ÂM NHẠC MIỀN NAM và những ngày xưa thân ái

ÂM NHẠC MIỀN NAM và
những ngày xưa thân ái
=======================
– Vũ Đông Hà
*

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
*

Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: “Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…” Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”
Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”
Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!
Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…
Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…”
Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân… Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.
*
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…
*
Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
*
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”
Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát “Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau.
Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”. Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát “Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”
Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”.

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”.
Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
*
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu…

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
*
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.
Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ”..
Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: “Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…
Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
*
Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi “Con Đường Xưa Em Đi” và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!
🎼🎶🎵

* Vũ Đông Hà

NGÀN TỶ USD TRÁI PHIẾU NHÀ THANH, BÀI TOÁN KHÓ NHƯ ÉP VOI CHUI QUA LỔ KIM

Tran Hung‎ to Chân Trời Tự Do

  • NGÀN TỶ USD TRÁI PHIẾU NHÀ THANH, BÀI TOÁN KHÓ NHƯ ÉP VOI CHUI QUA LỔ KIM
No photo description available.

Mấy hôm nay báo chí, mạng xã hội lan truyền thông tin Bà Jonna Bianco, chuyên gia thuộc Quỹ những người nắm giữ trái phiếu Mỹ (ABF) – đại diện cho chủ nhơn của số trái phiếu quá hạn do Nhà Thanh phát hiện trước khi sụp đổ năm 1912 khẳng định “Bắc Kinh đang nợ họ hơn 1.000 tỉ USD nếu tính cả lạm phát, lãi suất và các loại phí khác” và Bloomberg cho biết Tổng thống Trump, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin và Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross đã gặp các trái chủ và đại diện của họ để xem xét khả năng giúp các trái chủ đòi lại số tiền trên.

Đây quả là một tin vui nhưng cũng là một bài toán khó cho chánh phủ Donald Trump. Bởi như chúng ta biết thì số công phiếu trên do triều đình Nhà Thanh phát hành để xây dựng tuyến đường sắt nối Hán Khẩu với Tứ Xuyên có tên gọi là “công phiếu Đường xe lửa Hồ Bắc – Hukuang Railway bonds”. Tuy nhiên, vào ngày 12/02/ 1912, Hiếu Định Cảnh Hoàng Hậu là cháu gái của Từ Hy Thái Hậu và cũng là Hoàng hậu duy nhứt của vua Quang Tự Đế – Thanh Đức Tông lấy tư cách Nhiếp chính vương dưới thời vua Phổ Nghi đã ký “Thanh đế thoái vị chiếu thư”, buộc vua Phổ Nghi con trai lớn nhứt của Thuần Thân Vương thoái vị.

Việc buộc vua Phổ Nghi thoái vị là kết quả của các cuộc đàm phán giữa Viên Thế Khải với Tôn Dật Tiên, nội dung đàm phán theo đề xuất hiệp nghị 5 điều của Tôn Trung Sơn như sau:

1. Hoàng đế nhà Thanh phải thoái vị.
2. Viên Thế Khải phải tuyên bố tuyệt đối tán thành chính thể Cộng hòa.
3. Hoàng đế thoái vị xong, Tôn Dật Tiên sẽ từ chức Lâm thời Đại Tổng thống.
4. Lâm thời Tham nghị viện sẽ cử Viên Thế Khải lên làm Lâm thời Đại Tổng thống.
5. Được tuyển cử rồi, Viên Thế Khải phải tuyên thệ giữ Lâm thời ước pháp do Tham nghị viện định ra.

Tuy nhiên, sau khi Tôn Dật Tiên từ chức Lâm và Viên Thế Khải được Tham nghị viện cử lên làm Lâm thời Đại Tổng thống thì Viên Thế Khải bội ước với Tôn Trung Sơn, ông ta đã không tiến hành tuyển cử vì thực tế lúc đó Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn đang chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Để đối phó, Viên Thế Khải đã gấp rút cho bổ sung quân, đồng thời không đợi Quốc hội thông qua, Viên Thế Khải ký giấy vay Ngân hàng đoàn là ngân hàng 5 nước, gồm Anh, Pháp, Đức, Nhựt, Nga một số tiền 25 triệu bảng Anh để tiến hành cuộc đối đầu mới với kỳ hạn trả nợ trong 47 năm bằng thuế muối.

Trước hành vi bội ước của Viên Thế Khải, Quốc dân đảng phản đối kịch liệt, các tướng lĩnh thuộc đảng này đã tiến hành khởi loạn chống lại Viên Thế Khải và lịch sử gọi là “cuộc cách mạng lần thứ hai”. Cuộc cách mạng này chỉ kéo dài không tới hai tháng và đã bị Viên Thế Khải dập tắt, Tôn Dật Tiên phải lưu vong sang Nhựt Bổn.

Tháng 8/1914, Đệ Nhứt Thế chiến bùng nổ, nhơn cơ hội này, Nhựt Bổn liền xông vào chiếm lấy đất đai của Trung Hoa, mượn cớ tuyên chiến với Đức, Nhựt Bổn đưa quân đổ bộ lên Sơn Đông, chiếm vùng Giao Châu Loan và nắm lấy đường sắt Giao Tế. Tháng 01/1915 Nhựt Bổn thừa nhận Viên Thế Khải là Hoàng tử Trung Hoa với điều kiện phải đáp ứng 21 yêu sách do Nhựt Bổn đề ra.

Ngày 06/6/1916 Viên Thế Khải từ trần thọ 57 tuổi, làm hoàng đế được 83 ngày, Lê Nguyên Hồng lấy tư cách Phó Tổng thống lên thay Viên Thế Khải. Sau khi Viên Thế Khải chết, các phe phái nổi dậy khắp nơi gây ra cuộc tương tranh quân phiệt giữa Nam và Bắc nhiều năm sau đó. Thời kỳ quân phiệt tương tranh kéo dài từ khi Viên Thế Khải chết năm 1916 cho đến năm 1928, khi cuộc Bắc phạt kết thúc với sự tái thống nhất Trung Hoa và bắt đầu “thập niên Nam Kinh” dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch.

Tuy nhiên, đến năm 1937 nổ ra cuộc chiến tranh Trung – Nhật kéo dài đến tháng 8/1945 thì kết thúc do Nhựt Bổn đầu hàng Đồng minh sau thất bại ở cuộc Đệ nhị Thế chiến. Kết quả là Tưởng Giới Thạch đã chiếm lại được Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ (những lãnh thổ đã bị rơi vào tay Nhựt từ trước chiến tranh), tuy nhiên Tưởng Giới Thạch phải chấp nhận việc Mông Cổ độc lập. Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc còn có ghế trong Hội đồng Thường trực của Liên Hiệp Quốc.

Từ năm 1946 đến năm 1949 nổ ra Nội chiến Quốc-Cộng lần thứ 2 giữa Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo với cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông cầm đầu nhằm cướp chánh quyền hợp pháp của Tưởng Giới Thạch. Tháng 3/1947 chiến tranh bùng nổ và kết thúc tạm thời bằng việc Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 01/10/1949 tại Bắc Kinh và Trung Hoa Dân quốc rút về Đài Loan. Mặc dù Mao Trạch Đông kiểm soát được lục địa Trung Hoa nhưng Cộng có nhân dân Trung Hoa vẫn chưa được quốc tế công nhận mà quốc tế chỉ công nhận Trung Hoa Dân quốc của Đài Loan.

Ngày 25/10/1971, Đại Hội đồng Liên Hợp quốc ra Nghịch 2758 về “vấn đề khôi phục quyền lợi hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong tổ chức Liên Hiệp Quốc”. Nội dung của Nghị quyết 2758 là:

– Công nhận đoàn đại biểu của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là đoàn đại biểu hợp pháp duy nhứt của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an,

– Quyết nghị khôi phục toàn bộ quyền lợi của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thừa nhận đoàn đại biểu của Chính phủ này là đoàn đại biểu hợp pháp duy nhứt của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, đồng thời lập tức trục xuất các đại biểu của Tưởng Giới Thạch khỏi địa vị chiếm giữ phi pháp tại tổ chức Liên Hiệp Quốc và tất cả các tổ chức liên hệ tới Liên Hiệp Quốc.

Đi một vòng dài dòng như vậy để thấy được cái khó trong việc các trái chủ của món nợ hơn 1 ngàn tỷ USD hiện do Nhà Thanh phát hành để xây dựng tuyến đường sắt Hán Khẩu – Tứ Xuyên mà mấy hôm nay báo chí đưa tin với nội dung các trái chủ yêu cầu chánh quyền của tổng thống Donald Trump phải giúp họ đòi nợ từ Tàu cộng. Để đòi một món nợ hơn 100 năm, trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhiều chánh thể thừa kế hợp pháp và không hợp pháp quả là BÀI TOÁN KHÓ NHƯ ÉP VOI CHUI QUA LỔ KIM. Nhưng khó không có nghĩa là vô nghiệm mà khó là phải chọn được phương pháp giải đúng để có đáp số.

Với giác độ của cá nhơn phải thừa nhận việc các trái chủ đưa ra vấn đề đòi nợ Tàu cộng hơn 1 ngàn tỷ USD từ thời Nhà Thanh ngay trong lúc này quả là một đòn đánh tâm lý cực hiểm nhắm vào Tàu cộng và xiển dương tinh thần cho tổng thống Donald Trump cũng như tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn. Tui sẽ đi sâu vào phân tích chi tiết chủ đề này ở bài viết tiếp theo. Trân trọng./.

Tran Hung.

VIỆT CỘNG NGANG NHIÊN

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Image may contain: 3 people, people standing and stripes

Khi chúng ta còn có Chính Quyền trong tay, Việt Cộng còn nể mặt, chúng phải dùng chiến lược “Leo sâu, trèo cao” để xâm nhập hàng ngũ chúng ta. Khi Chính Quyền khám phá ra một thằng Việt Cộng Nằm Vùng, thì cơ quan An Ninh bắt nhốt nó.

Ngày nay gặp cảnh mất nước, phải sống lưu vong, ta không còn Chính Quyền, Việt Cộng chẳng còn sợ bị bắt nhốt. Chúng xâm nhập vào Cộng Đồng một cách hợp pháp, ngang nhiên, dưới hình thức giao lưu văn hóa, dưới hình thức đầu tư thương mại, hoặc dưới hình thưc Tôn giáo …

Chúng được Việt Cộng tiễn chân ra phi trường, đi Pháp, rồi đi Mỹ để đứng đầu ban Tuyên Vận của Tổ chức Đấu Tranh.

Chúng được “xuất cảnh” dưới dạng nhà phản kháng hoặc tù nhân HO.

Chúng được đưa sang làm Trụ Trì các Chùa để làm kinh tài nuôi Đại sứ, Tổng Lãnh sự, Lãnh sự và nhân viên Ngoại giao, nhân viên Tình Báo.

Sở dĩ Việt Cộng hoạt động ngang nhiên như thế, là tại vì đồng bào mang danh nghĩa tị nạn Cộng sản bị mất trí nhớ vào những năm bị đẩy đi vùng kinh tế mới, ăn bo bo, sống giữa thành phố thì buôn lậu bán chui một cách khổ sở để kiếm sống. Sợ từ thằng nhóc Công An khu vực đến thằng Bí thư phường xã. Ngày nay chễm chệ ngồi vào bàn tiệc, nâng ly, cụng ly với thằng Đại Sứ, thằng Lãnh Sự, rồi ứng cử chức nọ chức kia trong Chính Quyền Hoa Kỳ hay Cộng Đồng Tỵ Nạn dưới danh nghĩa Chống Cộng. Thế mà vẫn có thằng tự xưng Chủ tịch Ủy Ban Chống Việt, Chống Việt Gian đi hộ vệ những thằng dân cử đó!

Đặc biệt nhất, các ông bà Phật tử biết Chùa là cơ sở kinh tài, Sư là Sư Việt Cộng, nhưng vào ngày cuối tuần, Chùa nào cũng đông nghẹt “thiện nam, tín nữ” đến cầu siêu, cầu an, cung kính thưa thày xưng con với Sư Việt Cộng đáng tuổi con mình. Tại sao có những đệ tử Phật là sĩ quan cấp cao, là nhà giáo, là kỹ sư, là bác sĩ mà ngu và hèn đến thế?

Nếu đồng bào tỵ nạn của mình có một chút ý thức, biết Phật không ở trong Chùa của những thằng Công An Việt Cộng, thì không lui tới đảnh lễ, ắt Chùa sẽ trở thành Chùa Ba Đanh ngay, có đâu nghi ngút khói hương?

Mới đây, một ông tỷ phú tên là Hoàng Kiều, có bản mặt rất quý phái như dân Chợ Cầu Muối hay Chợ Cầu Ông Lãnh, nói năng rất hùng hồn, rất dõng dạc giống như dân Chợ Cầu Muối hay Chợ Cầu Ông Lãnh, đứng ra tổ chức Đại Hội Văn Nghệ có xe buýt đưa rước, đãi ăn tôm hùm. Ông Hoàng Kiều đã mạt sát, mạ lỵ, chửi bới cũng rất dõng dạc, mà hơn 7 ngàn sinh vật ngồi dưới chổng tai lên nghe, không một phản ứng nào! Đồng bào quên vỗ tay, tỷ phú quát: “Vỗ tay to lên đi chứ!” Thế là đồng loạt vỗ tay giống như một đàn cừu. Thương dân Việt mình hết sức!

Có người đặt câu hỏi: “Tại sao ông tỷ phú Hoàng Kiều đạt được kỳ tích lẫy lừng như thế?” Xin trả lời: “Tại vì có ông phi công VNCH khoe bằng cấp lái máy bay của Hải Quân, Không Quân Hoa Kỳ và Không Quân VNCH, từng thả bom CBU giết hàng chục ngàn Việt Cộng, từng mấy lần làm triệu phú đã ngợi ca ông Hoàng Kiều lên tận mây xanh!”

Khi một người tự từng xưng là triệu phú mấy lần, mà nay phải làm một anh quảng cáo Sơn Đông về Rượu Hoàng Kiều có khả năng cường dương và trị bệnh Tiểu đường, thì hoàn cảnh anh phi công này phải bi đát lắm lắm! Cho nên, nếu chứng kiến 7 ngàn sinh vật ngồi yên nghe trọc phú chửi thì đừng lấy gì làm lạ!

Tại sao tôi dùng chữ sinh vật ngồi thưởng thức ngoan ngoản, nghe ông trọc phú chưởi? Tại vì phàm là làm người thì có một chút lòng tự ái, một chút lòng tự trọng để có phản ứng khi bị xúc phạm. Chỉ có sinh vật không biết nghe, bị chửi vẫn thản nhiên ngồi nghe như “vịt nghe sấm” nên mới không có phản ứng!

Ông bác sĩ Trần văn Tính, gốc Nhảy Dù, ở thành phố Houston, Tiểu bang Texas thường ca ngợi các Tướng như Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú … là những vị anh hùng đã bị chôn rồi mà chưa chết! Còn ông bác sĩ tự ví mình là kẻ chết rồi mà chưa chôn! Tức là ông còn sống sờ sờ ở đó mà ông coi như ông đã chết rồi! Vì nghe những thằng tỵ nạn ca ngợi Việt Cộng, ông bác sĩ chỉ muốn bắn cho những thàng đó vài phát đạn, nhưng nay đành bó tay thì ông tự xem ông như đã chết là vậy!

Tôi cũng mang tâm trạng như bác sĩ Trần văn Tính, chỉ muốn xử mấy đứa phản đồng đội mà đành bó tay!

Ông bà mình phải mất 1 ngàn năm đổ xương máu mới giành được quyền tự chủ. Việt Cộng mới thực sự đô hộ từ năm 1954 đến năm 2019, tổng cộng mới 65 năm, thế mà ông Hoàng Kiều chửi người Chống Cộng còn tiếp tục chống là ngu. Theo quan điểm của con buôn gặp thời như ông Hoàng Kiều thì đúng, nhưng người có lý tưởng tự do mà ngừng cuộc tranh đấu là có tôi với lương tâm.

Vì đấu tranh cho Lý tưởng Tự Do, cho Công Bằng, cho Nhân Phẩm là muôn đời, bao lâu còn nhân loại trên trái đất là con tranh đấu. Chỉ có những đứa vô lại, bất lương mới hài lòng về một bọn cầm quyền đẩy đàn ông ra hải ngoại đi làm nô lệ lao động, đàn bà ra nước ngoài làm đĩ mà thôi! Khoe nhờ Việt Công mà trở thành tỷ phú, nên đồng bào gọi ông Hoàng Kiều là trọc phú thì rất phải.

Thời đại chúng ta đang sống là thời đại kim tiền.

Có đứa Công An Việt Cộng cạo trọc đầu (cũng nên gọi chúng là trọc phú, vào Chùa ê a vài ba câu kinh, câu kệ mà được tín hữu vào Chùa dâng tiền cúng dường thì ta gọi bọn đầu trọc đó là lũ “buôn Thần bán Thánh”.

Ông Hoàng Kiều trở thành tỷ phú nhờ bán huyết tương bào chế từ máu người thì ta gọi ông ấy là đứa “bán Máu buôn Xương” đâu có sai, phải không? Những thằng nịnh bợ kẻ “bán Máu buôn Xương” là những đứa không có sợi dây thần kinh biết xấu hổ, dù chúng là Chủ tịch Cộng Đồng, dù nó là triệu phú mấy lần.

Ở trong nước có nhà thơ Bùi văn Sạch làm bài thơ “Tiền Ơi!” khá dí dỏm, phản ảnh rất đúng thời đại ta đang sống. Tôi xin phép chép ra đây để độc giả thưởng thức:

TIỀN ƠI !

Tiền là Tiên là Phật 
là sức bật của lò xo 
là thước đo của lòng người 
là tiếng cười của tuổi trẻ 
là sức khỏe của tuổi già 
là cái đà danh vọng 
là cái lọng che thân 
là cán cân công lý 
tiền là hết ý

Vì đồng tiền mà thằng đương kim Chủ tịch Tập thể Chiến Sĩ Nguyễn văn Ức phải xum xoe một cách hèn hạ, nhục nhã. Tôi mong Giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một nhân vật văn võ toàn tài, cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, cựu Chủ tịch Tập thể Chiến sĩ VNCH nên có đôi lời “hiểu thị” để những người cựu lính như tôi trong Quân Chủng bớt xấu hổ, dược không? Bởi vì tôi không muốn tô canh phải đổ đi vì những con sâu!

Bất đắc dĩ lắm, tôi mới phải lên tiếng vì cái vụ bẩn thỉu, ô nhục này. Chẳng lẽ mình cam phận làm con cừu trong đàn cừu này hay sao? Các bạn tự xưng là Chiến Sĩ, xin hãy sống khí phách như người Chiến Sĩ, đừng sống hèn như những thằng ăn cắp: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Đã đói đâu mà phải hạ mình để tung hô một anh chàng tỷ phú nhờ “Bán Máu buôn Xương” nói năng hùng hồn dõng dạc còn hơn dân Chợ Cầu Muối hoặc dân Chợ Cầu Ông Lãnh?

Trong chừng mực nào đó, tôi cám ơn ông Hoàng Kiều vì nếu những lời ngạo mạn, khinh bỉ của ông mà làm cho cái đám Chiến Sĩ tỉnh ngộ, chấm dứt trò hề kéo cờ lên, hạ cờ xuống, phủ cờ, xếp cờ để sống như một người có nhân cách, không phản bội những anh em đồng đội đã nằm xuống vì Lý Tưởng Tự Do.

Bằng Phong Đặng văn Âu, một người Lính có lòng tự trọng.
Bangphongdva033@gmail.com
Telephone: 714 – 276 – 5600

CÁI GIÁ HAI CHỮ “VIỆT KIỀU “

THẠCH THẢO
*
Hầu hết người Việt mới sang định cư nước ngoài thường bị ghét. Sự khác biệt từ ý thức hệ, lời nói,  suy nghĩ, khiến dễ người Việt lâu năm mang cảm giác dị ứng. Và đó lại là sự thật. 

Bản thân người Việt mới sang một quốc gia nào đó thường tự làm cho người ta không ” ưa ” mình. 
Chính họ tự làm người ta dị ứng chứ không phải sự kỳ thị của lớp người đi trước. 

Quan điểm của nhiều người ra nước ngoài ngày hôm nay đa số vì kinh tế, muốn con cháu tiếp cận nền giáo dục tốt hoặc vì muốn mình trở thành Việt kiều-  hơn là tị nạn chính trị. 
Đôi khi lời nói người mới qua dễ tổn thương các thế hệ đi trước – thế hệ trải qua đau thương lịch sử để được hôm nay cho thế hệ tiếp theo đón nhận. Thế hệ cha ông chính là người có công đặt viên gạch đầu tiên gây dựng nên cộng đồng với những khu phố Việt, hệ thống cơ sở thương mại Việt và cả ngân hàng nói được tiếng Việt. 

Các lớp người mới đến định cư hầu như không phải trải qua giai đoạn khó khăn cơ cực đi lên. Đa số đều được người thân trải đường giúp đỡ,  không phải trả giá bằng mạng sống và nước mắt. Họ cũng không phải sống trên sự tiết kiệm, dành yêu thương trên từng thùng quà hay phải gởi tiền hàng tháng giúp gia đình còn lại bên kia bờ đại dương.  

Vì thế thái độ xem thường cho rằng đó là điều đương nhiên mình được hưởng những cái miễn phí tại xứ người. Người mới qua hầu hết trên 50% sống ích kỷ, đặt cái tôi hàng đầu- một sự khác biệt lớn giữa thế hệ trước hy sinh cho người thân. Nhiều quan điểm, ý nghĩ sai lầm dẫn đến sự xa cách trong các mối quan hệ gia đình lẫn bạn bè. 

Thực ra bất kỳ điều gì cũng phải trả giá từ các thế hệ cha ông, và không gì trên trời rơi xuống. Ngay cả ” Freedom is not free “. 
Đừng vội vàng vô ơn quay lưng lại những người giúp mình.  Đừng chê người ta nghèo hơn mình. Đừng than buồn không có tô phở nóng sáng sớm như quê nhà, toàn thực phẩm đông lạnh.  Chán. Đừng than không ai nhậu bia,  karaoke thường xuyên. Đừng nói thẳng “thà ở Việt nam vui hơn và có tiền Việt kiều gởi về” . Đừng chê ở Mỹ kiếm tiền khó, không bằng Việt nam. 

Hãy biết trân quý những gì ta đang may mắn hơn hàng chục triệu người bởi lẽ không phải ai muốn xuất ngoại cũng được. Không phải ai bỏ tiền ra 50 hay 60 ngàn đô la/ mỗi đầu người là đi qua được trời Tây. Lấy giả chồng (vợ ) chưa chắc đến nơi dù bỏ tiền. Diện đầu tư không hẳn lúc nào đều dễ dàng. 

Thay vì yêu quý cái mình có thì đừng tỏ ra ta đây hơn người và bất cần. Nếu yêu thiên đường thì nên về luôn, vé máy bay một chiều. Không nên xem đây như một quán trọ đi đi về về. 

Con người đứng núi này trông núi nọ và thực sự không trung thành một tổ quốc nào thì con người ấy xem như bỏ. 
Bản thân bạn đã làm cho người ta ghét và khó hết lòng với nhau. 

Không nên lợi dụng đất nước cho con cái mình hưởng miễn phí từ thuế nhiều công dân khác làm việc vất vả đóng thành ngân sách. Không nên về Việt nam hưởng thụ nhưng qua trời Tây lại gian dối lương lẹoqua mặt chính phủ để hưởng các phúc lợi xã hội. Đó là sự không công bằng và làm xấu đi hai chữ người Việt hải ngoại.  

Những câu khó nghe nên về quê nhà nói hơn là vô tình hay cố ý chà đạp lên tinh thần yêu tự do, dân chủ mà người ta phải bỏ mạng trên biển Đông của hàng triệu đồng hương. 
Nếu ai cứ hay bào chữa chế độ cộng sản, khen vui khen sướng thì hãy về bên ở mới là có lòng tự trọng. Chê mà cứ nhờ vả thì nhục vô cùng. 

Anh là ai, chị là ai chẳng là cái quái gì nếu chưa cống hiến gì cho vùng đất mới mình sống. Hãy thể hiện trên hiệu quả công việc và sự đóng góp của một công dân. Còn đi hai mặt cuối cùng chỉ tự làm nghèo nhân cách mình mà thôi. Khó lấy niềm tin người Việt đồng hương nếu bạn thuộc thành phần khó tin. Ngay người nước ngoài bản xứ cũng không tin bạn và đánh giá thấp.  

Vấn đề quan trọng cần phải nhớ đến rằng các nước tự do nơi bạn đang sống cho bạn biết bao cơ hội vươn lên nhưng không bao giờ có cơ hội phách lối xem thường người khác. 

Là người, hãy gắng học hỏi văn hóa xứ người : sự biết ơn, trách nhiệm và sống trung thực. 

Nếu không chịu tiếp thu, bạn sẽ tự đào thải chính bản thân,  khó hội nhập thế giới xung quanh. 
Hãy chọn một quê hương và sống hết mình làm gương cho con cháu.
Đừng đánh giá vội vàng ai là nghèo, là thua mình, bạn sẽ nhận lấy sự khinh bỉ xa lánh từ từ dù người ta không nói ra. 

Qua xứ người mà cứ suy nghĩ thiển cận,  không mở cái trí óc ra nhìn thấy so sánh thì càng làm người ta ghét mình. Bảo thủ cố chấp không chịu tiếp thu thì trước sau ai cũng rời xa . 
Cái tính toán hơn thua quyền lợi, sống cho cái tôi và cái gian xảo học tại xứ thiên đường XHCN nên chôn sống nó đi.  Sử dụng điều ấy trên đất tự do thì khó tránh pháp luật, nó sẽ chào hỏi bạn. Lúc đó mếu máo cười khóc không kịp. 

Cuộc sống mới nên nhập gia tùy tục khi bỏ quê hương ra đi. Bạn đã xin vào nước người ta ở thì đừng để người ta khinh. Không ai bắt bạn đến trước cửa nhà của đất nước họ , bạn tự nguyện cầu xin thì phải biết điều và chấp nhận mọi sự để làm người tử tế. 

Bước đầu tiên bắt đầu làm lại cuộc đời thì phải học cái nhân văn, học cái hay để không làm tổn thương cái chữ ” người Việt nam “. 
Còn sống xứ người mà hồn ở Việt nam thì nên về bên sống.  Không nên tận dụng cái ưu điểm nơi mình định cư rồi lại làm lợi cho nước… bỏ ra đi! Cuối đời, lại quay vềtận dụng chính sách ưu đãi người già xứ người thì chẳng khác nào tự vả vào mặt mình. 

Hãy gắng sống chân thành bằng cái tâm của mình thì cuộc đời sẽ luôn mỉm cười với bạn.

Hình chụp ‘đội ngũ’ “Việt kiều” đang có mặt tai Phi trường VN.

Bùi Anh Trinh_ Kiều Chinh và câu tự hỏi “Tôi đã làm gì nên tội”!

From: QT Tran Fwd chuyển tiếp; Cám ơn_TN
Sent: Friday, April 26, 2019, 
Subject: Kiều Chinh.
==============================================

Kiều Chinh và câu tự hỏi “Tôi đã làm gì nên tội

*

Bùi Anh Trinh

Hoàng Lan Chi viết: tại Facebook, chúng tôi dễ dàng share các tin, video về những ngày tháng cuối tháng 4. Mail có phần hạn hẹp hơn. Sau nữa, cá nhân tôi không đủ sức vừa take care tin ở Facebook, vừa ở mai cá nhân, vừa ở các diễn đàn. Do đó, khi tôi gửi “Facebook của Hoàng Lan Chi từ..” thì trong đó có đầy đủ các tin và video hơn.

Bên cạnh những gương anh hùng, gương tuẫn tiết, chúng ta cũng nên xem lại bài cũ viết về các “khuôn mặt cộng đồng” để người quốc gia có một cái nhìn đúng đắn hơn về họ.
Hoàng Lan Chi 

******************

 

Báo Orange County Register: “Kiều Chinh chuẩn bị bước lên khán đài với bộ đồ màu sẫm và búi tóc trông rất đài các. Một lát sau, bà nói chuyện trước đám đông trong một sân có cả ngàn chỗ đậu xe thuộc khu Little Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên bà xuất hiện tại Quận Cam sau khi bà dự lễ khởi công xây dựng một ngôi trường thiện nguyện được bà tài trợ tại quê hương Việt Nam…

Đèn truyền hình chiếu sáng khi Kiều Chinh rảo bước qua khán đài được trang hoàng với các dải băng màu đỏ và vàng, màu của lá cờ Nam Việt Nam ngày xưa. Bà bước đến máy vi âm, chờ đợi tiếng vỗ tay”.

Nhưng không một tiếng vỗ tay hoan hô… Thay vào đó là những nét giận giữ không hề phai trên khuôn mặt những người cùng thế hệ với bà… Một người đàn ông hét lên một từ ngữ thóa mạ nặng nề nhất đối với người Việt tị nạn tại Little Sài Gòn: “Cọng sản!”.

Tiếng hét này muốn chỉ về bà. Nhiều tiếng hét tiếp theo “Cọng sản! Cọng sản! đi xuống”. Miệng của bà méo đi trong xúc động và bối rối, nhưng bà không thốt được nên lời.. Một người trong ban tổ chức đã dìu Kiều Chinh rời khỏi khán đài. Bà tự hỏi trong nước mắt: “Tại sao tôi lại gặp cái cảnh này?! Tôi đã làm gì nên tội?”

Đó là năm 2000, một năm sau biến cố chính trị “Trần Trường” tại Quận Cam. Người ta không chấp nhận Kiều Chinh đi ngược lại công cuộc đấu tranh của người Việt Nam. Trong 53 ngày đêm biết bao nhiêu tiếng gào thét uất hận và biết bao nhiêu nước mắt của người Việt đã đổ xuống trước sân tiệm Hitek của ông Trần Trường, người ta dứt khoát đòi CSVN phải trả lại quyền làm người cho dân tộc Việt Nam.

Trong khi đó bà Kiều Chinh âm thầm trở về Việt Nam để cùng CSVN “xây dựng lại đất nước”. Người ta coi đó là hành động phản bội, cũng giống như Jane Fonda đã tươi cười ngồi lên chiếc ghế của một khẩu súng phòng không tại Hà Nội trong khi máu của thanh niên Mỹ đang tuôn chảy tại chiến trường Việt Nam; rõ ràng là Jane Fonda đã phản bội. Kiều Chinh cũng vậy, bà ta thật ngây thơ khi tự hỏi: “Tôi đã làm gì nên tội?”

Chúng ta có thể tha thứ

Báo Orange County Register đã viết lên nhận xét của bà Kiều Chinh đối với những người Việt tị nạn như là ông Võ Đại Vạn: “Ông ta là một sĩ quan Hải quân khi Sài Gòn sụp đổ, và ông ta không thể quên nổi đau về việc đất nước của ông ta bị đánh bại. Và ông ta không thể tha thứ “. Bà cho rằng giờ đây những cựu quân nhân VNCH không chịu về VN bởi vì họ mang mặc cảm của những người thua trận.

“Bà Kiều Chinh nói về cuốn phim “Catfish in Black Bean Sauce” mà bà là diễn viên: “Đối với tôi, thông điệp của cuốn phim là chúng ta là con người, chắc chắn có khi chúng ta phải phạm sai lầm. Tôi cho rằng điều quan trọng mà chúng ta có thể làm là thông hiểu lẫn nhau. Chúng ta có thể tha thứ và quên đi. Chúng ta chăm sóc và yêu thương lẫn nhau”.

Người Việt Nam đã nghe những lời kêu gọi tương tự trong Kinh Chúa, Kinh Phật. Có lẽ khi thốt lên những lời này thì trong thâm tâm Kiều Chinh nghĩ rằng bà đã từ bi và bác ái đúng như lời dạy của các đấng cứu thế…(!). Nhưng trong trường hợp này bà Kiều Chinh đã lầm. Cũng như trước đây minh tinh điện ảnh Jane Fonda đã lầm..

Lúc đó Jane Fonda cũng đã dùng những lời yêu thương để kêu gọi hãy dẹp qua chiến tranh. Tuy nhiên bà chỉ khơi động lòng yêu thương trong các con cái của Jésus Christ nhưng vô tình bà lại ủng hộ bạo lực của những đệ tử của Stalin và Mao Trạch Đông, chính họ là người chủ động gây ra chiến tranh, còn phía bên kia chỉ là bị động. Nếu bà muốn kêu gọi chấm dứt chiến tranh thì hãy kêu gọi bên chủ động tấn công hãy từ bỏ tham vọng chứ không phải kêu gọi những kẻ đang phải chống trả để tự vệ.

Các triết gia Tây Phương như Jean Paul Sart, André Gide cũng đã có một thời ủng hộ bạo lực đẫm máu của Staline, Mao Trạch Đông, Tito…. Nhưng rồi đến năm 1979 thì chính Jean Paul Sart đã hô hào cho một chương trình quyên góp, thuê những chiếc tàu đi vớt người Việt Nam tị nạn đang bị trôi dạt trên Biển Đông. Triết gia đã gặp những người Việt Nam tị nạn; và ông hiểu vì sao người ta phải tránh xa cái chế độ đó, kể cả bằng cái giá là sự chết. Còn Adré Gide thì sống trong ân hận không nguôi.

Cái sai, cái ác vẫn chưa qua

Bà Kiều Chinh cho rằng cái chế độ đó đã chấm dứt từ 25 năm về trước, bà cho rằng nó đã qua. Nhưng hiện nay, ngay khi bà đang ngồi nói chuyện với cháu của bà trong quán cà phê thì vẫn có 2 công an theo dõi bà. Vậy thì chuyện sẽ xảy ra như thế nào cho những người nói xấu chế độ trong cái quán cà phê đó?

Chỉ vì lỡ nói xấu chế độ tại một quán cà phê mà cha của bà phải lãnh cái án 5 năm tù, và anh của bà đã bị 5 năm tù vì tội chơi nhạc chính trị ngoài luồng; thì ngày nay Nguyễn Xuân Tụ bị tù vì tội nói xấu chế độ và Phạm Hồng Sơn cũng vào tù vì tội dịch tài liệu nói về nhân quyền của Hoa Kỳ. Chứng tỏ bà Kiều Chinh đã sai lầm khi bà cho rằng những chuyện đó đã qua.

Càng sai lầm hơn nữa là không những chuyện đó đang xảy ra trong hiện tại mà nó sẽ diễn ra trong tương lai bất tận. Không phải là những chuyện oan khiên đơn giản mà còn có biết bao nhiêu oan khiên còn thê thảm hơn vậy nữa.

Nếu bà Kiều Chinh chịu khó xem tin tức hằng ngày tại Việt Nam thì bà sẽ biết hiện nay mỗi ngày có bao nhiêu bé gái Việt Nam bị bán sang nước ngoài để làm điếm. Hiện nay mỗi ngày có bao nhiêu người con gái Việt Nam cắn răng bước chân ra xứ lạ để làm vợ người ta với 9 rủi 1 may nhằm cứu vãn kinh tế gia đình. Thỉnh thoảng báo chí loan tin có những cô gái Việt Nam chịu nhục nhã, cởi quần áo cho khách buôn người xem xét như là xem xét một món hàng?

Thế nhưng không có một ai lên tiếng chịu trách nhiệm về những thảm cảnh đó. Và cũng không ai dám lên tiếng bắt ai đó phải chịu trách nhiệm. Trong khi mọi người đều biết đây là trách nhiệm của những người cầm quyền. Nhưng rõ ràng những kẻ đang nắm quyền hiện nay đã có thái độ vô tư với những chuyện đó. Họ coi như nó không hề xảy ra trên cõi đời này. Thậm chí những nạn nhân đến cầu cứu họ thì họ lại đứng về phe kẻ ác mà hăm họa bịt miệng các nạn nhân. Vậy thì có nên truất phế cái chế độ vô nhân đó đi hay không?

Tha thứ cho kẻ cướp đã lấy những cái mà mình vứt bỏ?

Bà Kiều Chinh nói với phóng viên Orange County Register: “Tôi đã có một ngôi nhà đẹp tại Hà Nội và tôi mất nó. Tôi cũng đã có một ngôi nhà đẹp tại Sài Gòn và tôi cũng mất nó. Vì thế hiện nay tôi đang có một căn nhà khác, nhưng tôi sẽ chẳng quan tâm nếu tôi lại mất nó”.

Bà đã thản nhiên vứt bỏ những căn nhà của bà bởi vì bà kiếm ra nó dễ dàng quá, nó chỉ là một góc sự sản của bà. Sau khi vứt bỏ căn nhà ở chỗ này thì bà lại có một căn nhà khác tại chỗ kia to đẹp hơn, cho nên bà có thể bình thản khi nghĩ tới những lần mất nhà.

Không thể so sánh với niềm đau mất nhà của những người khác, nhất là những phụ nữ khác. Căn nhà của họ tuy không đáng giá là bao so với nhà của bà Kiều Chinh nhưng nó là máu, là thịt của họ. Họ đã nhịn ăn nhịn mặc, bắt cả chồng con dè xẻn để dồn vốn liếng mà tạo dựng lên căn nhà đó. Họ không đủ sức mua liền một lúc như bà Kiều Chinh. Mà họ phải đi gom từng viên gạch, từng hòn đá để lần hồi tạo dựng nên nó. Mới đầu chỉ là cái túp lều khiêm tốn, nhưng rồi với mồ hôi và công sức mới trở nên một ngôi nhà khang trang.

Họ thuộc từng viên gạch trong nhà, họ nhớ xuất xứ của từng thanh sắt đổ sàn bê tông và họ nhớ cả những lần điếng người lo chạy nợ để thanh toán tiền vật liệu hay tiền mua đất. Nhưng họ vẫn vui vì căn nhà đã thành hình trong tiếng cười của trẻ thơ, tiếng nô đùa hằng ngày của con trai, con gái của họ.

Nhưng họ lại không mất nhà một cách đơn giản như bà Kiều Chinh. Nói cho đúng ra là bà Kiều Chinh đã chủ động từ bỏ những ngôi nhà đó mà ra đi. Còn những người phụ nữ khác lại không được như vậy, họ bị đuổi ra khỏi nhà vào nửa đêm với mỗi người hai cái xách trên tay.

Họ ra khỏi nhà trong tiếng gào của mẹ già, trong tiếng khóc của con nhỏ, dưới họng súng của quân ăn cướp. Nửa đêm mẹ con, bà cháu chợt hốt hoảng thấy mình bơ vơ giữa gió lạnh, không biết đi về đâu, sống làm sao, trong khi không biết người chồng có còn sống trong trại tù hay không; hay là đã bị chôn sống trong một rừng hoang nào đó. Dĩ nhiên là những đứa bé cũng không thể nào quên.

Vậy thì ngày nay những người phụ nữ đó có nên trở về VN như bà Kiều Chinh hay không? Về để nhìn lại căn nhà của mình đang bị quân ăn cướp chiếm ngụ? Về để nhìn con cháu mình đang còng lưng cúi đầu làm trâu ngựa cho quân gian tà? Về để thấy cảnh ăn chơi phè phỡn trên lưng của bà con thân thuộc của mình?!…

Bà Kiều Chinh mạnh miệng cho rằng con cháu sẽ phán xét giữa tinh thần tha thứ của bà với tinh thần hận thù của những ông sĩ quan VNCH. Nhưng có lẽ không cần đợi đến con cháu. Chỉ cần nghe những lời tuyên bố được lập đi lập lại của bà Jane Fonda, rằng bà ta sẽ ân hận cho tới khi xuống mồ… thì đủ biết ai đúng ai sai..

Trước khi nói lên lời tha thứ cho CSVN thì bà Kiều Chinh đã có bao giờ nghĩ tới chuyện nói lên lời cám ơn những người đã đổ máu ra vì tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam hay chưa? Và bà nghĩ bà có đủ tư cách để nói lên lời cám ơn họ hay không?

Bùi Anh Trinh
—————————————–

//

Tập truyện HOA VÔNG VANG_ Nhà văn Đỗ-Tốn

ĐỖ TỐN “Hoa Vông Vang” –  “Ả Hẩu” & NGUYỄN THỊ NHƯ BĂNG “Hồi Ký Như Băng”

Image may contain: flower, plant and text  Image may contain: 1 person, text

Tập truyện “Hoa Vông Vang” – “Ả Hẩu” – “Hồi Ký Như Băng”, do Việt Tide xuất bản tháng 5 năm 2019, là một tập hợp văn chương gồm 3 phần:

1. Tập “Hoa Vông Vang”, một tập truyện ngắn của nhà văn Đỗ Tốn được xuất bản lần đầu tiên năm 1945

2. Truyện ngắn “Ả Hẩu”, một tự truyện, cũng do nhà văn Đỗ Tốn viết và cho đăng trên báo tại Saigon vào thập niên 1960

3. Hồi Ký của bà Nguyễn thị Như Băng, phu nhân nhà văn Đỗ Tốn, khởi viết vào năm 1987 tại California, Hoa Kỳ, ghi lại những ký ức về thời niên thiếu của mình tại Lạng Sơn và những năm tháng sống lưu lạc bên đất Trung Hoa trước khi tìm đường trốn trở về Việt Nam

Chúng tôi, con của nhà văn Đỗ Tốn và bà Nguyễn thị Như Băng, đã quyết định cho xuất bản tập truyện và hồi ký này vì:

– Trước hết chúng tôi muốn đóng góp trong việc bảo tồn nền văn chương Việt Nam và không muốn để mất vào quên lãng một tác phẩm có giá trị. Ý tưởng này đã hình thành một phần cũng nhờ một số thân hữu đã khích lệ, khuyến khích. Nhất là những người đã từng yêu mến “Hoa Vông Vang” ngày trước không có sách để đọc lại. Mà chúng tôi khi ra các tiệm sách Việt Nam ở California hỏi mua để biếu bạn cũng không có để mua.

– Kế đến, việc cho xuất bản Tập Truyện và Hồi Ký này cũng là một cách để chúng tôi gửi đến Bố Mẹ chúng tôi tất cả lòng kính yêu và ngưỡng mộ đối với Bố Mẹ.

– Sau cùng, chúng tôi tin là khi đọc hết Tập Truyện và Hồi Ký này, độc giả sẽ cảm thấy được là mình đã cùng sống, cùng chia sẻ với tác giả Đỗ Tốn và Như Băng những thăng trầm trong lịch sử của đất nước:

* Đọc qua những truyện trong tập “Hoa Vông Vang”, chúng ta sống lại cùng tác giả cả một thời thơ mộng, lãng mạn, đam mê, si dại của tuổi mới lớn, mới biết yêu trước khi bước qua một thế giới khác, thế giới khốc liệt của truyện “Ả Hẩu”.

* Đây là một thế giới đầy thử thách, cam go, cùng khổ và phiêu lưu của chàng trai trẻ, tuổi mới đôi mươi, đầy nhiệt huyết, đi theo cách mạng rồi phải sống đời lưu vong nơi đất khách.

* Song song với hai truyện trên, tập “Hồi Ký Như Băng”, như một cuốn phim, ghi lại cuộc đời của mẹ tôi, từ một cô gái ngây thơ sống cùng mẹ và anh, chị, em tại Lạng Sơn, vì chiến tranh dành quyền lực để đô hộ nước ta giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật, đã phải đột ngột chạy trốn cùng một số người qua biên giới Tàu thời 1940. Mấy năm lưu lạc xứ người cô gái ấy sống ra sao? Và đã gặp được tình yêu của đời mình như thế nào? Và rồi làm sao để trở về quê hương đây khi bao gian nguy đang rập rình trước mặt…?

//

Thêm ‘tình tiết’ về TCS, 1 kẻ “ăn cơm QG thờ ma VC”!

Vô Vi to Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa – March 2

Image may contain: 1 person, smiling, eyeglasses`
MỘT CHÚT CHI TIẾT CHÓ MÁ VỀ THẰNG KHỐN NẠN TRỊNH CÔN SƠN./- Mt68
***Mt68 Trích y 1 đọan bài viết của Hòang Hải Thủy:

Trịnh công Sơn kể về: Thời kỳ trốn lính

“Tôi có được hai năm sống thong dong hợp pháp như tất cả mọi người đàng hoàng đứng đắn trên mặt đất. Muốn được thế, tôi đã phải đánh đổi bằng gần sáu mươi ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm, mỗi năm 30 ngày nhịn đói liên tiếp trước khi trình diện khám sức khỏe để nhập ngũ, để đạt được cái mức độ không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để làm một người lính. Nhưng muốn xuống kí-lô nhanh còn phải không ngủ và uống thêm thuốc Diamox, một thứ thuốc rút nước trong các tế bào ra. Qua năm thứ ba tôi không ra trình diện nữa vì thấy không đủ sức khoẻ để nhịn đói nữa. Trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù được nhìn dưới một góc độ nào đó còn mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc đến như một nốt nhạc trong trẻo đã ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam.

Tôi đã sống lang thang như một kẻ vô gia cư, vô định trú thứ thiệt. Thời gian không lâu, chỉ kéo dài khoảng ba năm, đó là lúc tôi sống cùng một số sinh viên trốn lính khác trong những căn nhà tiền chế tồi tàn bỏ trống ở khu đất sau Trường Đại học Văn khoa. Ở đây có một lợi thế là rất hiếm bị cảnh sát khám xét. Vào thời điểm ấy, trên khoảng đất trống lại mọc thêm cái trụ sở Hội Hoạ Sĩ trẻ bằng gỗ. Đêm ngủ của tôi cứ thay đổi từ trên cái ghế bố trong túp lều này qua cái mặt nền xi măng của trụ sở hội nọ. Việc ăn uống đã có hàng quán dọc đường. Rửa mặt, đánh răng thì mỗi sáng vào phòng vệ sinh của những quán cà phê quen, chỉ có việc mang theo khăn, kem và bàn chải đánh răng.

Thế đấy, nhưng chính những năm này là những năm sôi động nhất của đời tôi. Sống trong tình trạng bấp bênh như thế tôi vẫn phải làm việc không ngừng để sống. Tôi vẫn viết đều tay và vẫn tiếp tục đi hát. Những ca khúc của tôi được in ra từng tờ rời và từng tuyển tập. Công việc in ấn và phát hành do người em ruột của tôi, cũng trốn lính, chăm lo. Việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi. Cảnh sát lúc bấy giờ vào tận các nhà in để truy lùng. Thế là phải đổi kế hoạch. Thay vì in trong một nhà in, nay phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau. Tịch thu nơi này còn nơi khác, và dĩ nhiên, chuyện đi đứng không phải dễ dàng. Đi từ một nhà in ở vùng Sài Gòn đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi.

Sau lệnh tịch thu, tất cả báo chí trong và ngoài nước đều đưa tin . Các hãng thông tấn và truyền hình truyền thanh nước ngoài ào ạt đổ xô về những nơi ăn chốn ở rất là ” híp-pi” đó của tôi càng lúc càng đông. Mỗi ngày trung bình ít lắm cũng phải ba lần phỏng vấn, thu hình, thu mặt. Tôi bỗng trở nên người nổi tiếng bất đắc dĩ.

Ban đầu sự kiện này cũng mang đến cho tôi chút niềm vui nhưng càng về sau càng trở thành một tai nạn. Ký giả, chuyên viên TiVi ngoại quốc săn đuổi tôi đến những chỗ tôi lánh mặt xa nhất. Từ Sài Gòn tôi ra Huế, chỉ vài hôm sau đã thấy có mấy mạng người đủ các màu da, xứ sở khác nhau xuất hiện ở cửa nhà tôi ở. Đời sống bỗng chốc mất đi cái tự do được quyền không nói năng, được quyền ngồi yên tĩnh một mình mà suy ngẫm cho đến nơi đến chốn bao nhiêu điều mình chưa biết trong cõi đời rộng lớn này. Tôi phải sống những khoảnh khắc phù phiếm trên báo chí và trước ống kính ấy cho đến mười ngày trước ngày thành phố được hoàn toàn giải phóng. Giờ đây sau hai mươi năm thành phố đã mang tên Bác, thỉnh thoảng vẫn còn những cuộc phỏng vấn của người nước ngoài, nhưng việc đó không còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng nữa.

Nhẩm tính lại, tôi đã hùn hạp tất cả vốn liếng của mình vào cái đại gia đình trốn lính vừa tròn chẵn mười ba năm.

Đã qua hẳn rồi cái thời của “bèo giạt mây trôi”, của những giấc ngủ bị săn đuổi. ( sđd tr. 179-183 )

Nguyễn quang Sáng viết về: Anh Sáu Dân và Trịnh Công Sơn

Hơn hai mươi năm trước, đồng chí Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt “rủ” Trịnh Công Sơn và tôi đi khảo sát đất Trị An. Từ chuyến đi ấy Trịnh Công Sơn và tôi cũng như một số bạn bè gọi đồng chí Bí thư là anh Sáu — anh Sáu Dân — rất thân mật.

Buổi chiều trên đường từ Trị An về mưa gió mịt mù. Sơn và tôi ngồi trên xe jeep. Về đến nhà anh Sáu, áo của Sơn đổi màu mưa bụi. Còn tôi, nhờ có chiếc áo gió, áo trong của tôi còn sạch. Anh Sáu bảo chúng tôi đi tắm, rồi anh Sáu lấy một chiếc áo của anh cho Sơn mặc. Chiếc áo ấy Sơn vẫn để trong tủ áo của mình, ít ai biết.

Với tôi, anh Sáu là một nghệ sĩ, nghệ sĩ với con người chiến sĩ của anh. Không có khoảng cách về tuổi tác, cương vị xã hội, hai người nghệ sĩ ấy gặp nhau, trở thành đôi bạn chia sẻ nhiều nỗi niềm. Trong những năm khó khăn, cơm độn bo bo, có lần anh Sáu gởi gạo đến cho gia đình Trịnh Công Sơn. Anh Sáu tâm sự với Sơn “Anh em trí thức ở thành phố mình bỏ đi nhiều quá. Chúng ta làm sao giữ anh em lại, cùng xây dựng đất nước.” Sau đó Trịnh Công Sơn viết ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên“. Lần thứ hai, anh Sáu nói với Sơn “Trong lúc khó khăn này, làm sao mọi người đều có niềm tin, niềm vui, vượt lên khó khăn để xây dựng Thành phố…” Thế là Trịnh Công Sơn cho ra bài “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui“.

Anh Sáu về Trung Ương, làm Thủ Tướng, Cố Vấn BCH Trung Ương Đảng, mỗi lần về SàiGòn, anh hay gặp lại bạn bè. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, thường có Trịnh Công Sơn. Bao giờ Sơn cũng ngồi gần sát anh Sáu, như không thể cách xa nhau. Anh Sáu kể về những chuyến anh đi thăm dân. Rồi ai có sáng tác nào mới, hát cho anh nghe. Trần Long Ẩn chuyên hát lời hai, lời ba. Nguyễn Duy đọc thơ, Trịnh Công Sơn chưa có bài mới thì tùy hứng hát bài cũ. Chị Sáu, vợ anh Sáu, nói “Sao mà tôi thích cái câu — sỏi đá cũng cần có nhau — sâu xa quá!“. Thế là Trịnh Công Sơn cầm đàn hát “Diễm xưa“. Thật khó có người nào hát những bài hát của Sơn hay bằng Sơn.

Anh Sáu nói anh vừa nghe Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ lúc 5giờ30 sáng, bình luận về ba nhạc sĩ lớn của Việt Nam: Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Đài Hoa Kỳ nói “Ca từ của Trịnh Công Sơn là lời của phù thủy“. Anh Sáu nói “Họ không hiểu nổi ý nghĩa nhiều tầng, nhiều góc ca từ của Trịnh Công Sơn, nên họ đành phải nói đó là lời của phù thủy”. Trịnh Công Sơn không ngạc nhiên về lời bình của Đài Hoa Kỳ mà ngạc nhiên: “Anh Sáu theo dõi kỹ vậy à? Thế mà anh em mình không ai biết“.

Một tối, anh Sáu rủ Sơn và tôi đến nhà. Anh lấy chai rượu Mao Đài đãi hai chúng tôi. Sơn uống và xỉn. Thế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu dạy Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm chánh trị.

– Anh đi Nhật mà không cho em cùng đi là yếu về chính trị. Người Nhật họ quý em lắm. Anh đi nước ngoài anh phải.., phải.., phải..

Anh Sáu và tôi cứ cười, Sơn thì cứ nói thao thao.

Một ngày cuối tháng Ba năm nay, tôi báo với anh Sáu là Sơn bịnh nhiều, Sơn đang nằm cấp cứu trong bịnh viện. Anh Sáu nói:

– Mai mình đi Hà Nội, sau Đại Hội Đảng mình về, mình sẽ đến thăm Sơn. Xem nước ngoài nào chữa được bệnh cho Sơn, mình tạo điều kiện để Sơn đi chữa bệnh

Nhưng không kịp nữa, chiều ngày 1/4/2001 tôi gọi điện thoại cho anh “Anh Sáu ơi! Sơn mất rồi…” Anh hỏi, anh nói nhưng tôi không nhớ gì, chỉ nhớ anh nói: “Đau lòng quá!” và chị Sáu kêu lên ” …. Buồn quá…”

//