo vào Miền Nam dáng vẻ thanh lịch và giọng nói quý phái từ Hà Nội cổ kính, và cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.
      Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn nhà thơ Bắc kỳ di cư. Nhất là nghe những ca khúc đương thời thương về Hà Nội. Trong đó có một câu, trong một bài, mà ông cậu ruột mười sáu tuổi, em út của mẹ tôi, nghĩa là dân Nhe Treng đặc sệt, cứ âm ư mãi, riết rồi thành lố bịch: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…” Lố bịch là phải, bởi lẽ không ai có thể gây xúc động mạnh lên trái tim thính giả trong những bài hát nhớ Hà Nội cho bằng những nhạc sĩ, ca sĩ di cư chánh hiệu Hà Nội của thời trước 1975.
      Quả vậy, Trịnh Công Sơn, tên nằm vùng phản chiến, gốc Huế, sau 1975, muốn lấy điểm với chế độ mới, cũng bắt chước viết hai ca khúc về Hà Nội, nhưng không hay bằng, vì cảm xúc, nguồn hứng rất giả tạo, và hình ảnh rất ước lệ, khuôn sáo: cũng vẫn là Hồ Tây, cũng mùa thu mây bay, cũng mùi hoa sữa, cũng cây bàng lá đỏ… Chưa kể, câu kết, trong bài “Nhớ mùa thu Hà Nội”, “Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội / Nhớ đến một người để nhớ mọi người”, muốn nhắn gửi gì đây? Chưa vội chụp nón cối, người ta phải thắc mắc: Mùa thu nào? Tổng khởi nghĩa 1945 ư? Một người nào? Đồ tể Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, mà các tù binh cải tạo đã phải nghe lải nhải hoài, phát ớn đến tận cổ?
 
      II. Hà Nội, tôi đã thấy, đã nghe, đã gặp một lần, vào tháng 4 năm 1983. Cách đây ba mươi hai năm. Không như một du khách, hay một Việt Kiều yêu nước. Mà như một tù binh cải tạo. Đúng ra gặp hai lần.       
      Lần đầu, cuối năm 1975, một cách chớp nhoáng, bất đắc dĩ. Tại bến cảng Hải Phòng, tôi được bốc từ tàu Sông Hương ra và tống lên xe lửa, chực sẵn để chở, cùng với hàng trăm ngàn đồng đội, lần lượt, đến các trại giam vùng biên giới, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cổng Trời… Khi đoàn tàu đi ngang Hà Nội, chắc quá nửa đêm, tôi cố nhướn mắt nhìn ra bên ngoài, từ song cửa sổ hẹp. Tàu chạy nhanh, trời lại tối, và đèn đường leo lét, chỗ có chỗ không, nên tôi không thấy gì cả, ngoài một Hà Nội còn đang ngủ say, phố xá lặng thinh, sương rơi lả tả, và những hàng cờ đỏ sao vàng giăng mắc, ủ rũ, trên những góc phố. Làm nhớ đến hai câu thơ oan nghiệt –đã bóp chết đời tác gỉả, Trần Dần: Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà / Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ… Rồi tàu rẽ lên cầu Long Biên, khá dài. Tôi thấy hai bên đường sắt vài người dân đi bộ hay đạp xe, không biết về đâu, co ro trong chiếc áo tơi thô sơ. Trên sông, vài chiếc thuyền câu đậu bến im lìm.
      Lần thứ hai, lần này, tám năm sau, được tiếp xúc với Hà Nội lâu hơn, đúng một ngày, nghĩa là mười hai tiếng đồng hồ. Quả thế, một buổi sáng đẹp trời, tại trại giam Vĩnh Phú, K1, đang chuẩn bị đi lao động, tôi nghe đọc tên mình được thả –áp chót trong danh sách một trăm mười người thuộc tất cả các trại Miền Bắc, mà Vĩnh Phú chiếm nhiều nhất: có bốn mươi tên trúng số độc đắc, trên toàn năm K, trong khi ở một số trại, nhỏ hơn, chỉ có vài mạng thôi. Tôi ngạc nhiên, không biết tại sao mình lại được thả, nhưng chắc chắn không phải vì công đức cải tạo tốt, trái lại. Thây kệ, tôi tự nhủ, thắc mắc làm chi. Vội vàng về “buồng” (phòng), vì chỉ được mười phút sửa soạn tư trang. Không có gì, ngoài bộ đồ tù đang mặc trên người, và mùng, mền, khăn mặt, bàn chải đánh răng, một bịch đường táng đen, một gói bánh mì khô, hai hộp sữa đặc, và một mớ thuốc cảm, đau đầu, đầu bụng, để dành từ những lần thăm nuôi trước. Tôi tặng hết đồ ăn và thuốc men cho những anh em, lúc ấy, khai bệnh nằm nhà.
      Rồi tất cả lội bộ xuống K5, tức K chỉ huy, cách khoảng 15 km, để làm thủ tục xuất trại. Tại đây, được trả lại quần áo “dân sự”, đồng hồ, và tiền bạc bị “đăng ký” để “Cách mạng giữ hộ” khi bước chân vào trại tù đầu tiên, ở Miền Nam. Không biết đủ, thiếu thế nào, vì sau tám năm, không nhớ và điều đó không quan trọng nữa. Tù binh được thả sinh hoạt tại một buồng riêng, không được “quan hệ linh tinh” với các cải tạo viên khác.
      Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi trút bỏ bộ đồ tù, mặc lại quần áo cũ, có anh diện giày da thay dép râu. Ai nấy mặt mày tươi rói, đẹp trai hẳn ra, như dưới chiếc đũa thần của một bà tiên, không còn hốc hác, bèo nhèo như dạo nào, nhất là sau mấy ngày được vỗ béo, ăn no ngủ kỹ. Được xe trâu chở ra tận bến phà trên sông Hồng. Sau hơn nửa giờ, cập bờ Ấm Thượng. Ở đây, phải chờ đến 10 giờ đêm mới có chuyến xe lửa từ Lào Cai đến “rước” về Hà Nội. Đi theo có hai cán bộ. Hai tên này, bình thường thuộc loại hắc ám, bữa nay có vẻ dễ dãi, chắc vì được dịp đi chơi Hà Nội hoặc tin rằng không thằng tù binh nào được thả lại dại dột âm mưu làm điều “phản động”. Để giúp thời gian qua mau, chúng tôi tụm năm tụm ba nói chuyện, cười đùa rổn rảng, hoặc mua bún, bắp luộc, xôi vò và bánh gai của các bà và em bé bán hàng rong tại chỗ –đã quá quen thuộc với những đợt thả tù binh. Nghe nói Ấm Thượng có đền thờ Hùng Vương, tôi và một anh bạn xin phép đi viếng, nhưng cán bộ bảo xa lắm, không cho. Trời hơi nóng, tôi bèn cởi áo quần nhảy xuống sông tắm. Nước phù sa đỏ ngầu, nhuộm cả ra quần đùi mới, trắng tinh. Lội ra xa, thấy sóng lớn quá, sợ bị cuốn đi, chết uổng mạng, tôi bơi vào, lên bờ nằm nghỉ, phơi nắng, đợi xe lửa.
 
      III. Ấm Thượng không xa Hà Nội bao nhiêu, trên dưới 100km, mà ì ạch mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, tàu mới đến ga Hàng Cỏ, sau khi dừng lại nhiều trạm dọc đường. Đám tù phải đợi đến 8 giờ tối mới có chuyến tàu Thống Nhất vào Sài Gòn. Hai tên cán bộ điểm danh, và bắt tất cả “tập trung” ở một góc nhà ga, dặn không được đi đâu xa, “vì các anh chưa được phát giấy ra trại”. Ga tấp nập hành khách và bộ đội chờ đi các tỉnh phía Bắc, và rất đông “gian thương” (buôn bán chui) lượn tới lượn lui, rình mồi, nhiều nhất là những người mua đi bán lại quần áo, vai vác bao tải to kềnh, trông như một cảnh chợ trời, sau 30 tháng 4, 1975 tại Sài Gòn. Tất cả đều quay nhìn chúng tôi, biết ngay là đám sĩ quan tù binh cải tạo từ biên giới được thả về Nam, với cặp mắt tò mò, hoặc cảm thông. Một vài thanh niên, thiếu nữ còn dạn dĩ, đến bắt chuyện, hỏi về “quân hàm” (cấp bậc) của anh em, và xuýt xoa với nhau: “Ghê nhỉ! Trông trẻ thế mà đã là đại úy, thiếu tá cả, gần mười năm trước cơ đấy!”
 
Ga Hang Cỏ
  1) Các cô, các bà mua bán chui thấy một số tù binh, trong đó có tôi, mặc quần jeans, mà họ gọi là “quần bò”, liền sà đến, gạ mua. Một cô, khá xinh, mồm dẻo kẹo, chỉ vào cái quần xanh, bạc màu, bụi đời (càng bụi càng có giá, cô nói) của tôi, và bắt đầu dụ, ngon lành:
      – Ông anh bán cái quần bò này cho em nhá!
      Tôi giật mình, khoát tay:  
      – Đâu được cô! Hiện giờ tôi chỉ có mỗi cái quần này trên người, bán cho cô, lấy gì mặc?
      Cô vẫn nài nỉ:
– Thì em đổi rẻ cho anh cái quần tây thường khác.        
      Tôi vẫn lắc đầu. Rồi cặp mắt thiện nghệ của cô bỗng rà lên khắp châu thân tôi, như radar, ngừng trên chiếc áo pull trắng, cổ cao, tôi đang mặc, tuy còn mới, nhưng sau tám năm “biệt giam” trong nhà kho kín mít, đã ngả sang màu vàng nhạt, và thoang thoảng có mùi mốc, pha lẫn với hương nách cũ, chưa kịp giặt, bay ra… khá nồng. Cô lên tiếng tán, ngọt xớt:
– Hay là ông anh bán cái áo này cho em!
      Trong túi xách tôi còn một áo sơ mi xanh, nên đồng ý bán. Cô ta trả giá 3 đồng. Tôi ngồi im re. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến nay, tôi có đem áo quần đi bán bao giờ đâu, làm sao biết giá cả? Một bà già, hàm răng đen láy, ngồi cạnh cô bỗng lớn tiếng nói: “Ối giời, chỉ có quân ăn cướp ngày mới giả cái giá đó. Tôi giả 5 đồng đấy, cậu bán, tôi lấy ngay!” Tôi lại càng phân vân, chưa biết xử trí thế nào thì cô nọ liếc xéo bà kia: “Tôi tăng lên 10, mụ già nhà quê Quảng Ninh có theo nổi không nào?” Nghe hai người sừng sộ với nhau, đám tù binh và cả tên cán bộ xúm lại, xem màn bán đấu giá “đột xuất”, càng lúc càng hấp dẫn. Một anh thiếu tá đồng tù đập đập tay xuống thềm xi măng, hỏi: “Mại dô, mại dô. Có ai trả thêm nữa không?” Bà già cười khẩy: “Tôi giả 12 đồng đấy, con nặc nô Hà Tĩnh có ý kiến gì không nhỉ?” Cô gái tức khí, đáp lễ: “Tôi trả thêm 3 đồng, tổng cộng 15, mụ già nhà quê Quảng Ninh thấy thế nào?” Cả đám vỗ tay rào rào, tên cán bộ cũng cười. “Mụ gìà nhà quê Quảng Ninh”, cuối cùng, chịu không thấu, bỏ cuộc. Anh thiếu tá chỉ vào “con nặc nô Hà Tĩnh”, phán: “Không ai trả thêm nữa, tôi khóa sổ nè và long trọng tuyên bố rằng cô em gái Hà Tĩnh này được trúng tuyển mua áo pull của anh trai đại úy tù binh ngụy Vĩnh Phú, với giá 15 đồng chẵn, không bớt xu nào”. Cả đám, tù cũng như dân, ôm bụng cười lăn. Tiền trao áo múc, tôi bèn cởi ra ngay tại chỗ, giao tận tay cho cô. Vào thời điểm đó, 15 đồng là món tiền phải chăng, vì giá một tô phở khoảng 7 đồng, một ly bia 3 đồng. Tổng kết, có hai mươi tù binh “bị” mua áo, mua quần trong buổi sáng đó. Đủ tiền bát phố Hà Nội trong một ngày.
 
      2) Bất ngờ có tiền phụ trội trên trời rớt xuống, cộng vào món tiền khiêm tốn được trại trả lại, tôi bỗng nổi hứng, đóng vai trưởng giả học làm sang: tắm nước nóng. Phòng tắm kế bên sân ga, thấp, nhỏ, mái tôn và vách lợp bằng tre đan. Trên cửa, viết nguệch ngoạc ba chữ bằng vôi trắng: Tắm lước lóng. Phòng chỉ có một lối ra vào. Giá vé là 2 đồng, trả trước cho một chị sồn sồn, hô răng, ngồi gác bên ngoài. Vừa lom khom chui vào, đóng cửa lại, chưa kịp làm gì, tôi nghe có tiếng nước xối ở gian trong, và dưới ánh nắng lùa qua khe hở, thấy vắt ngang trên tấm liếp ngăn hai gian một quần tây xanh đậm, và một áo lụa vàng, có thêu chim cò, kèm theo hai mảnh đồ lót, trên trắng, dưới hồng, rất “hiện đại”, rất khêu gợi mà, tôi đoán nhanh, chủ nhân chắc chắn không thể là một trong những “mụ già nhà quê Quảng Ninh” khi nãy. Tôi đang đứng lóng ngóng, chưa biết phải làm gì, thì từ phía trong vọng ra một giọng Bắc còn trẻ, nhưng không phải âm hưởng Hà Nội, của một cô chắc đã nhìn thấy tôi qua khe liếp, trong gian ngoài đầy ánh sáng: “Anh là tù cải tạo hả? Đừng ngại, cứ vô tư cởi quần áo ra, phòng tắm công cộng, ai cũng làm như thế cả!” Tôi im lặng, vì sợ gặp phải thứ dữ, chứ có gái nhà lành nào cả gan dám tắm truồng chung đụng như thế, chưa kể tắm xong, làm sao đi ra, nếu gian ngoài đang có người? Tôi đứng bất động như người trúng gió, căng mắt dòm vào, nhưng bị bóng tối ghen tuông che kín, không cho thấy chi hết. Sau tám năm thiếu đàn bà, trí tưởng tượng vụt bay lên, bay cao, bay xa, rạo rực, nhưng cố dằn xuống kịp thời.
      Tôi múc, bằng gáo, nước từ trong hai cái vò sành, bắt đầu súc miệng. Nước quá lạnh, buốt thấu răng, và óc, làm tê liệt giây thần kinh thèm muốn. Tôi mở hé cửa ngoài, thò đầu ra, khiếu nại với chị bán vé. Chị ta trả lời, đúng bài bản, như quá quen với “sự cố” này: “Bữa lay, nhiều khách tắm quá, bác ạ, đến nượt bác thì lước lóng hết đột xuất, em đun không kịp, bác cố gắng khắc phục tắm bằng lước nạnh hộ em!” Tôi đành rửa mặt, và nhúng khăn lau sơ phần trên, rồi mặc lại áo, đi ra. Xong một buổi tắm “lước lóng”. Tại thủ đô nước CHXHCNVN, năm 1983. Không biết bây giờ phòng tắm dã chiến bên hông ga Hàng Cỏ ngày ấy có còn không.
 
200561399-001

Vietnam. Hanoi, people in street [Minh hoa]

     3) Vì thời gian chờ xe lửa quá lâu, theo đề nghị của anh em, trưởng đoàn tù binh, trung úy người Huế –được bầu một cách “khẩn trương” do nhu cầu công vụ– xin cán bộ cho phép anh em đi “tham quan” Hà Nội mùa xuân. Hai cán bộ “hội ý” với nhau, và chấp thuận, với điều kiện không đi xa và phải trở lại ga trước 7 giờ tối, ai trễ sẽ bị bỏ lại, ráng chịu. Lúc đó mới 11 giờ trưa. Tất cả hồ hởi phấn khởi xuất quân. Một vài anh em già, yếu, bệnh, mệt, ở lại nhà ga, và tình nguyện giữ hộ các túi xách với lời bảo đảm sẽ được “đền ơn bội hậu” khi anh em đi chơi về.
      Tôi rủ ba người bạn khá thân cùng đội tù K1 đi chung, trong số có một ông Thiếu tá già Tiếp Liệu Bộ Tổng Tham Mưu, cởi mở, chính gốc Hà Nội, nói năng lúc nào cũng từ tốn, chậm rãi, rề rà, nghe sốt cả ruột. Vừa rời sân ga, ông Thiếu tá bỗng dừng lại, vẻ mặt đăm chiêu, mắt ngó ngang ngó dọc, chỉ chỏ cho ba chúng tôi, không phải dân Bắc kỳ, và nói:
      – Hồi năm 1954, nhà tớ ở gần ga Hàng Cỏ này, trong khu Hàng Bông – Thợ Nhuộm, tức phía Cửa Nam. Không biết căn nhà có còn đấy không.
      Rồi ông dẫn cả bọn đi loanh quanh, và cuối cùng chui vào một dãy phố, đối diện ga. Những túp nhà chạy dọc theo con phố đều cũ mèm, mái đã rêu phong với những viên ngói lung lay, như răng bà lão, không biết bay theo gió lúc nào, tường vôi lâu ngày loang lổ thành màu trắng đục, có chỗ lòi ra một lớp gạch xám xịt. Phía trước là những hiệu buôn, được ông thiếu tá gọi là “hàng”, thấp lè tè, bước vào sơ ý là bị đụng vỡ đầu, nối liền với những “căn hộ” phía sau, cao hơn, lớn hơn. Sau một phút lưỡng lự, ông bước vô một gian “hàng”, không biết tên gọi là gì, có lẽ hàng Giày, vì bán toàn giày dép. Nghe ông kể, khi cả gia đình ông leo lên tàu há mồm vào Nam, thì, dĩ nhiên, cửa hiệu bán guốc và nhà ở của gia đình ông bị tịch thu, và đổi chủ. Chủ mới, không biết mấy đời rồi, là một anh trung niên, nói tiếng Quảng Bình giả giọng Bắc, lịch sự hỏi: “Các bác muốn gì ạ?” Ông thiếu tá già cười, mà như mếu, theo nghĩa hoàn toàn đen, vì tám năm dài đằng đẵng trong tù bạn bè đã bẻ giùm ông, bằng những sợi chỉ bện lại, mất hết năm răng cửa và hai răng hàm: “Trước năm 1954, tôi đã ở nhà này”, ông trả lời. Rồi xin ra phía sau để nhìn lại nó, và kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong thiên tình sử, anh chủ mới mủi lòng, ân cần mời ông chủ cũ lên cầu thang gỗ thăm lại căn nhà của chính ông.  
 
      4) Ba thằng chúng tôi, hai Nam kỳ, và một Trung kỳ, không có dây mơ rễ má gì với cố đô Hà Nội, hay tàu há mồm, xin rút lui, để mặc ông thiếu tá già thoải mái đi tìm thời gian đã mất, như văn sĩ Pháp Marcel Proust. Lúc ấy có hai đồng tù trẻ, khác K, xin nhập bọn. Tiếp tục dạo phố. Vừa đi tôi vừa quan sát, ngắm nhìn thiên hạ, vừa nghĩ đến những giai nhân Hà Thành trước kia, mà suốt bao năm tôi đã ấp ủ trong tim bóng hình thướt tha và giọng ca vàng đầy chất Hà Nội được phát thanh trực tiếp trên các làn sóng Sài Gòn. Hay lãng mạn, hư cấu hơn, những nữ nhân vật có học, duyên dáng trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng –mà khung cảnh đều là Hà Nội của những thập niên 30, 40. Và, trên hết, các công chúa Mỵ Châu, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân của Thăng Long nghìn tuổi, mang kiếp hồng nhan bạc phận trong thực tại lịch sử, đã làm ngây ngất trí tưởng nơi người hậu thế “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” (Kiều), như những giấc mơ huyền thoại quyến rũ, dị kỳ.
      Những cô gái, gọi là Hà Nội, dưới thời Việt Cộng, mà hôm nay tôi mới được diện kiến trực tiếp, thấy khác lạ quá đỗi. Đã thiếu nhan sắc, và thước tấc, mà lại kênh kiệu, nói năng cộc lốc, không bao giờ được học và nói hai chữ “cám ơn” và “xin lỗi”. Mặc áo sơ mi nhét trong quần tây, theo mốt hiện hành, bỏ chiếc áo dài cổ truyền, và chân đi “sa-bô” (sabot?), danh từ tôi mới nghe lần đầu, tức loại giày nhựa, bịt kín phía mũi, gót để trống, đế rất cao, như một thứ dép tân thời, thay cho “thanh bình tiếng guốc reo vui” ngày xưa của nhạc sĩ Hoàng Dương. Lại còn giọng nói nữa. Lạ lắm, trời ạ! Tiếng Hà Nội gì mà nghe như pha với giọng Nghệ An của “Bác”, hay Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình. Những dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã phát ra lung tung, loạn xạ, tùy tiện. Nghe chua lè, còn hơn giấm. Bởi thế, khi giọng nói Hà Nội ấy bay vào Miền Nam, sau cuộc đổi đời, người dân Sài Gòn nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt giữa hai thứ tiếng Bắc kỳ, (19)54 = 9 nút, của Kim Tước, Thái Thanh… và Bắc kỳ, (19)75 = 2 nút, rất lơ lớ, chói tai, của những ca sĩ trẻ, từ Hà Nội, ồ ạt Nam tiến, rồi sau đó và bây giờ, thừa thắng xông lên, xâm nhập luôn những Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, vô tình hay hữu ý thực hiện chủ trương “giao lưu văn hóa” của VC, tiếp tay bởi tên nhà văn MC thò lò hai mặt. Về dung nhan, các ca sĩ ấy vượt trội những cô gái mà tôi đã gặp tại Hà Nội năm 1983. Nhưng giọng nói “2 nút” chua lè thì vẫn y chang.
 
      5) Lang thang mãi, mỏi chân, và đói bụng, chúng tôi tắp vào một quán phở, không xa ga Hàng Cỏ là bao. Ba cô gái “phục vụ” (chạy bàn), mặc đồng phục, sơ mi và quần tây, đứng ở quầy hàng, thấy năm ông khách quý bước vào, trơ mắt ngó, không thèm chào mời. Và phớt lờ, tiếp tục trò chuyện với nhau. Quán lúc ấy không có ai ngoài năm đứa tôi.       
      Chờ lâu, một anh, cựu trung úy Biệt Động Quân, người Nam hiền khô, nhưng tướng rất ngầu, da ngăm ngăm đen, nói năng bạt mạng, lại ngọng nữa, sốt ruột, lớn tiếng hỏi:     
      – Nè, bộ mấy bà chê tụi tui không tiền hay sao mà không ai ga (ra) tiếp dzậy?
      Một cô trả lời, giọng Bắc the thé như lai tiếng Thanh Hóa, Nghệ An:
      – Ăn gì thì đến quầy mà gọi.     
      Anh BĐQ đứng lên, khệnh khạng tiến tới quầy, hai tay thọc trong hai túi quần. Tôi bước theo, sợ to chuyện, và nhắc nhở “tụi mình vẫn còn là tù binh, chưa được phát giấy ra trại”. Anh hiểu, và nói một hơi:    
      – Cho tụi này năm tô phở bò tàu bay Hiền Vương, tái, chín, nạm, gầu, gân, sách, nước béo, giá trụng, hành trần, chanh, ớt, tương đen, ngò gai, nhiều bánh, nghe kịp không?
       Ba cô, dĩ nhiên, nghe sao kịp, không hiểu, hay chỉ hiểu lõm bõm, trợn tròn mắt, tưởng anh nói tiếng Ấn Độ. Một cô, có lẽ tổ trưởng, xẵng giọng:
      – Đây là cửa hiệu quốc doanh. Chỉ có một loại phở mà thôi, không có thứ gì khác. Rõ chưa?
      Anh quay nhìn tôi, rồi ngó thấy cô “chằn” quá, liền xuống nước:
      – Gõ gồi (rõ rồi). Ờ, thì cô bán cho năm tô đi.  Và năm chai bia.
      – Không có bia chai, mà chỉ bia “bốc” thôi.
      Anh lại hỏi:
– Bia “bốc” là bia gì dzậy?
     – Là bia hơi rót từ cái bình thủy tinh lớn kia, ông cụ nội ạ, chứ còn là bia  gì nữa?
Tôi cười cười, cố tình nói đùa cho tình hình bớt căng thẳng:
– Nghĩa là chưa uống nó đã “bốc hơi” bay đi hết, phải không cô?  
      Nhưng cô quốc doanh nguýt tôi, rồi lườm anh BĐQ, mắt tóe lửa, như muốn nhai tươi nuốt sống hai thằng. Và bảo “trả tiền trước đi đã”, tổng cộng cả bia lẫn phở cho năm tên “ngụy” là 50 đồng.
      Hai thằng trở lại bàn. Ngồi chờ mãi, gần nửa tiếng, mà phở, bia chưa thấy mang ra, anh lại bực bội, gõ chiếc muỗng vào cái ly nghe leng keng, rồi nói lớn:
       – Sao lâu quá gồi mà không thấy ai bưng phở, đem bia ga dzậy cà?
      Cô “tổ trưởng” từ quầy cũng to tiếng, đáp lễ:
      – Đến đây mà bê ra, không ai hầu cho đâu!
      Cả đám bật đứng lên, bước đến phía quầy, thấy một lô tô phở, không nước, làm sẵn đồng loạt từ lâu, nằm chình ình trên một cái khay lớn. Nghĩa là khách địa phương, rành thủ tục, chỉ có việc đến quầy trả tiền, lúc đó các cô “phục vụ” mới đổ nước lèo nóng vào, rồi tự động ai nấy bưng tô phở ra bàn. Phở lơ thơ vài cọng rau, chỉ có một lát thịt bò thái mỏng như lưỡi lam cạo râu, sẵn sàng bay theo cơn gió vô tình lướt qua. Nước phở còn nhạt hơn nước ốc. Bia “bốc hơi” thì khỏi nói: không khác chi nước trà lên men.       
      Ăn uống tạm no, nhưng còn ấm ức, anh trung úy BĐQ rút điếu thuốc Điện Biên ra hút, mơ màng nhả khói, như triết gia Jean-Paul Sartre trên vĩa hè Paris, rồi than nhỏ với tôi: “ĐM. Cái gì cũng quốc doanh, không khá nổi. Phở, bia, hay cha, thầy, sư quốc doanh gì cũng đều cà chớn gáo (ráo) trọi”.         
      Ra đường, gặp một toán khác đi ngược chiều –khoe vừa mới nhậu thịt chó xong. Hỏi ngon không, thì một anh hậm hực trả lời: “Ngon gì mà ngon. Thịt chó quốc doanh chỉ có độc mỗi món luộc chấm với mắm tôm, không ớt, mùi tanh lắm. Nhưng lỡ trả tiền rồi, cũng phải ráng nuốt thôi. Thịt chó Hà Nội gì mà bết bát hết sức, thua xa thịt chó Hố Nai”.
 Ga Xe lửa
      IV. Rồi năm đứa chia tay nhau, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ. Hẹn trở về ga Hàng Cỏ trước 7 giờ tối, hoặc sớm hơn. Còn ít nhất bốn tiếng nữa để mà giết. Làm gì cho hết nửa ngày nữa?
      Tôi nẩy ý muốn đi xem phong cảnh Hà Nội. Bèn vẫy một chiếc xích lô. Phu xe là một thanh niên trên ba mươi, tên Tứ, dáng dấp khỏe mạnh, nói nhiều, giọng Bắc Khu Tư (Vinh). Tôi thương lượng:     
      – Anh chở tôi đi chơi vòng vòng xem cho biết Hà Nội, cứ đạp từ từ, đến chỗ nào cũng được, tùy ý anh, trong ba tiếng, rồi chở tôi trở lại ga Hàng Cỏ trước 7 giờ. Anh lấy bao nhiêu?
      Anh mau mắn đáp:
– Dạ, bèo lắm thì cũng 40 đồng đấy anh ạ…
      Tôi vừa ngồi lên nệm xe, anh đã đề nghị đi Hồ Hoàn Kiếm trước. Hà Nội đang còn mùa xuân, hai bên đường hoa nở rộ, thắm tươi. Những cành đào nặng trĩu hoa, rực rỡ một màu đỏ hồng, cong xuống, la đà theo gió. Thấy tôi mải mê ngắm nghía một cách thích thú, Tứ góp chuyện:
      – Còn một loài hoa nhỏ, chỉ nở từ tháng 3 đến cuối tháng 4, tức tháng này, trắng xóa ven đường, lại tỏa hương thơm nhè nhẹ. Tuyệt vời, anh ạ. Đó là hoa sưa… Đấy, anh ngắm đi, kia kìa, đúng là một cảnh tuyết, giống ở Sapa…
       Tôi hỏi lại:
      – Hoa sưa hay hoa sữa?
      – Dạ sưa. Du khách Sài Gòn ra, ai cũng lộn.
      Dọc đường, ít thấy xe hơi, xe gắn máy hay bộ hành qua lại. Du khách ngoại quốc, hay Việt kiều, cũng vắng. Một thủ đô đang hấp hối hay đang ngái ngủ, tôi có cảm tưởng, lạc hậu nhất trên hành tinh này. Lãnh đạo tự phong toàn là một lũ thất học, ngu đần, lúc bấy giờ còn say men chiến thắng, còn bận nhiều việc: trả nợ cho hai nước “anh em vĩ đại”, Liên Xô và Tàu Cộng, trả thù người chế độ cũ, lùa hàng trăm ngàn tù binh “ngụy” vào rọ “học tập cải tạo”, đày dân đi vùng kinh tế mới để cướp nhà của họ, vơ vét và chia chác của cải từ Miền Nam khuân ra Bắc, khoác lác khoe khoang với thế giới rằng “VN đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, Pháp và Mỹ”, và “VN chúng tôi có quá nhiều anh hùng, vừa ra ngõ là gặp anh hùng”… Nên chúng chưa có kế hoạch phát triển kinh tế, làm cho đất nước giàu mạnh.
      Xích lô chạy một hồi, đến hồ Hoàn Kiếm lúc nào không hay. Tôi bước xuống, đi bộ lên thảm cỏ xanh. Những nhánh liễu ven hồ, rũ xuống, tàn lá lưa thưa, không đủ “che nửa mặt hoa” (Bạch Cư Dị) của những cô gái trẻ ngồi tâm sự bên tình nhân, trên ghế đá. Tôi thấy họ có vẻ ngượng nghịu, lúng túng đến tội nghiệp khi nắm lấy tay nhau, nói chi ôm nhau, hôn nhau. Thương cho họ. Và ở một cảnh ngộ khác, thương cho chính tôi và những chiến hữu bất ngờ trở thành tù binh, không kịp hẹn trước với Định Mệnh, vừa đứng trước cổng trại giam là đã phải bỏ lại tất cả: quá khứ, vị lai, tình yêu, ước mơ, và thảm não hơn, hy vọng. Dường như những cặp tình nhân này mới dưới quê lên thành phố, hoặc vừa được Bác và Đảng “cởi trói” cho phép yêu nhau, sau tám năm “chiến thắng” Miền Nam, trong khi Bác và bè lũ, những con yêu râu xanh thời đại, tha hồ “đồi trụy”, vợ nọ con kia, mà mồm cứ phun ra những lời sặc mùi đạo đức giả.
      Những tia nắng lấp lánh đuổi nhau trên mặt hồ. Nhìn xa thấy màu nước đẹp lung linh, xanh như một tấm thảm rêu trải dài. Gần bờ, trái lại, nước hồ quá bẩn, có chỗ lềnh bềnh những rác rưởi, giấy báo, bao ni lông, lon, ca, cóng do ai vứt xuống bừa bãi, tắt nghẽn, không trôi đi được. Trước kia, tôi đã đọc trong một quyển tiểu thuyết và nghe các ông bạn lớn tuổi, chính gốc Hà Nội ba mươi sáu phố phường, kể rằng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm thời trước 1954, sạch sẽ lắm, là nơi tụ họp vui chơi cuối ngày, và cuối tuần, của đông đảo dân Hà Thành, có những kiosques bán kem và lạc rang húng lìu nóng dòn, có giọng ca nhí nhảnh của Joséphine Baker phát ra từ đĩa nhạc xưa, “J’ai deux amours: mon pays et Paris…”, nhưng bây giờ, đứng đấy, tôi không nghe, không thấy gì hết. Cũng như, theo lời Tứ kể, ở Hồ Tây, mà anh ngại xa không muốn chở đến, không còn những chiếc périssoires (thuyền thoi) –mà dân Đà Lạt rất quen thuộc trước 1975, trên hồ Xuân Hương. Hay người Cộng sản không biết ăn kem Bờ Hồ, không biết nhai lạc rang, không biết nghe nhạc Pháp, không biết bơi thuyền thoi, cho đó là sản phẩm của Thực dân, Đế quốc? Vua Lê Lợi nếu sống lại chắc sẽ căm giận lắm về những hậu sinh khả ố, mất dạy, mê muội hiện tại, nhắm mắt theo đuôi chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn. Tôi cầu xin, khi mùa đông về, mưa bay lất phất, rùa thần nổi lên mặt hồ, cho ngài mượn lại thanh kiếm báu để chém bay đầu bè lũ chúng nó, như trưóc kia đã chém bay đầu Liễu Thăng và giặc Minh…
      Rời hồ Hoàn Kiếm, Tứ chở tôi dạo một vòng Bưu điện gần đó, là một tòa nhà đồ sộ xây theo lối Tây, và xa hơn, những “phố” (thực ra là những con đường) Huế, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng… mà tại mọi góc đều có Công An đứng gác, súng ống trang bị đến tận răng, mắt cú vọ nhìn gốc cây nào cũng thấy “phản động”, mặc dù đất nước đã thanh bình lâu rồi.
      Khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Tứ lẩm nhẩm tính:
      – Đến Văn Miếu thì phải vòng trở lại ga Hàng Cỏ, qua phố Hàng Lọng, theo phố Sinh Từ…
       Tôi cắt ngang:
      – Anh có nói, tôi cũng chẳng biết phố nào là phố nào. Thôi, tôi nhắm mắt để anh chở tôi đi đường nào cũng được.
       Như tên gọi, đó là một khu “miếu” lớn, với lối kiến trúc cổ xưa, từ thế kỷ XV, trang nghiêm, thanh nhã, gồm một gian thờ Khổng Tử và môn đệ, một lầu vuông tám mái gọi là Khuê Văn Các, nơi bình thơ của các sĩ tử, cạnh giếng Thiên Quang mà hai bên tả, hữu thấy dựng hai hàng bia đá khắc tên tám mươi hai vị đỗ tiến sĩ, qua các triều đại. Trên cổng ngoài cùng có vẽ hình hai con cá chép theo điển tích “cá vượt vũ môn”, ngụ ý người học trò đi thi được ví như cá chép phải vượt ba đợt sóng dữ, tại cửa sông, mới biến thành rồng, chỉ sự thành công tột bực. Chứ không phải, tôi nghe ai kể, các thí sinh thích ăn cá chép, theo cách hiểu của đa số học sinh XHCN bây giờ. Bước đi, tôi thấy người bỗng thoát trần, xa rời tục lụy và thực tế tối đen, xấu xí hiện nay, để lòng nhẹ tênh. Như bay bổng trong không gian và thời gian lồng lộng. Như nghe tiếng thiết tha gọi vê từ đáy Hôn Dân Tộc thanh cao của bốn ngàn năm văn hiến và từ những trang Sử Việt oai hùng qua bao dòng đời hưng phế, với Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn… những triều đại bị bọn “đỉnh cao trí tuệ” Trường Sơn chê là phong kiến, lạc hậu, độc tài, mà người dân vẫn được tự do đi lại, vẫn được ăn no mặc ấm, vẫn được vua chúa thương yêu như con, vẫn được học hành đến nơi đến chốn theo truyền thống nhân bản, vẫn được gọi mời tham gia vào công cuộc trị nước và giữ nước. Mà những tiến sĩ, đang hiện diện trong Văn Miếu kia, được vinh danh và trọng vọng nhờ vào thực tài, đức hạnh, chứ không bởi văn bằng dỏm, văn bằng lậu, văn bằng tậu được do tiền bạc và mánh mung, như trong thời kỳ đồ đá, đồ khỉ, đồ đểu hiện nay…
 
      V. Từ giã Văn Miếu, thấy còn dư một tiếng, tôi đề nghị Tứ chở đi xem giếng ngọc của Trọng Thủy và Mỵ Châu –mà chuyện tình diễm ảo và bi thảm đã ám ảnh, mê hoặc hồn tôi, từ lúc còn trẻ cho mãi đến bây giờ, hơn bất cứ chuyện tình diễm ảo và bi thảm nào trong văn chương thế giới, kể cả Tristan et Iseut  hay Romeo and Juliet. Tứ đáp:
      – Xa lắm anh ạ, tận mãi Cổ Loa, quận Đông Anh, phía Bắc, cách Hà Nội 16km, không đi xích lô được, vả lại không kịp giờ lên xe lửa đâu.       
      Đành trở lại ga Hàng Cỏ, trước giờ qui định. Trao tặng những anh giữ-hộ-viên-túi-xách một bịch chuối ép khô mua tại cửa Bưu điện, và kể sơ về chuyến du hành bằng xích lô. Hai cán bộ đã có mặt. Rồi lục tục, các đồng tù trở về “trình diện” kịp, hay trước, giờ, vì không ai dại, làm lỡ chuyến tàu xuôi Nam. Đúng 8 giờ tối, tất cả lên tàu, ngồi trong một toa, do “trên” (nhà nước) dành riêng, sau khi cán bộ đọc tên và phát cho từng người giấy ra trại, kèm theo lời dặn dò, hay mệnh lệnh chót, “các anh nhớ thi hành tốt lệnh quản chế địa phương, và phấn đấu làm ăn tốt, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đừng trốn chạy ra nước ngoài”. Hai tên cán bộ ở lại ga, và chúng tôi hoàn toàn tự do, từ đây, ít ra trong đêm đó.
 
      Tàu khởi hành trễ nửa giờ. Chạy khoảng một tiếng thì ngừng lại tại một ga nhỏ, đón khách “nhảy tàu” (buôn bán lậu trên xe lửa) ra Bắc và trở vào Nam. Đa số là phụ nữ Miền Nam, còn trẻ, biết có một toa tù cải tạo được thả, họ đem hàng đến gửi, nhét đại phía dưới ghế ngồi, vì qua kinh nghiệm, tin rằng công an không bao giờ vô lục khám. Chúng tôi thông cảm, để mặc, và ngược lại họ mua bánh trái đãi đằng để trả công ơn đồng lõa. Vài người, mà thân nhân còn trong tù cải tạo, đứng nán lại, hỏi han, tâm sự. Và bất ngờ, tôi được biết trong số có một chị là vợ của một trung úy, đồng đội K1, không được thăm nuôi, đói, nhưng rất có bản lĩnh, tư cách. Tôi nói nhỏ với chị:
      – Ảnh đói lắm. Chị ráng thu xếp ra thăm ảnh một chuyến.
      Chị bật khóc, nước mắt đầm đìa, trả lời:
       – Em biết. Và thương ảnh lắm. Nhưng nhà nghèo quá, phải nuôi đàn con nhỏ nữa. Khi nào dành dụm được chút ít, chắc chắn em sẽ ra thăm ảnh. 
      Cảm động, tôi móc từ túi quần được một nắm tiền, chừng hơn 100 đồng của trại trả lại, kín đáo đưa tặng chị, nói để “mua quà cho các cháu”. Chị không nhận, và vì tế nhị, tôi không nài ép. Cách đây hai năm, tình cờ tôi gặp lại anh chị –qua Mỹ theo diện HO, và làm ăn khá giả, con cái thành đạt– tại nhà một người bạn chung. Sau ba mươi năm, chị nhìn tôi, xa lạ, không nhận ra là ai, và tôi cũng không nhắc gì về chuyến tàu đêm năm cũ ấy.
 
      Tàu chạy thâu đêm, qua những địa danh lịch sử, tôi chỉ nghe nói đến mà chưa hề thấy tận mắt, như Hà Tĩnh, quê hương tuổi nhỏ của đại thi hào Nguyễn Du. Hay Quảng Bình, nơi sinh quán của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với Đèo Ngang nổi tiếng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sông Gianh phân chia ranh giới Bắc Nam giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, thế kỷ XVII. Khi đến Cửa Tùng, An Du Tây, Quảng Trị, quê nội tôi, trước khi tàu qua cầu Bến Hải, tôi nhìn chăm chú ra ngoài, như một phản xạ, nhưng không thấy gì cả ngoại trừ một vùng đồng ruộng tăm tối, bao la. Tự nhiên, một cảm giác xa lạ, trống vắng xâm chiếm tâm hồn. Và thấy đắng chát trong cổ họng… Bởi một nơi không đến bao giờ, và không có một chút kỷ niệm, dù là quê cha đất tổ, cũng chỉ là một chấm đen trên bản đồ. Tôi gục đầu xuống thành cửa sổ, muốn khóc. Bỗng nhớ ba tôi quay quắt, đã mất không lâu trước đó, mà tôi không được gặp mặt. 
     
      Ngược lại, tại sân ga Huế, sáng trưng ánh đèn, một cảnh sinh hoạt náo nhiệt diễn ra, dù đã quá nửa khuya. Khi những em bé bán bánh, nước trà bắt gặp chúng tôi ngồi la liệt trong toa đặc biệt, biết là tù “ngụy” trở về, liền báo động cho những đồng nghiệp lớn tuổi, và một đám các bà, các o chạy túa đến, reo vui: “Sĩ quan cải tạo về kia tề, anh mô cũng đẹp trai hết, không như mấy cha bộ đội. Thấy các anh cực khổ mà thương chi lạ!”. Vài anh thò đầu qua cửa sổ mua bánh, chuối, thịt gà chiên, nhưng họ không lấy tiền. Lại còn, khi tàu chuyển bánh, chạy theo, ném thêm qua cửa sổ…
 
      Sáng hôm sau, tàu ngừng tại ga Nha Trang, lúc 9 giờ. Tôi thuê xích lô trở về nhà. Xuất hiện tại cửa như một bóng ma hiện hình. Mẹ và Bội Trân đứng sững giây lâu, rồi cả hai ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Tôi hôn lên má, lên tóc Mẹ, và qua vầng trán nhăn nheo và mái đầu bạc trắng, ngậm ngùi tưởng nhớ dung nhan của Mẹ ngày xưa và tình thương bao la suốt đời Mẹ dành cho từng đứa con. Tôi nhìn Bội Trân, người em kiều diễm của tôi, sau ngày đất nước đổi chủ, đổi tên, đã bị trời xanh quen thói má hồng đánh ghen bắt chịu nhiều nỗi truân chuyên, như người chinh phụ trong Đoàn Thị Điểm. Ôm em trong tay mà tưởng như ôm một khối tình sầu hóa thân chất ngất, chưa tan, mà biết rằng em, qua dòng lệ mừng cho tôi, cũng đang khóc nhớ hôn phu –một phi công, vì em không đi, đã ở lại Sài Gòn sáng 30 tháng 4, để bây giờ vĩnh viễn gãy cánh, nằm xuống tại một nơi nào trong trại tù Thanh Phong. Bởi em buồn, tủi phận, tôi cũng thấy hồn mình nát tan, không muốn bộc lộ nỗi vui được thả, không muốn kể gì về những trại tù đã đi qua… Xem tất cả như một chương đời khổ nạn khép lại, một cơn ác mộng phải quên. Cho riêng tôi, và cho giùm em gái và những người vợ tù khác.
 
      VI. Ba mươi hai năm qua, kể từ ngày ấy. Biết bao nhiêu chuyện đời xảy đến. Từ Mỹ, tôi đã đi thăm nhiều thủ đô lớn, nhỏ trên thế giới. Nhưng vẫn không sao quên được hình ảnh Hà Nội tuyệt đẹp, mà tôi đã gặp trong sử sách, cùng với hình ảnh cố đô Thăng Long cổ kính và huyễn mộng qua hàng chục thế kỷ chiến tranh giữ nước. Thăng Long, hay Hà Nội. Của một Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, rồi cưỡi thiết mã bay về trời. Của một Lý Thường Kiệt đứng trên sông Như Nguyệt, sang sảng ngâm bài thơ, được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về chủ quyền quốc gia Việt Nam, cách đây mười thế kỷ, độc đáo nhất, quyết liệt nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư...”, trước khi xuất trận đánh tan quân xâm lược. Của một Trần Nhân Tông và các bô lão trong Hội Nghị Diên Hồng, đồng thanh quyết chiến đến cùng. Của một Trần Hưng Đạo với câu nói, có một không ai trong lịch sử nhân loại về sự hy sinh tột độ cho đất nước: “Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng” –là danh tướng duy nhất trong quân sử thế giới đã đánh bại đế quốc Mông Cổ (tức nhà Nguyên), hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, bách chiến bách thắng, mà vó ngựa đã giẫm nát toàn cõi Đông Âu, Nga, Trung Đông và Đông Nam Á. Của một Trần Bình Trọng, bị bắt, với thái độ hiên ngang, ngẩng cao đầu trước địch quân: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Của một Lê Lợi với hơn mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật. Của một Nguyễn Trãi với chính sách thu phục nhân tâm diệu kỳ, “Lấy trí nhân thay cường bạo”. Của một Nguyễn Huệ với những chiến thắng mùa xuân thần tốc lẫy lừng. Của một Hoàng Diệu, tổng đốc trung liệt, đã tuẫn tiết cùng chết với thành Hà Nội. Của toàn dân, qua các triều đại, đã sát cánh với vua, quan, tướng lãnh đánh đuổi bọn Đại Hán xâm lược, mà dù là Ân, Ngô, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa kia, hay Mao (Cộng) ngày nay  –tất cả đều là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
 
      Cũng như tôi không sao quên được hình ảnh, ngược lại, điêu tàn của một Hà Nội mà tôi đã gặp vào một ngày mùa xuân 1983, cổ lỗ và rách nát trong tay giặc Việt Cộng. Dưới sự thống trị của bọn lãnh đạo ma đầu thay nhau tự phong, ngu dốt, tham tàn, phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, thấy kẻ thù là run như cầy sấy, nhưng đối với dân thì hung bạo, đánh đập, bắn giết, bỏ tù. Hà Nội trong mắt tôi, ngày xuân ấy và nhất là bây giờ, dưới xích xiềng giặc Việt Cộng, chỉ là thủ đô của hận thù, của hạ tiện, của xảo trá, của băng hoại về mọi giá trị đạo đức, xã hội, giáo dục, kinh tế, an sinh và lương tâm. Chỉ là biểu tượng của một đất nước mà dân nghèo phải đầu tắt mặt tối, bươn chải kiếm sống, mà học sinh phải đu dây qua sông để đến trường, mà dân giàu lo ăn chơi, trụy lạc, say xỉn, mà tướng tá và công an được mua bằng tiền, tự biến thành chó ngựa, cung cúc phục vụ chế độ phi nhân, mà tất cả, trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế, cũng đều quên đi nhiệm vụ cao cả do tiền nhân giao phó: đứng lên chiến đấu giữ nước, trước hiểm họa Bắc thuộc do Tàu Cộng đang mưu toan với chiến thuật mới, mềm dẻo hơn, tinh vi hơn, nghĩa là bằng chính tay những thằng lãnh đạo Việt Cộng.
      Hà Nội ấy, một lần đi qua, tôi sẽ không bao giờ trở lại, dù chỉ một giờ, một phút, nếu tổ quốc Việt Nam yêu dấu chưa sạch bóng nội thù Việt Cộng, nếu người dân chưa, hay chưa thể, đứng lên tiêu diệt bọn lãnh đạo bây giờ, và ném vào sọt rác lịch sử cái chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái dị, quái đản, đã ngự trị từ hơn ba phần tư thế kỷ trên đất nước tang thương, bất hạnh này –đã vô phúc sản sinh ra một tên Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, còn bỉ ổi, ghê tởm hơn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.     
 
      VII. Khát vọng và ước mơ tuyệt vời đó về một Việt Nam tương lai phi Cộng sản, tôi lo, khó thành hiện thực cho tôi và những ông bạn chiến binh già, trong cuộc đời này. Thời gian vô tình cứ trôi đi, và bóng đời cứ nghiêng đổ, mà giật mình ngoảnh lại, thấy chưa làm gì được cho đất nước thân yêu còn mãi quằn quại trong nanh vuốt Việt Cộng. Có thể không kịp nữa. Họa may, kiếp sau. Nếu Thần Chết không bắt chúng tôi bỏ lại tất cả mọi hy vọng,  khi bước qua bờ tử sinh. Và nếu trong Inferno, thi hào Dante cũng tha, cho những kẻ đứng trước cửa địa ngục, hình phạt nặng nề nhất, tức là phải mang theo mối tuyệt vọng đời đời. Lasciate ogni speranza voi ch’entrate (Hãy vứt bỏ tất cả hy vọng, hỡi các ngươi đang bước vào, iii,1).
 
 
Portland, 1 tháng 2, 2016
//
bugle2