BORIS Bị ‘ÁM SÁT’ Có Khác Gì Bá-Thanh ! – Cũng Là THỦ ĐOẠN Của Cộng Sản!

Tin Paris THỦ ĐOẠN CŨ CỦA CS  QUA VỤ ÁM SÁT LÃNH TỤ ĐỐI LẬP NGA BORIS NEMTSOV  .

- PHAN ĐÔNG ANH -

Nga_BorisNemtsovBoris Nemtsov

Tối thứ sáu ngày 28-2-2015, ông Boris Nemtsov, một lãnh tụ đối lập đã bị bắn chết khi ông ta đang đi bộ từ nhà hàng về nhà. Cái chết của ông Nemtsov làm chấn động thế giới, các lãnh tụ các nước Tây Phương lên tiếng, trong đó có tổng thống Barack Obama. Thế giới đặt nghi vấn về cái chết của ông Boris Nemtsov, thủ phạm hàng đầu được nghi ngờ là tổng thống Vladimir Putin, một nhà bán độc tài, nguyên là sĩ quan cao cấp cơ quan tình báo KGB của cựu Liên Bang Cộng Hòa Xô Viết. Một người cộng sản nồng cốt mặc chiếc áo gấm dân chủ sau khi Nga Xô sụp đổ và trải qua thời kỳ chuyển tiếp dân chủ do ông Boris Yelsin lãnh đạo, nay quyền hành lại rơi vào tay một tên cộng sản, nên dân chúng nước Nga vẫn chưa hoàn toàn hưởng dân chủ tự do. Đó là lý do mà Vladimir Putin chơi trò cây đèn cù, hết làm tổng thống, thì cho thuộc hạ là Dmitry Medvedev làm tổng thống và sau đó lại trở lại vị trí tổng thống qua những cuộc bầu cử gian lận và đàng sau là những đơn vị khủng bố kiểu KGB cũ, nên các đảng phái đối lập gặp nhiều khó khăn trong việc giành lại quyền lãnh đạo, đưa nước Nga vào thể chế dân chủ thực sự như các nước Tây Phương khác.

Nga_borisnemtsov_TuongNiemBoris Nemtsov bị ám sát gần điện Kremlin

Ông Boris Nemtsov là người từng cầm đầu những cuộc biểu tình phản đối tổng thống Vadimir Putin trong vụ xâm lăng nước Cộng Hòa Ukraine qua kích động các phần tử thân Nga, ly khai, tự động mở những cuộc trưng cầu dân ý, dưới sự yểm trợ của các lực lượng quân đội Nga áp sát biên thùy và xâm nhập vào những vùng đất phía đông, nhằm tái lập đế quốc cộng sản Nga, gây quan ngại cho khối Liên Âu, Hoa Kỳ, đưa tới những biện pháp cấm vận, làm cho đồng Rouble hạ giá, tác động vào nền kinh tế èo uột, nguồn lợi tức chính là bán dầu thô.

Sau khi ông Boris Nemtsov bị ám sát, lập tức tổng thống Vladimir Putin lên tiếng và tuyên bố là sẽ tìm ra thủ phạm. Tuy nhiên có ai tin vào lời nói của một cựu cán bộ nồng cốt cộng sản, lại từng phục vụ trong tổ chức tình báo, khủng bố hàng đầu của chế độ Xô Viết cũ.

Nga_BieutinhTN_BorisNemtsovDân Nga biểu tình tố cáo Putin trong vụ ám sát Boris Nemtsov trước điện Kremlin ngày 1.3..2015

Tại Việt Nam, tên Hồ Chí Minh đã từng cho đàn em ám sát ông Huỳnh Thúc Kháng, người lầm lạc gia nhập vào chính phủ liên hiệp, được giữ chức bộ trưởng nội vụ. Trong chiến khu Việt Bắc, nhà ở của Huỳnh Thúc Kháng gần nơi chủ tịch Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng ông Kháng đi bộ sang để làm việc, nhưng một ngày kia, Huỳnh Thúc Kháng khám phá ra Hồ Chí Minh đang hành lạc với một thiếu nữ thượng du, ông ra về âm thầm vào sau đó làm một bài thơ nói bóng gió. Hồ hiểu nhưng chưa ra tay, đợi đến khi quân Pháp oanh tạc vào chiến khu, thì Hồ sai đàn em giết chết Huỳnh Thúc Kháng và giả vờ thương tiếc, làm quốc tang, cử hai tên bộ đội mang xác Huỳnh Thúc Kháng vào tận quê hương ở Quảng Ngải.
Câu chuyện khác cũng khá lỳ kỳ là vào năm 1929, Hồ Chí Minh bị mật thám Pháp và quân Tưởng giới Thạch truy lùng về hoạt động cộng sản do Nga phái khiển. Hồ cải danh là Sơn Nam trốn sang Thái Lan, gặp đồng chí Hoàng Văn Hoạn (tức là Hoàng Văn Hoan), tên nầy dâm tặc nhưng rất ngán Hồ lấy cả vợ của mình, vì biết Hồ là thứ già không bỏ, nhỏ không tha, lấy luôn vợ của các đồng chí…thế là Hoàng Văn Hoan giới thiệu cho Hồ Chí Minh tạm thời tá túc nhà bà Ky, góa phụ, chồng làm nghề thợ mộc qua đời. Hồ Chí Minh hưởng chế độ cao” cơm no bò cỡi” nhưng hắn vẫn lợi dụng việc dạy tiếng Việt cho kiều dân ở Thái mà hiếp dâm cô gái 15 tuổi, tên là Tuyết Lan, con bà Tình. Cô gái mang bầu và mẹ giận dữ, dọa sẽ báo cáo với cảnh sát Thái về hoạt động cộng sản. Hồ hoảng sợ bỏ trốn, nhưng trước khi bỏ đi, Hồ thuyết phục tình nhân già là bà Ky để cho đứa con trai tên Lý Văn Keng, 15 tuổi đi theo để làm” cách mạng”, bà Ky đồng ý, tưởng là Hồ có tốt. Đầu tiên là Hồ Chí Minh đặt tên khác là Lý Tự Trọng, vì cái tên Lý Văn Keng không hợp với cách mạng. Sau thời gian hoạt động và có tay sai Lý Tự Trọng hết lòng, và Hồ Chí Minh bịp nhiều người, lại được Nga yểm trợ nên nổi tiếng. Hồ sợ Lý Tự Trọng tiết lộ về thời gian ở Thái Lan, Hồ Chí Minh từng ăn ở với bà Ky, nên muốn giết chết. Thủ đoạn rất gian manh là bố trí cho Lý Tự Trọng làm công tác nguy hiểm, bị Tây bắn chết, Hồ mừng thầm nhưng giả vờ thương tiếc, truy điệu và đúc cả tượng vinh danh anh hùng Lý Tự Trọng.
Vụ án Boris Nemtsov cũng không có gì ngạc nhiên đối với tên tổng thống gốc KGB là Vladimir Putin, hắn giả vờ lên tiếng, hứa hẹn sẽ tìm ra thủ phạm, tức là hắn vừa ăn cướp vừa la làng, là bản chất của cộng sản. Có thể là trong tương lai, Putin sẽ dàn dựng đưa ra thủ phạm, đoạn kết án tử hình, hay giả vờ tổ chức hành quân cảnh sát vào một nơi nào đó, cho là băng đảng tội phạm, đoạn bắn chết vài người và cho là thủ phạm, khi tình hình bất lợi khi mà dân chúng thừa hiểu ai là thủ phạm nên vào ngày 2-3-2015, hàng chục ngàn người biểu tình phản đối chính quyền về vụ ám sát chính trị bỉ ổi nầy.
Chỉ khi nào chế độ bán độc tài Vladimir Putin cáo chung, thì mới biết được sự thật, nhưng hiện nay thì hắn vẫn ung dung che đậy, tung hỏa mù.

PHAN ĐÔNG ANH

02.03.2015

blog Tô Hải – ‘Cuộc DI CHUYỂN’ Hàng Vạn KM Một Xác Chết ‘ĐÃ KẾT THÚC’!

trung tuần tháng 1/2015, đoàn chung chung ươn ươn viếng người bệnh đặc biệt nằm trong quan tài của Mỹ

trung tuần tháng 1/2015, đoàn chung chung ươn ươn viếng người bệnh đặc biệt nằm trong quan tài của Mỹ

Một cái chết mà người ta muốn kẻ chết sẽ chết êm ru, chết đột ngột, và thật bí mật, tốt nhất là xa hẳn cái đất nước này… cuối cùng lại trở thành một cái chết gây nhiều đồn đoán, bình loạn, tốn nhiêu tiền của, thời gian, giấy mực,và.. nước bọt nhất trong “lịch sử chết” của mấy tay cộng sản “gộc”, chết rồi mà mà vẫn gây phiền hà, tốn tiền bạc của dân!

Lần đầu, nghe chuyện ông Bá Thanh, tớ đã viết trên status là “Mọi chuyện bí mật về ông Bá Thanh sẽ bị lộ hết nếu cứ để ông nằm chờ chết ở bên Mỹ!” Lý do: Cái hội chứng acute radiation syndrome do polonium, tức là “nhiễm xạ thời kỳ cấp” chính là do người Mỹ công khai hóa.

Hình ảnh ông ta nằm trơ trọi cách ly, không một bóng người dám đứng gần, thậm chí cái thùng rác đặc biệt sơn đỏ, “warning! danger!”, cũng được chụp ảnh rõ mồn một bên cái hình hài biến dạng của ông ta!

Và từ đó “Chân Dung Quyền lực” mới tung ra các kiểu ảnh mà hẳn phải ai đó có quyền lực mới có quyền chụp, cùng tin động trời “Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc bằng chất… nhiễm xạ

Rõ ràng Ta không nói, Sing không nói! Chỉ có người Mỹ tung tin, chứ còn ai nữa? Tốn kém mấy cũng phải đưa cái xác chết còn thoi thóp đó về…. và bắt tất cả các giáo sỹ, tiến sư phải nói này, nói nọ, phịa chuyện bệnh này, bệnh nọ… cốt để chờ ngày nào thì được phép tuyên bố Chết Thật mà thôi!

Và cái ngày thứ sáu 13 đã được chọn!? Phải chăng sáng kiến này của tay nào đó có biết qua đến phim Vendredi 13 do Boris Karloff (“Quỷ nhập tràng” Frenkeistein) đóng! Nếu thế thì… khá là thâm thúy đấy!

Liệu rồi đây cái quan tài cốt thép này, khi ra công khai tang lễ có một chiếc quan tài “đóng thế” để người đến viếng đỡ sợ chết ….lây!?

.

[Posted by tunhan]

[Posted by tunhan]

Ngô Nhân Dụng – mất Đảng, mình đi đâu đây?

Được chia sẻ công khai

Đảng mất mình đi đâu? 

Ngô Nhân Dụng

Không phải chỉ trong hàng ngũ công an mới có người đang đặt câu hỏi trên. Tất cả những kẻ đang nắm quyền hành và hưởng lợi lộc nhờ chế độ Cộng Sản cũng ôm nỗi băn khoăn này.

Đảng mất mình đi đâu? Có người đã chọn rồi: Đi Mỹ! Trên mạng Internet đã thấy hình ngôi nhà một ông phó thủ tướng đương quyền mua ở Anaheim, California, USA. Cả hình bằng lái xe ở California của con trai ông ta. Trong đảng họ phá lẫn nhau cho nên mới tiết lộ cho bà con biết, còn hàng ngàn căn nhà khác vẫn được giữ kín “bảo vệ đảng.” Chắc chắn nhiều cán bộ cao cấp cũng tìm đường chạy từ lâu rồi. Và họ cũng biết một quy tắc của nghề đầu tư là “Không để trứng tất cả vào chung một cái giỏ.” Nếu rớt, trứng bể hết. Cho nên, những kẻ quyền cao nhất, thế mạnh nhất, “đông tiền” nhất, họ đều biết phải “phân tản” (diversify) các món đầu tư cho tương lai. Một căn nhà ở Mỹ, một cái khác ở Đức, vài ba địa chỉ ở Úc, gửi tiền của đi chỗ nào xa xa nước Việt Nam đều tốt cả. Mà phải chọn những nơi an toàn. An toàn nhất là những nước dân chủ tự do. Chọn nơi nào có hệ thống tư pháp công bằng, trong sạch, tài sản của mình được luật pháp bảo vệ, không sợ có đứa nó ỷ quyền chiếm mất – như ở nước Việt Nam. Đem tiền sang các nước đó không những khỏi lo bị cướp mà dùng làm vốn sẽ sinh lợi cao hơn. Những nước có truyền thống dân chủ lâu đời cũng là những nước kinh tế lên cao nhất, nhờ tinh thần trọng pháp và luật lệ bảo vệ quyền tư hữu. Cho nên, các đồng chí chưa chắc đã mua nhà ở Quảng Châu, Côn Minh, Bắc Kinh, mà còn đem tiền sang các nước tư bản chính hiệu. Đó là tín hiệu con tàu sắp chìm, đàn chuột bỏ chạy trước.

Đảng mất mình đi đâu? Không phải ai cũng có tiền và có địa vị để chuẩn bị đường rút lai sang Tàu, sang Úc, Canada, Pháp, Đức, hay sang Mỹ.

Cho nên, đang lo lắng nhất bây giờ chắc là những người công an. Khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” đã được nêu lên từ thời Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ. Công an tự nhận họ đóng vai “chó săn;” nhưng hãnh diện rằng họ “làm chó săn cho cách mạng!” Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản tài tình đã dựng hai chữ “cách mạng” như một vị thần hoàng để họ chui vào cung đình chia nhau ăn thủ lợn. Cái gì phục vụ“cách mạng” thì tốt, thì cao quý. Gán cho ai nhãn hiệu “phản cách mạng” thì xúi giục đám “quần chúng” côn đồ chửi bới, chém giết (Cải Cách Ruộng Đất), ám sát (Coi gương Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm) ném phân vô cửa nhà người ta (Coi Hoàng Minh Chính, Trần Khải Thanh Thủy), hoặc đem vùi xuống đất đen (Coi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần). Núp dưới bóng thần “cách mạng” đó, công an “phục vụ cách mạng” là công an an tốt, đáng tự hào. Họ có thể hãnh diện nhìn nhận công an gắn bó keo sơn với đảng; họ hô to khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” mà không thấy xấu hổ về cái vai trò ăn bám như loài ký sinh trùng.

Nhưng bây giờ, bức mặt nạ “cách mạng” đã rớt xuống. Đảng lệ thuộc ngoại bang đến mức không dám gọi tên những con tàu ăn cướp dân mình là Tàu Trung Quốc mà bắt các báo đài phải gọi là “tàu lạ.” Dân bèn chế nhạo: Coi chừng Người Lạ, Hàng Lạ! Chế độ gọi là “cách mạng” đã từng “học tập Mao Chủ Tịch” chia rẽ dân tộc, gây đấu tranh giai cấp, gây chiến tranh Nam Bắc, người Việt giết người Việt cho Trung Cộng thừa cơ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Những công an dẫn đám côn đồ đàn áp các cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa của dân Sài Gòn, dân Hà Nội, phải tự nhìn thấy họ đang bị Đảng Cộng Sản xua đi phục vụ đế quốc đỏ Trung Hoa. “Mình còn” nhưng “Nước mất” thì ai sẽ trả lời cho con cháu đây?

Chính công an cũng thấy rõ chế độ bây giờ chỉ còn là một bộ máy cường quyền liên kết với tư bản đỏ tham nhũng, trục lợi. Đó là hậu quả không thể tránh được ở bất cứ nước nào do một chế độ độc tài đảng trị cầm quyền. Đảng còn ăn cướp được thì mình còn được ăn cướp. Nhưng họ cũng thấy hình ảnh những ngôi biệt thự xa hoa của những bí thư tỉnh ủy to lớn sang trọng hơn nhà mình trăm lần, ngàn lần. Họ đã thấy hình phòng khách trong nhà cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu toàn bảo vật quốc gia. Gần đây là hình trong nhà Nông Đức Mạnh, tường cũng dát vàng với hai cái ngai vàng chạm hình rồng, bắt chước vua chúa đời xưa. Người có học nhìn cảnh đó phải cảm thấy thương hại đám cựu tổng bí thư đua đòi “trưởng giả học làm sang” bày trò khoe khoang nhơ nhuốc! Ngoài những “của nổi” này, các vua chúa đỏ còn bao nhiêu “của chìm” cất giấu trong các ngân hàng, trong thị trường chứng khoán và bao nhiêu ngôi biệt thự đã mua ở ngoại quốc? Công an vẫn phải đóng vai “chó săn,” nhưng bây giờ họ đang làm chó săn cho loài vua chúa nhố nhăng đó chứ chẳng có thứ cách mạng nào cả.

“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình đi đâu?” Đó là câu hỏi đang ám ảnh những người công an biết suy nghĩ. Ở Việt Nam, Bắc Hàn và Trung Quốc.

Một mối lo ám ảnh nặng nề nhất là “ngàn năm bia miệng.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không phải là người nhỏ mọn. Nhưng trước khi qua đời ông không thể không nhắc đến tên một tay chỉ huy công an ở Hải Phòng, mà nhờ cuốn sách “Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn” của ông bây giờ cả nước biết họ biết tên. Họ và tên ông này là Trần Đông, thường vụ thành ủy, giám đốc sở công an Hải Phòng. Trần Đông đã vu cáo, đầy đọa nhiều nhà văn, chỉ để chứng tỏ mình tích cực tham dự chiến dịch vu cáo “nhóm xét lại chống đảng.” Bỏ tù mấy nhà văn làm lễ dâng công với Lê Đức Thọ, nhờ thế Trần Đông được thăng quan, lên làm tới chức thứ trưởng. Con cháu ông Trần Đông có cảm thấy nhục nhã khi biết cha, ông mình đã làm những việc thất đức đó hay không?

Bùi Ngọc Tấn không muốn thanh toán mối thù riêng. Ông phải viết ra vì món nợ chung với bao nhiêu bạn tù bị guồng máy độc tài hãm hại. Không kể hết thì những mối oan khiên không bao giờ được cởi. Nhà thơ Hoàng Hưng viết lá thư mở đầu cuốn sách đã thông cảm nỗi lòng Bùi Ngọc Tấn. Cho nên ông đã viết những lời hứa, những lời nguyền: “Còn một ngày cũng sống sao cho ra sống! Vì thế chúng ta phải viết! Họ không muốn ta viết, ta phải viết! Họ sợ ta viết, ta phải viết! Họ cấm ta viết, ta phải viết!…”

Những người không viết, họ có thể quay phim, có thể chụp hình. Vì vậy những bức ảnh ngai vàng trong nhà Nông Đức Mạnh mới được đưa lên mạng. Người phóng viên cầm máy ảnh trong tay chứng kiến cảnh vàng son lố bịch đó tự cảm thấy mình phải giúp tất cả đồng bào trông thấy cuộc sống xa hoa nhố nhăng của các vua chúa đỏ! Người biên tập trong tòa báo cũng đồng ý. Dòng họ Nông sẽ đi vào lịch sử không phải vì ông Nông Đức Mạnh làm lãnh tụ Đảng Cộng Sản một thời. Cả cuộc đời làm tổng bí thư của ông ta không ai nhớ Nông Đức Mạnh đã làm gì, đã nói được câu nào cho ra hồn. Nhưng từ nay ai cũng nhớ hình ảnh hai cái ngai vàng chạm đầu rồng trong nhà Nông Đức Mạnh!

“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình biết trốn đi đâu?”

Không ai trốn được ngàn năm bia miệng!

Những người công an bây giờ biết nhiều hơn, nhìn lại các thủ lãnh đời trước cũng phải thấy nhục, phải xấu hổ: Cả ngành công an đã thối nát ngay từ thủa ban đầu, không phải chỉ vì những tên như Trần Đông. Trần Quốc Hoàn, trùm công an toàn quốc cũng “phục vụ cách mạng” bằng việc “dẫn gái” và giết người bịt miệng. Hoàn đã đưa cô gái từ miền thượng du về cho Hồ Chí Minh, hai bác cháu dùng xong rồi đem thủ tiêu người phụ nữ xấu số bằng tai nạn ô tô. Vũ Thư Hiên đã kể rõ chuyện trong Đêm Giữa Ban Ngày. Ngàn năm bia miệng, biết trốn đi đâu?

tham hoa do

Chiếc xích lô chở mùa xuân – Truyện ngắn Thanh Thuong Hoang

  • Nguồn trích đăng Internet.

Chiếc xích lô chở mùa xuân

Thanh Thuong Hoang

[Hình minh họa, Internet - posted by tunhan]
[Hình minh họa, Internet – posted by tunhan]

Chỗ Tân đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do, anh cho là rất “địa lợi”, vì phía chéo bên kia đường là khách sạn Đại Lục, nơi có nhiều khách ngoại quốc tới ở. Họ thường bao luôn cả xe ngày để đi “tham quan” khắp Saigon Chợ Lớn. Đồng thời nơi này cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với Tân – những ngày tháng cũ trước 75 – anh đã gặp “người yêu lý tưởng” của mình và sau đó cưới làm vợ. Cuộc sống lứa đôi tràn ngập hạnh phúc cho tới ngày 30 tháng 4 đen tối sầu thảm. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn một điếu. Vừa phập phèo mấy hơi để dĩ vãng tan theo khói thuốc, thì anh nghe tiếng gọi xích lô bên kia đường. Tân vội quay nhìn. Một người đàn bà đưa tay vẫy gọi. Tân vứt vội mẩu thuốc hút dở, rời khỏi nệm xe, nhẩy phóc lên yên xích lô đạp nhanh tới bên kia vệ đường (vì chỗ này thuộc phạm vi “lãnh thổ” của khách sạn nên họ cấm xích lô đậu. Anh em xích lô chỉ có thể “đột kích” đón khách rồi phóng đi ngay).

“Cô muốn đi đâu?” Tân hỏi bằng tiếng Anh giọng rất chuẩn, rất Mỹ làm cô khách ngạc nhiên. Cô đặt mình lên xe thong thả nói:
”Anh muốn chở tôi đi đâu cũng được. Chạy chậm chậm thôi nhé!”

Tân hỏi lại: “Nghĩa là cô muốn mở một cuộc du lịch bỏ túi trong thành phố?”
“Đúng!”

Trước khi cho xe chuyển bánh, Tân nói: “Cô chưa cho biết sẽ trả tôi bao nhiêu tiền. Chúng ta nên sòng phẳng dứt khoát trước khi bắt đầu.
” Cô khách đáp: ”Tôi sẽ trả anh như đã trả cho những người trước anh.”
“Nghĩa là…?”
“Nghĩa là mỗi giờ tôi trả anh hai đô la.”
“Cô trả vậy hơi nhiều đấy!”

Cô khách nhắc lại câu hỏi của tôi khi nãy:
“Nghĩa là…?”
“Tôi tính cô một đô la một giờ thôi.”

Cô khách một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên nhưng không nói gì.

Hôm qua cô trả cho anh xích lô đúng như giá anh ta đòi, thế mà khi trả tiền còn nằn nì xin thêm. Còn anh xích lô này thì lại xin bớt. Con người xứ sở này có vẻ phức tạp, khó hiểu thật.

Tân từ từ đạp xe về phía chợ Bến Thành. Tới nơi, anh hỏi khách:
”Cô đã biết chợ Bến Thành này chưa?” Và không chờ khách khách trả lời, anh nói tiếp:
“Đây là ngôi chợ lớn nhất của thành phố Saigon và có một bề dầy lịch sử.”

Cô khách mỉm cười. Từ lúc lên xe tới giờ. Tân mới thấy khách cười:
“Tôi biết. Hôm trước một người bạn Việt-Nam đã dẫn tôi vào trong chợ ăn món bún thịt nướng, lạ miệng và ngon lắm! Nhất là cái món nước “sốt” mặn mặn với ngọt ngọt và hơi cay.
“Cô ăn được cả nước mắm?”
“Cũng hơi… khó chịu một chút lúc đầu.”

Thấy sự trao đổi nói năng có vẻ thân mật cởi mở, Tân hỏi:
“Tôi hơi tò mò, xin lỗi trước. Cô tới Saigon du lịch hay làm việc?”
“Tôi tới Saigon có chút việc riêng, tiện thể làm chuyến du lịch luôn.”
“Cô tới đây lần đầu?”

Khách khẽ gật và đôi mắt xanh biếc của cô chớp chớp. Bây giờ Tân mới có dịp quan sát người đẹp. Cô khoảng dưới ba mươi tuổi, thân hình thon thả dong dỏng cao bó gọn trong chiếc áo pull trắng và chiếc quần gin mầu xanh đậm. Mớ tóc vàng óng ả của cô chẩy dài buông xõa xuống cái lưng ong. Nước da cô trắng hồng mịn màng. Những sợi lông tơ trên hai cánh tay trần tròn lẳn gợi cảm. Tân cũng đã có dịp vuốt ve những cánh tay như thế, nhưng xa xôi lắm rồi. Theo sự nhận xét sơ khởi của Tân thì nhan sắc cô nàng ở mức trung bình nhưng khá quyến rũ ố hình như cô có cái duyên ngầm của các cô gái phương Đông.
“Cô mới từ Mỹ tới?” Tân hỏi.

Khách khẽ gật.
“Tôi đoán cô là người miền Đông nước Mỹ, Nếu không ở Washington DC. thì cũng bang nào vùng đó.”

Lần này cô nàng ngoái hẳn mình về phía sau nhìn Tân:
“Anh căn cứ vào đâu mà đoán tôi là người miền Đông?”

Tân hóm hỉnh cười:
“Giọng nói của cô và nhất là nước da của cô. Chỉ có những người sinh sống ở xứ lạnh mới có nước da trắng hồng như cô.” Tân nói nịnh thêm. “Đúng là nước da lý tưởng các cô gái mơ ước.”

Cô khách càng thêm ngạc nhiên. Một anh đạp xích lô, tức thuộc giới lao động bình dân thất học, mà lại có vẻ hiểu biết những sự việc ngoài tấm mắt của anh ta. Rồi còn biết cả nịnh đầm ố món “võ” của bọn đàn ông có học. Cô cười nhẹ trả lời Tân:
“Anh đoán giỏi đấy! Tôi sinh ra ở thành phố Charlotte bang North Carolina. Lớn lên đi học và sống ở Washington DC.”

Tới chợ bến Thành cô bảo anh ngừng xe để cô vào chợ mua một món gì đó. Cô hỏi anh có đợi được không. Anh gật đầu. Mươi phút sau cô trở ra trên tay cầm một cái gói bọc giấy nhỏ.
“Bây giờ cô muốn tôi chở cô đi đâu?”
“Tùy anh.” Tân suy nghĩ một chút:
“Cô đã vào Chợ Lớn chưa?”
“Hay đấy! Tôi nghe bạn bè nói Chợ Lớn là thành phố của người Hoa như ở Hồng Kông vậy. Nên đi coi cho biết.”
“Cô đã đến Hồng Kông?”
“Tôi đến đó hồi còn là con nhóc đi với bố mẹ.”

Tân có vẻ ngập ngừng trước khi nói:
“Xin lỗi, cô đã lập gia đình?”
“Phải, tôi đã lập gia đình gần mười năm. Vợ chồng tôi có một con gái.”

Nói xong, cô khẽ thở dài, mặt thoáng buồn, đôi mắt xanh biếc đăm đăm như nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó. Tân thấy vậy không hỏi nữa. Anh lặng lẽ đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo rộng dài, dưới trời nắng bắt đầu gay gắt. Những chiếc xe gắn máy của bọn trẻ gầm rú phóng vùn vụt, đôi lúc cô khách sợ hãi kêu lên vì tưởng nó đâm nhào vào mình. Từ đường Đồng Khánh, cô bỏ Tân ngừng xe trước một tiệm tạp hóa. Lúc trở ra cô khoe với Tân một vật nhỏ:
”Anh thấy đẹp đấy chứ?” Tân thốt lên:
“Tưởng gì, cái này bên Mỹ đâu thiếu.”
“Phải, bên Mỹ không thiếu, nhưng đây là thứ tôi mua ở Chợ Lớn Việt Nam làm kỷ niệm, đồng thời làm quà tặng con gái tôi.”

Dứt lời cô khách lên xe ngồi, Tân đạp tiếp. Chợt cô quay lại hỏi Tân:
“À, tôi quên hỏi anh. Sao anh biết thứ tôi vừa mua bên Mỹ có nhiều?”
“Vì tôi đã ở bên đó và có mua tặng người yêu. Cái cô vừa mua là do người Tàu Chợ Lớn làm nhái theo đồ của Mỹ.”
“Ồ, anh đã ở bên Mỹ?” “Đi du lịch hay du học?”
“Tôi đi học.”

Cô lại thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và nhắc lại:
“Đi học? Thì ra anh sang Mỹ du học!”
“Không phải! Tôi đi lính được tuyển sang Mỹ học lái máy bay. Tôi sang Mỹ với tư cách sinh viên sỹ quan Không Quân!”

Cô khách người Mỹ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Cô có vẻ thích thú nghe những điều Tân nói. Cái con người lam lũ nghèo khổ đạp xích lô này đã từng là sỹ quan Không Quân và đã sang Mỹ học? Cô nửa tin nửa ngờ, dò đường:
“Anh sống ở Mỹ lâu không? Bang nào nhỉ?”

Tân đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Chiếc áo cũ mỏng mầu đen nhiều miếng vá anh mặc ướt đẫm mồ hôi. Tân cảm thấy bắt đầu mệt và khát nước. Chén xôi bắp nhỏ ăn từ sáng sớm, giờ đã tiêu hết. Anh trả lời khách không mấy hào hứng sốt sắng như lúc đầu:
“Tôi học lái máy bay tại Pensacola bang Louisiana vào năm 1967. Thời gian huấn luyện khoảng năm rưỡi. Tới năm 1972 tôi lại có dịp đi tu nghiệp ở Texas hơn tám tháng.”
“Anh còn nhớ tên khóa huấn luyện?”
“Khóa 67A. Khóa này tôi được huấn luyện cùng với bọn Pilot Hải Quân Mỹ.”

Sau khi thảng thốt kêu lên tiếng “ô”, cô ngưng hỏi và im lặng một lúc lâu.

Tân cũng chẳng quan tâm đến sự im lặng của cô khách. Anh đang mải lo đối phó với những xe cộ chạy hỗn độn, vô trật tự trên đường phố. Chỉ cần sơ ý một chút, có thể gây ra tai nạn thương tích cho người ngồi trên xe. Hai bên lề đường Đồng Khánh, người người đi lại tấp nập. Hàng hóa của các tiệm bầy tràn ra cả lề đường. Rồi những gánh hàng quà rong, những xe bán nước ngọt, trái cây, tạo nên một cảnh hoạt náo vui mắt. Cô khách có lẽ vui lây với không khí nhộn nhịp này, nhất là nhìn những người đàn bà Hoa mặc những bộ quần áo mỏng, giản dị. Cô hỏi Tân:
“Họ chắc không phải là người Việt?”
“Vâng, họ là người Hoa. Thành phố này là thành phố của người Hoa dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hay thời Cộng sản cai trị cũng vẫn thế. Khó mà thay đổi được họ!”
“Không phải riêng nước anh. Ở bên Mỹ cũng vậy. Một thời gian nào đó, người Hoa sẽ cai trị thế giới.”

Ngưng chút cô nói tiếp: “Cả về chính trị và kinh tế. Vì thời đại chúng ta, kinh tế đang chi phối thống lĩnh toàn cầu!” Tân cãi:
“Tôi không đồng ý với cô. Người ta đã dùng kinh tế để làm cái roi cai trị, nhưng theo tôi nhất định Cộng sản sẽ thất bại cả về chính trị lẫn kinh tế.”
“Tôi nghĩ với Cộng sản thì chỉ có thể dùng vũ lực.”
“Dùng vũ lực, Mỹ đã thất bại ở Cuba trước đây. Chỉ có Cộng sản mới triệt được Cộng sản thôi. Sức tác động bên ngoài không đủ mạnh bằng sự tự hủy hoại từ bên trong.”

Cả buổi trưa hôm đó, cô khách người Mỹ và anh xích lô đạp mải mê tranh luận về nhiều vấn đề thời sự, chính trị, học thuyết, triết lý, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, tư bản… quên cả đường phố chật chội xe cộ chen lấn bừa bãi. Năm đó là năm 1985, thành phố Saigon còn nhiều xe đạp, xe gắn máy, ít xe hơi. Riêng anh đạp xích lô quên cả mệt và đói. Anh đang hào hứng. Đã lâu lắm anh không hề dám nói năng thảo luận với bất cứ ai những vấn đề húy kỵ trên. Nói với cô khác lạ này không sợ báo cáo, không sợ xuyên tạc, chụp mũ. Tân yên tâm tự nhủ mình như vậy nên anh “phát ngôn mạnh bạo xả ga”. Gần xế chiều, Tân đạp xích lô chở cô khách Mỹ về khách sạn Đại Lục. Bước xuống khỏi xe khách mới hỏi:
“Nãy giờ tôi cứ thắc mắc mãi. Anh là sỹ quan Không Quân từng sang Mỹ học lái máy bay, sao lại… lại đi đạp xích lô?”

Tân phì cười trước câu hỏi này. Đúng là một người Mỹ ngây ngô, chẳng biết gì về làn sóng đỏ đang tràn ngập tràn phá hủy hoại khốc liệt cả miền Nam. Anh trả lời:
“Vì tôi bị Cộng sản bắt đi tù.”
“À, ra thế!” “Anh bị tù có lâu không?”
“Gần mười năm.”
“Trời! Anh được tha lâu chưa?”
“Mới sáu tháng.”
“Ô là! Ở tù Cộng sản chắc là khổ lắm?”
“Tất nhiên. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng sống thời Trung Cổ.”
“Tại sao các anh không vùng lên phản kháng, chống đối? Dân tộc anh là một dân tộc có cả một lịch sử oai hùng về ý chí quật cường, về truyền thống tranh đấu…”

Tân cười nửa miệng:
“Đồng thời dân tộc tôi cũng có truyền thống nhẫn nhục chịu đựng gian khổ.”

Cô khách người Mỹ mở bóp lấy hai tờ giấy năm đô la đưa cho Tân và hẹn sáng mai tới đón cô đi chơi tiếp. Tân cầm hai tờ giấy bạc ngần ngừ. Anh định đưa trả lại một tờ thì cô khách Mỹ đã bước vào trong khách sạn.

Sáng hôm sau đúng chín giờ, Tân đạp xe tới góc đường Lê Lợi – Tự Do đã nhìn thấy cô khách đứng chờ. Cô giơ tay vẫy chào anh rồi bước lại ngồi lên xe.
“Hôm nay cô muốn đi đâu?”
“Đi đâu cũng được. Tôi muốn có nhiều thì giờ để trò chuyện với anh.”
“Hôm qua cô trả tôi nhiều tiền quá. Công của tôi chỉ đáng nửa số tiền ấy thôi! Thế là hậu hĩnh lắm rồi. Hôm nay tôi sẽ đạp để trừ vào số tiền cô trả dư hôm qua.”

Cô khách Mỹ chỉ cười và chớp chớp đôi mắt xanh biếc không có ý kiến gì, nhưng trong đầu cô nẩy một câu hỏi: sao lại có anh chàng gàn dở thế nhỉ? Đã nghèo khổ mà lại còn chê tiền?

Còn Tân bây giờ mới nhìn thấy đôi mắt xanh mầu ngọc bích và trong sáng như mắt mèo đẹp tuyệt vời của cô. Trong đôi mắt ấy anh đọc thấy nhiều thứ lắm: hiền hòa, dịu dàng, nhân bản và cả nỗi đau tiềm tàng ẩn sâu. Đúng, đôi mắt là linh hồn của con người. Các cụ mình xưa nhận xét thật tài tình tinh vi. Xe chạy ra bờ sông Saigon trước khách sạn Majectic. Cô khách ngỏ ý muốn ngồi chơi nơi vườn hoa. Tân nói đùa:
“Tuy ngồi chơi, tôi vẫn tính tiền cô theo giờ đạp xe đấy!”
“Tốt thôi, không có gì đáng phải bàn cãi!”

Để an toàn, khỏi lo lắng, Tân đặt chiếc xích lô ngay cạnh chỗ ghế ngồi và khóa bánh xe lại bằng dây xích. Anh nói với cô khách Mỹ:
“Cho chắc ăn!”

Cô khách cười: “Xe để sát bên cạnh anh, còn kẻ nào dám cả gan lấy cắp!”
“Bần cùng sinh đạo tặc cô ạ! Dân Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ này. Mà bây giờ thì cả nước đều “bần cùng” nên bất cứ việc gì cũng có thể “sinh đạo tặc”. Họ không ăn cắp nữa mà là ăn cướp. Đã tới mức ăn cướp thì họ đâu còn sợ cái gì. Lão Lê-Nin nói đúng đấy, nếu mất, họ chỉ mất cái cùm thôi!”

Cả hai cùng cất tiếng cười vui vẻ. Bờ sông Saigon lúc nào cũng tụ tập đông người. Thấy khách ngoại quốc, bọn trẻ nhỏ chuyên bán những đồ lặt vặt rẻ tiền cho du khách, xúm lại vây quanh hai người mời mọc, gạ gẫm, nài nỉ. Chúng nói những câu tiếng Mỹ bồi ngây ngô ngộ nghĩnh. Rồi đám bán hàng rong xúm xít như ruồi bu. Tân khó chịu lắm, luôn tay xua đuổi thì bị mắng trả tục tĩu. Còn cô khách Mỹ cứ cười cười lấy làm vui thích hoạt cảnh này. Cô mua một gói đậu phụng rang cho mình, một gói cho Tân và mỗi người một chai côca -cola. Lâu lắm Tân mới uống lại thứ nước ngọt của “đế quốc Mỹ” này. Sao mà ngon ngọt đến thế. Mười mấy năm trời khi ở trong tù và cả lúc về ngoài đời anh chưa một lần được uống lại. Tiền ăn còn lo chưa nổi lấy đâu tiền uống côca -cola. Khi bóc gói đậu phụng, anh thất vọng. Nó đã bị hư từ lâu, nhưng người ta vẫn đem bán. Cô khách nói:
“Nếu ở bên Mỹ, nhà sản xuất bị kiện sặc gạch đấy!”

Vứt hai gói đậu phụng hư xuống sông xong, hai người ngồi nhìn trời đất. Một lúc lâu cô khách chợt hỏi:
“Trong khi ở Mỹ, anh có quen thân người bạn Mỹ nào không?”
“Có chứ! Bạn cùng khóa thì nhiều lắm, nhưng thân thiết thì chỉ một hai người.”
“Anh còn nhớ tên?”
“Nhớ chứ. Một anh tên là Tom Hamilton Một anh tên là Edward Carter. Không biết anh chàng này có họ hàng gì với lão Tổng Thống Jimmy Carter không!”

Cô khách Mỹ nói nhanh: “Edward Carter! Anh có nhớ sai tên không? Anh ta người ra sao?”

Tân vỗ vỗ trán như gọi những hình bóng cũ trở về:
“Anh ta cao lớn hơn tôi một chút và cũng tuổi tôi, năm nay được ba mươi sáu tuổi. Anh em cùng khóa thường nói đùa nếu cái mũi tôi cao một chút, dài hơn một chút, và nước da trắng thì đúng là anh em sinh đôi với Edward Carter.
” Cô khách Mỹ chăm chăm nhìn thẳng vào mặt Tân như quan sát, như dò xét. Rồi cô không giấu được một cái thở dài. Tân ngạc nhiên hỏi:
“Sao, nếu tôi đoán không lầm thì có thể cô quen biết hoặc có họ hàng với anh chàng Edward Carter này.
” Cô khách không trả lời. Cô lơ đãng nhìn sang phía bên kia bờ sông. Miệng cô lầm bầm mấy tiếng gì đó, Tân nghe không rõ. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn hút.
“Anh hút thuốc gì mà có mùi khét thế?” Cô khách Mỹ hỏi.
“Đây là thuốc rê. Thứ thuốc rẻ tiền nhất của người Việt Nam. Lúc ở trong tù, đối với chúng tôi thuốc này là loại quý đấy cô ạ! Chúng tôi còn hút cả lá chuối khô và rễ cây nữa kìa!”
“Khổ cực vậy, thiếu thốn vậy mà các anh chịu đựng được để còn giữ được mạng sống trở về đời, tài thật!”
“Không ai, kể cả chúng tôi cũng không tin là mình sống nổi. Nhưng như vừa nói với cô đấy. Dân tộc tôi có sức chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai. Hơn trăm năm nay chưa lúc nào dân tộc sống trong thanh bình yên ổn, trong no ấm sung sướng. Chiến tranh cứ tiếp diễn liên miên, hết ngoại xâm lại tới nội chiến, rồi cả nước chịu ảnh tù đầy đói rách nhục nhã. Nếu như người Mỹ của cô thì ít ra cũng chết nửa nước.”
“Sao anh không lái máy bay chạy ra ngoại quốc như một số người đã làm?”
“Tôi còn cha mẹ già. Cha mẹ tôi nhất định không chịu rời bỏ quê hương. Biết rằng ở lại sẽ phải chịu cảnh tù đầy và có thể bị giết chết nữa, nhưng tôi không thể bỏ mặc cha mẹ. Hơn nữa tôi còn con nhỏ mới sinh.”
“Bây giờ chắc con anh đã khá lớn. Thế còn vợ anh? Chị ấy vẫn một lòng đợi anh về? Tôi đọc sách báo thấy họ hết lời ca ngợi người đàn bà Á-Đông lúc nào cũng giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng. Dù chồng chết, còn trẻ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con.
” Tân lắc đầu thở dài, vứt mẩu thuốc xuống đất: “Tôi không có cái diễm phúc ấy. Sau khi tôi bị tù, vợ tôi để lại con cho cha mẹ tôi nuôi, đi lấy chồng khác.”
“Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý khơi lại sự đau buồn của anh. Nhưng tôi hơi tò mò, thế anh có oán hận người vợ không?”
“Cô ấy còn trẻ nên phải lấy chồng khác, đó là sự thường, có gì mà oán hận. Chỉ có điều hơi buồn là cô ấy lấy kẻ thù của chúng tôi.
” Đôi mắt xanh biếc của cô khách Mỹ chớp chớp. Cô có vẻ xúc động về chuyện riêng tư của Tân.
“Còn cha mẹ anh?”

Tới lượt Tân thở dài nuốt nước bọt như cố nén nỗi đau buồn xuống đáy lòng:
“Cha mẹ tôi đều mất khi tôi còn ở trong tù!”

Cô khách Mỹ kêu lên: “Thế còn đứa nhỏ?”
“May mắn cho nó được ông bà ngoại thương xót đem về nuôi, mặc dù ông bà cũng rất nghèo khổ. Ít ra thì cũng còn có những đốm lửa trong đêm tối phải không? “.

Và lần này chính Tân ngạc nhiên trố mắt nhìn cô khách Mỹ. Cô lấy khăn giấy chậm nước mắt. Cô khóc. Rồi cô đưa đôi mắt xanh biếc đẫm nước mắt nhìn Tân nói:
“Tôi tên Jacqueline Hunter. Còn anh?”
“Tôi là Tân, Đỗ Tân, cựu đại úy phi công Việt Nam Cộng Hòa. Rất hân hạnh được quen biết cô.”

Sau một lúc suy nghĩ đắn đo, Jacqueline nói:
“Anh có thể cho tôi địa chỉ để khi về Mỹ may ra tìm được mấy người bạn cũ của anh. Biết đâu họ chẳng hết lòng lo giúp đỡ can thiệp cho anh.”
“Cám ơn Jacqueline. Tôi ở số nhà…. Hẻm… Đường…. Thành phố Saigon.”

Họ còn ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Jacqueline có ý mời Tân đi dùng bữa trưa, nhưng anh từ chối, mặc dù bụng đang đói. Xuống xe cô móc bóp rút ra tờ giấy một trăm đô đưa Tân, nói:
“Anh cầm lấy để chi dùng. Rất tiếc tôi không thể giúp anh hơn.
” Tân từ chối ngay: “Cám ơn Jacqueline. Tôi cũng rất tiếc không thể nhận số tiền này. Tôi không muốn nhận một sự thương hại, hay một sự bố thí.”
”Không, đây là một tấm lòng. Anh hãy nhận lấy ở đây một tấm lòng.” Dứt lời Jacqueline nhét tờ giấy bạc một trăm đô vào tay Tân và bước nhanh vào trong khách sạn. Trước khi khuất hẳn, cô quay lại nói với Tân:
“Tạm biệt Tân, người bạn mời quý mến của tôi.”

Tân nhìn tờ giấy bạc một trăm đô nằm trong tay sững sờ. Một số tiền quá lớn và quá bất ngờ đối với anh. Chừng như định thần lại được, Tân phóng mình bước nhanh như chạy vào khách sạn, miệng gọi lớn: “Jacqueline! Jacqueline! Tôi không thể! Tôi không nhận số tiền này. Tôi xin trả lại cô!”

Nhưng Jacqueline đã mất hút. Anh bảo vệ khách sạn thấy gã xích lô chạy xồng xộc vào trong khách sạn miệng la lối ầm ĩ liền chặn Tân lại, nói lớn, giọng hách dịch:
Anh kia! Ra khỏi đây lập tức!”

Tân giơ tờ giấy một trăm đô nói:
“Tôi đưa tiền trả cô khách Mỹ!”
“Cái gì?ạ Cô ta đánh rơi tiền à?”
“Không, cô ấy trả tiền cuốc xe cho tôi một trăm đô, trong khi giá chỉ có năm đô.”

Anh bảo vệ ngẩn người ra nói:
“Lạ nhỉ? Đi cuốc xe có năm đô mà trả một trăm đô? Có khi là đô giả đấy! Đưa đây tôi coi nào!”

Nhưng Tân không đưa làm anh bảo vệ khách sạn nổi giận:
“Thôi, cút cha anh đi. Một trăm đô mà chê à? Anh đạp xe cả năm liệu có kiếm được nổi số tiền này không? Gặp con mụ Mỹ điên khùng vớ món bở thì hãy chuồn mau đi, không nó đổi ý ra đòi lại, thì chỉ có nước ăn cám, anh bạn ạ!”

Tân cầm tờ giấy bạc một trăm đô chậm rãi bước ra khỏi khách sạn. Một trăm đô, đúng là số tiền không nhỏ, nhưng công sức của anh bỏ ra đâu có xứng đáng để nhận sồ tiền này. Thôi sáng mai tới trả cô ta vậy. Cả đêm đó Tân không ngủ được. Anh cứ trằn trọc “đánh vật” mãi với tờ giấy bạc một trăm đô. Tại sao lại có thể như thế nhỉ? Đi cuốc xe áng giá năm đô, cô ta trả một trăm đô. Chẳng lẽ là bạc giả như anh chàng bảo vệ khách sạn nói? Không! Nhất định không phải rồi! Cần gì cô ta phải làm cái việc lươn lẹo dối trá, Vậy tại sao cô ta trả cho mình cả một trăm đô? Thương hại? Bố thí? Một tấm lòng? Dù có là gì đi chăng nữa thì sáng mai cũng vẫn phải trả lại tiền cho cô ấy.

Tân thở dài. Tắt đèn. Bật đèn. Vuốt ve ngắm nghía tờ giấy bạc một trăm đô. Tờ giấy mầu xanh lá cây như sáng rực trong đêm. Một trăm đô đâu có nhỏ. Có khác gì tiền từ trên trời rơi xuống. Nhưng nhất định ngày mai phải trả lại cô ta, cô Jacqueline quý hóa: Tôi rất trân trọng tấm lòng của cô nhưng tôi không thể nhận số tiền này. Chúng ta chỉ mới có hai ngày quen biết, đâu đã có ân tình nghĩa trọng gì. Cám ơn lòng tốt của cô. Cám ơn người đàn bà ở phương trời xa đến. Nghĩ tới những người cùng chung nòi giống sống quanh tôi, cô làm tôi thấy đau đớn tủi nhục.

Hôm sau mới tám giờ sáng, Tân đã đạp xe tới chỗ cũ để đợi Jacqueline, mặc cho một người khách Tây phương đang vẫy tay gọi xe bên kia đường. Anh sốt ruột chờ, đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, thỉnh thoảng thọc tay vào túi quần để yên trí tờ giấy bạc một trăm đô vẫn còn nằm trong đó. Chín giờ đã tới. Rồi chín giờ mười phút. Chín giờ mười lăm phút. Không thấy bóng dáng Jacqueline đâu cả. Chín giờ hai mươi phút. Tân thấy anh bảo vệ khách sạn hôm qua bước lại phía anh. Chẳng lẽ tên này gặp mình kiếm cớ gây sự để đoạt tờ giấy một trăm đô? Tiền bạc làm con người mờ mắt dễ trở thành bất lương. Anh bảo vệ khách sạn tới bên Tân dừng lại và hỏi vẫn giọng hách dịch:
“Có phải anh là người hôm qua chở cô khách Mỹ?”

Tân gật. Anh ta đưa Tân một mảnh giấy:
”Này cầm lấy! Thư của cô ta đấy!” Dứt lời anh ta bước về khách sạn.

Thư là một mảnh giấy nhỏ có in tiêu đề khách sạn. Jacqueline viết bằng tiếng Anh:
“Tân mến! Hôm nay tôi có việc bất thần phải đáp máy bay đi Hà Nội. Chúc vui khỏe. Hẹn gặp lại.”

Cô ký tên một chữ tắt “J”.

2
Những ngày và cả những tháng sau đó Tân vẫn thường đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do có ý chờ người đẹp Mỹ Quốc bất thần xuất hiện. Anh biết vô vọng nhưng vẫn cứ mong, cứ đợi. Rồi Tân tự an ủi đó là một giấc mơ, một giấc mơ đẹp có thật và sẽ không bao giờ hiện ra lần nữa. Anh chợt nhớ hai câu thơ của nhà văn Duyên Anh mà anh được nghe trong trại tù: “Đời rất hiếm hoi lần Bụt hiện. Cho nên đoạn kết thảm vô cùng.” Đời mình chưa đến đoạn kết, nhưng đến nước này thì đúng là “thảm vô cùng” rồi, còn chờ còn mong gì nữa “lần Bụt hiện”. Rồi anh lại lẩn thẩn nghĩ tới bốn chữ “Hồn Bướm Mơ Tiên” – tên một cuốn truyện của nhà văn Khái Hưng. Hồn Bướm Đỗ Tân đang mơ tới nàng tiên Jacqueline Hunter. Tiên đã về vùng đất Thiên đường của Hạ giới, còn bướm thì vẫn mơ màng nơi chốn địa ngục trần gian. Buổi tối, lúc ấy gần mười hai giờ đêm Tân mới về tới nhà. Hôm nay xui xẻo chỉ chạy được ba “cuốc” xe ngắn, vừa đủ tiền chi cho hai bữa ăn. Tới trước cửa nhà Tân thấy chị chủ nhà đứng ngay trước cửa có vẻ đợi anh. Tân hơi chột dạ. Hôm nay là ngày mùng năm đầu tháng nhưng anh vẫn chưa có tiền trả tiền thuê buồng. Bà ta đợi mình về để đòi đây. Số tiền Jacqueline cho anh đã tiêu hết, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tân định cất tiếng xin khất ít ngày thì chị chủ nhà đã tươi cười đưa anh một tờ giấy, nói:
“Chú Tân có tin vui nè!” Tân cười nhạt:
“Tin vui? Tôi làm gì có tin vui. Giỡn làm chi chị Tư?” Chị cho tôi nợ tiền thuê buồng mấy ngày nữa nghe!”

Chị chủ nhà vẫn cười cười nói:
“Tôi nói thiệt mà! Giấy gọi chú lên Tân Sơn Nhứt lãnh quà từ Mỹ gửi.”

Tân sửng sốt: “Quà ở Mỹ gửi? Lạ nhỉ?” Từ ngày ra tù về Tân chưa hề nhận được một lá thư nào từ ngoại quốc gửi về, nói chi đến việc nhận quà! Anh có nghe tin cánh Không Quân bên Mỹ tổ chức quyên góp tiền bạc cứu trợ, nhưng chưa tới tay anh. Có lẽ vì anh chưa liên lạc được với họ. Tân khấp khởi mừng thầm yên trí đây là quà của “các bạn ta” gửi. Anh cầm tờ giấy báo tin vui bước vào nhà đến bên ngọn đèn điện vàng vọt yếu ớt. Chị chủ nhà bước theo sau luôn miệng hỏi:
“Sao? Quà của ai gửi vậy?”

Bỗng Tân đưa tay trái đặt lên ngực. Tim anh đập nhanh, dồn dập. Anh coi lại tờ giấy báo tin lần nữa Thật bất ngờ ngoài cả sức tưởng tượng của Tân. Người gửi quà là Jacqueline. Số quà nặng tới hai mươi ký. Ngày hôm sau Tân phải chạy vạy mới mượn được đủ tiền dự phỏng để đóng thuế. Tất nhiên trong số tiền này có cả tiền của chị chủ nhà. Chị cứ luôn miệng lẩm bẩm:
“Trời đâu có phụ kẻ hiền lành.”

3
Washington DC. ngày… tháng… năm….

Tân thân mến,

Khi nhận được thư này tôi hy vọng Tân đã nhận được gói quà tôi gửi. Chắc Tân ngạc nhiên lắm? Những quần áo, vật dụng, radio, cassette không phải của mình tôi đâu mà còn là của một số bạn bè phi công cùng khóa với Tân gửi đấy! Khi ở Hà Nội về nước, tôi liền liên lạc ngay với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth ở Dallas nên có được một số địa chỉ các bạn đồng khóa với Tân. Biết tin anh họ mừng lắm. Sau khi nghe tôi kể hiện cảnh của anh, họ buồn rầu khổ sở và tức tốc hè nhau góp gửi cho anh một số tiền cũng như vật dụng quần áo. Về tiền được hơn một ngàn đô. Tôi đang tìm cách gửi sao cho sớm đến tay anh mà không bị mất. Tôi mong anh sẽ hài lòng về số quà tặng “đó là những tấm lòng của bạn bè” chứ không phải “sự thương hại hay bố thí” như một lần anh đã hiểu lầm. Sở dĩ chúng tôi gửi tiền và mua những món đồ cho anh là do một người bạn Việt Nam chỉ dẫn. Anh ta bảo những thứ này ở Việt Nam đang bán được giá cao. Bây giờ tôi xin nói một chút về tôi chắc anh sẵn lòng nghe? Tôi đến Việt Nam không phải để du lịch. Tôi đến Việt Nam với mục đích duy nhất tìm kiếm tung tích chồng tôi. Chồng tôi chính là Đại Úy Phi Công Edward Carter thuộc Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, người học cùng khóa và là bạn thân của anh.”

Coi tới đây Tân ngừng lại. Bất ngờ quá! Anh cố hình dung lại người bạn phi công cùng khóa Edward Carter. Sau khi mãn khóa về nước, Tân có thư từ qua lại với anh ta, nhưng chỉ được hai năm sau đó mất liên lạc. Anh nhớ mang máng là Edward Carter được thuyên chuyển tới Đệ Thất Hạm Đội ở Thái Bình Dương. Lúc học ở Mỹ, Tân và Edward Carter có nhiều kỷ niệm, nhất là những buổi cuối tuần được nghỉ đi kiếm bồ bịch, mải vui quá ngày phép, hai người bị kỷ luật. Tân thở dài. Mới đó đã mười mấy năm trôi qua. Tân coi tiếp thư:

“Trong một phi vụ oanh tạc vùng Thanh Hóa, máy bay của chồng tôi bị bắn hạ. Anh được báo cáo mất tích.” Tân lại ngưng coi và đặt lá thư xuống cái bàn gỗ nhỏ cũ kỹ đặt nơi đầu giường. Anh chống tay lên cằm, suy nghĩ trong xúc động. Edward bị bắt sống hay bị chết? Nếu bị bắt sống thì nhất định Jacqueline đã biết tin, vì tất cả tù binh Mỹ đều bị nhốt trong “khách sạn Hilton ” ở Hà Nội. Tân cầm thư coi tiếp:

“Tôi không tin thông báo của chính phủ. Bản danh sách quân nhân Mỹ mất tích còn quá dài. Tôi phải tự đi tìm chồng tôi vì tôi tin chồng tôi chưa chết. Chúng tôi mới lập gia đình có một đứa con gái. Khi chồng tôi mất tích nó được hai tuổi.

Tôi đến Việt Nam lần vừa rồi là lần thứ hai. Lần trước tôi đến Hà Nội và đi nhiều nơi, kể cả Thanh Hóa. Mất hơn một tháng chẳng kiếm được tin tức gì. Một người bạn viết thư cho tôi biết ở Saigon có một “tuy-ô” cung cấp người Mỹ mất tích rất đáng tin cậy. Thế là chẳng cần đắn đo suy nghĩ, tôi vội vã book vé bay sang Việt Nam liền. Tôi đã bị lừa nhưng được gặp anh. Đúng như người bạn Mỹ của anh nhận xét. Nếu cái mũi cao thêm một chút, dài thêm một chút, và nước da trắng thì anh đúng là bản sao của chồng tôi. Sao lại có thể có hai người giống nhau như thế và sao lại có sự tình cờ gặp gỡ giữa tôi và anh như thế nhỉ? Hôm đầu tiên ngồi trên chiếc xích lô của anh, tôi ngoái lại nhìn anh, không khỏi giật mình sửng sốt. Suýt chút nữa thì tôi kêu tên chồng. Anh có biết không, trong lúc liên lạc với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth tôi mới biết thêm anh là người đạt số điểm cao nhất ở khóa đó. Ông chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện già đã về hưu vẫn còn nhớ tới anh và không ngớt lời ca ngợi anh một thanh niên thông minh giầu nghị lực, một phi công đầy triển vọng tài ba. Nói để anh mừng nhé. Các bạn người Mỹ của anh đang vận động với chính phủ can thiệp cho anh sang Mỹ định cư đấy. Công việc này tất nhiên rất khó khăn và nhiều trở ngại, nhưng ai có quyền cấm người ta hy vọng nhỉ, có phải thế không? Từ nay tôi sẽ liên lạc thường xuyên với anh qua thư từ. Anh cần những gì có thể cho tôi biết để tôi và các bạn anh cố gắng giúp. Dưới đây là một số địa chỉ các bạn cùng khóa với anh. Anh nhớ viết thư cho họ nhé. Có mấy người mang cấp bậc Đại Tá rồi đấy. Họ sẽ có thư cho anh, nếu không có gì trở ngại về phía anh.

Chúc anh vui khỏe.
J.

Ít ngày sau, đúng như thư Jacqueline viết, có một người lạ đem đến cho Tân hơn một ngàn đô. Tân cầm số tiền trong tay mà vẫn ngỡ như mình nằm chiêm bao. Anh không nén được xúc động, tay cầm cây bút run run khi viết mấy chữ biên nhận tiền. Rồi anh thấy đôi mắt mình cay cay… Anh đã không cầm được nước mắt. Đêm đó Tâm nằm mơ thấy mình chở Jacqueline trên xe xích lô. Tới một quãng vắng vẻ Jacqueline bảo anh ngừng xe lại rồi nàng rời khỏi xe, bất thần ôm chầm lấy anh hôn thắm thiết. Khi Tân giật mình thức giấc anh cảm thấy như mùi nước hoa, mùi da thịt của nàng còn phảng phất đâu đây.

4
Tân đi tù khoảng hơn năm thì vợ anh đi lấy chồng khác, một cán bộ ngoài Bắc vào. Chính chị đã dẫn người này lên tận trại tù ép buộc Tân ký giấy ly dị với hứa hẹn sẽ can thiệp cho anh về sớm. Tân chẳng tin vào cái sự hứa hẹn này nhưng với một người vợ sớm thay lòng đổi dạ như vậy, anh không còn gì để lưu luyến cầm giữ. Anh chỉ lo ngại cho đứa con nhỏ mới ba tuổi. Nhưng anh yên tâm phần nào khi biết con mình được ông bà ngoại đem về nhà nuôi. Khi Tân từ trại tù vùng cao nguyên trở về Saigon, anh tới ngay nhà ông bà già vợ. Con gái anh đã hơn mười tuổi, gầy và hơi xanh. Nó ôm chầm lấy bố khóc như mưa. Tân định ở nhờ ông bà già vợ ít ngày nhưng căn phòng quá nhỏ hẹp mà lại chứa những năm người: ông bà già vợ, vợ chồng người em vợ và con gái Tân nên không còn chỗ cho anh. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống muối mè (để đãi mừng chàng rể ở tù về), Tân phải kiếm cớ đi chỗ khác ngủ, mặc dù ông bà già vợ cố giữ lại “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”. Đêm đó, đêm đầu tiên được sống tự do ngoài đời, Tân đã phải nằm ngủ trong mái hiên của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô và phải chen chúc với đám ăn mày, xì ke ma túy. Sáng dậy gói quần áo nhỏ Tân mang từ trại tù về cũng bị “chôm” mất. Tân đi kiếm nhà một người bạn tù về trước anh và được người này giới thiệu việc làm: rửa chén đĩa một tiệm phở. Làm được mấy ngày chưa kịp lãnh lương tuần Tân bị thôi việc. Anh đã làm sứt mẻ và vỡ quá nhiều chén đĩa trong khi rửa.

Có được số tiền “ngoại viện” Tân đem một nửa “phân phối” cho bố mẹ vợ, bạn bè và cả chị chủ nhà. Riêng cô con gái Tân dẫn đi may một lúc mấy bộ quần áo và mua cho chiếc xe đạp để đi học. Tân viết thư gửi Jacqueline bầy tỏ lòng biết ơn. Với các bạn bè người Mỹ cũng vậy. Và cứ thế mỗi tháng Tân nhận được một lá thư của Jaqueline cùng một số tiền hoặc hàng hóa, có lần có cả đồ hộp thức ăn, sữa. Tạm thời qua cơn bĩ cực nhưng Tân vẫn không chịu rời chiếc xích lô. Hàng ngày anh vẫn đạp xe ra phố, không phải để chở khách như trước mà là phương tiện để anh đi đó đây thăm bạn bè ăn nhậu. Thỉnh thoảng anh đạp xe tới góc phố Lê Lợi – Tự Do tưởng nhớ tới Jacqueline và những ngày đầu gặp gỡ. Đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả chẩy dài xuống lưng của Jacqueline hình như lúc nào cũng hiển hiện trước mắt Tân. Có lý nào cô nàng yêu mình? Tân băn khoăn, thắc mắc, khắc khoải mãi với câu hỏi này. Và đôi lúc anh thấy nhoi nhói nơi tim khi nghĩ rằng chẳng qua cô nàng thương hại mình thôi. Trong những lá thư gửi Jacqueline, Tân đã bóng gió viết về tình cảm của mình đối với nàng, nhưng có lẽ nàng không hiểu sự tế nhị này của người Á Đông. Trong thư hồi âm, Jacqueline vẫn viết nhiều về những ngày ở Việt Nam và hỏi Tân về lịch sử, phong tục, tập quán, phong cảnh và những món ăn của người Việt. Rồi cô hỏi Tân thích nhất món ăn gì của Mỹ và nếu được sang Mỹ định cư thích sống ở đâu. Mỗi lần nhận được thư Jacqueline là buổi tối hôm đó Tân nằm mơ thấy mình sống trên đất Mỹ. Lúc thì lái máy bay, có lúc thì đi hộp đêm với bạn bè người Mỹ nhẩy đầm nhậu nhẹt say khướt. Nhưng nhiều nhất vẫn vẫn là mơ thấy sóng đôi với Jacqueline, hết đi ngắm tuyết ở vùng đồi trắng xóa miền Đông, tới shopping ở các chợ miền Nam Cali nắng ấm. Khi thức giấc Tân thấy tiếc và muốn giấc mơ cứ thế kéo dài mãi.

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ. Hôm nào chạy được khá tiền một chút, anh mời cả gia đình bố mẹ vợ và cô con gái đi làm một chầu phở bình dân. Cuộc sống khó khăn chật vật nhưng Tân vẫn lấy làm hài lòng vì dù sao vẫn còn hơn gấp trăm lần trong trại tù cải tạo, có làm không có ăn. Tân cho rằng khi con người đã trải qua cuộc sống trong tù cải tạo của cộng sản rồi thì tất cả mọi sự trên cõi đời này đều… nhẹ như lông hồng!

Buổi sáng hôm đó Tân sửa soạn đạp xích lô đi “tiếu ngạo giang hồ” có một anh công an tìm gặp. Anh ta trố mắt ngạc nhiên khi thấy người mình đi tìm gặp lại là một anh đạp xích lô. Anh ta hỏi đi hỏi lại mãi có đúng tên là Đỗ Tân không rồi mới cho biết lý do. Có ông dân biểu Mỹ muốn gặp. Tân choáng người. Một dân biểu Mỹ muốn gặp anh? Rồi trực giác bén nhậy của Tân cho biết đây là một tin lành. Tân đạp xích lô theo anh công an đến khách sạn Đại Lục nơi trước đây Jacqueline ở. Mọi người làm trong khách sạn đều nhìn Tân với cặp mắt nghi ngờ và kiêng nể. Thì ra ông dân biểu Mỹ là cựu phi công học cùng khóa với Tân. Máy bay của ông bị bắn trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc và bị nhốt “khách sạn Hilton ” hơn năm năm thì được thả. Về Mỹ ông ứng cử và đắc cử dân biểu. Jacqueline đã gặp ông trình bầy hoàn cảnh Tân và nhờ ông can thiệp với chính phủ cộng sản Việt Nam. Ông sang đây với một phái đoàn bàn thảo chương trình viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, trong đó có “chút việc riêng tư” là can thiệp cho Tân sang Mỹ định cư. Trước khi gặp nhà chức trách, ông muốn gặp Tân để “nhận diện” người bạn đồng khóa năm xưa.

5
Anh Hoàng thân quý,
Sau khi chia tay anh ở phi trường Tân Sơn Nhất. thấm thoát thế mà đã hơn ba tháng trôi qua. Sở dĩ hôm nay mới viết thư cho anh vì khi đặt chân tới đất Mỹ, khỏi kể nhiều anh cũng thừa biết là tôi bận lắm. Sau khi nghỉ ngơi cho tỉnh người, đồng thời cũng là để gột sạch “bụi bậm xã hội chủ nghĩa” (còn bám chút đỉnh nơi thân thể), tôi và Jacqueline lo tổ chức lễ cưới. Rồi chúng tôi đi Washington DC tới bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.Chúng tôi dành ít phút cúi đầu tưởng niệm dưới hàng chữ ghi tên Carter.  Sau đó chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật ở Honolulu. Tiếp theo chúng tôi đi thăm chỗ tôi học lái máy bay năm xưa ở hai bang Lousiana, Texas và các bạn phi công cùng khóa. Ông bạn cựu phi công đương kim dân biểu đã giới thiệu cho tôi một job hợp với khả năng: lái máy bay cho một đồn điền. Còn Jacqueline vẫn tiếp tục nghề cũ y tá bệnh viện. Con gái tôi được Jacqueline và con gái cô quý mến lắm. Hai đứa ngoài giờ học cứ quấn quýt bên nhau như hai chị em ruột. Như anh biết đấy, khi ra đi tôi đã mang theo chiếc xích lô mà tôi phải mua lại với một giá mắc người chủ mới chịu bán. Cứ chủ nhật hoặc những ngày nghỉ lễ, tôi đạp xích lô chở Jacqueline và hai đứa nhỏ chạy lòng vòng trên các đường nhỏ trong thành phố. Đây là một chiếc xe độc đáo duy nhất có ở thành phố này, nên đạp tới đâu cũng được người Mỹ vui vẻ ngắm nghía và trầm trồ giơ tay chào. Có nhiều người bắt tôi xuống xe để cho họ đạp thử và suýt nữa thì làm lật cả xe. Lâu dần người Mỹ quen mắt với chiếc xe xích lô của tôi. Chúng tôi đặt chiếc xích lô ngay trong phòng khách. Nhờ nó, tôi và Jacqueline thành duyên chồng vợ nên chúng tôi vô cùng quý và trân trọng giữ gìn nó.

Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.

Xin chúc anh và gia đình mọi điều tốt đẹp. Thỉnh thoảng rảnh rỗi anh nhớ viết thư cho tôi nhé.

Quý mến,
Đỗ Tân.

Thanh Thương Hoàng

Thế hệ Trẻ VN ghi nhớ NGÀY 17/2/1979 -Chiến tranh với Tàu khựa!

Được chia sẻ công khai

KỂ VỚI CON VỀ NGÀY 17/2/1979, ĐỂ CHÚNG BIẾT CẢNH GIÁC !..


Viet_TC ngày 17-02-79

Ngày 17/2/1979, chiến tranh Biên giới Việt – Trung nổ ra. Lúc đó, tôi mới 12 tuổi, học lớp 5 ở Thái nguyên. Cuộc tấn công của Trung Quốc vào 6 tỉnh Biên giới phía Bắc có thể bất ngờ với nhiều người, vì trước đó đài báo ít đưa tin, có lẽ chỉ tập trung vào những sự kiện ở Biên giới Tây Nam. Nhưng với tôi thì không bất ngờ.
Cả năm trời trước đó, bố tôi và mấy bác đồng nghiệp của bố ở Nhà máy Gang thép Thái Nguyên hay nói chuyện thời sự, vẻ ai cũng lo lắng đăm chiêu, nói năng khe khẽ khiến tôi chú ý.
Ngồi học góc nhà, tôi giỏng tai nghe chuyện họ nói. Thì toàn những chuyện bọn Tàu cho người tràn qua biên giới bắt, đánh dân mình, những chuyện người Việt gốc Hoa ùn ùn kéo nhau rời khỏi Việt Nam … Và sau sự kiện Lê Đình Chinh bị sát hại tháng 8/1978, các bác bạn bố tôi đều cho rằng không tránh khỏi chiến tranh, đôi lúc họ còn bàn nhau gửi trẻ con về quê ở miền xuôi.
Lúc đó tụi nhỏ chúng tôi hoang mang lắm. Vì ở trường, ngoài những bài học về lịch sử cha ông ta chống quân xâm lược phong kiến phương Bắc, chúng tôi còn được dạy là “Việt Nam – Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông. Chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng Đông”. Không lẽ hai anh em “môi hở răng lạnh” lại cắn xé lẫn nhau?.
Chúng tôi lo Tàu nó đánh thì chạy đi đâu cho thoát, vì Thái Nguyên cách biên giới đâu có xa.
Lúc đó, ký ức của chúng tôi về chiến tranh chỉ là những tiếng còi báo động máy bay Mỹ ném bom năm 1972, những lần chui xuống hầm trú ẩn, tiếng bom nổ rền phía Nhà máy Gang Thép, ánh chớp đạn pháo cao xạ … chứ chúng tôi chưa nhìn thấy trực tiếp cảnh súng ống bắn giết bao giờ. Một nỗi sợ mơ hồ của con trẻ.
Nhưng những sự việc xảy ra cứ làm nỗi lo lắng tăng thêm. Đầu tiên là khu Nhà khách dành riêng cho chuyên gia Trung quốc làm tại nhà máy Gang thép mọi khi vốn đông người tự nhiên một hôm vắng như chùa Bà Đanh. Chuyên gia họ rút hết về nước rồi.
Tiếp đó, hai anh em thằng Kín, thằng Loọc, trạc tuổi và hay đá bóng với bọn tôi sau giờ học, một hôm cũng không thấy đến trường nữa. Mọi người bảo nhà nó gốc Hoa, bỏ về bên ấy rồi.

Từ đầu năm 1979, tình hình đã căng lắm. Bố tôi thường xuyên phải đi tập quân sự. Có lần tập muộn, không kịp trả súng, bố mang về nhà một khẩu súng trường CKC. Lần khác là một khẩu AK mới oách.
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn và sờ một khẩu súng thật, mới toanh, chứ không phải những khẩu tiểu liên tôm-xông của Pháp gỉ hoan gỉ hoét mà bọn nhỏ chúng tôi bới được từ bãi thép phế của nhà máy để chơi đánh trận giả. Tại trường, chúng tôi được dạy nhiều hơn về cứu thương, trú ẩn…
Ngày nghỉ, học sinh từ lớp 5 trở lên được điều đi đào công sự trên các đỉnh đồi để bộ đội đặt pháo. Có lần được các chú bộ đội cho ngồi lên mâm pháo cao xạ 37 ly, quay mấy vòng như đu quay, sướng mê tơi.
Rồi chiến tranh nổ ra thật. Cái không khí nặng nề, u uất tự nhiên biến mất. Thay vào đó là sự hăng hái, yêu nước nhiệt thành. Mấy chú trong cơ quan bố mẹ nhập ngũ. Nhiều anh chị học sinh lớp lớn cũng làm đơn xin đi bộ đội. Ngoài đường, loa phóng thanh suốt ngày đưa tin chiến sự, tố cáo bọn Bành trướng Bắc kinh, bá quyền nước lớn (từ anh chuyển sang thằng sao mà nhanh thế!).

Chúng tôi ai cũng thuộc những bài hát hào hùng như “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, hay tha thiết như “Lena Belikova”.
Trường tôi có một số bạn từ biên giới tản cư về vào học. Lớp tôi có thêm nhỏ Ngọc, nhỏ Đào trước gia đình ở mỏ thiếc Tĩnh Túc. Hai nhỏ hiền khô, cả lớp quý lắm. Cả hai vẫn học cùng chúng tôi cho đến hết lớp 7.
Đánh nhau được ít lâu thì thấy bộ đội giải tù binh về. Cái sân vận động Gang Thép biến thành Trại Tạm giam tù binh Tàu. Bọn nhỏ chúng tôi tò mò tới coi lũ Bành trướng mặt mũi ra sao mà ác thế. Lúc đầu chỉ dám đứng xa thật xa ngó, lâu dần dạn hơn lại gần. Thì thấy chúng cũng như người mình, chỉ khác là mặc quần áo tù. Nhiều thằng mặt còn non choẹt, hiền khô, ngơ ngác.

Mấy chú bộ đội canh trại nói chuyện bọn này phần lớn dân lành, biết gì đâu, lúc bị xua qua biên giới mới biết là đi đánh Việt Nam. Có lúc còn thấy mấy tên tù binh khóc tu tu. Chúng ra hiệu xin thuốc lá. Bộ đội canh thỉnh thoảng cũng cho, chỉ là mấy điếu thuốc vê giấy báo. Lính mình nghèo.
Thế mới biết giữa những người lính hai bên chiến tuyến vẫn có thể có sự đồng cảm. Tội lỗi là ở bọn chóp bu kia, đem dân lành làm tốt thí cho những tham vọng chính trị.

Tiếp theo là trường tôi tổ chức đi thăm thương binh ở Viện C. Hồi đó nghèo, cả trường chỉ góp được ít trái cây, vài thùng đường, sữa. Nhưng quan trọng là tấm lòng. Vào viện thấy thương binh ta nằm kín, có chỗ 2 người một giường, thương quá. Lại thêm căm thù bọn Bành trướng. Thầy cô thăm hỏi động viên các chú thương binh, còn học sinh tụi tôi hát tặng mấy bài, có bạn đọc thơ.
Rồi cuối cùng cũng hết đánh nhau. Tôi được thay mặt học sinh cả trường đi dự lễ mừng công.

Có chú bộ đội đẹp trai kể chuyện rất có duyên. Mới biết lính chính quy của ta còn ở trong Nam chưa kịp ra. Ngoài này chủ yếu là bộ đội địa phương và dân quân tự vệ tham chiến. Mà bọn Tàu thì đông quá. Bị bắn ngã lớp này, lớp sau lại “tả, tả” xông lên. Bộ đội ta thương vong nhiều quá. Bắn hết cả đạn mà chúng vẫn tiến, các chú ấy phải rời chốt, rồi đến đêm, được tiếp viện, lại xông vào chiếm chốt.
Cuộc chiến qua đi, cuộc sống trở lại với bộn bề lo toan, cơm áo gạo tiền.
Nghèo! Đói!..

Trong lịch sử Việt nam có lẽ không cuộc chiến tranh nào mà người ta (cố tình?) quên nhanh đến thế. Nhưng đó là trên các phương tiện truyền thông.
Còn trong lòng người dân Việt có ai quên “lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương”!..

17/2/2012
Tôi hỏi thử 2 con trai (học THPT và THCS) có biết hôm nay, 17/2, là ngày gì không?. Chúng lắc đầu.
Hỏi có được học gì ở trường về chiến tranh biên giới 1979 không. Cũng không! Chưa bao giờ nghe nói tới!..
Chẳng có cuốn sách giáo khoa Lịch sử nào của Việt Nam nhắc đến sự kiện này, cứ như thể nó chưa từng xảy ra. Tôi không thể hiểu tại sao người ta phải sợ “phạm húy” đến vậy?.
Nói gì thì nói, 33 năm đã trôi qua, lịch sử mãi là lịch sử, không thể viết lại lịch sử. Mà có nhắc đến thì đã sao?.

Năm ngoái tôi đưa con trai đi thăm bảo tàng chứng tích chiến tranh ở Sài Gòn, thấy rùng mình, thấy ghê tởm những tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ. Nhưng bây giờ chắc chẳng có mấy người dân Việt Nam coi Mỹ là kẻ thù.
Còn nếu “nước lạ” kia cứ lăm le cướp biển đảo của ta, cứ đòi đào hết tài nguyên khoáng sản của ta … thì liệu có người Việt Nam bình thường nào coi họ là bạn, dù có những kẻ hèn để họ đục hết bia, đốt hết sách nói về cuộc chiến tranh biên giới 1979, dù có dát đến 16 ngàn chữ vàng…

Tôi phải kể cho các con tôi nghe những điều này, vì đó là lịch sử, đó là sự thật. Không phải để dạy chúng LÒNG HẬN THÙ, mà để dạy chúng BIẾT CẢNH GIÁC.

Mai Thanh Hải

.

Tác giả Xuân Vũ – bài tái đăng MỘT VỤ SỬA SAI !

TỰ VỊ THẾ KỶ (Xuân Vũ): Một Vụ Sửa Sai

MỘT VỤ SỬA SAI

“Cộng-sản họ cũng như mình, chỉ khác cái là….”

Gởi một bạn giáo sư Mỹ
ở một đại học danh tiếng
đã từng có sách viết về Cộng Sản.

Quản giáo Bành ngồi buya-rô, gác một chân lên mặt bàn như khoe chiếc giầy “bốt-đờ-sô” mà hắn vừa “mượn” được của một anh tù mới tới. Trước mặt Quản Bành, cách cái buya-rô, là một tù nhân. Anh tù này bị gọi một ngày ít nhất là mười sáu lần. Kể cả đêm lúc ngủ ngon, anh ta cũng bị đập dậy đủn lên cho Quản bành thẩm vấn.

Đây là cuộc thẩm vấn thứ một trăm, hay hai trăm gì đó, chính người bị thẩm vấn cũng không thể nào nhớ nổi. Ngài quản giáo nhìn người tù chỉ còn có da bọc xương, quát với tất cả oai võ của kẻ chiến thắng:

– Mày có khai hay không thì nói một tiếng.

– Dạ, em đã…

– Mày là thiếu tá, ai cũng biết. Sao không chịu khai hết tội ác cho nhân dân khoan hồng? – Quản Bành thốt ra hai tiếng “khoan hồng” mà nghiến răng ken khét tưởng chừng dây kẽm cũng phải đứt lìa.

– Dạ, em là thiếu tá nhưng mà…

– Không có “nhưng” mày hiểu chưa? – Quản Bành lại nghiến- Cách mạng không thích những cái “nhưng”, cái “nếu” mày hiểu chưa? Đã làm tới thiếu tá thì có tội máu với nhân dân rồi, không có “nhưng” gì hết ráo. Khai mau!

Ông thiếu tá trán hói, tóc loe hoe, bị Quản Bành vặn có ba câu mà trán đã mướt mồ hôi. Vì ông biết mỗi lần ông “nhận” là thiếu tá thì ông phải “nhưng”, điều mà Quản Bành không ưa. Và cứ mỗi lần ông thiếu tá “nhưng” thì ngài Quản Bành lại ban cho những đặc ân vui vẻ đến hộc máu ra đằng mồm cả đằng đít. Cái trò vui Quản Bành cho ông thiếu tá độc diễn vừa rồi là như thế này: Bỏ ông vào một thùng “phuy” chứa đầy nước, đậy nắp lại thật kín, rồi ngài quản vừa phì phà thuốc lá thơm 555 vừa cầm cây dùi đục bằng bắp tay ung dung gõ ngoài thùng, nặng nhẹ, mau chậm, tùy ý thích. Liệu chừng ông thiếu tá ngất xỉu trong thùng nước mà ngài quản gọi là “làn sóng cách mạng” thì ngài mới cho em út lôi ông ra vứt ngoài đất như một con nhái bén. Chờ ông thiếu tá tỉnh lại, ngài quản lại quát:

– Mày làm thiếu tá, thì hành quân bao nhiêu cuộc, kêu máy bay bỏ bom bao nhiêu lần, đốt nhà đồng bào mấy trăm cái, hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ, đụ mẹ bác Hồ mấy chục cái?

Được hưởng sự êm ái của “làn sóng cách mạng” rồi thì ông thiếu tá bất cần đời, cứ việc nằm phơi con tí ngắn ra đó cho “cách mạng” chiêm ngưỡng, không thèm trả lời rằng có đ.m. bác Hồ hay không nữa. Và, như vậy ông là tên ngoan cố! Cho nên lần này, Quản Bành thấy cần phải cho ông thiếu tá hưởng “làn sóng cách mạng” lâu hơn, thấm… hơn thì ông mới chịu khai thiệt, khai hết.

Cho nên ông thiếu tá cũng nếm cái mùi “cách mạng” đó qua nhiều lần trong thùng phuy rồi. Dùi đục mà quất bên ngoài thì bên trong ông thiếu tá dẫy tê tê như cá bị đập đầu, chết đi sống lại không biết mấy lần. Nhưng cực hình nào cũng vậy, bị mãi rồi cũng quen. Cho nên sau khi “nhưng” thì ông phải chuẩn bị tinh thần lẫn vật chất để tiếp tục nếm mùi “cách mạng” – không sợ như những lần đầu nữa..

Quản Bành trỏ cái thùng phuy:

– Lần này tao quất một trăm hèo cho mày có gan không khai.

– Dạ để em khai. – Ông thiếu tá run run đáp.

– Được rồi, khai đi để rồi cách mạng còn có thì giờ khoan hồng.

– Dạ, em … là thiếu tá!

– Biết rồi, đập mày ba tháng mày mới miễn cưỡng nhận mày là thiếu tá. Nhưng rồi còn gì nữa, nói mau. Đồ ngoan cố!

– Em là thiếu tá, nhưng mà…

– Đã bảo, cách mạng cấm tiệt “nhưng” nghe chưa?

– Dạ bẩm quản giáo, em không biết gì nữa hết.

– Không biết! Ngoan cố hả! Tao cho mày chết!

Quản Bành lôi xềnh xệch ông thiếu tá lại thùng phuy. Hai tên cảnh vệ giở hổng ông thiếu tá lên nhúng vào thùng nước. Nước tràn cả ra bốn phía miệng thùng. Chiếc nắp được đậy lại và dằn lên bằng một tảng đá xanh, đề đầu ông thiếu tá thụt xuống.

Cộp!… Cộp cộp!… Boong.. Boong … Quản Bành gõ trên nắp rồi gõ bên hông thùng. Từ trong nghe có tiếng kêu văng vẳng như dưới âm ty.

o O o

… Ông thiếu tá ngồi dậy không nổi. Anh em tù để dành cho ông nửa củ khoai bí đựng trong cái muỗng vừa dùng làm chén ăn cơm. Nó đã nhẵn bóng như chén kiểu nhà giàu vì cọ xát với môi răng của ông thiếu tá trải qua mấy trại tù hơn ba năm ròng. Vậy mà ông còn giữ được nó, chưa mất.

Ông thiếu tá cố sức nghiêng qua và vớ lấy cái muỗng vừa lôi lại gần mồm. Đất ướt xâm xấp dưới lưng. Có lẽ nhờ lấy hơi thổ mà ông tỉnh dậy mau. Anh em đã đi lao động cả rồi. Giờ này là giờ nào. Trại vắng hoe. Ông sợ cái loại im lặng này ghê gớm. Như có chất nổ bên trong. Đang im lặng đấy nhưng có lệnh gọi là bão tố, máu lửa ngay trước mặt. Sự ấy cứ xảy ra cho ông luôn.

Ba năm rồi, toàn như thế. Ba năm rồi, ông chỉ nhận có một điều, rằng “Tôi là thiếu tá” còn gì khác nữa thì ông chỉ toàn ấm ớ và “nhưng” cái tiếng “cách mạng” không thích nghe.

Nếu cái kiểu này kéo dài mãi thì không có ngày về với vợ con. Thì đành chịu vậy, chứ không thể khai gì hết. Tự nhận là thiếu tá, đối với ông đã là một chuyện quái gỡ và phi thường rồi. Vô số đòn roi, đày ải, mắng chửi, văng tục, lăng nhục, cho nên ông nhận.

Ông thiếu tá đang cho từng tí khoai bí vào mồm và nhai chậm, thiệt chậm để hưởng cho hết cái khoái trá của sự ăn miếng khoai bí ngọt lim lìm lìm. Thì đùng một cái có tiếng cảnh vệ ở phía bên kia vách hỏi oang oang:

– Cái thằng thiếu tá hói đầu đâu rồi? Trại mấy?

– Dạ, hình như đâu không có ai là thiếu tá mà hói đầu cả – Có tiếng đáp lại.

– Thằng thiếu tá “nhưng” đó, còn không có hả?

Rồi tên cảnh vệ đi tới chỗ ông nằm. Hắn nói:

– Nó đây rồi. Ê, mau lên quản giáo gọi!

– Dạ! – Ông thiếu tá ngốn vội miếng khoai bí còn lại, định để dành lát nữa sẽ ăn, rồi ngồi dậy đi theo người kia. Vì sợ quá, bệnh tật cũng cút mất và ông cũng quên khuấy chúng. Tên cảnh vệ vỗ vai ông:

– Kỳ này thì sướng nhé! Về với mẹ đĩ ngon lành!

Ông thiếu tá không nói gì, nhưng bụng nghĩ chắc phen này thằng Bành đánh mình tới chết. Tri óc ông minh mẩn trở lại một cách lạ thường. Ông nghĩ ra một trăm cách đối đáp , chửi thẳng vào cái mặt bành bành của nó, tụt cả quần ra mà tung hô “cách mạng” hoặc là là… Nhưng tiếng quát của Quản Bành làm ông giật nẩy người.

– Mày thiệt là gan cóc tía. Không chịu nhận gì hết!

– Dạ em nhận là thiếu tá rồi, thưa ông quản.

– Mày đếch phải thiếu tá, mày nhận bừa. Tại sao mày dám qua mặt cách mạng thế hử?

– Dạ em có qua mặt cách mạng hồi nào đâu?

– Mày còn chối hả? Mày chỉ là tài xế xe vận tải cho công ty cóc cắn gì đó.

Ông thiếu tá gãi đầu gãi tai, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

– Dạ, thì cái đó em đã khai từ đầu mà cách mạng không chịu cho, cách mạng cứ nhất định bắt em phải nhận em là thiếu tá thì cách mạng mới khoan hồng, cho nên em phải nhận là thiếu tá để được cách mạng khoan hồng. Chớ em đâu dám qua mặt cách mạng, thưa quản giáo.

Quản Bành quát:

– Sao mày không chịu kêu oan mà cứ ấm ớ, làm cho cách mạng tưởng là mày cố tình chối nợ máu với nhân dân?

Ông thiếu tá mặt mày có vẻ rạng rỡ tí chút, đưa tay quệt ngang cái trán hói lần này không có mồ hôi và thưa thốt càng lễ phép hơn:

– Dạ thưa ông quản, mới vô ngày đầu ở trại X, em đã thưa rõ rồi. Em có thưa rất tỉ mỉ rằng em là tài xế xe vận tải cho hãng Xi-xô-tếch-cô. Mỗi lần đi đổ hàng xong về ghé thăm má bầy trẻ thì đám con nít và thanh niên thấy em đội kê-pi có vẻ giống sỉ quan, rồi em giở kê-pi ra lau mồ hôi phơi cái trán hói ra lại càng giống sĩ quan hơn nữa, nên chúng nó vui vẻ chào em: “Chào thiếu tá hành quân mới về.” Em cũng tếu lên, cũng giơ kê-pi chào lại : “Thiếu tá xin chào các chú em và đám con nít.” Cứ như thế lâu ngày thành ra thói quen và ai cũng gọi em là “thiếu tá” chớ em có đeo lon thiếu tá thiếu tướng gì hồi nào đâu mà cách mạng nghi ngờ tội nghiệp em.

Cộp! Quản Bành gõ cục đá giằn giấy xuống bàn, quát:

– Thôi im! Cách mạng khoan hồng. Tù có hơn ba năm được về, sướng bỏ đời còn gì nữa. May nhờ có khu phố sáng suốt xét lời minh oan của vợ mày và của hàng xóm và đã gởi giấy tờ lên đây, nên cách mạng quyết định khoan hồng cho mày. Nhân dịp sinh nhật bác Hồ thứ 100, cách mạng sẽ trả tự do cho mày về góp sức với nhân dân xây dựng các khu kinh tế mới.

Ông thiếu tá cúi mình thật thấp để tỏ lòng biết ơn “cách mạng” (khu kinh tế mới vẫn hơn trại tù gấp bội). Rồi quay chân nhanh, định chạy bay về trại tom góp hộp lon, quần áo rách, đôi dép sứt quai cho cả và một cái bao bố tời để tếch ra văn phòng lãnh giấy và cút ngay, dù bò, dù lết!

Nhưng Quản Bành quát:

– Chạy đi đâu? Hử?

– Dạ, về trại lấy đồ đạc .. thưa…- Ông thiếu tá khựng lại đáp.

– Khoan đã…ã!

– Dạ.

– Đây mới có khu phố xác nhận thôi. Mà mày được thế là phước ba đời rồi. Biết bao nhiêu đứa như mày mà có được xác xiếc gì đâu. Nhưng còn phải chờ Trung-ương chớ. Có đâu mà khoan hồng nhanh thế được!

– Dạ, Trung-ương xác nhận chừng bao lâu, thưa ông quản?

– Tao đã nói rồi.

– Dạ, em sơ ý không nghe kịp.

– Mày về hỏi anh em trong trại xem cụ Hồ sanh năm nào thì sẽ rõ. Chúng mày đ.m. Bác Hồ luôn mà sao không biết ngày nào là sinh nhật thứ 100 của Bác? Hả? Hừ, hư…- Quản Bành như bị cái gì vướng cổ họng.- Đây là một vụ sửa sai mày hiểu chưa?

– Dạ hiểu.- Ông thiếu tá nói lí nhí trong miệng.

– Chỉ có cách mạng mới sửa sai, đế quốc không bao giờ sửa sai, mày hiểu chưa?

– Dạ, dạ hiểu. Chỉ có cách mạng mới sai, còn đế quốc thì không bao giờ, không bao giờ… sai!

Chưa nói dứt câu, ông thiếu tá đã bị ngài quản giáo quát vào mặt:

– Câm! Câu mồm lại nghe chưa? Quân phản động!

Ông thiếu tá phải câm. Quản giáo là Trời ở đây mà. Quản giáo muốn là Trời muốn. Quản giáo muốn anh tù nào đi đốn cây trên núi thì anh tù đó phải đi dù bệnh không leo núi nổi. Quản giáo muốn anh tù nào “nghỉ mát” dưới hầm sâu thì anh tù đó phải xuống hầm mà nghỉ mát dù ở dưới đó không mát mẻ cho lắm. Quản giáo nghe kể đâu ở trại nào có một anh tù cả gan dám gọi cái việc đi đồng (tức đi i…) bằng mấy tiếng “đi thăm lăng bác” thế là anh tù kia bị đem ra bắn ngay vì đã dám xúc phạm đến cái thây ma còn thối hơn sản phẩm của sự “đi đồng”. Quản giáo Bành lấy làm thích thú về chuyện xử tử tù nhân đó lắm. Quản Bành cũng muốn ra oai một phen để lấy uy tín, nhưng tù nhân ở đây không có anh nào dám hó hé nói đi đồng là “đi thăm lăng bác” cả. Do đó mà Quản Bành còn ấm ức lắm.

Ông thiếu tá, không biết vì quá mừng đội ơn mưa móc của đảng sửa sai, hay vì cố tình nói lấp mất một chữ. Thay vì phải nói :”Dạ, chỉ có cách mạng mới sửa sai, còn đế quốc không có sửa sai,”, ông thiếu tá lại nói: “Dạ, chỉ có cách mạng mới sai, còn đế quốc thì không … sai”. Chỉ thiếu có một tiếng “sửa” mà cuộc đời của ông thiếu tá, suýt thấy được ánh sáng mặt trời ngoài đường cái, bỗng nhiên lại bị mây đen đổ ào xuống mịt mù.

Quản Bành quát:

– Mày đi xuống bảo tổ trưởng của mày rằng tao phạt mày bảy ngày cơm lạt, nghe chưa?

Ông thiếu tá run run đáp:

– Dạ, nghe ạ!

– Mày biết tại sao không?

– Dạ…ạ…biết.

– Tại sao?

– Dạ..a, em khô..ông biết!

– Mày là nhân viên tâm lý chiến, mày biết không?

Ông thiếu tá đưa tay vịn góc bàn để khỏi té xỉu. Ông thấy hai chân ông nhũn xuống như cặp đèn cầy bị hơ lửa. Mặt mũi ông tối sầm lại, mồm ông há hốc mà ông không nói ra tiếng.

Mới vừa bị hàm oan là thiếu tá ngụy, may nhờ hồng phúc của Bác và Đảng, ông sẽ được thả ra vào ngày sinh nhật thứ 100 của Bác. Tuy cái ngày sinh nhật ấy không bao giờ tới, nhưng dù sao ông vẫn hi vọng có ngày ra tù. Dù ai có muốn dập tắt cái hi vọng ấy cũng không dập được. Sớm muộn gì cũng sẽ có được ngày về, mặt dù tới cái ngày đó, ông thiếu tá mang về những món quà rất đặc biệt cho gia đình ông : ho lao, ho tổn, bao tử đau kinh nhiên, xơ gan xơ ruột gì đó, phổi thủng mười tám lỗ, đầu gối hết phản ứng dù vác búa thầu nện chân cũng không đá lên… Sơ sơ chỉ có thế, còn các món quà nho nhỏ khác như ghẻ hờm, lảng tai, mắt trông gà hoá cuốc, tóc rụng như lá thu bất cứ mùa nào… thì kể không hết và đó chưa tính đến con ma rét kinh niên.

Nhưng dù sao cũng được về. Còn hơn không .

Nhưng bây giờ bỗng cái bảng vàng “nhân viên tâm lý chiến” lại rơi xuống từ mây xanh và đóng vào trán ông thiếu tá. Thế thì tàn đời ngay rồi.

Ông thiếu tá ấp úng cãi lý:

– Dạ, em có biết tâm lý chiến là… cái giống gì đâu!

– Tâm lý chiến là em của Xê-i-a, mày biết không?

– Dạ, em có làm Xê-a gì hồi nào đâu?

– Giỏi chối hả?

– Dạ Xê-a là công an, mà em đâu có làm công an công iếc gì.

– Mày dám nói là “chỉ có cách mạng mới sai” chớ “đế quốc thì không sai”, có không?

– Dạ, đó là lời ông quản nói đấy chớ.

– Thôi mày đi đi. Cơm lạt: một tuần. Sửa sai: còn xét lại. Ngày ra trại: chưa định. Đi mau! Ra mà lao động vinh quang với người ta.

Ông thiếu tá nghe mình nhẹ như mới bông gòn, chân bước phập phều trên đường về trại. “Mình gặp ngày gì xui xẻo thế này! Đã sắp ra rồi! Lại vào! Cái mồm!” Bất thần ông thiếu tá giơ tay lên vả vào mát đánh chát để phạt cái mồm sắp được lãnh phần thưởng lớn:”Bảy ngày cơm lạt!” vì đã bỏ quên một tiếng của cách mạng.

Sắp phù thủng đến nơi rồi. Lại thêm một món quà quảy về cho mẹ đĩ. Ông thiếu tá thấy giận cái mồm, rồi giận cái đầu, rồi giận toàn thân ông, không trừ một chỗ nào cả.

Ông cũng không rõ ông có nói như thế hay không. Giá bây giờ mà ngài quản giáo cho phép ông nói lại thì ông sẽ không dám bỏ cái chữ “sửa” đó nữa : “Chỉ có cách mạng mới có sửa sai, còn đế quốc thì không có sửa sai!” Ồ, vì sao lại thế nhỉ! Vì “chỉ có cách mạng mới sai” (sai nên mới phải sửa sai) chớ còn đế quốc thì không có sửa sai (không sai thì lấy đâu mà sửa?). Ông thiếu tá không dám nghĩ tới đó, nhưng nếu có ai nói như thế với ông thì ông sẽ len lén gật đầu.

Ông thiếu tá về tới chỗ ngủ, nằm vật xuống, suýt bật ra tiếng khóc. Ông định ngủ quên đi, nhưng rồi có tiếng gọi. Ông giật mình đánh thót:

– Quản giáo gọi mày, mau lên.

Không cần biết tiếng vừa nói đó là tiếng của ai, nhưng có hai tiếng “quản giáo” đi trong đó là chết rồi.

Ông thiếu tá chạy phăng lên văn phòng. Quản Bành quát:

– Lấy đồ đạc, đi về.

Ông thiếu tá ngớ ra không hiểu.

– Cách mạng trả tự do cho mày đó.

Ông thiếu tá vẫn cứ đứng tần ngần, không hiểu trên đầu trời nắng hay trời mưa.

– Đi về trại, lấy đồ đạc rồi trở lên đây cầm giấy, đi về xứ – Quản Bành vừa gắt vừa la khiến cho tên tù sực tỉnh – Hay mày muốn ở đây luôn thì nói?

Ông thiếu tá chợt hiểu ra. Ông chạy vụt về chỗ nằm thu vén mấy cái báu vật: hộp lon, dép đứt quai, giẻ rách … ôm gọn thành một cục trước bụng rồi chạy lên văn phòng. Không có ai trong trại để mà từ giã. Nếu có người nào nằm liệt đâu đây vì không đi lao động nổi, ắt người đó phải nói một câu :”Về nhà nhớ ăn dùm tao một chén chè ngọt.” hoặc là: “Có ghé qua nhà tao, nhớ nói dùm nhà tao, tao cần kí-nin.” Đó là ước mơ vĩ đại của tù.

o O o

Ông “thiếu tá” đi về xứ. Ông thiếu tá được ra khỏi cái trại cuối cùng sau khi bị nhốt oan ba năm. Không phải đợi ngày sinh nhật thứ 100 của Bác Hù. Mẹ kiếp! Cách mạng với chả cách mạng! Cách mạng mà thế thì mạng mình toi mất. Chỉ có “cách mạng” mới sửa sai, vì bản thân cách mạng chính là một sai lầm bao trùm tất cả nhân dân và đất nước. Cách mạng! Mô Phật! Cách mạng thành công rồi! Thằng lái xe vận tải được làm “thiếu tá” và ở tù suýt chết rũ trong tù. Đế quốc làm gì có cái sự đó!

Ông thiếu tá đi thế nào không rõ, máy bay, tàu lặn, xe lửa, xe bò, xe ba-gác, xe lô-ca-chưn… bằng tất cả các thứ xe có thể có trên đời , ông đã lê xác về đến xứ ông, tưởng không bao giờ còn trở lại nữa.

Trời đã chiều. Buổi chiều bên ngoài trại tù khác hẳn, nhưng cái loa ở đầu đường sao giống cái loa trong trại thế? Nó cũng nói những chuyện đó, với giọng đó. Những là “cách mạng”, “khoan hồng, những là “kinh tế kinh phong” v.v… Ông thiếu tá định tót về nhà ngay nhưng phải đến trình phường trưởng mới được. Văn phòng phường trưởng ở giữa khu phố, tiện cho nhân dân cả phường đi đến xin xỏ ơn mưa móc của Bác và Đảng hằng ngày và cũng tiện cho những ông lưu manh ị rồi gói giấy ném tưới vào cửa hậu, đêm nào cũng có, sau khi đại thắng mùa xuân còn dư âm to như trống ếch.

Viên phường trưởng tiền nhiệm đã đổi đi đâu hay bị xử bắn vì tội tham ô hà lạm rồi. Viên phường trưởng mới này còn trẻ măng như con nít mà mồm mép lanh như mụ bán cá biển ở chợ Cầu Ông Lãnh vậy. Hắn chìa tay cho ông thiếu tá, nói giọng sửa theo người Nam:

– Anh mới “dề” hả?

– Dạ.

– Tụi tui tranh đấu mãi mới được đấy ạ. Mời anh ngồi.

– Dạ. – Ông thiếu tá cóm róm ngồi vào ghế ở góc bàn đối diện với phường trưởng.

– Chúng tôi lấy chữ ký của nhân dân trong hộ khẩu của anh rồi nhân dân cả khóm, xong tôi chứng thực rằng thì là anh không phải thuộc ngụy quân ngụy quyền chi cả, mà chỉ nằm trong diện lao động thôi.

– Dạ, xin cắn rơm cắn cỏ cám ơn ông phường trưởng. Đảng bảo sao tôi nghe “dậy” chớ đâu dám phiền hà chi.

– Nói “dậy” sao được, mình phải tranh đấu cho ra lẽ chứ. Cách mạng có sai lầm, thì cách mạng cũng sẵn sàng sửa chữa sai lầm. Anh hiểu không?

– Dạ hiểu.

– Đó là chỗ khác nhau giữa cách mạng và đế “cuốc”.

– Dạ…

– Đế “cuốc” thì không bao giờ sửa sai!

– Dạ đế quốc thì không bao giờ sai! Ủa, đế quốc thì không bao giờ sửa sai.

Viên phường trưởng giơ tay lên xem đồng hồ. Hắn cứ nhìn nghiêng nhìn gnửa mãi mà đọc không ra số.

– Dạ thưa mấy giờ rồi phường trưởng?

Ông thiếu tá đã lễ phép như thế quen mồm rồi đối với “cách mạng”. Không thể nói ngang ngang trống rỗng thiếu “thưa” thiếu “dạ” được. Có khi đáng lẽ chỉ lao động nhẹ mà vì thiếu “tôn kính cấp chỉ huy trại” nên bị đưa đi lao động nặng, hoặc những bất hạnh khác sẽ đến.

Viên phường trưởng bực mình chìa cánh tay qua mặt bàn và bảo:

– Anh đọc hộ tôi mấy giờ.

Ông thiếu tá nhìn lên mặt chiếc đồng hồ tròn vàng lấp lánh, cũng ngập ngừng chưa đọc ra số. Viên phường trưởng cau có:

– Đồng hồ không có số, chỉ có cửa sổ.

Ông thiếu tá đã ba năm nay không coi giờ giấc làm gì vì đã sẵn có tiếng cồng ở trại, vả lại cái đồng hồ đã bị “mượn” ngay từ phút vào trại rồi, đến nay nó có trở lại đâu, cho nên mặt đồng hồ trở thành xa lạ với ông. Mãi ông mới đọc được giờ. Ông nói cho viên phường trưởng. Tên này kêu lên:

– Quái lạ, sao bây giờ mà lại mới có 1giờ là nghĩa lý gì kia chớ!

– Dạ thì cây kim vắn chỉ ngay gạch đó, cây kim dài ngay giữa là một giờ.

Viên phường trưởng lắc lắc tay đeo đồng hồ rồi áp mặt đồng hồ vào tai nhưng không nghe gì cả. Hắn nói:

– Nó không chạy chút nào! – Hắn đập bàn – Thôi rồi đồng hồ Chợ Lớn, tụi buôn lậu rồi. Tụi ngụy này chó má thật.

Ông thiếu tá cảm thấy mình có liên can tới cái đồng hồ có cửa sổ này như ông chính là người trong ổ buôn đồng hồ giả kia vậy. Ông bị bắt nguội nên trong mấy năm lêu têu ở nhà ông được nghe khối chuyện buôn lầm bán lộn như thế của quí con cháu cụ Hồ. Đám con nít này vốn đã xạo nhưng còn thua các băng chạy hàng ở Chờ Lớn. Đồng hồ mạ vàng sáng rực, ba cửa sổ, một cái để xem ngày, một cái để xem thứ, một cái để xem mặt trăng, không mua một cái mà đeo, thì còn đợi gì. Với chức phường trưởng “cách mạng”, một thứ vua con , tha hồ mà phục vụ nhân dân, mỗi cái giấy do phường trưởng ký đều có dính theo tí râu Bác.

Viên phường trưởng nói cộc lốc:

– Thôi được! – Rồi hắn lấy một tờ giấy đã in sẵn, lúi húi viết . Viết xong hắn đưa cho ông thiếu tá – Anh cầm giấy này về đưa cho khóm trưởng.

Ông thiếu tá mừng quýnh chộp lấy cái giấy, cúi đầu cám ơn mà không nói nên lời, quay ra vừa đi vừa xếp tờ giấy đút vào túi áo, rồi để cho chắc đây không phải là chiêm bao, ông thiếu tá móc ra dòm lần nữa và lại bỏ vào túi. Thế mà mắt vẫn còn nhìn xuống miệng túi, trông thấy tờ giấy gấp nhỏ nằm gọn trong túi mới yên tâm.

Ông thiếu tá bước thấp bước cao đi ra đường lớn, phăm phăm chạy như ô-tô về hướng ngõ hẻm nha. Đường đã lên đèn mà ông thiếu tá không hay. Bởi vì đèn điện chỉ khá hơn đom đóm một tí. Ông quẹo vào ngõ. Không gặp ma nào ló ra “chào ông thiếu tá hành quân mới về” cả. Nghĩ tới đó ông bật cười.

Ông bước vô cái hẻm nhỏ nhà ông. Ông bước lên thêm tay đập cửa:

– Má nó ơi, anh về nè!

– ….

Không thấy ai đáp. Cũng không thấy bóng thằng nhóc nào chạy ra. Ông đẩy cửa bước vào. Bật đèn. Nhà vẫn y nguyên với đồ đạc như trước. Ô, “cách mạng” tài thật. Nhân dân mình vẫn bình yên đấy chớ. Vậy mà trong tù có người kêu la ở nhà vợ con bán hết đồ đạc để lấy tiền thăm nuôi. Sai, sai tuốt. Phải sửa sai những cái mồm nói láo ấy. Cách mạng không sai. Chỉ có đế quốc mới sai. Trên bàn thờ ông vải vẫn còn lư hương. Trên vách đã có tấm hình cụ Hồ lộng kiếng kia rồi. “Cách mạng” tài thật. Mới đây mà cụ Hồ đã tới từng nhà.

Nhà ông thiếu tá thuộc loại nhà ống, rất sâu. Có lẽ cả nhà đang ăn cơm chiều tận sau bếp nên không hay ông về. Ông đứng dậy lò dò đi ra sau. Bữa cơm chiều bất ngờ, chỉ cần thêm đôi đũa và cái chén là gia đình đoàn tụ, vui biết bao.

Bỗng có người từ sau đi ra. Một người đàn bà. Vợ ông. Ủa nay sao mụ khác vậy. Béo phình ra! Và tiếng nói lạ lùng. Giọng Bắc.

– Ông là ai, vào nhà sao không gõ cửa?

Ông thiếu tá choáng váng mặt mày. Lặp bặp mãi mới nói ra tiếng:

– Bà là ai, tôi là chủ nhà này.

– Tôi là chủ nhà này, chính tôi!

– Vợ con tôi đâu?

– Tôi không biết.

– Tôi có vợ và có con. Tôi là chủ nhà này.

– Ông không phải là chủ nhà này nữa! Không, không, không! Cách mạng đã chứng nhận tôi là chủ nhà này.

– Hu hu hu hu…

– Ông đi ra đi… Nếu không, tôi bảo ông là kẻ trộm, kẻ cướp…

– Hụ hụ… hụ.

– Mày có ra không, tên cướp! Tao kêu công an…

– Hù hù hù…

xuanvu_sign

Đọc Báo Vẹm! – Số lần: 413

Đọc Báo Vẹm số 413

do Nguyên-Khôi và Hoàng-Tuấn thực hiện. 

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/  

– See more at: http://docbaovem.net/#sthash.98gL8qKB.dpuf