Sự hèn hạ, nhục nhã của ‘chế độ’ CS!

P, Chánh án Tòa Cấp Cao Hà Nội bị người dân ném dép – 25-4-2017

(HNPD) Phó Chánh án không phải là người xét xử mà chỉ đại diện cho Tà quyền cộng phỉ .

 

P, Chánh án Tòa Cấp Cao Hà Nội bị người dân ném dép giật bảng hiệu. 
Chiều qua 25/4/2017, tại trụ sở xã Phúc Sơn, Bắc Giang, Tòa Cấp cao tại Hà Nội (đại diện là ông Phó Chánh án) tổ chức buổi xin lỗi ông Hàn Đức Long, người ngồi tù oan hơn 11 năm trong vụ án giết và hiếp bé gái 5 tuổi xảy ra 12 năm trước tại Bắc Giang. Vụ án qua bốn lần xét xử và cả 04 lần ông Long đều bị tuyên tử hình nhưng gia đình ông cùng các luật sư đi kêu oan khắp nơi. 
Tại buổi xin lỗi hôm nay, người nhà nạn nhân cháu bé 5 tuổi uẩn ức ném dép, giật bảng hiệu, họ không đồng ý với chính quyền khi không tìm ra thủ phạm giết con họ. Nỗi đau chồng chất nỗi đau.
Còn đối với ông Hàn Đức Long, ông cũng không được “tận hưởng” trọn vẹn cho ngần ấy thời gian ngồi tù, còn gì tủi nhục và oan nghiệt hơn thế. 
Do hàng trăm người uẩn ức nên ông Phó Chánh án đọc xong lời xin lỗi khoảng 03 phút là bỏ đi (ông Phó Chánh án không phải là người xét xử mà chỉ đại diện cho Tà quyền cộng phỉ). Thiết nghĩ, chính quyền cần phải tổ chức lại buổi xin lỗi đối với ông Hàn Đức Long.
Người dân trong nước nay đã biết rõ bản chất gian tham lừa đảo của tà quyền cộng phỉ và không còn sợ hải bọn chúng nữa…//
.

Thụy My – Tiết lộ thêm về “tên lửa” THAAD của Mỹ!

Vì sao Trung Quốc sợ THAAD của Mỹ đến thế ?

Thụy My Đăng ngày 08-03-2017  Sửa đổi ngày 08-03-2017 16:25
mediaMột vụ bắn thử tên lửa thuộc hệ thống lá chắn (THAAD) tại quần đảo Marshalls, nam Thái Bình Dương, hồi 2012.Ảnh : Flirks
 .
Nếu chỉ đơn thuần quan sát thái độ giận dữ của Bắc Kinh trước việc Mỹ triển khai hệ thống lá chắn tên lửa (THAAD) tại Hàn Quốc, người ta có thể cho rằng mục tiêu nhắm đến của THAAD là Trung Quốc. Nhưng cả Washington và Seoul đều khẳng định hệ thống này là cần thiết để bảo vệ Hàn Quốc trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên.
 .
THAAD là gì ?
 .
THAAD viết tắt từ Terminal High Altitude Area Defense (tạm dịch Hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối), được chế tạo để bắn hạ các hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn, trung bình và tầm xa trong giai đoạn cuối cùng, tức khi chúng đang rơi xuống.
Theo hãng sản xuất Lockheed Martin, hoạt động này gồm bốn bước. Trước tiên, một hệ thống radar nhận dạng hỏa tiễn địch, và mục tiêu lập tức được nhắm đến. Một hỏa tiễn bắn chận được khai hỏa từ hệ thống phóng tên lửa đặt trên xe chuyên dụng, phá hủy hỏa tiễn địch bằng động năng. Vì mối đe dọa được hóa giải ngay từ trên cao, nên tác động của vũ khí hủy diệt hàng loạt được giảm nhẹ.
.
THAAD vô cùng cơ động, gồm bốn bộ phận chính : một xe chuyên dụng phóng hỏa tiễn, tám tên lửa bắn chặn, một hệ thống radar cơ động và một hệ thống kiểm tra nối kết nhiều bộ phận khác nhau với trung tâm chỉ huy bên ngoài.
 .
Được thiết kế để chống lại các tên lửa Scud của Irak trong chiến tranh vùng Vịnh, nay THAAD được Hoa Kỳ bố trí tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có đảo Guam và Hawai. Và từ năm ngoái, Lầu Năm Góc loan báo sẽ triển khai tại Hàn Quốc, như biện pháp phòng vệ trước việc Bắc Triều Tiên tiếp tục chương trình nguyên tử và bắn thử hỏa tiễn đạn đạo.
 .
Tuần này, tình hình bán đảo Triều Tiên đột ngột căng thẳng. Hôm thứ Ba, báo chí Bình Nhưỡng loan báo đã cố gắng tấn công các căn cứ quân sự Mỹ tại Nhật Bản. Số hỏa tiễn được Bắc Triều Tiên bắn đi cho thấy nước này đang thử nghiệm làm thế nào nhanh chóng triển khai các tên lửa trong trường hợp chiến tranh. Cùng ngày, Hoa Kỳ thông báo bắt đầu đưa THAAD đến Hàn Quốc. Do địa điểm chưa sẵn sàng, hệ thống lá chắn tên lửa tạm thời đặt tại một căn cứ Mỹ ở Osan, và việc triển khai có thể hoàn tất vào tháng Sáu.
 .
Cũng trong ngày thứ Ba, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng (Geng Shuang) tuyên bố đây là mối đe dọa quan trọng đối với Trung Quốc, và « sẽ kiên quyết có những biện pháp cần thiết để bảo vệ các lợi ích an ninh của chúng tôi ».
 .
Hệ thống radar tinh vi của THAAD
 .
Washington Post nhận xét, thoạt nhìn thì khó thể hiểu được cơn thịnh nộ của Bắc Kinh đối với THAAD. Một mặt, đây chỉ là một hệ thống phòng vệ. THAAD không mang theo các đầu đạn để tấn công, mà chỉ dựa vào các hỏa tiễn bắn chặn để phá hủy tên lửa địch. Và tuy trên lý thuyết, hệ thống này có thể sử dụng để ngăn chặn các hỏa tiễn đạn đạo của Trung Quốc, nhưng THAAD chỉ can thiệp vào giai đoạn cuối cùng.
 .
Hơn nữa, Trung Quốc, ông anh lớn lâu nay của Bắc Triều Tiên, cũng đã tỏ ra bực tức trước các vụ bắn hỏa tiễn mới đây của Bình Nhưỡng. Bắc Kinh đã ngưng nhập khẩu than đá của Bắc Triều Tiên, làm ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế của đất nước bị cô lập này.
 .
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận xét sự giận dữ của Bắc Kinh không nhắm vào các hỏa tiễn, mà chủ yếu do lo ngại trước hệ thống radar tinh vi của THAAD. Các radar này có thể theo dõi những hệ thống tên lửa của Trung Quốc, tạo ưu thế lớn cho Hoa Kỳ trong trường hợp xảy ra xung đột với Bắc Kinh trong tương lai. Một số nhà phân tích Trung Quốc còn cho rằng bản thân THAAD chỉ được sử dụng một cách hạn chế chống lại Bắc Triều Tiên, mà việc triển khai hệ thống radar mới là mục đích chính.
Nhìn rộng hơn, Bắc Kinh lo sợ Hoa Kỳ có thể sử dụng cả Hàn Quốc lẫn Nhật Bản để cầm chân Trung Quốc trong tương lai. Hoàn Cầu Thời Báo đã viết : « Nếu Hàn Quốc nhất định trở thành con rối của Mỹ, Trung Quốc sẽ phải hành động ».
 .
Bắc Kinh sẽ trả đũa thế nào ?
 .
Trước hết là tấn công vào kinh tế Hàn Quốc. Bắc Kinh đã hạn chế các hoạt động kinh doanh của các công ty Hàn Quốc tại Trung Quốc, trong đó có việc đóng cửa các cửa hàng Lotte, một tập đoàn đã nhượng đất sân gôn cho việc triển khai THAAD. Nhiều biện pháp khác có thể được đưa ra, như các công ty du lịch ngưng bán vé đi Hàn Quốc, kêu gọi tẩy chay sản phẩm của Seoul và thậm chí hủy các buổi trình diễn của các ngôi sao K-pop.
 .
Những động thái này sẽ khiến Hàn Quốc thiệt hại nặng vì những năm gần đây lệ thuộc Trung Quốc nhiều về kinh tế. Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của nước này, giá trị xuất khẩu năm 2014 lên đến 142 tỉ đô la, gấp đôi so với doanh số bán sang Hoa Kỳ. Bắc Kinh gây áp lực vào thời điểm nữ tổng thống Park Geun Hye đang vướng xì-căng-đan, số phận của bà có thể sẽ được quyết định trong tuần này.
 .
Đối với Hoa Kỳ, việc triển khai THAAD tại Hàn Quốc là một trong những động thái thực sự đầu tiên nhằm đối phó với Bắc Triều Tiên, kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức cho đến nay. Tuy nhiên theo Washington Post, phản ứng dữ dội của Bắc Kinh và những hành động khiêu khích của Bình Nhưỡng, cho thấy tình hình hiện rất phức tạp.
//

Một sự LƯU MANH TỘT CÙNG của Những BỒI BÚT VĂN NÔ !

Image may contain: text

Minh Phong

4 hrs ·

(Nguồn danchimviet.info)

TỪ KẺ ÁM SÁT CÁNH ĐỒNG ĐẾN CHUYỆN LÀNG NHÔ, MỘT SỰ LƯU MANH TỘT CÙNG CỦA NHỮNG KẺ BỒI BÚT VĂN NÔ

Hôm lễ Phục Sinh vừa rồi, tôi may mắn được ngồi cùng mâm với một gã đến từ Balan. Rượu vào lời ra, đang bá vai bá cổ, thân mật, đến lúc hỏi thăm quê quán, đột nhiên hắn ôm mặt khóc hu hu, làm mọi người phải dừng đũa. Lúc sau, có lẽ hết cơn xúc động, hắn hỏi lại tôi: Ông đã xem phim Chuyện Làng Nhô chưa? Tôi lắc đầu: Nhưng phim đó thì liên quan gì đến quê hương, bản quán của ông. Hắn nhếch mép, với tiếng cười méo mó: Có đấy, cái làng Lạc Nhuế, xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam quê tôi chính là Làng Nhô. Nhưng bản chất sự việc, con người hoàn toàn khác trong phim. Cái khốn nạn là ở chỗ đó. Làng ông được lên phim là tốt chứ sao lại khốn nạn, tôi ngoặc lại hắn như vậy. Hắn cao giọng: Tốt, tốt cái con khỉ ấy. Ông chuồn ra khỏi nước đã từ lâu, không xem, không chứng kiến, làm sao biết được, bao nhiêu người dân lương thiện phải chết, và ngồi tù oan, còn đám cường hào ác bá vẫn sống phè phỡn ở đó. Tôi ngớ cả người, và tính tò mò trỗi dậy, nên xuống giọng ngay: Nghĩa là như thế nào, ông có thể nói rõ hơn được không? Hắn thủ thỉ: Tuy đỉnh điểm sự việc xảy ra năm 1992, nhưng nguyên nhân từ nhiều năm trước đó…

Ông Trịnh Văn Khải xuất thân từ gia đình được đảng, chế độ tin yêu, và là người thông minh, học giỏi, nên được du học ở Nga Xô. Về nước, ông làm giảng viên chính của trường Đại học Hàng hải Hải Phòng. Khi hưu trí, ông trở về quê và tham gia làm công việc địa chính của xã Đồng Hóa. Từ đó, ông phát hiện ra chính quyền xã, huyện giấu dân, giấu cấp trên đấu thầu, chiếm đoạt đất đai chia nhau đã nhiều năm. Ông cùng người dân đấu tranh, yêu cầu chính quyền là rõ sự trộm cắp, tham nhũng đó. Vì vậy, ông cũng như dân làng bị trả thù một cách dã man, đê tiện của đám quan tham. Để có kinh phí lên trung ương kiện cáo, ông cùng dân làng lập ra đội tự quản 447, bán vé, thu tiền chợ. Tuy nhiên, những lời kêu cứu, sự chờ đợi ấy của dân làng vẫn không có lời hồi đáp. Trước sự trả thù ngày càng điên cuồng không chỉ bằng lực lượng công an, mà còn cả bọn côn đồ của chính quyền, buộc ông Khải và người dân làng Lạc Nhuế lập lũy chống trả, một cách sinh tử. Sự trả thù một cách đê hèn lên đến đỉnh điểm, khi bọn quan tham thuê hai tên côn đồ lẻn vào làng định giết ông Trịnh Văn Khải bằng thuốc độc. Nhưng chưa kịp hành động cả hai đã bị bắt. Dân làng căm phẫn và hành quyết hai tên côn đồ tại chỗ, trước sự can ngăn của ông Khải. Và đó cũng chính là cái cớ để chính quyền quan tham huy động hàng trăm cảnh sát cơ động tinh nhuệ nhất tấn công vào làng. Ông Trịnh Văn Khải và hàng chục người dân bị bắt đi. Sau đó, ông Khải bị tử hình, và hai người dân bị đánh chết trong tù. Rồi đến con trai ông Khải cũng bị bọn quan tham thuê côn đồ giết, bằng cách gây tai nạn giao thông.

Nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Để che lấp tội lỗi, bọn quan tham đã thuê những tên đồ tể truyền thông truyền hình và cả nhưng tên bồi bút như Nguyễn Quang Thiều, Phạm Ngọc Tiến…bóp méo sự thật, đánh lừa dư luận dân chúng…

Ực liền tù tì mấy ly, rồi dừng lại giây lát, hắn quay sang tôi bảo, nếu không tin, ông có thể tìm cuốn Kẻ Ám Sát Cánh Đồng của tên an ninh Nguyễn Quang Thiều, và kịch bản phim Chuyện Làng Nhô do văn nô Phạm Ngọc Tiến chuyển thể, đọc sẽ rõ.
Chờ cho sự xúc động của hắn dịu xuống, tôi hỏi: Ông chứng kiến những việc đó? Hắn bảo, không chỉ chứng kiến, mà còn là một trong những thanh niên cùng dân làng lập lũy chiến đấu chống lại bọn quan tham từ đầu đến cuối. Không hiểu sao lúc đó tôi thoát được, trốn vào Nam, vay mượn tiền bạc, đổi tên thay họ tìm đường sang Nga, rồi Balan, để lúc này cùng uống rượu với ông đây.

Có lẽ, chưa tin hẳn lời cái gã Balan này, nên hôm rồi, tôi gọi điện hỏi người bạn thời trung học, ở Sở công an Hà Nam. Dù làm bộ phận hành chính và đã về hưu, nhưng hắn vẫn nhớ khá rành rọt về vụ việc ở Lạc Nhuế (Làng Nhô). Tuy một vài chi tiết nhỏ hơi khác với lời kể của gã Balan, nhưng nhìn chung diễn biến và bản chất sự việc, con người hoàn toàn trùng khớp nhau.
Và lời kể thêm của ông bạn cựu cảnh sát này, đã cho tôi động lực đi tìm cuốn Kẻ Ám Sát Cánh Đồng, cũng như kịch bản Chuyện Làng Nhô để đọc. Tuy nhiên, tôi chỉ tìm thấy kịch bản Chuyện Làng Nhô của Phạm Ngọc Tiến. Và bìa cuốn kịch bản này in chung tên tác giả Nguyễn Quang Thiều và Phạm Ngọc Tiến.

Có thể nói, Chuyện Làng Nhô là kịch bản mang nặng tính chính trị tuyên truyền. Vụ việc và con người hoàn toàn trái ngược với sự thật những gì đã diễn ra ở làng Lạc Nhuế. Nếu người thủ lĩnh nông dân Trịnh Văn Khải ngoài đời trí thức, hiền lành hết lòng vì vợ con gia đình, làng xóm bao nhiêu, thì Trịnh Khả của Nguyễn Quang Thiều, Phạm Ngọc Tiến hiện lên như một lục lâm thảo khấu, ranh ma lừa lọc, đầm đĩ, đểu cáng bấy nhiêu. Và sự lưu manh, bỉ ổi đê hèn của của những quan tham, với đám tay sai, côn đồ trong Chuyện Làng Nhô đã được hai ông văn nô, bồi bút này miêu tả hiền lương, xả thân cứu người, giúp dân một cách vô cùng dũng cảm.

Đã hơn một lần, nhà văn Võ Thị Hảo nói với tôi: Phim, truyện của những kẻ văn nô thiếu nhân cách này, không đáng để bình luận, phân tích. Tuy không cực đoan như chị, nhưng tôi cũng không đi vào cái hay dở nghệ thuật viết truyện, hay kịch bản phim của Nguyễn Quang Thiều, và Phạm Ngọc Tiến. Mà tôi chỉ đi sâu tìm hiểu mục đích, nguyên nhân nào họ phải úp mặt, xoay bút đứng về phía cường hào thống trị, đẩy những người nông dân cùng khổ đến đường cùng như vậy.

Theo nhà sách Phương Nam, nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã về tận nơi, (tức làng Nhô) tìm hiểu sự việc, lấy tài liệu, gặp gỡ trò chuyện với những người thực trong biến cố đó, và anh soi chiếu nó bằng cái nhìn văn học.
Như vậy, có nghĩa Nguyễn Quang Thiều đã biết được sự thật những gì đã xảy ra ở Làng Nhô. Nhưng cái kính chiếu yêu của văn học này, làm ngòi bút Nguyễn Quang Thiều đảo ngược lại chăng?

Vâng! Dù có che đậy bằng những tiểu thuyết, sáng tạo văn học hay gì gì đi chăng nữa, trước sau nó cũng lộ nguyên hình sự dối trá, lưu manh trắng trợn nhất của kẻ cầm bút, dưới lăng kính méo mó dẫn dắt chỉ đường của Ban tuyên giáo, an ninh mật vụ và cả tiền bạc của những đám quan tham. Là một nhà văn còn một chút tự trọng có lẽ, không ai bán nhân phẩm, lương tâm của mình như vậy. Nhưng Nguyễn Quang Thiều xuất thân từ gia đình cảnh sát, và bản thân cũng là một an ninh được đào tạo cơ bản ở trong cũng như ngoài nước. Do vậy, Nguyễn Quang Thiều phải bảo vệ chế độ, bảo vệ con đường công danh cũng như miếng cơm manh áo của mình là lẽ đương nhiên thôi.

Phải nói thẳng, Chuyện Làng Nhô (Lạc Nhuế) xảy ra đã trên hai chục năm, khi chưa có FB, dân trí và internet chưa phát triển, sự lưu manh dối trá này ít nhiều mang lại hiệu quả. Còn vụ Đồng Tâm, Mỹ Đức Hà Nội hiện nay có cho ăn mật gấu, các thêm cái ghế Chủ tịch hội nhà văn, Nguyễn Quang Thiều và Phạm NgọcTiến cũng không dám viết Chuyện Làng Nhô thứ hai.
Trước đây, đôi khi tôi có đọc thơ của Nguyễn Quang Thiều, nhưng dường như ít có bài đọc trọn vẹn. Thơ Thiều thường rối rắm, tối thui về ngữ nghĩa. Một thứ thơ méo mó, đọc không để hiểu. Hôm rồi được mời đến dự buổi âm nhạc và thi ca ở gần thành phố tôi cư ngụ, thấy có bác nhà thơ cộng đồng khá quen, lên đọc bài thơ “Lịch sử tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ” của Nguyễn Quang Thiều rất hùng hồn. Chẳng biết, có ai hiểu gì hay không, nhưng khán phòng cứ vỗ tay ầm ầm, khi bài thơ kết thúc. Lát sau, nhìn thấy tôi, bác đến chào. Tôi hỏi, sao bác không đọc thơ của mình, mà đọc thơ của Nguyễn Quang Thiều vậy. Bác cười bảo, đọc thơ của mình nhiều rồi, hôm nay thay đổi không khí chút. Tôi rút tờ giấy in bài thơ còn găm trên túi áo của bác ấy, hỏi, thế bác có hiểu bài thơ này không. Bác nhà thơ này lắc đầu: Thấy mọi người khen hay thì đọc vậy thôi.

Thành thật mà nói, Nguyễn Quang Thiều có tài năng viết báo, viết văn thông tấn như đàn anh Trung tướng an ninh Nguyễn Hữu Ước, hoặc những tản văn trải thật lòng mình về đất và con người. Còn những cuốn sách tuyên truyền dạng Kẻ Ám Sát Cánh đồng dù có được công kênh, nhưng nó chỉ là những trang viết chết.
Và cũng như Phạm Ngọc Tiến đã bán linh hồn bằng thứ danh hão, Nguyễn Quang Thiều dù có ngoi lên giám đốc nhà xuất bản, hay Chủ tịch hội nhà văn đi chăng nữa, thì vết ô nhục Chuyện Làng Nhô không bao giờ rửa sạch.

Leipzig ngày 24-4-2017
Đỗ Trường

//

NẾU VNCH THẮNG…! – Lê Phú Nhuận.

NẾU VNCH THẮNG…

Vừa nhận được một e-mail đề cập đến câu hỏi: “TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ”, tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy. (LPN)

1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản. Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954, miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình ..
Ngay từ lúc đó, cộng sản VN đã gài người ở lại, nằm vùng, chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam, với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy. Mầm mống chiến tranh, cội nguồn của bao tội ác, hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc, xương máu chất chồng, bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến, từ kẻ xâm lăng, không phải từ phía chống đỡ, phải tự vệ. Rõ như ban ngày!
Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo, nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu, trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ ..
2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu.
Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy.bodoivc_taisaigon
Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản, kiểm tra, cướp của, cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy .
baitruvanhoadoitruyĐánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mớiĐánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới
Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy .truocdm1
Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy ..
Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ.
Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . ..
Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh.
Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ?
hoichanhvienĐang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy.
Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy!
1976-mot-lop-hoc-tap-cai-tao-tai-tc3a2y-ninh-photo-by-marc-riboud-south-vietnam-januaryMột thanh niên bị bắt đeo bảng trước ngực và đi lòng vòng địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của bộ đội cụ Hồ. Tội danh : Nhảy đầm. Sau đó còn phải thọ án 1 năm trong “trại cải tạo”.
Một thanh niên bị bắt đeo bảng trước ngực và đi lòng vòng địa phương nơi cư trú, dưới sự giám sát của bộ đội cụ Hồ.
Tội danh : Nhảy đầm. Sau đó còn phải thọ án 1 năm trong “trại cải tạo”.
Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia.
Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt, “lao động” cho giỏi, để khỏi bị đảng nghi ngờ, như đã thấy !
Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức, người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc, dù không nhất thiết phải giống y như thế.
Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng, vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc, – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình, lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình, như đã thấy !
Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng, thực tế tốt hơn rất nhiều.
Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy ..
Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-

LÊ PHÚ NHUẬN

Image may contain: one or more people, people standing, shoes and outdoor
Image may contain: 4 people, crowd and indoor
Image may contain: one or more people, people standing and crowd
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, text
+3

Ai đã phát minh ra ‘điện thư’ (email)?

Sent: Friday, April 21, 2017, 9:44:21 PM PDT
Subject: Tưởng nhớ người khai sinh Email

Tưởng Nhớ Người Khai Sinh EMAIL

Raymond Samuel Tonlinson (1941-2016).

Đã vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mỗi ngày có hàng tỷ Emails được gởi đi. Có những Emails chuyên về thương mại, công việc. Có những Emails vô thưởng vô phạt, không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới, hay hạnh phúc cá nhân, nhưng người đọc mệt mỏi với loại thư điện tử này, nên thẳng tay đưa vào thùng rác (spam mails). Có cả những bức thư tình ngắn gọn thời “dot com” của những người đang yêu. Cả tỷ người trên thế giới thi nhau gõ keyboard, gởi, nhận thư điện tử mỗi ngày.
Có cả phim “You got mails” với tài diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks, và Meg Ryan đưa về một lợi nhuận khổng lồ cho Hollywood.
Không biết có ai trong cả tỷ người nghĩ đến người phát minh ra Emails? Chắc là ít ai nghĩ đến “cha đẻ” của Emails. Người kỹ sư điện tài ba, người sáng tạo ra Emails, và dấu @ vừa qua đời hôm thứ bảy, ngày 5 tháng 3 vì bệnh tim.
Thật ra, trước khi ông Ray Tomlinson khai sinh dấu hiệu @ vào năm 1970, người ta đã có thể gởi information qua lại cho nhau, nhưng chỉ gởi và nhận được nếu cùng sử dụng một máy computer. Không thể gởi data cho một người khác ở ngay phòng bên cạnh nếu người gởi và người nhận ở hai máy khác nhau,
Anh chàng kỹ sư trẻ, tự nhận mình là “a nerdy guy from MIT” (trường Đại học Massachusetts Institute of Technology lẫy lừng khắp thế giới đã đào tạo cho Mỹ nhiều nhà khoa học tài năng.) cặm cụi làm việc với niềm đam mê của một người “chỉ biết học thôi chả biết gì” (a nerd).
Ray tốt nghiệp cao học (master degree) về ngành Điện (Electrical Engineer) ở MIT năm 24 tuổi, sau khi đã có cử nhân (bachelor degree) ở Rensselaer Polytechnic Institute vào năm 1963. Thời sinh viên, ông đi thực tập ở IBM và đã làm cho các kỹ sư ở đó khâm phục trí thông minh, và khả năng làm việc của một anh chàng mới bước vào tuổi hai mươi, thiếu cả kinh nghiệm làm việc lẫn kinh nghiệm sống.
Ra trường, ông về làm việc cho Bolt Beranek and Newman((BBN), sau này được Công ty kỹ thuật Raytheon mua lại. Tomlinson làm ở đó như là một programmer giỏi, một nhà khoa học được tất cả mọi người kính trọng. Hơn nửa thế kỷ qua, vẫn ở cùng một công ty, với nhiều thay đổi, các nhà lãnh đạo, đến rồi đi, anh kỹ sư trẻ Ray Tonlinson, bước vào tuồi trung niên, roi bạc tóc, vẫn làm việc ở văn phòng quen thuộc của mình, vẫn yêu những con số, những project khoa học cho đến lúc ông qua đởi vì bệnh tim vào ngày thứ bảy 5 tháng 3 năm 2016.
blank

Ray thời 1970, khi khai sinh mạng lưới email toàn cầu.

Vào năm 1970, ở tuổi 29, anh kỹ sư trẻ Ray Tomlinson phải làm việc cùng lúc ở hai computer khác nhau, data không thể gởi từ máy này qua máy kia. Ngoài phận sự của mình, Ray dành thì giờ nghiên cứu cách gởi data từ các máy khác nhau. Anh dùng tên mình Ray ở máy 1 gởi cho Ray ở máy 2. Để đơn giản hóa, thay vì dùng chữ “at”, Ray dùng ký hiệu @, có sẵn trên bàn phím. Và việc gửi email từ máy này tới máy kia thành công. Chính từ đây, mạng lưới email giữa người này với người khác (Person to person netward email) ra đời và ký hiệu user@host trở thành mẫu ghi phổ thông cho cách ghi địa chỉ email toàn cầu hiện nay.
Khi tự gởi email cho mình (ở hai máy khác nhau) thành công, Tomlinson chia sẻ với một kỹ sư đồng nghiệp khác. Người này vui mừng, định báo tin cho cấp lãnh đạo. Vốn khiêm nhường như bao nhiêu người có tài khác, Ray ngăn lại “Đừng nói cho ai hết, thật ra đây cũng không phải là việc mà mình phải làm”. Nhưng phát minh đó quá tiện lợi, nên “tiếng lành đồn xa”, Ray Tomlinson được cấp bằng sáng chế, và là một trong những người quan trọng phát minh ra Emails.
Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng khoa học có giá trị về các nghiên cứu khoa học từ năm 2000 đến năm 2012. Riêng trong giới programmer về Internet, ông được coi là một trong những nhà phát minh tài năng.
Sau đó, dù luôn khiêm nhường và thầm lặng, ông nổi tiếng trong giới khoa học, được MIT xếp thứ 4 trong danh sách 150 cựu sinh viên tốt nghiệp MIT là những nhà phát minh có đóng góp quan trọng nhất cho khoa học.
Ông được mời đi nói chuyện ở các hội nghị khoa học, là một tên tuổi được kính trọng trong giới high tech, được các sinh viên trẻ coi như một thần tượng.
Dù vậy, nhà khoa học vẫn sống lặng lẽ với tình yêu khoa học, và trang trại nuôi một loại cừu nhỏ ở ngoại ô New York. Ngoài công việc, ông có niềm vui “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” với thiên nhiên vả bầy cừu nhỏ của mình. Cả cuộc đời ông gắn liền với tiểu bang New York, nơi ông sinh ra, lớn lên, đi học, làm việc, và qua đời.
………
Xin viết lại bài này với lòng ngưỡng mộ, và biết ơn người phát minh ra “@”, giúp Emails phát triển hoàn thiện như hôm nay.
Và xin được nhắc nhở mọi người nhớ đến Ray Tomlison, người góp phần quan trọng trong việc đưa Emails đến cả tỷ người ở khắp nơi trên thế giới.

Raymond Samuel Tomlinson sinh tại Amtersdam, NewYork, ngày 23 tháng Tư năm 1941. Khi đột ngột từ trần vị bị kích tim vào ngày March 5, 2016, chỉ còn đúng 4 tuần nữa là Ray sẽ mừng sinh nhật thứ 75.
Tháng Ba, tháng Tư là ngày giỗ, ngày sinh của ông. Khi mở Emails, xin hãy góp phần cầu nguyện cho Ray Tonlinson, mong ông an vui bình yên ở một nơi không còn cần Emails, không cần bất cứ một điều gì ngoài sự nhẹ nhàng, thanh thoát.
ẻ của thư điện tử và ký hiệu @ đã qua đời ở tuổi 74
Ray Tomlinson, một huyền thoại trong ngành điện toán, cha đẻ của thư điện tử (email) và ký hiệu “@” đã qua đời hôm thứ Bảy (5/3) sau một cơn đau tim đột ngột, ở tuổi 74.
Năm 1971, Tomlinson đã gửi đi bức thư điện tử đầu tiên khi ông đang làm việc cho hãng chuyên nghiên cứu phát triển các chương trình làm việc trong môi trường Internet, Bolt, Beranek and Newman (BBN) ở Boston. BBN ở thời điểm đó là nhà thầu dự án mạng dữ liệu Internet đầu tiên có tên gọi ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ. Và với tư cách là một nhân viên của BBN, Tomlinson đã được giao nhiệm vụ tìm ra những vấn đề có thể xử lý trên mạng ARPANET.
Trước Tomlinson, đã có những nhà khoa học nghĩ tới việc truyền tin nhắn cho người khác qua mạng Internet hay chia sẻ các đoạn ghi chú qua một chiếc máy tính, nhưng tất cả chỉ trở nên khác biệt khi Tomlinson sáng tạo ra lệnh SNDMGS. Với lệnh SNDMGS, Tomlinson đã lần đầu tiên gửi được một tập tin thư điện tử qua mạng Internet tới một máy tính khác với địa chỉ thư tomlinson@bbntenexa. Đây cũng là chương trình gửi tin nhắn qua mạng đầu tiên.
Tomlinson được biết đến nhiều nhất khi ông lựa chọn biểu tượng @ để chỉ một tin nhắn sẽ được gửi đến một máy tính khác trên mạng. Ông cũng đi đầu trong phát triển các tiêu chuẩn cho các trường “from” (gửi từ), “subject” (chủ đề) và date (ngày tháng) được tìm thấy trong tất cả các tin nhắn email được gửi đi ngày hôm nay.
Tomlinson đã giành được bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật điện từ ở Viện Bách khoa Rensselaer năm 1963 và là một bậc thầy về kỹ thuật điện ở Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1965.
Sự ra đi của Tomlinson là sự ra đi thứ ba của các huyền thoại trong ngành công nghiệp máy tính trong năm nay. Trước đó, chuyên gia trí tuệ nhân tạo Marvin Minsky đã qua đời vào tháng Một, và nhà phát minh ra máy tính cá nhân Wesley A. Clark qua đời vào tháng Hai. Cả hai đều hưởng thọ 88 tuổi.
 Search/web/by gàn

NHỮNG TÊN GIU-ĐA THỜI ĐIỂM 30-4-1975

NHỮNG TÊN GIU ĐA THỜI ĐIỂM 30-4-1975

Tác giả: Trần Vinh Posted on: 2017-04-21

Lờì giới thiệu cùa Kim Phạm. -Một cuốn sách hay ,phải mua xem ! để biết đồng bọn với chúng nó là những ai để tránh mặt, lỡ khi thấy chúng nó trong nhà thờ.

Đó là Những tên Giu Đa thời điểm 30-4-1975 còn những tên Giu Đa sau 30-4-1975 có cả đống khối ra đó kìa, không biết có Vị nào đang sưu tầm danh tánh và việc làm của bọn Giu Đa sau 30-4-1975 cho đến bây giờ chưa?

Bước sang năm 1975, chiến sự ở Miền Nam đột nhiên chuyển biến mau chóng, Quân lực VNCH bắt đầu triệt thoái dần về phía Nam. Sang Tháng 4 thì chiến thắng của Cộng Sản đã cận kề. Nương theo đà thắng lợi của Cộng quân, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” ở Sài Gòn bắt đầu hành động.

Thành phần của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã kí tên vào bức tâm thư “Gởi Anh Chị Em Công Giáo Miền Nam Việt nam” (nội dung cáo buộc Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre một số tội và đòi Ngài phải ra đi) gồm có 8 tổ chức:

Phong Trào Thanh Lao Công
Phong Trào Công Giáo và Dân Tộc
Đoàn Sinh Viên Dự Tập Dòng Chúa Cứu Thế (rất ít)
Nhóm Liên Tu Sĩ Trẻ (rất ít)
Phong Trào Công Giáo Xây Dựng Hoà Bình (ma)
Phong Trào Thanh Niên Công Giáo Đại Học (rất ít)
Tổng Đoàn Thanh Niên Công Giáo (ma)
Liên Đoàn Sinh Viên Công Giáo (rất ít)

Thực sự thì hầu hết các tổ chức kể trên chỉ có dăm ba thành viên, thậm chí chỉ là tổ chức ma mới thành lập hoặc là một người mà tham gia mấy tổ chức, nhưng đã được những kẻ giật dây nặn ra, cốt để gây thanh thế.

Hai thành phần chính yếu trong “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” là các linh mục và các sinh viên Công Giáo “tiến bộ”. Các linh mục “tiến bộ” gồm có: Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích, Thanh Lãng, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị, Nguyễn Thiện Toàn, Trần Viết Thọ, Nguyễn Quang Lãm, Nguyễn Văn Hoà, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Trinh, Nguyễn Văn Huệ, Đinh Bình Định... Đông hơn cả là nhóm sinh viên Công Giáo “tiến bộ”. Những tay tranh đấu hung hăng nhất trong nhóm này là Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn Khắc Xuyên, Nguyễn Xuân Hàm, Vũ Sĩ Hùng, Nguyễn Chí Thành,Nguyễn Ziên Hồng, Phạm Văn Phổ, Nguyễn Văn Hồng, Trịnh Viết Trung, Dương Thị Hoè, Phi Nga… (Xem Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-1975 của Nguyễn Antôn. Dân Chúa xuất bản, 1988. Trang 225).

Theo một số tác giả từng là chứng nhân tình hình sau 30-4-1975 thì Cộng Sản đã dùng chiến thuật dùng chính người Công Giáo để đánh phá Giáo Hội Công Giáo Miền Nam, mà tên giáo gian đầu sỏ chính là Nguyễn Đình Đầu. Một trong số các tác giả ấy là Lữ Giang, tức thẩm phán Nguyễn Cần (VNCH), đã viết:  “Nguyễn Đình Đầu , một cán bộ Việt Cộng nội tuyến trong hàng ngũ Công Giáo, ở trong nhóm Sống Đạo, đã đứng đàng sau sắp xếp và tổ chức các trận đánh phá này”  (Lữ Giang. Những BÍ Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam. 1994. Trang 200)…  Ông viết tiếp:  “Trong cuốn ‘30 tháng 4’ do nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1985, ký giả Võ Trần Nhã của Việt Cộng cho biết Nguyễn Đình Đầu là người yểm trợ đắc lực cho việc đưa miền Nam vào tay Cộng Sản” và “… Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, bên ngoài Nguyễn Đình Đầu không giữ chức vụ gì quan trọng, nhưng bên trong Nguyễn Đình Đầu đã đứng ra tổ chức và giật giây các chiến dịch chống phá Giáo Hội Công Giáo. Từ vụ hô hào trục xuất Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre, đòi bãi chức Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, đến việc lên án các vụ Vinh Sơn, Đắc Lộ, Dòng Đồng Công… đều có bàn tay thúc đẩy của Nguyễn Đình Đầu” ( Lữ Giang. Sđd. Trang 220, 221).

Chúng tôi chưa biết Nguyễn Đình Đầu có phải là đảng viên Cộng Sản hay không, nhưng chắc chắn ông ta là kẻ theo Cộng Sản. Loại người này sống ở miền Nam, nhưng dùng các quyền tự do được hưởng để chống phá miền Nam và tiếp tay cho Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Thực sự, họ còn nguy hiểm hơn là chính những cán bộ Cộng Sản, bởi vì kẻ nội thù đâm sau lưng thì khó đỡ hơn kẻ ngoại thù chém chúng ta ngay trước mặt.

Mục tiêu đấu tranh đầu tiên của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” nhắm vào Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre. Họ đòi trục xuất Ngài ra khỏi Việt Nam. Trục xuất Đức Khâm Sứ là đại diện của quốc gia Vatican, của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ tức là muốn cắt đứt liên hệ giữa Vatican với nước Việt Nam Cộng Sản, cắt đứt ảnh hưởng của Giáo Hội Mẹ với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” muốn chứng tỏ lòng thần phục đối với chính quyền Cộng Sản sắp được thành lập ở Miền Nam và muốn dâng công đầu tiên là thiết lập một Giáo Hội Công Giáo tự trị theo kiểu Giáo Hội Công Giáo tự trị bên Tầu Cộng. (1)

Tranh đấu hoặc đánh phá phải có lí do. Không có thì phải tạo ra. Nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” tố cáo Đức Khâm Sứ phạm nhiều tội.

Khởi đầu, nhóm này kí tên và phổ biến một bức tâm thư, không đề ngày tháng, nêu rõ lí do và mục tiêu đấu tranh như sau: “Khâm Sứ Henri Lemaitre là người trước đây đã hỗ trợ mạnh mẽ cho chính sách thực dân mới của Hoa Kỳ và cho chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu… Từ trước tới nay, các Khâm Sứ đã xen vào nội bộ của Giáo Hội Việt Nam quá nhiều trái với tinh thần Vatican 2. Giải thoát các Giám Mục MNVN cho khỏi áp lực và xâm lấn của Khâm Sứ Toà Thánh là giúp cho Giáo Hội Việt Nam được trưởng thành.” (Nguyễn AnTôn. Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-75. Dân Chúa xuất bản, 1988. Trang 218).

Trong một bản cáo trạng in roneo, LM Thanh Lãng quy kết: “Từ trước đến nay, ở Miền Nam có 5 vị Khâm Sứ Toà Thánh thì Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre có thành tích bất hảo nhất vì tính chất thực dân, có đường giây điện thoại đỏ với Toà Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam và dính líu với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu” (Nguyễn AnTôn . Sđd. Trang 220).

Lúc ấy, trong Toà Khâm Sứ có Đức Kâm Sứ Henri Lemaitre, một linh mục phụ tá người Ba Lan và linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ. Đức Khâm Sứ là mục tiêu “nhắm bắn” chính, còn linh mục phụ tá người Ba Lan và linh mục bí thư người Việt là mục tiêu phụ, đương nhiên 2 vị là những chứng nhân từ đầu đến cuối.

Để đạt mục tiêu trục xuất Đức Khâm Sứ, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã tổ chức 3 cuộc biểu tình đấu tranh:

Lần thứ nhất: Ngày 02-4-1975, họ kéo tới biểu tình trước Toà Khâm Sứ đường Hai Bà Trưng. Họ đòi Đức Khâm Sứ phải ra đi. Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre vẫn bình tĩnh, nhẫn nại và can đảm. Ngài từ chối yêu sách của nhóm tranh đấu và dứt khoát không rời khỏi Việt Nam nếu chưa có lệnh của Toà Thánh. Lúc này, Cộng Sản chưa chiếm được Sài Gòn, cho nên “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” chưa có hành động thô bạo.

Lần thứ hai: Ngày 14-5-1975, tức là lúc Miền Nam đã lọt vào tay Cộng Sản, nhóm đấu tranh tỏ ra hết sức hung bạo. Đi đầu là Nguyễn Phúc Khánh, bọn họ trèo tường đột nhập Toà Khâm Sứ, dùng búa đập bể ổ khoá cổng để đám đông tràn vào. Mấy tay xông xáo hơn đã trèo lên mái nhà căng biểu ngữ và hạ cờ Toà Thánh xuống. Bọn họ dùng lời lẽ của phường bất hảo để thoá mạ, hò hét. Mỗi lần hô “Đả đảo! Đả đảo!”, “Henri Lemaitre cút đi, cút đi…!” thì cả bọn đồng loạt giơ lên cao những nắm đấm, y hệt một hoạt cảnh bần cố nông đấu tố địa chủ ở Miền Bắc hồi 1954. Sau đó, họ dùng vũ lực xô đẩy Đức Khâm Sứ, linh mục phụ tá nguời Ba Lan và linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ ra khỏi cổng Toà Khâm Sứ, rồi đóng cửa lại.

Trong đợt đấu tranh bạo động này, người ta nhận diện 3 linh mục nổi bật: LM Phan Khắc Từ xách động bên trong Toà Khâm Sứ, LM Huỳnh Công Minh chụp hình liên tục (để báo cáo), còn LM Thanh Lãng thì đứng bên kia đường để “lược trận”. (2)

Rập theo chủ trương của Cộng Sản là dùng bất cứ phương tiện nào miễn là đạt mục đích. Trong những lần đối thoại giữa đôi bên, những tay cầm đầu “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” bất chấp tất cả, đã dám đe doạ Đức Khâm Sứ: “…nếu Đức Khâm Sứ không chịu từ chức và ra đi, thì người ta bắt buộc phải dùng đến một biện pháp “rất đáng tiếc” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 220).

Lần thứ ba: Tối ngày 03-6-1975, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” lại tổ chức biểu tình tại Toà Khâm Sứ.

Lần này xẩy một sự việc đau lòng. Đó là khi nghe tin Toà Khâm Sứ lại bị “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” quậy phá, hàng ngàn giáo dân trẻ thuộc giáo xứ Bùi Phát kéo nhau đi giải vây cho Đức Khâm Sứ. Đoàn người bị bộ đội Cộng Sản ngăn chặn tại cầu Trương Minh Giảng, một giáo dân bị bắn chết, LM Vũ Bình Định, phó xứ Bùi Phát, bị bắt giữ.

Chiến dịch đánh phá của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã lộ nguyên hình họ là những tên“Giu Đa bán Chúa” bởi vì hành động của họ tạo nên cái cớ rất tốt, rất đúng lúc để chính quyền Cộng Sản ra tay.

Thật vậy, ngay sáng hôm sau, ngày 04-6-1975, Bộ Ngoại Giao Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời MNVN đã mời Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre đến để bảo cho biết: “Ngài nên lánh khỏi Việt Nam trong một thời gian, và càng sớm càng tốt, nếu không sự hiện diện của Ngài sẽ không còn được bảo đảm” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 221). Theo ngôn ngữ ngoại giao phải hiểu đây là lệnh trục xuất. Đức Khâm Sứ phải lấy máy bay để rời khỏi Sài Gòn vào hôm sau, 05-6-1976.

Đức Khâm Sứ đi rồi, linh mục phụ tá người Ba Lan yêu cầu linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ phải vào ở thường trực trong Toà Khâm Sứ để phụ với ông đối phó với tình hình mới.

Nghe biết tin này, từ Vatican, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Toà Thánh Jean Villot gửi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà MNVN một bức thư nói: “… rất đau lòng khi hay tin… và sẵn sàng mở những cuộc tiếp xúc cần thiết…” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 222).

Sau khi Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre rời Việt Nam, ngài được bổ nhiệm làm khâm sứ Toà Thánh ở Uganda, rồi ở nhiều nước Bắc Âu. Nhiệm sở cuối cùng của Ngài là ở Hoà Lan. Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre nghỉ hưu năm 1997 và qua đời năm 2003.

Đức Khâm Sứ đi rồi thì ít lâu sau đến lượt vị linh mục phụ tá người Ba Lan. Chúng tôi không ghi nhận được thêm tin tức gì về vị linh mục phụ tá Đức Khâm Sứ, kể từ khi ông bị trục xuất khỏi Sài Gòn.

Người chủ Toà Khâm Sứ bị trục xuất. Vị linh mục phụ tá người Ba Lan cũng đã phải ra đi. Toà Khâm Sứ chỉ còn là cái xác nhà. Cha bí thư Trần Ngọc Thụ có thể trụ lại được không? Ra khỏi Toà Khâm Sứ, Cha Thụ có thể đi đâu? Dù ở đâu, Cha có được yên thân không để làm việc mục vụ?

Một sự thật sau này mới biết là Đức Khâm Sứ đã tiên liệu xin quốc tịch Vatican cho Cha Thụ từ trước, để hòng khi hữu sự. Quả đúng như vậy. Cha Thụ có quốc tịch Vatican nhưng Cha giấu mọi người. Cha vốn nổi tiếng kín đáo, không bao giờ tiết lộ những chuyện không cần tiết lộ. Nhưng mà giờ đây, việc phải đến đã đến. Đã đến lúc Cha phải quyết định đi hay ở. Cha không giấu kín được nữa. Dù còn vấn vương, không muốn ra đi thoát thân một mình, nhưng Cha phải tìm ra đáp số hợp tình hợp lí nhất cho việc ở hay đi.

Các đấng các bậc thân quen nói Cha nên ra đi. Bà con và tất cả mọi người thương ông, muốn ông được an toàn cho nên đã giục giã ông nên đi.

Cuối cùng, Cha Thụ quyết định ra đi.

Tại phi trường Tân Sơn Nhất, trước khi lên máy bay, đột nhiên có một viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao của chính quyền Cộng Sản tới nói: “Chúc linh mục thượng lộ bình an. Sau này, nếu khi nào linh mục muốn trở về thì cứ cho chúng tôi biết!”

Đâu ngờ, đây là lần ra đi không hẹn ngày về của Cha Thụ.

Đúng là “nói dối như Vẹm!”, sau này, ở Roma, nhiều lần Cha Thụ xin visa tại Toà Đại Sứ CSVN để trở về thăm Việt Nam, thăm cố hương Phát Diệm, thăm mộ phần cha mẹ ở họ Đông Hoà, xứ Văn Hải, nhưng chưa bao giờ CSVN cấp giấy cho Cha.

Bù lại, vì ra đi nên sau này Cha Thụ mới có cơ hội làm nhiều việc quan trọng hơn cho GHCG hoàn vũ và cho GHCGVN.

Trần Vinh

Ghi chú:

(1) Trong cùng thời gian này, nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” phát động song hành 2 cuộc đấu tranh nhắm vào 2 mục tiêu: một là trục xuất Đức Khâm Sứ; hai là buộc Đức TGM Phanxicô Nguyễn Văn Thuận phải từ chức Phó Tổng Giám Mục Sài Gòn (do sắc phong của Toà Thánh ngày 25-4-1975). Nhiều sách vở đã kể về vụ Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bởi vì Ngài quá nổi tiếng. Giáo Hội đang xúc tiến việc tuyên thánh cho Ngài. Ở đây, chúng tôi chỉ tường thuật vụ Đức Khâm Sứ, bởi vì chủ đề loạt chuyện của chúng tôi trong sách này là LM Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, bí thư Toà Khâm Sứ. Cha Thụ cũng là chứng nhân của các vụ việc xẩy ra liên quan tới Đức Khâm Sứ.

(2) Về cuối đời, LM Thanh Lãng đã viết di chúc, khiêm nhường ăn năn sám hối, xin Chúa và Giáo Hội “tha tội”. LM Thanh Lãng cũng “công khai sám hối xin lỗi Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, … anh em linh mục và …toàn thể dân Chúa”.

  1. Nguyễn Văn Lục, em ruột GS. Nguyễn Văn Trung, trong bài Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận Nguyên Nhân 13 Năm Lưu Đầy Khổ Nhục, đã công bố một phần bản di chúc 13 trang của LM. Thanh Lãng trao cho GS. Nguyễn Văn Trung, nguyên văn như sau:  “Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh Toàn cầu và Việt Nam. Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ. Tôi xin công khai sám hối xin lỗi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn và trả công cho Đức cha. Tôi xin công khai sám hối xin lỗi tất cả và tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý, làm mất lòng. Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong Mục vụ. Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội Thánh và Chúa tha tội cho tôi”. Ngày 28-11-1988, Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lãng”. (DCVOnline.net) (Trích trong sách Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ sẽ phát hành cuối năm 2017. Chủ biên: Đức Ông Phanxicô Phạm Văn Phương. Biên tập: Trần Vinh)

MỘT TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUAN TRỌNG (1951) – Của Vẹm cộng!

MỘT TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUAN TRỌNG
*
Tờ nhật báo Tiếng Dội số 462 *, năm thứ 3, đề ngày Thứ Sáu 24 Aout 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy (Thiếu) năm Tân Mão, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn, Quản lý 216 đ. Gia Long Saigon, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu TrungQuốc”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như sau:
*
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII
TỔNG THƯ KÝ ÐẢNG LAO ÐỘNG VN
SỐ: 284/ LÐ ÐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
 
Hỡi đồng bào thân mến!
 
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!
 
Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?
 
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.
 
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
 
Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta!
 
Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.
 
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v. …
 
Ta hãy quét sạch lủ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!
 
Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
 
Trường Chinh
Tổng thư ký đảng Lao Ðộng
 
* Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).http://quanviahe.multi ply.com/journal/item/1375

Prev: “khép kín Cách mạng mùa thu sau ngày 2-9-1945.” 

//
Trường Chinh, tức Đặng Xuân Khu