HOẠ SĨ PHÁP ĐÃ VẼ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

10 mins · 

  • Nhìn tranh họa các thiếu nữ VN với áo dài, lại nghĩ đến nhà thiết kế thời trang Lemur Cát Tường, nổi tiếng cùng thời!
    💐

+21
Pham XenFollow
May 23, 2017 at 7:09am

HOẠ SĨ PHÁP ĐÃ VẼ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

Hình ảnh con người, đất nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 đã được khắc họa như thế nào trên tranh của các họa sĩ Pháp?
Ở thời điểm này, nhiều bức tranh ấn tượng ghi lại vẻ đẹp đất nước – con người – văn hóa Việt Nam đã được các họa sĩ Pháp thực hiện:

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.
Joseph Inguimberty là một họa sĩ Pháp. Trong trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông vốn được học trò yêu mến bởi là người có phương pháp giảng dạy thực tế, ít tính hàn lâm, kinh viện.

Joseph Inguimberty rất hứng thú với văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ sinh sống tại đây, ông đã thực hiện nhiều tranh về đất nước – con người Việt Nam.

Joseph Inguimberty luôn khuyến khích các học trò của mình hãy thực hiện những bức tranh thể hiện đậm đặc màu sắc văn hóa quê hương, cùng với đó, ông đề cao cách thể hiện màu sắc và ánh sáng. Trong tranh của Inguimberty, người ta có thể cảm nhận thấy rõ đường đi của ánh sáng, đặc biệt, tranh ông sử dụng những gam màu dịu dàng, lãng mạn.

Joseph Inguimberty còn rất hứng thú với chất liệu sơn mài và đã khuyến khích học trò của mình thử nghiệm với tranh sơn mài để nâng tầm sơn ta, từ những món đồ mỹ nghệ thủ công, lên thành một thể loại tranh nghệ thuật.

Tại Pháp, Joseph Inguimberty đã từng theo học mỹ thuật và kiến trúc tại trường Nghệ thuật – Thiết kế Quốc gia Pháp (Paris). Inguimberty đã từng giành được một số giải thưởng hội họa ở Pháp trước khi tới Việt Nam hồi năm 1925 và được mời làm trưởng khoa Hội họa ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Có lẽ đóng góp lớn nhất của Inguimberty đối với mỹ thuật Việt Nam chính là việc ông đã cùng với các học trò của mình thử nghiệm ở dòng tranh sơn mài – dòng tranh đã trở thành điểm nhấn đặc biệt của hội họa Việt Nam đối với hội họa thế giới.

Trên đây là một bức tranh sơn mài hai mặt được tạo thành từ 6 tấm gỗ ghép, một mặt khắc họa đoàn rước trong cung đình Huế và một mặt khắc họa cảnh quan mùa xuân. Tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức tranh đã từng được đem bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức giá 1.100.000 đô la Hồng Kông (3 tỉ đồng). Bức tranh chỉ đề là tác phẩm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vì vậy, có thể hiểu đây là một tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện. Kích thước của tác phẩm này là 180x300cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938-1940.

Ngay khi đặt chân đến Việt Nam năm 1925, Inguimberty đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và chất lượng của những món đồ mỹ nghệ sơn mài của Việt Nam, trong 20 năm giảng dạy ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Inguimberty đã cùng đồng hành với nhiều thế hệ học trò để sáng tạo và phát triển một trường phái tranh sơn mài của Việt Nam.

Những họa sĩ nổi tiếng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam như Tô Ngọc Vân, Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân đều đã từng học về nghệ thuật vẽ tranh sơn mài trong ngôi trường này. Tác phẩm trên đây là một ví dụ độc đáo về những kỹ thuật cao tay, điêu luyện mà thầy trò nhà trường đã đạt tới.

//

Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: one or more people, people standing, hat and outdoor
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: one or more people and outdoor
 //

Nỗi Nhớ Theo Đời_ Nhạc Nguyễn Tâm Hàn

  Nguyễn Tâm Hàn

Xuất bản 21 thg 5, 2018

Nỗi Nhớ Theo Đời

* Nguyễn Tâm Hàn * QuỳnhLan
***

Tôi viết bài ca này cho … tôi
nhưng nếu bạn muốn nghe … mời tự nhiên vì … biết đâu mình cùng tâm trạng …
*
Giữa màn đêm đen … Hình ảnh một đứa trẻ khoảng 6 tuổi trong cái quần đùi mong manh giữa một mùa Đông xa xôi lắm đứng trên con ngõ dẫn ra đường cái trong làng mắt nhìn xa xăm tự hỏi “không biết bây giờ Mẹ ở đâu”.
Thằng nhỏ đã nghe người ta nói đến chữ “chết” nhưng đầu óc nó thật chưa thể hiểu cái chữ nghiệt ngã đó mang ý nghĩa của sự ra đi không bao giờ trở lại. Nó cứ đứng như vậy chờ đợi … thân hình run lẩy bẩy vì thấm cái lạnh mùa Đông miền Bắc khi mặt trời đã lẩn trốn sau bờ đê xa xa. Nước mắt lăn dài trên má, miệng nó mếu máo hai chữ “Mẹ ơi” …
*
Nỗi Nhớ Theo Đời
*
Người đứng giữa đêm tối trời
Giữa đêm tối trời nhìn màn trời đen mênh mông … mênh mông
Chợt thấy thằng bé đứng trên lối mòn nhìn từng người đi quang gánh trên đường trở về từ ruộng đồng
Run … trong làn heo may
Mặt cúi lén lén nhìn theo những lớp người đã qua rồi, tìm bóng hình quen, tủi thân … gò má lệ lăn
Đêm tối dần buông vẫn trông tìm Mẹ
*
Đồng vắng đã không bóng người
Nhá nhem tối rồi, mặt trời chìm sau chân mây xa xôi
Còn đấy thằng bé mắt nơi cuối trời nhìn đàn quạ đang vươn cánh theo đàn … tủi lòng tìm vào mình
Mơ … theo đàn chim bay
Về tới quá khứ được ôm cánh áo còn khét Mẹ mặc mùi quen mồi hôi thân yêu , bàn tay Mẹ xoa ăm ắp niềm thương ấm hơi tình Mẹ …
*
Cay … cay … trong rèm mi cay … ư ừ ư ư …
Lệ ướt trên ngõ đường quê … ướt theo dòng đời
Cay … cay … trong rèm mi cay … rèm mi cay …. mi …. cay

NguyễnTâmHàn May-2018

//

Bô-Lê-Gô và vụ án hy hữu nhất lịch sử nhân loại. _ Hát nhạc lĩnh án 25 năm tù.!

Diệu Lê shared a post.

26 mins · 

Bô-Lê-Gô và vụ án hy hữu nhất lịch sử nhân loại._ Hát nhạc lĩnh án 25 năm tù.!

1A-DTQ

Dung Tran

CHAT VỚI …KHÔNG PHẢI MOZART 

Đỗ Trung Quân

Mấy năm trước, một nhóm nhạc sĩ Hà Nội dự định làm một cuộc cách mệnh lật đổ một thể loại âm nhạc đại chúng của Sài Gòn: bolero. Khởi đầu bằng những phát biểu có tính mỉa mai và không xem đó là âm nhạc, hầu hết những nhạc sĩ ấy đều là người tôi có quen biết, từng cụng ly uống rượu và thậm chí tôi từng tham gia xuyên việt với tư cách Mc. Tôi biết rõ “đại ca lãnh đạo“ là ai. Thế nên, trong bài viết này sẽ trên tinh thần đối thoại thẳng thắn nhưng không khiêu kích, bôi bác cá nhân ai, nó sẽ hiếu hòa nhưng không nhượng bộ điều gì không thể nhượng bộ.

Chôn không chết

Sau 1975 ,toàn bộ nền âm nhạc miền nam nói chung Sài Gòn nói riêng được liệt kê vào loại phản động cấm phổ biến, trong đó bolero cách gọi chung một thể loại nhạc đại chúng uỷ mị không có giá trị, nấm mồ được đào và bolero cũng được chôn xuống chờ xanh cỏ…
Nhưng người miền nam trong thời chiến, trước 1975 không có thông tin để biết rằng tại Hà Nội miền bắc thập niên 1970 có một vụ án bi thương: vụ án “Toán xồm – Lộc vàng“ (xin tra google), hai chàng trai trẻ tuổi mê nhạc tiền chiến, nước ngoài, ”nhạc vàng“ của Sài Gòn dù đi hát chui cũng bị dong ra vành móng ngựa tội tuyên truyền phổ biến nhạc đồi truỵ – phản động. Toán xồm 15 năm tù. Lộc vàng 10 năm tù. Nhờ án tù cao nên hai người tù không phải đi lính, bộ đội, không phải đi qua chiến tranh. Năm 1982, mãn án tù trở về khi tới ga Hàng Cỏ, từ những chiếc cassette chiến lợi phẩm mang từ miền nam về ầm ĩ toàn những thứ “nhạc vàng uỷ mị“ thứ âm nhạc lấy đi mỗi người trên dưới 10 năm trong lao tù. Toán xồm vài năm sau đó chết trước cửa ngôi nhà cũ bị chiếm dụng của mình đúng ngày 30 tháng tư, Lộc vàng còn sống đến hôm nay, mở một quán cà phê ven Hồ Tây đêm đêm vẫn hát…nhạc vàng.

Thứ âm nhạc đã bị chôn mà không chết, mãi mồ không xanh cỏ.

Thêm 40 năm nữa , một ngày kia bỗng thấy trên truyền hình quốc gia VTV tràn ngập loại âm nhạc “uỷ mị bolero“.những cuộc thi đủ màu sắc tưng bừng diễn ra.những gương mặt ca sĩ trước đây chỉ thấy ở những chương trình hải ngoại nay nghiễm nhiên xuất hiện trên hàng ghế quyền lực lệch trời với thí sinh: ban giám khảo! Thứ âm nhạc “uỷ mị – bình dân –sến súa !“ ấy chiếm lĩnh sóng truyền hình hơn mọi game chơi nào khác.
Một cách tự nhiên cuộc “phục thù ngọt ngào“ không đổ máu, không có tiếng súng đạn – chỉ thí sinh – ban giám khảo và bolero: sứ mệnh hoàn tất.

những ca khúc đỏ một thời bỗng lui vào viện bảo tàng, chỉ đưa ra trong vài ngày “ giỗ chạp“.
Đấy! chết mà chưa chôn, chưa kể âm nhạc “ hường hường “ của các anh.

Trịnh Công Sơn
Hôm nay, dù yêu hay ghét Trịnh thì một sự thật không thể phủ nhận đây là nhạc sĩ có khối lượng người hâm mộ trong và ngoài nước khổng lồ. Người được công chúng quan tâm hàng đầu trong nền âm nhạc đương đại việt nam.
Con người có vẻ ngoài gầy gò , gương mặt phảng phất vẻ trầm mặc của một “thiền sư“, có một cuộc đời tưởng như êm ả với quá nhiều thành công lại không phải vậy, trong niềm tin ngây thơ của một người thiên tả ông phạm một vết hằn khó phai trong lời kêu gọi trên đài phát thanh trưa ngày 30 tháng 4 – 1975. Nhưng buồn thay cũng chính ông sau đó chịu nhiều đối xử, phân biệt hệt như những văn nghệ sĩ khác của Sài Gòn thời đó cho đến khi được một “nhà bảo trợ lớn“ Võ Văn Kiệt đỡ đầu. Trịnh Công Sơn qua một trang sử khác bắt đầu dễ thở hơn dù nhiều ca khúc danh tiếng của ông trước 1975 vẫn bị cấm phổ biết. Loạt “ ca khúc da vàng” là một ví dụ, thập niên 80 – 90 mỗi khi viết một ca khúc mới Trịnh Công Sơn vẫn phải đến hát trước cho một vài anh chị em báo Tuổi Trẻ nghe, trong ấy có tôi để tìm sự khen ngợi, ủng hộ cho ca khúc mới của mình. Báo Tuổi Trẻ luôn đăng những ca khúc ấy của ông “Chiều trên quê hương tôi – Bốn mùa thay lá …” trừ “Em còn nhớ hay em đã quên“ vẫn bị kiểm duyệt buộc gỡ xuống trong đêm chuẩn bị in báo từ một nhận định kiểu tuyên giáo “em ra đi nơi này phải đổi mới, phải khác chớ sao vẫn thế? cách mạng đã về rồi Sài Gòn phải khác…”
Cuối đời, khi mọi khó khăn đã qua, nhìn lại mình trong nỗi cô đơn Trịnh Công Sơn viết ca khúc u uẩn như dành riêng cho mình “ Tiến thoái lưỡng nan – tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận…ngày xưa lận đận không biết về đâu…về đâu cuối phố về đâu góc trời…xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi …”
Trịnh Công Sơn mất, một đám tang vô tiền khoáng hậu số lượng người Sài Gòn đưa tiễn, hơn 10 năm sau, ông được đặt tên đường.
Trịnh Công Sơn, kẻ bị nghi kỵ, phân biệt đối xử bỗng một hôm có không chỉ một mà đến hai con đường mang tên mình.một ở Hà Nội, một ở Huế. Cái mà bao nhiêu nhạc sĩ cách mạng cả đời thèm muốn, đến chết vẫn thèm thì Trịnh thong dong từ cõi vĩnh hằng hoàn tất cuộc “phục thù ngọt ngào“: Trịnh Công Sơn có tên đường như Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…

Cũng thập niên 90, một nhạc sĩ xuất thân phong trào sinh viên đô thị kênh kiệu tuyên bố “Nhóm những người bạn [Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Thanh Tùng , Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Hoàng, Nguyễn Văn Hiên, Từ Huy] đã đẩy lùi “âm nhạc hải ngoại“.
Tuyên giáo nghe sướng nhưng người nghe nhạc thì cười mỉm . “ thật không? “
….

Khoảng sân nhỏ nhà tôi một buổi tối cúp điện những năm ấy, điện cúp một tuần 2 ngày 3 đêm. Tôi tiếp anh trong khoảng sân nửa sáng nửa tối của ngọn đèn dầu hắt ra, anh đến chào tạm biệt về lại Bắc Ninh. Giọng anh buồn rầu “tôi phải về chốn cũ thôi, ở đây họ không chấp nhận nhạc của tôi …” tôi nói “anh cứ về đi tôi tin rằng chỉ 5 năm sau khi anh quay lại Sài Gòn, sẽ là câu chuyện khác, họ sẽ phải nghe ca khúc của anh …”
Anh là người có kiến thức rộng nhiều lãnh vực, có tài năng tôi tin như thế.
Tôi không rõ khi anh quay lại Sài Gòn có đúng 5 năm không, nhưng ca khúc của anh đang rất nổi tiếng “ cho em một ngày , hoạ mi hót trong mưa , nghe mưa..vv ” tên anh đã được nhắc tới.
…Giờ thì anh đã có tên tuổi dù âm nhạc của anh ít dần trong công chúng. Anh bắt đầu có những nhận định khác. Khi anh và nhóm của mình coi thường một thể loại âm nhạc được các anh xem là “sến “ của công chúng Sài Gòn nghĩa là cùng lúc các anh giới thiệu một lỗ hổng lớn, một cái nhìn cục bộ hẹp hòi mà âm nhạc, nghệ thuật không nên có. Các anh có người sang tận Hoa Kỳ học hành trở về với nhiều tự hào vẫn quên một điều căn bản, nền giáo dục nghệ thuật nước Mỹ cho mọi người ngay từ lớp học phổ thông hiểu biết về mọi thể loại, hình thái âm nhạc : rock , funk , jazz, country vv… và ai chọn lựa hình thái âm nhạc nhạc nào là quyền yêu thích riêng của họ, không có chuyện Mozart , Beethoven …sang hơn anh mù Ray Charles hay John Denver của country music là sến.
Các anh phạm vào điều cao ngạo, trịch thượng trong nghệ thuật .

Những cuộc “phục thù ngọt ngào“ đang và đã diễn ra. Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết.
Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó …
Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa ! Nó càng bất tử !
Chỉ vậy thôi ! 
Đ.T.Q.

Bác Hồ Công Tội Nghìn Năm – Lão Móc

  • Nguồn trích đăng: Trang nhà Tin Paris

BÁC HỒ CÔNG TỘI NGHÌN NĂM!

LÃO MÓC –    

*  *  *

Thành ngữ Việt Nam có câu: “Nghĩa tử là nghĩa tận”, tức “chết là chết chuyện!”. Tuy nhiên trong thực tế chết chưa hẳn là hết chuyện, nhất là những người chết lại liên quan đến chính trị, đến lịch sử.

Cố Thiếu Tướng QLVNCH, cố Phó Tống Thống VNCH là ông Nguyễn Cao Kỳ “đang sống chuyển sang từ trần” trong khi đang chữa bệnh tại Mã Lai thì lập tức báo giấy, báo mạng, đài phát thanh, phát hình “dậy sóc Băm Bo”. Kẻ “khen” thì ít; người “chê” thì nhiều! Thậm chí có thằng ký giả Mã Lai nó còn xấc láo viết về ông NCK như sau: “Nguyễn Cao Kỳ, the flamboyant former air force general”.

Có anh “dân chủ cỏ” ở trong nước “tạo vẻ huyền bí” về cái chết của ông Kỳ như sau:

“Việc ông Kỳ qua đời tại Malaysia sẽ là một dấu hiệu có phải ông ta chết thật hay không? Nếu không phải là sự thật thì ông ta sẽ dưởng già ở đâu? Cơ quan tình báo nào đã sắp đặt việc này? Người ta có quyền nghi ngờ ông Kỳ từ những hành động cũng rất… kỳ của ông”.

Trong khi đó thì chính con gái của ông Kỳ là bà Nguyễn Cao Kỳ Duyên đã loan tin là sang Kuala Lumpur để đưa thì hài của cha mình về nước an táng. Đầu óc hoang tưởng như “nhà dân chủ cỏ” này thì không biết tranh đấu cái nỗi gì?

Một anh “tà lọt có lai-sân” của ông Kỳ thì lại “ca tụng” cái chết của “boss của mình” là do TC bỏ thuốc độc sát hại vì ông Kỳ “cố vấn” cho “13 con ma” và “1 con quỷ” của Đảng và Nhà Nước ta “theo Mỹ, bỏ Tàu” nên bọn Tàu phù nó giết để dằn mặt! [sic!]

Bài viết này mục đích là trình bày về chuyện “chết vẫn chưa hết chuyện” của nhiều nhân vật lịch sử, chứ không có ý đề cập đến cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Do đó, xin mượn một bài thơ của nick Minh Đức trên một diễn đàn điện tử gửi đến hương hồn ông Nguyễn Cao Kỳ như sau:

 “Nghe tin ông chết thật rồi
Thôi thì…
Thôi…
Cũng xong đời nhà ông.
Một đời có có
Không không.
Một đời thất chí
Ngông ngông cuồng cuồng.
Giờ thì… chết
Cũng tha hương
Giày binh, áo trận
Có vương vấn hồn?
Viếng ông,
Chia một nỗi buồn
Kể chi… chớp bể… mưa nguồn
Người ơi!”

*

Nếu muốn nói tới một người mà sau khi chết chuyện vẫn cứ xảy ra dài dài là phải nói tới ông Hồ Chí Minh, người đã đem cái chủ nghĩa cộng sản ngoại lai áp đặt cho đất nước VN trong hơn 80 năm qua.

Sách báo ngoại quốc, ngay cả người Việt ở hải ngoại đã liên tục, liên tiếp viết báo, viết sách, làm phim về “Bác” Hồ. Dĩ nhiên toàn là những việc làm xấu xa, đê tiện, khốn nạn của “Bác” như là ăn cắp thơ của bạn tù, thuỗng tiểu luận “Bản án thực dân Pháp” của người khác. Nào là ăn quỵt, chơi lường từ Âu sang Á, từ Pháp tới Nga, tới Tàu về tuốt tới hang Pắc Pó. Việt Nam.

Trong khi đó thì trong nước đã có hàng ngàn quyển sách ca tụng về công đức “Bác” Hồ. Khắp nơi treo nhan nhản những khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Sống, học tập, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại” v.v… Thậm chí, ngay trong chùa còn treo ảnh “Bác” cùng ảnh của Đức Phật.

Chắc tại vì thấy Đảng và Nhà Nước ta “ca tụng” “Bác” Hồ quá sức nên có thằng súc sinh tên Hà Dương Dực chắc là “để cân bằng hai phía” nó viết bài “mắng chửi” cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là bán nước, “Bác” Hồ của nó là có công thống nhất đất nước!

Thằng khốn nạn Hà Dương Dực này nó bắt chước “Bác” Hồ khốn nạn của nó “Bác Bác, tôi tôi” với Đức Trần Hưng Đạo, nó lôi cả anh hùng lịch sử Nguyễn Trải ra mà mạt sát:

“Nguyễn Trải mới có qua 10 năm kháng chiến mà khi thắng trận còn kiêu hãnh, sinh chứng, chọc ghẹo con gái bên hồ Trúc Bạch rồi lấy làm nàng hầu”.

Chưa hết, thằng khốn nạn còn bốc phét:

“Nói về chính nghĩa của cuộc chiến thống nhất, chúng ta có thể nói miền Nam thua ngay từ khi Ngô Đình Diệm làm mất chính nghĩa Dân Tộc, Tự do”.

Và bài viết của thằng mất dạy Hà Dương Dực bèn được đảng Việt Tân là đảng được VC “xưng tụng” là “đảng phái khủng bố kiêm phản động” đem lên đài phát thanh Chân Trời Mới đọc ra rả trong 5 ngày trời. Những người chống Cộng ở hải ngoại lên  tiếng phản đối thì Tổng bí thư Lý Thái Hùng của đảng này “xin lỗi là vì phát nhầm một chương trình phát thanh về lịch sử chưa hiệu đính trên đài Chân Trời Mới ”. Nhưng sau đó, lại cho phát lại trên đài Tiếng Nước Tôi cũng của đảng này.

*

Như đã viết ở những bài viết trước, không biết mồ mả tổ tiên của “Bác” Hồ “phát” tới thế nào mà suốt bao nhiêu năm qua người dân VN từ đảng viên  cộng sản đến dân đen, từ trí thức tới dân ngu khu đen cứ lôi “Bác” ra mà ca tụng lên tới tận mây xanh, mà chửi bới xuống tới chín tầng điạ ngục!

Trong những cuộc biểu tình chống TC chiếm đất, lấn biển, Đảng và Nhà Nước ta càng ngày càng gia tăng cường độ đàn áp.

Bức ảnh bốn anh “công an nhân dân” khiêng một người biểu tình biểu lộ lòng yêu nước như khiêng một con heo, “các cán bộ của dân” chắc nghĩ là chưa đủ để lập công dâng Tàu cộng; nên một anh đại úy công an tên Minh đã chơi ngay mấy đạp lên tiếp vào mặt, vào mũi nạn nhân Nguyễn Chí Đức – cứ giống như là những cảnh bọn mafia trừng trị nạn nhân của chúng trong phim “Bố Già” của nhà văn Mario Puzo.

Thấy ông trí thức Nguyễn Quang A có viết đơn khiếu nại với ông Giám đốc Công an Nguyễn Đức Nhanh, không biết là ông này sẽ giải quyết như thế nào hay là sẽ hát bài “tình vờ” như Đảng và Nhà Nước ta đã đối xứ với cái gọi là Bản Kiến Nghị của mấy chục ông trí thức Bắc Hà?

*

Sở dĩ nói là “chết vẫn chưa hết chuyện” là vì “Bác” Hồ “đang sống chuyển sang từ trần” đã 42 năm, mà hễ có chuyện gì thì dân chúng VN già trẻ bé lớn nó cũng lại lôi “Bác” ra đòi… giải quyết. Đi ỉa, đi đái bọn nó cũng bảo đi thăm… lăng “Bác”.

Đảng và Nhà Nước cấp phát vải không đủ may mặc thì nó cũng la làng:

 “Một năm 2 thước vải thô
Làm sao che kín “Cụ Hồ, “Bác” ơi!”

Mấy ông “phản đảng có lai sân” như Hoàng Minh Chính (đã quá vãng), Bùi Tín thì cũng phải “cầu viện” hương linh của “Bác” khi “bọn xấu” nó công kích Đảng và Nhà Nước ta. Theo hai ông này thì “Nếu Bác Hồ mà còn sống thì đâu có xảy ra ba cái chuyện bỉ ổi, khốn nạn mà bọn thừa kế sự nghiệp của “Bác” nó đã gây ra cho 90 triệu người dân Việt Nam!”

Cách đây 6 năm, thấy trong lời kêu gọi xuống đường ngày Chủ Nhật 24-7 năm 2011, mấy  ông trí thức Bắc Hà cũng đưa “Bác” Hồ, những lời dạy của “Bác” Hồ ra làm mộc, làm khiên để mà che chắn.

Không biết những người thừa kế sự nghiệp “buôn dân, bán nước” của “Bác” sẽ giải quyết như thế nào? Hay là dân đen đi biểu tình để biểu lộ lòng yêu nước lại sẽ phải la làng như trong mấy lần biểu tình trước?

 “Bác Hồ sống lại mà coi
Công an nó đạp, nó thoi dân mình!
Bác Hồ sống lại mà nhìn
Công an đánh đập dân mình thảm thương!

Do đó, nhà thơ Tú Nạc đã ca tụng “Bác” Hồ như sau:

 “Bác” Hồ công, tội nghìn năm
“Bác” đem nước Việt mà dâng cho Tàu!

LÃO MÓC
http://nguyenthieunhan.wordpress.com

 

Khuất Đẩu _ Tiếng cười đoàn viên!

—– Forwarded Message —–
From: Que Tho Tran Fwd, chuyển tiếp: Cám ơn -tunhan-
Sent: Tuesday, May 15, 2018, 8:13:47 AM PDT
Subject: Tiếng cười đoàn viên
*

Tiếng cười đoàn viên (*)

Khuất Đẩu

alt

Khi tôi vừa ăn xong mấy củ khoai thay cho bữa cơm chiều, thì một người cán bộ đi vào. Như những người miền Bắc tôi thường gặp, sau chiến tranh tràn ngập cả miền Nam, dù không là bộ đội vẫn thường mặc một bộ đồ màu cứt ngựa bạc phếch, nhàu nhò và đội một cái nón cối do Trung Quốc viện trợ. Bộ đồ ông mặc hãy còn mới nhưng vẫn không che giấu được vẻ buồn bã nhàm chán của một thứ quân phục được sản xuất hàng loạt. Ông cũng có một chiếc bị lủng nhủng những túi những dây gọi là ba lô con cóc (vì đeo lên nó giống như một con cóc khổng lồ). Ông mang một đôi săng đan bằng nhựa màu nâu nhạt, loại dép mới cũng do – ông Trung Quốc chi viện thay cho dép cao su.
Ông bước vào sân giữa lúc trời đang còn chút nắng nên mặt ông sáng lên với những giọt mồ hôi lấm tấm, nhưng hai nếp nhăn từ cánh mũi vòng qua cái miệng không râu lại sẫm đen giống như hai đường cày. Một cái bớt trên má trái giống như một giọt mực xạ bị bôi lem. Mái tóc cắt sát hai bên thái dương chỉ chừa một mảng trước trán như một cái lưỡi rìu. Cái mái tóc sắc nhọn giống nhau cả triệu người như một ấy, đã từng xuất hiện trong tết Mậu Thân trên các xác Việt cộng được kéo bỏ ngoài công viên thành phố. Tôi đã nhiều lần hoang mang tự hỏi không biết có ai trong số họ là cha tôi.
Ông đi qua sân không một chút ngập ngừng, rồi ông bước lên thềm quay mặt nhìn ra ngõ, hơi bất ngờ khi thấy mấy con “trâu máy” của hợp tác xã trên đường trở về đang kêu phành phạch thay cho tiếng nghé ngọ. Ông đặt ba lô xuống thềm, lọ mọ lấy điếu cày, xe thuốc nhét vào nõ rồi rít một hơi dài kêu roọc roọc. Ông tựa lưng vào cột, lim dim mắt, thở ra một hơi khói đậm và gắt. Cái vẻ tự tin yên bình, cái vẻ không xa lạ với cửa nhà vườn ruộng, cái vẻ của một người đi xa về lại nhà mình khiến cho tôi trả lời đúng chóc khi nghe ông hỏi:
  • Có biết ta là ai không?
  • Là cha, tôi nói.
  • Giỏi đó, con còn nhìn ra cha là nhà có phước.
Đó, cái buổi trùng phùng của hai khúc ruột lìa xa nhau hơn hai mươi năm chỉ có vậy. Không có chuyện mừng mừng tủi tủi. Không có một giọt nước mắt nào run rẩy nhỏ xuống. Cũng không oái ăm như tôi đã từng tưởng tượng mỗi khi nghĩ đến người cha chưa từng thấy mặt. Có phải vì chúng tôi là hai người đàn ông hay vì chúng tôi đã từng ở hai bờ chiến tuyến?
Tôi đã từng vẽ ra những cảnh cha con gặp nhau rất éo le, oan trái. Như lúc ông bị thương sắp chết sau khi nhận loạt đạn của chính tôi, hay lóp ngóp chui lên từ căn hầm bí mật dưới những họng súng sẵn sàng nhả đạn, trong đó có họng súng của tôi.
Hồi đó, tôi thường tự hỏi, trên cái dải đất mỏng manh hình chữ S này có bao nhiêu người cha và người con, người anh và người em, những người ruột rà máu mủ lại phải bắn giết nhau. Cả trăm, cả ngàn hay đến cả chục ngàn? Và vì sao bọn họ phải trở thành kẻ thù của nhau? Có phải vì chiến tranh quá dài và những kẻ cầm đầu hai bên quá hèn nhát hay quá thủ đoạn, hích vào đầu chúng tôi như bọn trẻ chăn trâu thúc sau đít để trâu bò húc nhau.
Lô lô ầm
Lô lô ạt
Thịt nạc dao phay
Con nào hay để lại cày
Con nào dở dao phay nước mắm…
Bộ máy tuyên truyền của hai bên cũng y chang như vậy đó, chỉ khác là được khuếch đại to hơn và bền bỉ sâu hiểm hơn mà thôi.
Giờ đây, tôi lại tưởng tượng khác. Nhiều người cha xấu hổ đã không muốn nhìn mặt con khi biết chúng đã từng “theo giặc cầm súng bắn vào nhân dân”. Biết con đang “học tập” họ chẳng những đã không ái ngại xót xa, còn bảo không bị giết đã là nhân đạo lắm rồi, hãy để nó học càng lâu càng tốt. Vì vậy, tôi chẳng mong gì được gặp ông một cách đề huề cảm động. Tôi chờ đợi những câu mắng chửi y như bọn họ, những người chiến thắng rồi mà vẫn chưa hết căm thù những kẻ thua trận là chính con cái anh em mình. Nhiều lúc tôi vẽ ra cảnh ông rút súng chĩa vào ngực tôi gào lên, mày là thằng bán nước và tôi nhắm mắt để cho ông bóp cò.
Nhưng bây giờ, “con còn nhìn cha là nhà có phước”, ông nói vậy là sao? Phải chăng ông cũng đang vẽ ra những cảnh trái ngang: con không thèm nhìn cha, hay lớn tiếng kết tội bỏ cả vợ con để đi theo Liên Xô và Tàu Cộng? Và như thế cả hai cha con chúng tôi đều vừa mong mà cũng vừa sợ cái ngày sẽ gặp lại.
Tôi mở cửa mời ông vào nhà, nhưng ông bảo ta muốn đi dạo một chút. Rồi ông đi quanh vườn. Vườn rộng, trồng rất nhiều cây ăn trái, nhưng đã già cỗi. Những mít, những xoài ngày nào giờ đã thành cổ thụ. Dừng lại bên cạnh một cây xoài ngã rạp chắn lối trước mặt, ông nói đây là cây xoài quỳ và quay lại hỏi tôi:
– Lúc nhỏ con cũng thường leo lên đây?
– Dạ.
– Con có bị bà bắt phạt quỳ không?
– Dạ có.
– Bà cấm leo trèo vì sợ té gãy chân.
– Dạ.
– Ta nhớ cái vườn này lắm. Ngoài đó làm gì có được cái vườn như nhà mình.
À ra vậy, tôi nghĩ, lúc nhỏ ông vẫn thường nghịch ngợm leo trèo và ông vẫn nhớ đến khu vườn xưa, ngôi nhà cũ chứ không phải chỉ nghĩ đến đảng không thôi.
– Ta cứ tưởng bị đốt phá hết rồi.
– Thế nhà ngoài đó của cha cũng có vườn chứ?
– Làm gì có nhà, chỉ có bốn thước vuông thôi. Chỉ rộng hơn cái áo quan một chút.
Cái giọng điệu chua chát từ miệng một người miền Bắc lần đầu tiên tôi mới được nghe, thật khác xa với giọng điệu huênh hoang tự hào của những “ông”, những “bà” cán bộ trong trại cải tạo hay những người miền Nam mới theo cách mạng.
Sau đó ông vòng ra giếng, cúi nhìn xuống sâu một lúc như tìm lại hình bóng mình rồi thả gàu múc nước. Ông xối nước rửa mặt, ngửa cổ uống một hơi, khà một tiếng: Nước giếng nhà mình ngon thiệt! Cái cách ông uống và khen cứ như vừa làm một cốc bia mát lạnh, khiến tôi rất xúc động.
Vườn nhà mình! Nước giếng nhà mình! Những tiếng ấy dường như được ông nhốt kín trong lồng ngực suốt hơn hai mươi năm, giờ bỗng vọt ra như những cánh chim đang bay vút trên bầu trời quê hương. Tôi có cảm giác sẽ còn được nghe tiếng “mình” thêm nhiều lần nữa. Nhà của mình, ruộng của mình, vợ con của mình… Những thứ “của mình” đó làm nên một đời người, vì sao ông lại bỏ tất cả để đi tìm những thứ rất chi xa lạ không phải của mình?
Lúc vào nhà, tôi cẩn thận đi trước, dặn ông coi chừng vấp phải ngạch cửa cao ngang đầu gối, nhưng ông bảo vấp làm sao được, ta thuộc cái nhà này như biết rõ trong lòng bàn tay.
Đèn được thắp lên, căn nhà đã một trăm tuổi hơn mở con mắt ngái ngủ của mình ra nhìn ông. Không biết nó nghĩ gì nhưng ông chủ của nó thì bồi hồi đứng nhìn trong yên lặng. Nào cột nào kèo, nào trính nào xiên, cái bàn thờ lạnh lẽo với những bức hình trùm khăn nhiễu đỏ, những tủ giường xưa cũ, tất cả đã bị mối mọt và nhất là bàn tay của con người làm cho xệch xạc méo mó. Ngôi nhà đã hai lần bị “mượn”. Lần thứ nhất, chính quyền cũ “mượn” làm nhà tạm giam những người tình nghi Việt cộng. Lần thứ hai, cách mạng “mượn” làm trụ sở ủy ban. Cứ sau mỗi lần bị “mượn” là tiều tụy xơ xác. Giá như nó là một người vợ đẹp mà bị “mượn” đến những hai lần như thế thì không biết người chồng sẽ đau khổ đến mức nào.
Đến trước bàn thờ, ông có vẻ muốn lật những tấm khăn nhiễu ra để nhìn lại hình những người đã khuất, nhưng tần ngần một lúc, ông lại thôi. Ông ngồi xuống cái tràng kỷ mà một chân sau được thay bằng bốn cục gạch. Tự nhiên ông trở nên bé nhỏ mặc dù ngọn đèn làm cái bóng của ông nở to ra, bôi đen cả chỗ ông ngồi. Ông có vẻ giống như một đứa con có tội đang ngồi lặng nghe những lời rầy la của mẹ cha. Phải chăng ngôi nhà đã một thời uy nghi lộng lẫy giờ suy sụp thảm hại là do ông đã bỏ nó mà đi? Bởi vì có ông thì ngôi nhà này ai dám mượn đến những hai lần. Và vợ có chồng thì ai dám thập thò tán tỉnh. Nói vậy thôi chứ trong những ngày cách mạng mùa thu, cả kinh đô nhà Nguyễn nằm soi bóng bên bờ sông Hương còn bị Bảo Đại “bỏ của chạy lấy người” huống hồ là ông.
– Cha chắc chưa ăn gì, tôi nói, – để con kiếm cái gì làm bữa tối cho cha.
– Khỏi, ông nói, – ta ăn quà rồi. Kiếm cái gì nhâm nhi thì được. Ta có hai chai bia đây.
Thật là bất ngờ, thay vì sẽ phải ngồi nghe ông tra hỏi, nguyền rủa, lại được cùng ông ngồi uống la de. Tôi quá vui nhưng cũng rất lúng túng, vì mới đi cải tạo về chưa được một tuần, biết lấy gì để làm mồi nhậu đây. Tôi loay hoay mãi, sau cùng đành chạy ra quán nói thật với bà chủ cho mua chịu mấy cái trứng vịt. Tôi không đủ dầu để làm món trứng tráng chỉ còn mỗi cách là đem luộc.
Khi trứng chín đã được bóc vỏ trắng muốt, tôi lấy thêm một chút muối tiêu, trịnh trọng bày lên bàn để mời ông. Lúc đó đã thấy ông để sẵn hai chai bia La rue hiệu con cọp, giờ là của hiếm. Hai chai bia được cột chặt vào nhau trông rất lạ, đem từ miền Nam “Mỹ ngụy” ra miền Bắc chống Mỹ anh hùng, rồi lại lộn ngược vào Nam, cứ như hai số phận long đong đã được an bài.
– Cái này, ông nói, – ta được phân phối đã hai năm rồi, để dành mãi đến ngày hôm nay đấy.
– Quán hết đá, cha chờ chút để con lên chợ.
– Khỏi, uống không cũng được.
Đó là đại yến mừng ngày đoàn tụ mà nếu cả tộc họ nhà tôi kể từ ngày lập làng còn sống, nước mắt tủi hờn chắc cũng đựng đầy hai chai la de. Cha tôi là người mà chính tôi có bổn phận phải lùng diệt. Còn tôi là đứa con đi theo “giặc” đáng nguyền rủa của cha. Số phận nào lại đưa chúng tôi đối mặt nhau một cách nghiệt ngã như thế. Ai cũng bảo là do lịch sử, nhưng cái con mãng xà dài cả ngàn thước ấy, ai đã nhảy lên lưng khiến nó lồng lên suốt mấy chục năm? Ai đã khiến nó nuốt một lúc hàng chục tiểu đoàn ở cổ thành Quảng Trị? Ai khiến nó đuổi theo cả vạn người di tản từ Pleiku? Nếu lúc này cha tôi cầm con dao đang thái trứng kia đâm thẳng vào ngực tôi cũng là do con mãng xà ấy sao?
– Uống đi cha!
– Uống đi con!
Uống để mừng cha con mình đã thoát khỏi cái tội ác lớn nhất trong đạo làm người vì chiến tranh quá dài đủ để cho cha con giết nhau!
Đêm hôm đó hai cha con tỉnh như sáo không phải vì bia ít quá không đủ say mà vì chúng tôi bàng hoàng nhận ra dưới đám lá mục của lịch sử, giấu mặt bao nhiêu là sâu bọ rắn rít, chúng tôi vẫn là cha và là con. Ông nói gần như suốt đêm về cái dòng họ Trần “rân rác” (ý nói danh giá), về lúa chín tràn bờ, về bắp trổ đầy soi, về những ngày giỗ chạp heo gà ngả hết con này đến con khác, về những xe trâu chở lúa từ đồng lớn, đồng dài kẽo kẹt suốt cả tháng, về bằng thành chung của ông (cả huyện chỉ có hai người đậu), về những ngày đầu cách mạng bà nội đã đem cả rổ vàng ra cúng vào quỹ cứu quốc. Nhưng tuyệt nhiên ông không nói gì về những ngày ông đi tập kết. Cũng không hỏi tôi đi lính gì, gây bao nhiêu “nợ máu” và phải học tập bao nhiêu năm mới “sáng mắt sáng lòng”. Và, im như băng giá ở Nam cực, ông không hề mở miệng ra hỏi nói gì về mẹ tôi. Tàu Titanic có ngày còn được khai quật lên để cho mọi người thấy lại cái bi kịch hàng hải đau thương nhất thế kỷ, nhưng cái mối tình mà từ đó mới có tôi sinh ra, đụng phải tảng băng của lịch sử (lại lịch sử) bị gãy làm đôi thì ông nhất định chôn chặt dưới đáy đại dương của lòng mình.
Hai năm trước ngày ký kết hiệp định Geneve, tôi được sinh ra với một cái bớt đỏ trên môi. Bà nội nói, cha mày cũng có một cái bớt trên má, nhưng xấu hơn vì là bớt màu đen. Bà nói như thể biết trước cuộc chiến tranh sẽ còn kéo dài và cha con chúng tôi có thể phải đối mặt nhau ngoài mặt trận. Cha tôi phải nhớ là đừng bắn vào đứa có bớt đỏ trên môi, còn tôi thì đừng bắn vào người có bớt đen trên má. Hai cái bớt ấy đã được tổ tiên nhà họ Trần làm dấu để cha con nhận ra nhau.
Mẹ tôi lấy chồng khác khi tôi lên mười. Tôi ở lại với bà nội. Điều ấy chắc làm mẹ tôi đau lòng lắm. Bà ôm tôi khóc như mưa. Tôi không biết gì nhiều về bố dượng, chỉ biết ông ở trong quân đội và cấp bực sau cùng khi Sài Gòn thất thủ là trung tá.
Nếu trên đời này có những người đàn bà rất tần tảo, rất giỏi giang, nhưng cũng rất đau khổ chắc phải kể đến mẹ tôi. Sau 1975, chồng bị bắt đi cải tạo, nhà bị tịch thu, con cái bị đưa đi kinh tế mới… Bao nhiêu tiền của dành dụm bị mất sạch khi đổi tiền. Vậy mà vẫn phải mua đường sữa, mắm cá đi thăm nuôi, hết lặn lội ra tận Bắc để thăm chồng sau, lại lộn vào Nam thăm con chồng trước. Như lúc này đây, nghe đâu mẹ đang ở Bắc.
Những điều ấy tôi muốn tâm sự với cha nhưng ông đã coi như không có người đàn bà ấy trên đời, thì tôi cũng đành biết vậy mà thôi. Ông ăn ít, ngủ ít, không ra ủy ban thôn, không lên huyện, lại càng không vào tỉnh và chưa hề hỏi han hay gặp gỡ những người bạn chiến đấu cũ nay đã là đồng chí bí thư này, chủ tịch nọ.
Có một lần, tôi rụt rè hỏi, cha cũng có gia đình ngoài đó chứ, thì ông bảo, hỏi làm chi chuyện đó. Hãy lo cho con đi. Con phải kiếm một người đàn bà mới giữ được cái nhà này. Ta có còn gì nữa đâu. Cuộc đời ta như một con cá, khúc ngon nhất là khúc giữa thì bị mèo tha chó đớp. Chỉ còn lại cái đầu và khúc đuôi, giữ lại mà làm gì.
Giọng ông u uẩn quá, nghe rất thương. Cái khúc giữa đời ông phải chăng là hơn hai mươi năm ông đi tập kết. Và trong hai mươi năm đó, với cái lý lịch con địa chủ chắc là ông đã run sợ xiết bao.
Đến ngày thứ năm, mẹ tôi từ vùng đất đỏ Long Khánh ra thăm. Bà được tin tôi ra khỏi trại cải tạo ngay lúc bà đến thăm nuôi. Khi nghe mấy tiếng đã được tha, không kịp quay về nhà, bà liền đón xe đi suốt đêm để ra gặp con. Lúc bà kêu cửa thì trời chưa kịp sáng.
Không như lúc gặp cha, tôi khóc nức nở khi gặp mẹ. Bà cũng khóc, nhưng tỉnh táo hơn, hỏi: “Khổ lắm phải không con?” Tôi lắc đầu, chỉ tay vào trong nhà, nói nói thầm vào tai bà: “Cha con đang ngủ trong đó”.
Tự nhiên tôi cảm thấy như đầu và ngực bà lạnh ngắt. Bà rời tôi, ngồi sụp xuống đất, cả người bà rung lên. Tôi hiểu bà đang cố kìm giữ tiếng khóc. Giá như có thể được, chắc bà đã kêu thét lên rồi.
Tôi dìu bà lên thềm, mẹ và con cùng lặng im ngồi chờ sáng.
Bên trong có tiếng ho nhỏ, rồi có ánh đèn lọt qua khe cửa.
Cha tôi bước ra sân, ngửa mặt lên trời, làm một vài động tác cho đỡ mỏi. Ông định đi ra giếng nhưng khi thấy mẹ con tôi, ông chớp mắt mấy cái, nói như thể hai người chưa từng xa nhau:
– Kìa, sao hai mẹ con lại không vào trong nhà?
Mẹ tôi đứng lên, một tay nắm tay tôi, một tay quệt nước mắt nói:
– Ông mới về?
– Phải, mới về được mấy bữa.
– Ông vẫn khỏe?
– Ờ, vẫn khỏe. Bà thế nào? Đường xa chắc là mệt lắm. Này Tân, con đưa mẹ vào nhà nghỉ, ta ra vườn một lát.
Tôi chưa bao giờ nghĩ tới lúc cha và mẹ gặp nhau. Mọi sự đã trôi qua rất xa. Phải nói là thật xa, tận trong mịt mờ của quá khứ. Liệu cuộc trùng phùng không được báo trước này có làm cho họ vì thế mà bớt xa nhau chăng.
– Mẹ chỉ mang theo đồ khô, chẳng có gì mời cha con ăn sáng. Hay là để mẹ lên chợ kiếm thứ gì.
– Thôi mẹ, chắc cha không thích bày vẽ. Mẹ có mì gói không?
– Có đây, để mẹ đi nấu nước.
– Việc đó để con, có cái chõng của con, mẹ nằm tạm mà nghỉ.
Một lúc sau, cha tôi vào. Ba bát mì bốc khói được tôi mang lên.
– Mời cha, mời mẹ, tôi nói.
– Mời bà, cha tôi nói.
– Mời ông, mẹ tôi nói.
Những sợi mì ngập ngừng trôi qua miệng cha.
Tiếng húp nước rụt rè chảy qua miệng mẹ.
Tiếng nhóp nhép trong miệng tôi.
Bỗng mẹ tôi đặt bát xuống mâm, nhìn thẳng vào mặt cha hỏi:
– Ông thù tôi lắm phải không?
– Không.
– Ông nói dối.
– Để làm gì?   
– Tôi biết, ông hận tôi. Nhưng nếu như tôi đợi ông đến hơn hai mươi năm thì tôi được gì?
– Tôi có muốn bà đợi tôi đâu. Chẳng ai đợi ai. Thành thực mà nói, tôi rất có lỗi với con và bà.
Đột nhiên tôi vọt ra câu hỏi suốt bao nhiêu lâu cứ đè nặng trong lòng:
– Cha có biết là mình lầm đường không?   
Cha tôi hơi bối rối nhưng cũng nói:
– Vấn đề là đừng hỏi biết hay không biết. Một người đã rơi xuống đáy vực thì có gào lên cũng chẳng ai nghe.
Tôi nói lớn:
– Vậy thì rõ rồi.. Xin cha và mẹ hãy cùng con ăn hết bát mì. Dẫu sao cũng là một ngày vui.
Chiều hôm đó mẹ tôi xuôi Nam.
Sáng hôm sau cha tôi ra Bắc.
Tôi còn lại một mình.
Thôi hãy lấy vợ, sinh con.
*
16/9/2010
———————————————————–
*Tựa bài mượn trong lời nhạc của Phạm Đình Chương:
Ngày nao tan đao binh
Mẹ bồng con sơ sinh
Chiều đầu xóm xôn xao đón người trường chinh
Ngậm ngùi hân hoan tiếng cười đoàn viên
*

Khuát Đẩu

Nghe “DẠ KHÚC”, Nguyễn Đình Nghĩa tấu đàn T’rung

—– Forwarded Message —–
From: Que Tho Tran Fwd chuyển tiếp; Cám ơn -tunhan-
Sent: Friday, May 11, 2018,
Subject:  Nghe “DA KHUC”, Nguyen Dinh Nghia tau dan T’rung
*
1A_Đàn T'rung NĐ Nghĩa
Thật tuyệt vời!

Đây là bản “DẠ KHÚC” (Serenade của Schubert) qua tiếng đàn T’rung của cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (1940-2005).

Dạ khúc (Serenade) là một loại ca khúc để hát vào buổi tối,thường được nhiều nhạc sĩ Âu châu ưa chuộng, sáng tác… Nhưng có lẽ được biết đến và ưa chuộng nhiều nhất vẫn là bản Serenade của thiên tài người Áo Franz Schubert (1797-1828).
Tại miền Nam Việt Nam trước 1975, Nguyễn Đình Nghĩa từng nổi danh là ”Tiếng Sáo Thần” với biệt tài thổi sáo. 
Anh là bạn cùng thời với chúng tôi lúc lớn lên ở Đà Nẵng, cũng là chồng c ủa Trịnh thị Diệu Tân, bạn cùng lớp với chúng tôi ở trung học Phan Châu Trinh 54-60…Ngày nay nhiều người đã qua đời, một số còn lại ở VN, đa số phiêu bạt khắp nơi.
Khi miền Nam được miền Bắc “giải phóng” thì Nghĩa bị cấm trình diễn. Phan Nhật Nam, c ũng là bạn cùng lớp với Diệu Tân và tôi,  kể lại thời đó Nghĩa phải chặt tre về chất đầy nhà, làm ống sáo bán độ nhật, rồi cũng làm đàn T’rung, chơi đàn này và cải tiến cây đàn này.
Những chi tiết ấy được nhà văn Phan Nhật Nam kể lại như sau:
“….30 tháng 4, 1975 sập xuống, cùng một lần với Miền Nam, Nghĩa và gia đình bị đuổi ra khỏi căn nhà hẻm Phan Văn Trị… ‘Sáo với tiêu, rõ nỡm, cái đống tre này chỉ đun được nồi cơm là phèo!’ Gã cán bộ chỉ vào đống ống trúc đang chờ đục lỗ nói với giọng khinh miệt rẻ rúng…(…)… “Hành vi cao thượng của người Nghệ Sĩ bị đánh giá thành hoạt động hèn mọn phục vụ chính trị suy đồi: ‘Chỉ có bọn Ngụy mới trả tiền để anh thổi sáo cho chúng. Cách mạng chúng tôi không cần. Nhân dân ta chỉ cần đánh Mỹ, thắng Mỹ, và thi đua lao động.’
“Nghĩa và gia đình không về lại Ðà Nẵng, anh đưa vợ và ba con đi xa hơn… Nơi hẻo lánh, vùng núi miền Trung.
..(…)…”Ở miền núi, tiếp xúc với những người sắc tộc Bahnar, H’mong, Rhadé… Nghĩa dần khám phá ra khối lượng nhạc khí độc đáo, kỳ ảo của họ, với cây đàn T’rưng, nhạc khí gõ sơ khởi vỏn vẹn năm ống tre, đầu mắc vào cột, một người ngồi giữ giây, một người gõ. Người Bahnar (vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy qua Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột xuống Bình Long, Nam bộ) chỉ vận dụng được một cung năm ngũ âm đơn giản để dùng trong việc liên lạc, mời gọi họp bạn hoặc các buổi tế lễ như hạ trâu, cưới xin, mở cửa mả.
“Năm 1978, có mặt trong buổi liên hoan âm nhạc đồng bào sắc tộc Việt Nam tại Nha Trang, Nghĩa nẩy ra ý nghĩ khi nghe đàn T’rưng cải tiến (từ một nhạc công người Nam đem ra Bắc năm 1954). Ðàn T’rưng cải tiến thành cung Mi trưởng, có đầy đủ một hợp âm bát độ giúp Nghĩa có so sánh: ‘Nếu chỉ với một ống sáo nhỏ bé anh đã tạo nên hằng hà âm giai, âm sắc biến hóa kỳ ảo, thì huống gì đây những năm ống tre, cũng từ tre, trúc mà ra thôi’. Anh gọt không phải hằng chục, hằng trăm, hàng ngàn, mà hằng chục ngàn ống tre… Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu – Ðể buồng hơi (chambre à air) tạo nên âm thanh tuyệt đối thuần túy – Một cung cộng hưởng tối đa.
“Căn nhà của anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày với từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một… Năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 27 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra, anh phải cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một “gam vô tình” cũng có thể gọi là ‘gam mềm’ sau khi gắn vào thêm hai ống. Chiếc đàn 29 ống hoàn chỉnh. Bộ trưởng Văn Hóa (Cộng Sản) Lưu Hữu Phước không thể nào vùi lấp sáng kiến và tài năng của Nghĩa, cũng một phần, đây là điều đáng hãnh diện của người miền Nam sau khi Hà Nội sáng chế nên cây gõ hai đầu; cây gõ nguyên thủy chỉ một đầu.
“Nguyễn Ðình Nghĩa được chính phủ Cộng Sản – Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp nhận – Phải chấp nhận – Người nghệ sĩ miền Nam này là một tài năng đích thực. Tài sản lớn của tất cả Việt Nam. Thái độ này là một biểu hiện điển hình của thú nhận: Sau mấy mươi năm chỉ huy miền Bắc, những người lãnh đạo cộng sản đã thành hình được một khối lượng lớn (rất lớn) văn hóa phẩm gồm những bài hát chỉ được hát một lần ở đài phát thanh; những ấn bản toàn tập chỉ được mua bởi cơ quan chính phủ; những tranh, tượng dùng để trang trí ở các phòng họp, hội trường nhà nước.
“Họ cũng dần hiểu rõ, ‘mặc cảm’ cần được tiêu trừ (Như một cấp lãnh đạo miền Bắc đã nói cùng cố học giả Nguyễn Hiến Lê: “Miền Nam nên từ bỏ “mặc cảm tự ti” vì lạc hậu, phản động (do thua trận), và miền Bắc cần từ bỏ “mặc cảm tự tôn (do đã thắng trận”)– thật sự là “mặc cảm” của đám tổng, lý sau khi ăn bạc, và cơn say bữa rượu thịt chó của chính họ…(…)…
“Nguyễn Ðình Nghĩa đã là một ‘trả thù’ xứng đáng nhất…” (Trích đoản văn “Bắt Ðầu… Từ Một Ðêm Trăng ” của Phan Nhật Nam)
*
Gia đình Nguyễn Đình Nghĩa sang Mỹ vào tháng 7 năm 1984, được giới thiệu trên CBS News, NBC News. Ký giả Stella Dawson của Northern Virginia Sun ví ông như Jean-Pierre Rampal (nghệ sĩ độc tấu sáo người Pháp). Ông đã được trao tặng 4 giải thưởng của Maryland State Council dành riêng cho Nghệ Sĩ Cá Nhân Xuất Sắc vào những năm 1994, 1998, 2000, 2002.
Năm người con: Nguyễn Diệu Đoan Trang (sử dụng sáo, đàn T’rung, đàn Tam Thập Lục, trống), Nguyễn Diệu Nam Phương (đàn bầu, đàn tranh), Nguyễn Đình Nghị (sáo, guitar, bass), cặp sinh đôi Nguyễn Đình Chiến (trống, guitar), Nguyễn Đình Hòa (bass, guitar, đàn T’rung, cello) đã cùng cha trình diễn tại hàng trăm hý viện trên nhiều tiểu bang ở Mỹ và Canada.
Ngày 11 tháng 5 năm 2003 ông bị đột quị ngay trên sân khấu American History of Nature Museum tại New York.
Ngày 22 tháng 12 năm 2005, Nguyễn Đình Nghĩa vĩnh viễn ra đi.

*
Sống ở Phần Lan, giữa mùa đông lạnh lẽo, tôi ngồi nghe “Dạ Khúc” với tiếng đàn T’rung của Nguyễn Đình Nghĩa, do con gái Đoan Trang gửi.
Cháu cũng phối hợp thêm tiếng cello và tiếng đàn harp, tăng chiều sâu và nâng âm thanh kim kh í để  hòa với tiếnggõ trên tre trúc mộc mạc của bố.

Tôi xem những tấm ảnh mà tôi đã chụp mấy năm qua ở Mỹ và ở Phần Lan, đúc lại thành tiểu phẩm video clip này, không còn phân biệt mặt trăng hay mặt trời, ban ngày hay ban đêm, ngày xưa hay ngày nay, ở đây, ở đâu, bây giờ, bao giờ. 

(Nguyễn Bá Trạc, Turku, Finland 9 tháng 1, 2008).


“SERENADE”” Nguyễn Đình Nghĩa tấu đàn Trưng

Tổng thống Trump ‘làm nên lịch sử’ _ và ‘bất lực’ của phe nhóm Media “thổ tả”!

—– Forwarded Message —–
From: QT Tran, Fwd chuyển tiếp; cám ơn -tunhan-
Sent: Sunday, May 13, 2018
Subject: GOOD LUCK , DONALD ! ____TT Trump ‘làm nên lịch sử’ dù hứng chịu sự phớt lờ của giới truyền thông.
* * *
Không những đám truyền thông thiên tả Mỹ cùng nhau đánh phá TT Trump mà còn có cả đám truyền thông Mít thân cộng, cuồng đảng lừa đang nằm trong quần.. chúng ta ở hải ngoại này, chẳng hạn như:  báo Người Vẹm, Calitoday, Saigonnhỏ, Saigonweekly/hoàng dược thảo, lữ gian, nguyễn đạt thịnh, đinh nguyên, mai loan nguyễn anh tuấn, vũ văn lộc và bè lũ bồi bút tay sai nằm háng, tất thảy đều nhảy vào đánh hôi TT Trump rất ư là cuồng loạn, vô giáo dục và tồi bại hết thuốc chữa !!
*

 

Tổng thống Trump ‘làm nên lịch sử’ dù hứng chịu sự phớt lờ của giới truyền thông

Tá»ng thá»ng Trump
andy
Tổng thống Donald Trump tham dự một cuộc họp báo chung với Tổng thống Nigeria Muhammadu Buhari (không có trong hình) tại Vườn Hoa hồng của Nhà Trắng ở thủ đô Washington vào ngày 30/4/2018. (Ảnh: Samira Bouaou)
 
Hơn một năm kể từ khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tạo nên nhiều khác biệt về vấn đề Triều Tiên, Trung Quốc và Biển Đông. 
Tuy nhiên, một nhà báo người Mỹ đã chỉ ra một thực tế rằng nhiều hãng truyền thông truyền thông đang phớt lờ những thành tựu mà Tổng thống Trump đạt được.
Hôm 1/5, nhà báo Lisa Boothe của hãng tin Fox News nói rằng các hãng truyền thông chủ đạo lẽ ra phải nêu bật những nỗ lực của ông Trump nhằm phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, thực tế là nhiều hãng tin lại quá nhấn mạnh vào các chủ đề tiêu cực như nghi vấn Nga trợ giúp ông Trump trúng cử tổng thống, trong khi tiến trình điều tra tới nay cho thấy chiến dịch của ông không liên quan tới sự can thiệp của Nga.
“Chúng ta thật sự chứng kiến lịch sử đang được làm nên dưới thời Tổng thống Trump, ấy vậy mà Tổng thống Obama lại nhận được một giải Nobel Hòa bình khi không làm gì cả”, nhà báo Boothe phát biểu trên chương trình “Outnumbered” hôm thứ Ba (1/5).
Bình luận của cô Boothe được đưa ra sau khi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In cho biết hôm thứ Hai (30/4) rằng Tổng thống Trump nên được trao giải Nobel Hòa bình cho công cuộc của ông nhằm phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên.
Trump
Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In nói Tổng thống Mỹ Donald Trump xứng đáng giành giải Nobel Hòa bình vì nỗ lực phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên (Ảnh: Reuters)
Cựu Tổng thống Barack Obama đã được trao giải thưởng này năm 2009, và được đề cử trong vòng chưa đầy 2 tuần sau khi ông nhậm chức.
“Về cơ bản, điều duy nhất [Obama] đã làm được [vào lúc đó] là trúng cử”, nhà báo Katie Pavlich bình luận. “Nếu bạn nhìn vào chính sách đối ngoại của ông ấy trong vòng bảy năm sau đó, [bạn sẽ thấy] đó là một thảm họa hoàn toàn.”
Dù chỉ mới nhậm chức hơn một năm, Tổng thống Trump đã tạo nên nhiều điều khác biệt so với người tiền nhiệm Obama, trong đó có lập trường cứng rắn đối các vấn đề nổi cộm gây đe dọa đến an ninh và thịnh vượng của Hoa Kỳ, như tham vọng vũ khí của Triều Tiên hay chính sách thương mại của Trung Quốc.
World Tribune bình luận rằng Tổng thống Trump đã đúng đắn khi nhắc nhở thế giới về hồ sơ vi phạm nhân quyền khủng khiếp của Triều Tiên. Tại Liên Hợp Quốc ngày 19/9/2017, ông Trump lên án Triều Tiên đe dọa các quốc gia khác và khiến hàng triệu người dân của họ chết đói. “Đã đến lúc tất cả các quốc gia cùng hợp tác để cách ly chính quyền Kim”, ông Trump nói.
Dưới áp lực của Tổng thống Trump, đồng minh quan trọng nhất của Triều Tiên là Trung Quốc cũng đã đưa ra các biện pháp trừng phạt nhằm kiềm chế tham vọng hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Bình Nhưỡng.
Tổng thống Trump cũng đã thể hiện một loạt các động thái nhằm siết chặt hoạt động thương mại của Trung Quốc mà ông tố cáo là bất công đối với Hoa Kỳ. 
biá»n Äông
Tổng thống Trump trách chính quyền Obama đã cho phép Trung Quốc xây dựng đảo trên Biển Đông (Ảnh: Getty)
Về vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng cảm nhận áp lực lớn hơn từ Tổng thống Trump so với người tiền nhiệm của ông. 
Tổng thống Barack Obama bị chỉ trích vì đã không cho phép hải quân Mỹ tiến hành các cuộc tuần tra tự do hàng hải trên Biển Đông từ năm 2012 đến năm 2015, tạo điều kiện cho Trung Quốc ra sức xây dựng các đảo nhân tạo và lắp đặt các thiết bị quân sự, theo tạp chí Navy Times.
Kể từ khi lên nắm quyền, Tổng thống Trump đã thể hiện một số động thái cứng rắn với Trung Quốc về Biển Đông. Tháng 7, ông phê duyệt kế hoạch một năm cho phép hải quân Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông, trong khi dưới thời Obama mỗi hoạt động như vậy phải xin phép từng lượt.
Tháng 5, tàu chiến Mỹ đã tiến hành ‘cuộc thao diễn’ trong phạm vi 12 hải lý của hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng ở quần đảo Trường Sa.. Động thái này chưa từng xảy ra dưới thời Obama và được cho là một thách thức trực tiếp đến hoạt động xây dựng phi pháp của Trung Quốc tại khu vực.
//