ĐƯỜNG NÀO CHO ÔNG GS TƯƠNG-LAI ?

  • Nguồn trích đăng: Trang nhà TinParis

  ĐƯỜNG NÀO CHO GS TƯƠNG LAI ?

– Kiêm Ái 

*  *

Image result for Hình chụp GS Tuong Lai

GS Tương Lai; (Hình Internet, posted by tunhan)

“Tuyên bố của tôi là dứt bỏ mọi liên hệ với đảng Nguyễn Phú Trọng thao túng để tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên Đảng Lao động, đảng của Hồ Chí Minh”.

Trên đây là lời tuyên bố của giáo sư Tương Lai, “một nhà trí thức bất đồng hàng đầu ở Việt Nam” như đài VOA giới thiệu. Câu tuyên bố trên gói trọn lập trường cũng như sự “tiếp tục chiến đấu với tư cách là đảng viên Đảng Lao Động, đảng của Hồ Chí Minh” của ông giáo sư Tương Lai.

Đảng Lao Động, đảng của Hồ Chí Minh ai thành lập và thành lập trong trường hợp nào, chủ trương đường lối của Đảng Lao Động của ông Hồ Chí Minh ra sao?

Năm 1945, đảng Cộng Sản Đông Dương ngày càng bị vạch mặt, uy tín trong dân chúng đã xuống quá thấp không thể cứu vãn, nhứt là đối với giới Công giáo (điển hình là Giám mục Lê Hữu Từ đã lập “Khu Tự Trị” chống lại Việt Minh Cộng Sản và năm 1954 đa số người Công Giáo đã di cư tránh khỏi nanh vuốt của Hồ Chí Minh – những địa danh Ba Làng, Quỳnh Lưu v.v… là những bằng chứng cụ thể – và trí thức Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phải giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương, hay đúng hơn là đảng Cộng Sản Đông Dương phải lùi vào bóng tối với cái tên “Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác”. Nhưng khi diện kiến Stalin tại Điện Kremlin đầu năm 1950, Stalin đã ra lệnh cho Hồ Chí Minh: một là phải để đảng Cộng Sản ra công khai, hai là thi hành Cải Cách Ruộng Đất. Do đó, khi về lại Việt Nam, Hồ Chí Minh đã mở Đại Hội Đảng vào tháng 12 năm 1951 tại miền Bắc và đảng Cộng Sản ra công khai với cái tên ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM. Nói cách khác đảng Lao Động Việt Nam và đảng Cộng Sản là một. Tuy vậy, có nhiều đảng viên vẫn hoài nghi (vì Hồ Chí Minh có tiếng gian manh quỷ quyệt) do đó, Hồ Chí Minh đã có lần giải thích bằng “biện chứng pháp”. Ông dơ cao mặt trước bao thuốc là  Caraven “A” trước cử tọa và nói “Đây là đảng Cộng Sản” rồi đưa phía sau của bao thuốc và nói “Đây là đảng Lao Động Việt Nam” rồi hỏi các đồng chí có thấy cái gì khác nhau không? Mọi người trả lời không!!! Ông ta nói thêm rằng việc đổi tên  đảng đã được 2 đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông đồng ý. Và các đồng chí nên nhớ rằng ai cũng có thể sai chứ 2 đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông thì không thể sai được (sic). Đúng là bảo hoàng hơn vua, một tên đầy tớ trung thành còn hơn sự trung thành của loài chó!!!. Và sau đó là Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất, giết chết một cách dã man hơn 200 ngàn địa chủ theo tỉ lệ 5% dân làng, ví dụ một xã có 1.000 dân, phải giết 50 địa chủ, nếu không đủ thì đôn trung nông lên. Vì thế có xã phải giết cả những kẻ chỉ có 5 sào ruộng và tự canh tác lấy, không thuê mướn ai, không làm chủ ai !

Giáo sư Tương Lai cất cao giọng xác nhận: “Chính ông Hồ Chí Minh, trước đây khi thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến sau năm 1946, sau Cách mạng tháng 8, thì đó là chính phủ đa đảng đấy chứ. Và chí ít sau đó cũng có 3 đảng, Đảng Lao động Việt Nam, Ðảng Dân chủ, và Đảng Xã hội Việt Nam, chính là do ông Hồ Chí Minh chủ động thúc đẩy việc thành lập, và tạo mọi điều kiện để thành lập. Ðảng Dân chủ là đảng của các nhà thông thương, các nhà kinh tế. Đảng Xã hội là đảng của các nhà trí thức.”

Trên thực tế thì 2 đảng Dân Chủ và Xã Hội đều do Hồ Chí Minh chỉ thị dùng đảng viên đảng Cộng Sản, hay đảng Lao Động Việt Nam thành lập để “khoe” với dư luận Việt Nam có đa đảng, cũng như thành lập chính phủ Liên Hiệp chỉ là thủ đoạn để các đảng phái quốc gia dần dà bị Cộng Sản tiêu diệt và giành độc quyền chống Pháp với mục đích bành trướng Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản như lời tuyên bố của Hồ Chí Minh sau chiến thắng Điện Biên Phủ: “Nhận chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản về vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã làm tròn nhiệm vụ” Hồ Chí Minh tuyên bố lời này dưới danh nghĩa đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản, thưa giáo sư? Với câu tuyên bố này Hồ Chí Minh đã minh định cuộc chiến 1945-1954 chỉ là cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản chứ đâu có phải là chiến đấu giành độc lập cho dân tộc? Mục đích này còn được chứng minh khi Hồ Chí Minh lợi dụng “liên hiệp với các đảng phái quốc gia chống Pháp” bị Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn Cộng sản thủ tiêu, ám sát…các đảng phái khác như Việt Nam Quốc Dân Đảng là một ví dụ cụ thể. Cũng như trong cuộc chiến 1960-1975, mỗi lần “đình chiến” là mỗi lần Cộng Sản lợi dụng để tấn công Quân Lực VNCH mà Tết Mậu Thân là một ví dụ điển hình nhứt.

Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình của dân Việt Nam chống Trung Cộng, thanh trừng nội bộ những đảng viên nào chống Trung Cộng, chỉ là một hậu duệ “rặc giống” của Hồ Chí Minh hay là kẻ tiếp tục những gì Đảng Lao Động của Hồ Chí Minh ngày trước đang còn dở dang mà thôi.

Hiện nay, từ quốc nội ra hải ngoại, kể cả Trung Cộng đều nói đến “Hiệp Định Thành Đô” trong đó Việt Nam sẽ trở nên một phần lãnh thổ của Trung Cộng (?), nhưng cho đến nay, cái hiệp ước này không hay chưa được phổ biến. Trái lại, ngày 4.9.1958, Bắc Kinh tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng. Bản tuyên bố nói rằng điều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc gồm các vùng đảo Dongsha Xisha (Hoàng Sa), Zhongsha, Nansha (Trường Sa) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Hoa. Đến ngày 14.9.1958 Phạm Văn Đồng đã ký một công hàm gởi Chu Ân Lai có nội dung:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính Phủ VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

Có nghĩa là VC công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng dù lúc đó 2 quần đảo này đang được VNCH cai quản và bảo vệ. Đây là bản văn gì, thưa  Giáo sư Tương Lai? Có phải là một văn kiện cho không Trung Cộng hai quần đảo  Hoàng Sa và Trường Sa “và các vùng đảo khác hay không? Không, có thể đây là sự trao đổi để Hồ Chí Minh nhận một số lượng vũ khí quân trang, quân dụng để xâm lăng Miền Nam. Hoàng Minh Chính, một trong những cán bộ VC tuân lệnh Hồ Chí Minh thành lập đảng Dân Chủ, khi sang Hoa Kỳ để lập “Ban Tròn Ba Bên” gồm thâu người Việt ti nạn Cộng Sản ở Hải ngoại về cho Đảng (nhưng thất bại), khi trả lời câu hỏi của Ban Biên Tập tuần báo Tiếng Dân của chúng tôi, đã phải xác nhận”Ông Hồ Chí Minh có tội? – Tội gì? – Tội phản quốc. Tại sao? – Vì lúc đó Hồ Chí Minh là Tổng Bí Thư Đảng và Chủ Tịch Nước. Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã bán nước có văn tự, lúc này đảng đang mang tên là ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM, nếu sau này đảng Lao Động của Hồ Chí Minh sống lại – dĩ nhiên là công lao của giáo sư thuộc hàng đầu, giáo sư Tương Lai có đồng quan điểm của Hoàng Minh Chính hay không? Đây là một trong triệu triệu hành động phản dân hại nước của Hồ Chí Minh lãnh tụ của  Đảng Lao Động Việt Nam, so sánh với “đảng của Nguyễn Phú Trọng” đảng nào phản dân hại nước hơn đảng nào?

– Trong “Đêm giữa Ban Ngày”, Vũ Thư Hiên đã ghi lại lời của người bạn

“Chúng ta nhầm rồi, ông Hồ cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải là ông vua hiền, ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Và ông ấy là quỷ vương”.

Nguyễn Phú Trọng chỉ là một con quỷ con, tác phẩm của quỷ vương Hồ Chí Minh mà thôi, thưa giáo sư Tương Lai. Giáo sư tách khỏi đảng của quỷ con Nguyễn Phú Trọng, làm sống lại đảng của quỷ vương Hồ Chí Minh dân chúng sẽ khiếp sợ giáo sư, hơn là nghe theo giáo sư. Họ sẽ nghi ngờ giáo sư chỉ là kẻ “chống đảng để cứu đảng”, hay là chống Trọng để cứu Trọng mà thôi. Gs Tương Lai lại không giấu ý định câu giờ hay hoãn binh chi kế cho Nguyễn Phú Trọng với những “cụm từ”:

…Khi nói thay đổi thể chế, chúng tôi muốn nói thay đổi một cách hòa bình, chuyển hóa dần dần, để các tư tưởng bảo thủ, trì trệ một duy trì một chế độ toàn trị phản dân chủ dần dần phải thay đổi, và thay đổi vào đó là một chế độ dân chủ hơn …Đương nhiên dân chủ không thể một sớm một chiều mà có được. Dân chủ phải là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài với nhiều phương thức, nhiều hoạt động, nhiều lực lượng, nhiều sự phối hợp và tùy theo tình thế.

Hiện nay, trong nước đang có sự đấu đá một mất một còn giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng mà tên nào thắng cũng phản quốc hại dân. Trong khi đó thì giáo sư Tương Lai, “một trí thức bất đồng hàng đầu ở Việt Nam như VOA giới thiệu; lại quyết liệt “bỏ đảng Nguyễn Phú Trọng” và chiếu đấu dể phục sinh Đảng Lao Động Việt Nam – với những “thành tích” của giáo sư vừa nêu trên – không biết có dính dáng gì đến phe Nguyễn Tấn Dũng hay không.

Nhưng giáo sư Tương Lai đã quên một lực lượng quan trọng đang ngày một phát triển mạnh mẽ ở trong nước. Lực lượng này quá sợ cái Đảng Lao Động Việt Nam của Hồ Chí Minh, tức không thể chấp nhận một hậu duệ nhiệt thành của Hồ Chí Minh như giáo sư được. Họ cũng không chấp nhận được Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Tấn Dũng, vì cả 2 tên này cũng chỉ là hậu duệ của Hồ Chí Minh. Và chắc chắn một điều đó là trong tay của giáo sư Tương Lai đang có đông đảo đảng viên Dân Chủ “cuồng tín Hồ Chí Minh” và cũng như giáo sư họ đang “chờ sung rụng” chứ chưa làm gì cả. Và nếu một khi cờ đến tay họ thì họ lại lấy sách lược của Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động Việt Nam mà giết hại họ. Do đó “họ”, những thành phần dân chúng đang liều chết tiêu diệt quyền lực Cộng Sản để mang lại cho Việt Nam một thể chế dân chủ, độc lập tự do, không lệ thuộc Trung Cộng. 

Giáo sư Tương Lai sẽ đi đường nào? Đường nào thì đó là tự do của giáo sư, nhưng nếu theo một trong 3 đường trên – Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và Hồ Chí Minh – giáo sư sẽ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Kiêm Ái 
Sept.10.2017

NGUYỄN LÂN – Gia Tộc CƠ HỘI và HÁM DANH NHẤT VN (6)

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

NGUYỄN LÂN – GIA TỘC CƠ HỘI VÀ HÁM DANH NHẤT VIỆT NAM (6)

2017- NĂM HẠN CỦA GIA TỘC NGUYỄN LÂN

Năm Con Gà – Đinh Dậu quả là một năm mang lại hạn rất nặng cho gia tộc hám danh Nguyễn Lân.

Báo Tuổi Trẻ ngày 08/09/2017

Vốn dĩ các thủ đoạn: luồn sâu leo cao- kiên nhẫn luồn lọt-đổ bê tông cố thủ ghế và thừa kế các chức vị đã giành được cho con cháu là những tuyệt học mà anh giáo làng nguyễn lân đã luyện được đến mức thượng thừa và truyền dạy cẩn thận cho con cháu trong gia tộc này. Cho nên ta không lạ gì khi thấy nguyễn lân trung truyền ghế ở khoa ngoại ngữ Đại Học Sư Phạm Hà Nội cho con gái nguyễn ngọc lưu ly sau khi chiếm giữ nhiều năm trời nhờ thế lực bên ngoại từng là bộ trưởng giáo dục, rồi nguyễn lân dũng truyền chiếc ghế đại biểu quốc hội ở An Giang thuộc Nam Bộ cho thằng quý tử nguyễn lân hiếu (cả hai cha con thằng Bắc Kỳ này cả năm mới ghé tỉnh Viễn Tây Nam Bộ này vài ngày thì chả hiểu làm sao mà đại diện cho dân chúng vùng này?). Và nhất là nguyễn lân hùng, đứa con thứ 5 của nguyễn lân, đã giành được và truyền trao chiếc ghế trưởng khoa sinh học đại học sư phạm Hà Nội cho thằng quý tử nguyễn lân hùng sơn.

Do leo lên bằng thế lực của gia tộc nên nguyễn lân hùng sơn không có được uy tín trong giới học thuật và cán bộ giảng viên của trường đại học sư phạm. Để sơn phết cho hùng sơn một lớp vỏ hào nhoáng nhằm củng cố địa vị và có thể leo cao hơn, gia tộc nguyễn lân lại sử dụng chiêu bài cũ của những kẻ cơ hội và hám danh: mua danh cho nguyễn lân hùng sơn. Nhân Giáo Sư Võ Quý – cây đại thụ của ngành sinh vật học Việt Nam- đã qua đời nhưng còn nhiều trước tác chưa xuất bản, gia tộc nguyễn lân đã thương lượng để bỏ tiền xuất bản tác phẩm Chim Việt Nam của cố Giáo sư Võ Quý. Chuyện thật là đáng trân trọng nếu họ làm được một nghĩa cử đẹp cho GS Võ Quý và cộng đồng khoa học.
Nhưng không! Gia tộc cơ hội và hám danh này đâu có rảnh để đi làm chuyện nghĩa hiệp.

hùng sơn trịch thượng đứng tên chung GS Võ Quý

Chúng bỏ tiền ra in tác phẩm của GS Võ Quý thật đẹp, thật dày, thật mắc tiền để cho thằng cháu nguyễn lân hùng sơn được đứng tên ngang hàng với vị Giáo sư thứ thiệt như là một đồng tác giả. Ai cũng biết tác phẩm Chim Việt Nam là công trình khoa học quan trọng tầm cỡ thế giới, là cả một đời đơn độc dốc hết tâm huyết nghiên cứu của GS Võ Quý.  Tuổi nào, trình độ nào mà hùng sơn được đứng tên ngang hàng với GS Võ Quý? Xin nhận giúp việc phần tìm các hình ảnh các loài chim để đưa vào minh họa trong sách rồi trịch thượng đưa tên mình lên làm đồng tác giả một tác phẩm chứa đựng cả đời nghiên cứu của vị GS khả kính thì chỉ có những truyền nhân của anh giáo làng dốt đặc mà ngông cuồng viết tự điển dạy dỗ người ta về chữ nghĩa mới dám làm.
Nhưng trời cao có mắt! Hay nói cách khách là Trời Bất Dung Gian.
Những thứ ma mãnh, trộm vặt, điêu toa thì không thể nào qua mắt được Thiên Đạo.
nguyễn lân hùng sơn bị phát hiện đã ăn cắp hình ảnh chụp chim của những Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng đưa vào sách Chim Việt Nam, mà đấy chính là phần việc mà anh ta lẽ ra phải làm để được leo lên đứng tên làm đồng tác giả của sách. Nhục nhã thay, nguyễn lân hùng sơn lại đi ăn cắp để tạo danh tiếng trong giới khoa học.

TG Hoàng Tuấn Công và sách phê bình 5 cuốn từ điển của nguyễn lân

Sự việc đổ bể trong tháng 05/2017, đã làm chúng tôi bức xúc mà khởi động cho loạt bài phơi bày sự nhơ bẩn của gia tộc này. Đến tháng 08/2017 lại thêm một hạn xấu đổ lên đầu cái gia tộc được dựng nên bằng dối trá này: Tác giả Hoàng Tuấn Công đã xuất bản một cuốn sách dày hơn 500 trang để chỉ ra những sai sót trong cả 5 cuốn từ điển của nguyễn lân – tổ sáng lập của gia tộc hám danh. Điều đáng nói là từ điển là loại sách bắt buộc phải không có sai sót, nếu có sai phải sửa chữa nhanh nhất có thể hoặc tiêu hủy thì gia tộc mặt mo này lại bất chấp dư luận vẫn cứ tái bản đều đều các cuốn từ điển bát nháo xào nấu hầm bà lằng của nguyễn lân hết năm này đến năm khác.

Rất may là Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã ký quyết định tiêu hủy quyển Chim Việt Nam (một loại từ điển sinh học) sau khi các tác giả ảnh đệ đơn đi kiện nguyễn lân hùng sơn tội ăn cắp ảnh. Nếu không chúng ta lại có thêm một cuốn từ điển bát nháo xào nấu hầm bà lằng của gia tộc nguyễn lân, và nguyễn lân hùng sơn lại nghiễm nhiên leo lên hàng nhà khoa học có tên tuổi nhờ tài ăn cắp chất xám và thành quả lao động của người khác rồi khoác lên tấm áo mỹ miều “đồng tác giả” một tác phẩm danh tiếng của khoa học Việt Nam.

KARMA (NGHIỆP) là một khái niệm đã được văn minh Ấn Độ cổ đại đề cập từ rất lâu và luôn luôn đúng. Không ai có thể tránh khỏi cái QUẢ chính mình đã tạo ra.
Cả một gia tộc cơ hội và hám danh xây dựng cơ đồ bằng sự ma mãnh mặt dơi tai chuột, ăn cắp trộm vặt, thủ đoạn thượng đội hạ đạp thì sớm muộn gì cũng bị người đời phỉ nhổ, khinh bỉ. Bia Tiến Sĩ đá có thể tồn tại trăm năm, nhưng Bia Miệng thì nghìn đời. Rồi đây, cái kỷ lục “gia tộc cơ hội và hám danh nhất Việt Nam” sẽ lưu xú vạn niên cả dòng họ nguyễn lân – những người tự khoác cho mình chiếc áo “gia tộc khoa bảng và trí thức nhất Việt Nam.

//

 NÓN CỐI – S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến – NÓN CỐI!

Trong ánh mắt của chúng ta, tha nhân – hình như – ai cũng đang đội cái nón cối trên đầu, hay có vẻ như đang dấu một cái đuôi hay một cái gì đó sau lưng.

Cuối đời, Thanh Nam hay làm thơ và viết phiếm cho tờ Đất Mới – xuất bản ở Seattle, tiểu bang Washington. Ông phụ trách mục “Chuyện Quanh Bàn Nhậu”, và có “tha thiết” ngỏ ý mời tôi cộng tác.

Thưở ấy, những năm đầu của thập niên 80, tôi được coi là một “mầm non có (rất) nhiều triển vọng” – trong cả hai giới: cầm chai và cầm viết – nên “được lời như cởi tấm lòng.” Tôi hăm hở gửi đến ông câu chuyện đầu tiên, ghi được quanh bàn nhậu:

“Sau tháng 4 năm 1975 không lâu, bộ đội cũng như dân chúng hai miền Nam – Bắc đều muốn “giã từ” nón tai bèo và nón cối. Đội mãi rồi cũng ớn. Đến một lúc – tự nhiên – cả nước cùng chợt nhận ra rằng cả hai loại nón (thổ tả) này trông xấu xí, quê mùa đến độ không còn ai chịu nổi nữa.”

“Trước tình trạng này, một vị Ủy Viên Trung Ương Đảng bèn có ý kiến rằng nón tai bèo thì cho đi luôn là phải, để lại không những đã bận mắt mà còn có thể làm cho đám Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nổi giận (hay nổi loạn). Nhưng nón cối thì phải tìm cách lưu giữ.”

“Lý do được nêu ra là Đảng ta hoàn toàn không có tương lai, buộc phải sống nhờ vào dĩ vãng (nói cách khác là phải ăn mày dĩ vãng) mà trong chuyện lễ lạc rầm rộ để tưởng niệm những chiến thắng xa xưa thì rất cần nón cối. Thiếu nó “cách mạng” sẽ mất đi vẻ truyền thống …”

“Từ đó, ở Việt Nam có Viện Lưu Trữ Nón Cối. Làm giám đốc cái viện này – tất nhiên – không có cơ hội xà xẻo, móc ngoặc hoặc tham nhũng nhưng được cái là an nhàn và (chắc chắn) an thân. Ai cũng tưởng vậy mà không phải vậy.”

“Một hôm, Cục Tình Báo Hải Ngoại bỗng phát hiện ra cả trăm ngàn cái nón cối đã bị mang ra nước ngoài, và được xử dụng thường xuyên trong những cộng đồng người Việt tị nạn. Thế là vị giám đốc bị đưa ra toà, lãnh rất nhiều năm tù – và cả đống năm quản chế – với tội danh là “hoạt động gián điệp, tạo điều kiện cho kẻ địch xâm nhập vào hàng ngũ Đảng… “

“Bản cáo trạng về vụ án này, cũng như tất cả những bản cáo trạng (có liên quan đến gián điệp) trước cũng như sau đó của hệ thống pháp lý CHXHCNVN, chỉ là một sự vu cáo trắng trợn. Sự thực, số nón cối thất thoát đã không rơi vào tay bất cứ một tổ chức nào tại hải ngoại mà đều được mua lại bởi những cửa hàng – chuyên buôn bán những vật dụng dùng cho việc thủ dâm.”

– Đừng có giễu dở nha, cha nội. Trong vụ này nếu nghèo óc tưởng tượng và cần “tiếp thị” (visual aid) thì người ta mua báo Play Boy hay đồ lót của phụ nữ ở Secret’s Victoria chớ ai nhìn tới cái nón cối làm chi. Coi ghê thấy mẹ.

– Nói như vậy là biết một mà không biết hai. Thủ dâm có tới hai kiểu chớ không phải một.

– Thiệt vậy sao?

– Chớ sao, khi không có người bạn tình (sexual partner) bên cạnh mà có nhu cầu giải quyết những “bức xúc” sinh lý thì người ta mới nhìn vào (hoặc hình dung ra) một hình ảnh gợi dục nào đó để thủ dâm bằng tay. Còn khi muốn chống cộng quá cỡ mà dân làng Ba Đình Hà Nội ở quá xa, với không tới thì người ta dùng tới nón cối. Cứ chụp đại nó lên đầu bất cứ một thằng cha con mẹ nào đó, đang đứng sớ rớ ở kề bên, hô hoán lên nó là cộng sản hoặc làm tay sai cho cộng sản, rồi nhào vô đánh đấm túi bụi, chửi rủa xối xả cho nó …. đã (miệng). Đó là một hình thức “thủ dâm”, để thoả mãn nhu cầu tâm lý!”


Ảnh: Bruno BarBey. Nguồn: dulichvietnam.comSau khi đọc xong, Thanh Nam xé mấy trang bản thảo làm tư và vứt vào sọt rác. Trông ông (bỗng) nghiêm và buồn thấy rõ:

– Chụp mũ là một thảm kịch của chúng ta, không phải là một chuyện đùa. Nếu chú quan tâm đến vấn đề thì phải bỏ thời giờ suy nghĩ, tìm hiểu để viết một bài báo nghiêm chỉnh. Đâu phải chuyện gì cũng mang ra để cười giỡn được. Nói chú đừng tự ái chứ chuyện chú viết tôi cười… không nổi, nó chỉ khiến tôi buồn, và buồn (thiếu điều) muốn… chết! Rồi ông qua đời thật, không lâu, sau đó. Tôi ở lại hụt hẫng, thôi la cà quanh bàn nhậu nhưng vẫn uống lai rai, và (thường) uống mình ên. Đôi lúc, khi chuyếnh choáng, tôi vẫn nghĩ đến những câu thơ – đẫm nước mắt và hơi men – mà Thanh Nam làm lúc cuối đời, và món nợ về “thảm kịch chụp mũ” (vẫn) chưa thanh thỏa được với ông.

Có thời gian (ngăn ngắn) tôi làm xướng ngôn viên, trong một trại tị nạn, ở Thái Lan. Công việc hàng ngày chấm dứt đúng vào lúc 10 giờ tối, với thông báo cuối của ban phát thanh, như sau:

“Đồng hồ của phòng thông tin chúng tôi bây giờ là 10 giờ tối, xin mọi người vui lòng trở về lô lều của mình, và điều chỉnh mọi âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền người bên cạnh, đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Kính chúc đồng bào một đêm an lành và ngon giấc.” Tôi luôn luôn cảm thấy có đôi chút ngập ngừng ở câu nói cuối cùng. Vào thời điểm đó, suốt những năm dài của cả thập niên 1980, không ai trong số hàng triệu người Việt ở khắp những trại tị nạn Á Châu (kể cả những đứa bé thơ) có được một giấc ngủ bình thường – nói chi đến chuyện “an lành” hay “ngon giấc”. Những cơn ác mộng của những kẻ hốt hoảng, bồng bế dắt díu nhau bỏ chạy khỏi quê hương, đều gần giống như nhau: bị săn đuổi, bắt bớ, đánh đập, hãm hiếp, lạc lõng đói khát giữa biển trời bao la, hay bị chìm thuyền giữa đại dương giông bão …

Sau mộng mị, chúng tôi thường thức giấc giữa khuya – toát đẫm mồ hôi vì sợ hãi và mệt nhọc – nằm định thần một lát rồi… thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra rằng mình đã thoát, và (chỉ) vừa trải qua một giấc mơ! Mộng dữ như thế thưa dần, với thời gian, rồi dứt hẳn nơi phần lớn những người tị nạn – nhất là sau khi cuộc sống của họ đã tạm ổn định nơi vùng đất mới.

Tiến trình bình thường này, tiếc thay, không xẩy ra cho tất cả mọi người. Với số người còn lại, thỉnh thoảng, họ vẫn cứ tiếp tục bị mộng mị và những hồi ức hãi hùng theo đuổi. Một số ít hơn nữa thì sống hoàn toàn bình thường và an lành một thời gian, rồi bỗng dưng lại bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng hay những hồi tưởng về những kinh nghiệm khủng khiếp mà họ đã trải qua.

Trường hợp sau, có tên gọi là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) With Delay Onset. Theo DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học) thì dù “phát chậm” (delay) hay không, Hậu Chấn Thương Tâm Lý đều có nguyên nhân từ những biến cố kinh hoàng – ngoài sức chịu đựng bình thường của con người – thường xẩy ra nơi chiến trận, hay khi chúng ta là nạn nhân của sự bạo hành, hãm hiếp, cướp bóc, tù đầy, khủng bố, tra tấn …

Ngoài ác mộng và những hồi tưởng như thật, DSM – IV – TR cũng liệt kê đến những hội chứng khác nữa của PTSD như: nghi ngại thái quá, bất an, lãnh đạm (hypervigilance, sense of foreshortened future, feelings of detachment from others, sđd, trang 468).

Có đến mười phần trăm dân số Việt Nam (hay hơn nữa) đã trải qua cảnh vượt biên, tù đầy – hoặc cả hai. Số còn lại, nếu không bị thương tích hay tai họa gây ra do bom đạn trong thời chiến, đều phải chịu dựng những kinh nghiệm sống (rất) bất thường khác dưới chế độ cộng sản: cải cách ruộng đất, kiểm thảo, đấu tố, vượt tuyến, di cư, di tản, đổi tiền, kiểm kê tài sản, thi hành nghĩa vụ lao độngỉ, đi kinh tế mới … Dân Việt, ở thời đại này, có vô số “cơ hội” để mắc chứng Hậu Chấn Thương Tâm Lý!

Đôi lúc, tôi trộm nghĩ dân tộc mình đang bị “PTSD tập thể”. Nếu không, làm sao giải thích được sự nghi ngại thái quá (hypervigilance) của cả một cộng đồng như vậy – ở hải ngoại. Trong ánh mắt của chúng ta, tha nhân – hình như – ai cũng đang đội cái nón cối trên đầu, hay có vẻ như đang dấu một cái đuôi hay một cái gì đó sau lưng.

Thái độ e ngại dè dặt này, có thể, khiến cho một số người “yên tâm” hơn nhưng (chắc chắn) không làm cho chúng ta vững mạnh hơn – nếu chưa muốn nói là ngược lại. Tôi thường nghe là cộng sản cho người trà trộn vào những tổ chức, hay hội đoàn … gì đó để gây chia rẽ và làm suy yếu cộng đồng.

Trời, sao đang sống ở phố Bolsa của tiểu bang California mà nói năng y trang như đám dân làng Ba Đình, Hà Nội vậy – mấy cha? Tụi nó cũng luôn miệng kết tội và bỏ tù hết người này đến người khác vì “lạm dụng tự do và dân chủ”, dù dân chủ cũng như tự do đều chỉ là “hàng mẫu không bán” trong chế độ cộng sản. Tương tự, chúng ta cũng có bao giờ đoàn kết và mạnh mẽ đâu mà “lo” chuyện bị kẻ địch len lỏi vào hàng ngũ để làm cho chia rẽ hay suy yếu.

“Với một lực lượng hùng hậu vài triệu “nhân tài” ở nước ngoài, cộng đồng hải ngoại không làm được gì hơn là hô hào và trông chờ vào con số đếm trên đầu ngón tay những người đấu tranh trong nước” (Lê Phạm Bảo Khánh, “Dân Chủ Từ Trên Trời Rơi Xuống” – Đàn Chim Việt, Dec. 2003).

Nói thế tuy hoàn toàn không sai nhưng (e) chưa đủ. Con số đếm trên đầu ngón tay này không phải chỉ là chỗ “trông chờ” của vài triệu “nhân tài” ở hải ngoại thôi đâu. Đó còn là niềm hãnh diện và hy vọng (rất) mong manh của toàn dân cơ đấy. Và dân Việt, có lẽ, chỉ còn số người (“đếm trên đầu ngón tay”) này dám sống. Kỳ dư, kể như là đã chết hay đang chờ chết. Xin đơn cử vài thí dụ, về những trường hợp dở sống và dở chết như thế.

Tế Hanh từng là ủy viên ban chấp hành hoặc thường vụ Hội Nhà Văn VN, từng mười năm liền phụ trách đối ngoại của hội, từng có chân trong ban phụ trách nhà xuất bản Văn học. Ông cũng từng hãnh diện khoe rằng “ bọn tôi, thừ thuở 20-25 đã làm nên Thơ mới… Rồi bọn tôi thay nhau dẫn dầu trong thơ viết về chống Mỹ, cũng như có những bài thơ hay nhất ca ngợi chủ nghĩa xã hội.”

Và cái “bọn tôi” đó, vào lúc cuối đời, đều đành chép miệng mà rằng:“trải qua hai cuộc chiến tranh mình còn được sống, được làm thơ, còn may mắn hơn khối người khác, thế là được rồi” [Vương Trí Nhàn, Cây Bút Đời Người, (Phương Nam Corp, 2002]. Sống dở chết dở ra sao, làm thơ để chống ai hay ca ngợi ai thì dường như không phải là những điều mà “bọn tôi” (dám) bận tâm?

Sao mà dễ chịu (và dễ dậy) đến thế nhỉ? Bất cứ một ông hay một bà cửu vạn nào đó – đang ngồi bó gối, ở vỉa hè của khu phố Giảng Võ – cũng đều có thể suy nghĩ y như thi sĩ Tế Hanh. Họ cũng tự an ủi là mình “còn may mắn hơn khối người khác.”

– Ai?

– Thì những người homeless (vô gia cư) khác nhưng không còn đủ chân tay để làm phu cửu vạn chứ ai?

Tại sao mọi người đều “nhìn xuống”, đều không còn ai dám kỳ vọng gì nữa vào một nếp sống bình thường hay tốt đẹp, và tất cả đều sống với cái cảm giác tạm bợ (sense of foreshortened future), vô vọng – đến như thế? Có phải đây là một hội chứng khác của bệnh Post Traumatic Stress Disorder hay không? Còn lớp người trẻ hiện tại – họ sinh sau chiến tranh hay may mắn không phải sống trong thời chiến, không bị những thương tật tinh thần do “cách mạng” gây ra – thì sao? Họ có bình thường và lành mạnh hơn cha anh của mình không?

Hình như không! Hoặc nếu có (e) cũng không nhiều. Họ bị “lây” chứng lãnh đạm (feelings of detachment from others) từ PTSD của những thế hệ trước nên đều mắc vào một thứ bệnh thời đại khác: bệnh “mackeno”. Đây cũng là một dạng thức HIV, về tâm lý, có tên là “bệnh liệt kháng trước bất công” – theo như cách nói hiện giờ.
Lịch sử của giai cấp cầm quyền (thường) chỉ là lịch sử của những thằng hay những con ăn cướp. Và ít có đảng cướp nào “may mắn” như Đảng CSVN. Sau khi dồn toàn dân vào hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, bắt ép mọi người trải qua đủ thứ kinh nghiệm sống hãi hùng (đến độ phát sinh tâm bệnh), rồi họ “tọa hưởng kỳ thành.”

Thành quả ở đây là mồ hôi nước mắt của cả một dân tộc, là tài nguyên của cả một quốc gia, là những đồng tiền vay mượn hay viện trợ… để mà tha hồ phung phá. Họ không gặp phải sự ngăn cản hoặc chống đối của bất cứ ai vì cả dân tộc Việt đều còn đang trong tình trạng thương tật. Bao giờ mà những thương tật tinh thần này chưa được nhìn nhận và giải toả thì tập đoàn lãnh đạo cộng sản (hay bất cứ một nhóm người bất nhân nào khác) vẫn còn có cơ hội nắm được quyền bính ở đất nước này.

//

9-11 nhớ lại biến cố Tòa Tháp Đôi NY!

BIẾN CỐ 9-11 CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT PHẢN ĐỐI CỘNG SẢN VIỆT NAM HOAN NGHÊNH KHỦNG BỐ TẤN CÔNG VÀO HOA KỲ 
(Đã nói lên cái bản chất ti tiện, nhỏ nhen, bẩn thỉu, hẹp hòi, ích kỷ, tiểu nhân của đảng và nhà nước CHXHCN CSVN.)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=301430046879088&set=a.215856325436461.1073741830.100010362855920&type=3
~~~

Image may contain: outdoor and text

Trinh Ngoc Toan

_____

BIẾN CỐ 9-11 !

VIETNAMESE GOVERNMENT SUPPORTS OSAMA BIN LADEN – CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT PHẢN ĐỐI – CHÍNH PHỦ CỘNG SẢN VIỆT NAM HOAN NGHÊNH KHỦNG BỐ TẤN CÔNG VÀO HOA KỲ – Vietnamese Communists applauded Terrorist Attacks on U.S.

Lặp lại đường lối chính thức của chính phủ, nhiều người Cộng sản tại Hà Nội đã bày tỏ sự hân hoan và hỗ trợ cho các cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ Chính phủ Việt Nam đã chính thức cáo buộc Mỹ là “sự can thiệp trắng trợn” vào công việc nội bộ của Việt Nam là “xúc phạm đến chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam.”

Hai ngày sau khi các cuộc tấn công, tờ thời báo Quân Đội Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của cơ sở quân sự của Việt Nam, đổ lỗi cho chính sách đối ngoại của Mỹ đưa tới kết quả khủng bố tại Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc: “Nếu người Mỹ đã không theo đuổi cô lập và chủ nghĩa Sô vanh, và nếu họ có không kiên quyết áp đặt các giá trị của họ trên những người khác theo cách chủ quan của mình, có lẽ là tòa tháp đôi bây giờ sẽ vẫn đứng vững cùng nhau trong ca hát và sóng gió của Đại Tây Dương “.

Vietnamese Communists applauded Terrorist Attacks on U.S.
Echoing the government’s official line, many Communists in Hanoi have expressed jubilation over and support for the terrorist attacks on the U.S. The Vietnamese government officially accuses the U.S. of “brazen interference” in Vietnam’s internal affairs that “offends the nationalism of the Vietnamese people.”

Two days after the attacks, People’s Army Daily, the official mouthpiece of Vietnam’s military establishment, blames U.S. foreign policies for the acts of terror at the World Trade Center and the Pentagon: “If Americans had not pursued isolationism and chauvinism, and if they had not insisted on imposing their values on others in their own subjective manner, then perhaps the twin towers would still be standing together in the singing waves and breeze of the Atlantic.”

Vietnamese Americans have expressed outrage over the insensitive and indefensible position taken by the Vietnam’s Communist Party and government. Committee for Religious Freedom in Vietnam views such a position as indicative of the Vietnamese government’s intention not to improve its own human rights record, not to respect religious freedom, not to move towards democracy, and not to join the community of responsible governments.

Source: http://www.freerepublic.com/

 //

Cách giải quyết của TT (Mỹ) Jefferson đối với nạn “Di dân bất hợp pháp”!

Email fwd by: SONFRIENDS@yahoogroups.com – cám ơn – tunhan

TT (Mỹ) Jefferson đã làm gì đối với Hồi giáo ?

 (TG chuyển ngữ)
 
Trong bối cảnh chính trị và giáo dục của Hoa kỳ ngày nay, các trường công lập của Mỹ vẫn im lặng về điều đó. Tại sao ?
 
When TT Thomas Jefferson nhận thấy không có cách gì thương thuyết được với người Hồi giáo, ông liền thành lập một lực lượng mà ngày nay được biết đến là Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến (the Marines – sea going soldiers). Lực lượng TQLC này được cử đi cùng với mỗi chiếc tàu buôn của Mỹ. Khi đám Hồi giáo tấn công các tàu buôn của Mỹ liền bị đối đầu bởi lực lượng TQLC này. Mà còn hơn thế nữa…
 
Đội binh TQLC này còn bám theo đám Hồi giáo về tận trong đất liền nơi làng mạc mà họ ở và giết sạch không chừa một mống, từ đàn ông, đàn bà cho đến trẻ con.
 
Thế là chẳng bao lâu sau đó, đám Hồi giáo không còn dám bén mảng đến gần các tàu buôn của Mỹ.
 
Các tàu buôn của Anh và Pháp cũng bắt đầu trương cờ Mỹ khi vào vùng Địa Trung Hải hầu bảo đảm an toàn cho các tàu buôn của mình.
 
 
Điều đó giải thích tại sao bài Quân ca của Thủy Quân Lục Chiến Hoa kỳ có câu, “To the Shores of Tripoli” (đến tận bờ biển của Tripoli).
 
Đây là một điều thích thú và là điều cần đọc về lịch sử của chúng ta. Nó chỉ ra cho chúng ta thấy chúng ta đang đi về đâu.
 
Hầu hết người Mỹ không để ý đến sự kiện rằng trên hai trăm năm về trước Hiệp Chủng Quốc đã tuyên chiến với thế giới Hồi giáo, và Thomas Jefferson đã tiên phong dẫn đường !
 
Vào đỉnh cao của thế kỷ 18, đám cướp biển Hồi giáo (the “Barbary Pirates”) đã là nỗi kinh hoàng của Địa Trung Hải và một phần lớn của Bắc Đại Tây Dương (the North Atlantic).
 
Chúng tấn công mọi thuyền buôn nào mà chúng thấy được, và bắt giữ thủy thủ đoàn với số tiền chuộc đắt giá khủng khiếp. Những kẻ bị bắt làm con tin bị đối xử bằng bạo lực rất tàn tệ, viết những thư kêu cứu về gia đình và quê hương đầy nước mắt, van xin chính phủ và gia đình hãy cố gắng trả những số tiền mà bọn cướp biển không tim này đòi hỏi.
 
Những kẻ cướp và tống tiền này đại diện cho các xứ Hồi giáo Bắc Phi như Tripoli, Tunis, Morocco, và Algeria – mà nhóm này được gọi chung là vùng Duyên Hải Man Rợ (Barbary Coast) – và đại diện cho các quốc gia hiếu chiến, là một mối đe dọa vô cùng nguy hiểm cho một xứ Cộng Hòa Dân Chủ là Hoa kỳ mới thành lập.
 
Trước cuộc Cách Mạng dành độc lập, các thương thuyền Mỹ được bảo vệ bởi nước Anh. Khi Hoa kỳ tuyên bố độc lập và đi vào chiến tranh với Anh thì các thương thuyền Mỹ được bảo vệ bời người Pháp. 
 
Tuy nhiên khi chiến thắng và dành được độc lập, thì chính nước Mỹ phải bảo vệ cho các thương thuyền của mình.
 
Do đó mà Hải quân Hoa kỳ (US Navy) đã được thành lập. Khởi đầu từ năm 1784, tức là 17 năm trước khi thành Tổng Thống thì Thomas đại sứ Hoa kỳ tại Pháp. Cùng năm ấy, Quốc Hội Hoa kỳ tìm cách làm vui lòng các xứ Hồi giáo bằng cách theo chân các quốc gia Âu châu, trả tiền hối lộ cho các xứ vùng Duyên Hải Man Rợ thay vì đối đầu chiến tranh với chúng.
 
Vào tháng Bảy năm 1785, đám cướp biển Algeria bắt các tàu buôn của Mỹ, và nhóm Hồi giáo có tên là “the Dey of Algiers” đòi món tiền chuộc rất “khủng” chưa từ bao giờ nghe thấy là $60,000.  Rõ rang là một cuộc bắt cóc và đòi tiền chuộc trắng trợn, và Thomas Jefferson đã mạnh mẽ chống lại việc trả tiền chuộc như từ trước.
 
Thay vào đó, ông đề nghị Quốc Hội thành lập một lien minh Mỹ-Âu để cùng nhau đánh các xứ Hồi giáo này ra từng mảnh. Nhưng mấy ông trong Quốc Hội chẳng khứng nghe và quyết định nộp tiền chuộc.
 
Vào năm 1786, Thomas  Jefferson và John Adams gặp đại sứ tại Anh Quốc của Tripoli  và hỏi bằng cái quyền nào mà xứ sở của ông ta lại tấn công các tàu Mỹ và bắt công dân Mỹ làm nô lệ, và tại sao người Hồi giáo lại nuôi thù hận với nước Mỹ, một quốc gia chưa từng có giao thiệp nào với các xứ Hồi giáo.
 
Hai vị Tổng Thống tương lai của Mỹ được tên đại sứ Sidi Haji Abdul Rahman Adja trả lời rằng Hồi giáo “được thành lập trên Luật Pháp của đáng Tiên Tri của họ, rằng có chép trong kinh Quran là mọi quốc gia nào không nhìn nhận thầm quyền của Hồi giáo đều là những kẻ phạm tội, rằng Hồi giáo có quyền hạn và và trách nhiệm gây chiến với những xứ này ở bất cứ nơi nào mà họ thấy, và bắt làm nô lệ những kẻ mà họ đã cầm tù, và mỗi một chiến sĩ Hồi giáo tử trận chắc chắn sẽ được lên Thiên Đàng”.
 
Mặc cho những thú nhận giật gân này về sự hung bạo có chủ định đối với các quốc gia không-Hồi-giáo, cùng những tiếng nói đối kháng của nhiều lãnh tụ uy tìn của Hoa kỳ, gồm có George Washington, người đã cảnh báo rằng “chui đầu vào cát” như đà điểu thì vừa sai lầm và còn củng cố them sức mạnh cho kẻ thù”. Bọn Hồi giáo chỉ mạnh thêm sau 15 năm chính phủ Mỹ trả tiền “mãi lộ” cho chúng với hang triệu Mỹ kim để mua đường hàng hải an toàn cho các thương thuyền Mỹ hay để chuộc về những con tin người Mỹ.
 
Số tiền trả cho bọn Hồi giáo đã lên đến trên 20 phần trăm lợi tức của chính phủ Mỹ vào năm 1800. Dĩ nhiên Thomas Jefferson bực tức đến tràn cổ họng.
 
Chỉ một thời gian ngắn sau khi tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống thứ ba của Hoa kỳ vào năm 1801, thì “the Pasha of Tripoli” gửi cho TT Jefferson một cái Note đòi nộp ngay $225,000 cộng thêm 25,000 một năm cho mỗi năm sau đó. Và điều đó làm thay đổi mọi chuyện.
 
Jefferson nhắn cho Pasha biết, trong những điều khoản như đinh đóng cột là ông sẽ hành động như thế nào trước đòi hỏi của anh Hồi giáo này. Và Pasha phản ứng lại bằng cách chặt cột cờ Mỹ tại lãnh sự quán Hoa kỳ và tuyên chiến với nước Mỹ. Tunis, Morocco, và Algeria lập tức làm y như vậy, đều tuyên chiến với Mỹ.
 
Cho tới giờ phút đó, Jefferson vẫn KHÔNG chủ trương thành lập một lực lượng Hải quân cho bất cứ phòng thủ nào đi ngoài vùng bờ biển của Hoa kỳ. Nhưng, nhìn đất nước mình bị dọa nạt bởi đám Hồi giáo nhiều năm dài, ông đã quyết định cuối cùng rồi cũng phải lực đấu với lực, không còn cách nào khác.
 
Ông phái ra vùng biển Địa Trung Hải một đội tàu chiến để dạy cho những xứ Hồi giáo dọc vùng Duyên Hải Man Rợ một bài học nhớ đời. Quốc Hội Hoa kỳ chuẩn nhận giao quyền cho Jefferson để làm cho một nước Hoa kỳ độc lập với đầy đủ ý chí quyền hạn để phản công. Quốc Hội Mỹ nhanh chóng phế bỏ những hành động tùng phục theo yêu sách của Tripoli.
 
Cuộc chiến với Tripoli kéo dài trong bốn năm sau đó, và bùng nổ lần nữa vào năm 1815.  Sự dũng cảm của các chiến binh TQLC Hoa kỳ trong những cuộc chiến này đã dẫn đến một câu trong quân hung ca “đến tận bờ biển của Tripoli”, và họ đã mãi mãi được biết đến như là “những cái cổ da” vì những vòng bằng da quấn quanh cổ trong bộ đồng phục, được tạo ra với mục đích giữ cho họ khỏi bị cắt cổ khi nhảy vào các thuyền của kẻ thù.
 
Hồi giáo, và đám man rợ theo đạo này tự xem là họ “công chính” khi làm theo lời dạy của Tiên Tri (Mohamed) và lời dạy của Allah mà họ tôn thờ, đã làm khuấy động không ít đối với Jefferson.
 
Nước Mỹ đã có một truyền thống tự do tôn giáo. Thực ra chính cá nhân Jefferson cũng đã cùng soạn ra đạo luật “Virginia Statute for  Religious Freedom”, nhưng Hồi giáo không như những tôn giáo khác mà thế giới đã từng thấy. Một tôn giáo đặt nền tảng trên sự ưu việt, cả quyển “thánh kinh” của họ chẳng những cho phép mà còn bắt buộc tín đồ phải bạo động đối với người không tin vào Hồi giáo, là một chuyện không thể chấp nhận đối với Jefferson. Nỗi lo sợ to lớn của ông là một ngày nào đó, cái đạo quân Hồi giáo này sẽ trở lại và trở nên một mối đe dọa lớn hơn đối với Mỹ quốc.
 
 
Điều này cũng nên là điều đáng quan tâm đối với mỗi người Mỹ. Rằng người Hồi giáo tại Mỹ đã tổ chức những lớp học chỉ dành riêng cho phụ nữ và định giờ bơi riêng của họ tại các đại học được tài trợ bởi tiền thuế của dân Mỹ và tại các hồ bơi công cộng. Rằng người Thiên Chúa giáo, Tin Lành, người Do Thái và Ấn độ giáo không được chọn làm bồi thẩm đoàn trong những phiên xử án mà phạm nhân là người Hồi giáo.  Mấy món đồ sứ đựng tiền và hộp đựng giấy Cleenex như Piggy banks và Porky Pig tissue dispensers đã bị cấm tại các nơi làm việc bởi vì nó làm cho người Hồi giáo khó chịu.  Ice cream đã bị cấm bán tại một số tiệm Burger King bởi vỉ hình vẽ của bọc ngoài giống tựa như những câu Ả-Rập của Allah. Còn về Lunch của học sinh, các món có thịt heo bị cấm tại nhiều trường công lập, và nhiều chuyện nữa vẫn đang tiếp tục xảy ra nếu chỉ cần nhìn ắt sẽ thấy.
 
Đây là cái chết của nước Mỹ như bị lóc từng thớ thịt, từng chút và từng chút, và đa số người Mỹ đã không biết rằng trận chiến để chinh phục nước Mỹ của Hồi giáo đang diễn ra từng ngày xuyên qua các vùng đất của Hoa kỳ. Nếu không biết chống lại, nếu vẫn tiếp tục cho phép các phe nhóm cứ tiếp tục mù, không thấy những gì đang xảy ra, và không liên lỉ đòi hỏi là Hồi giáo phải hội nhập vào văn hóa Mỹ, thì nước Mỹ này đang tự cắt cổ mình với một thái độ “phải đạo chính trị” (politically correct) đầy mỵ dân để làm vừa lòng tập thể Hồi giáo, thì vô hình chung nước Mỹ càng giúp cho các nhóm Hồi giáo thăng tiến trên con đường chinh phục Hiệp Chủng Quốc mà không cần vũ khí gì cả.
 
Nếu bạn có nghi ngờ nào về bài viết này, hãy Search Google để tìm đọc về “Thomas Jefferson vs. the Muslim World.”
 
******************************
Bản viết Anh ngữ:

Public school classrooms are still silent about it today. Why?

 
When Thomas Jefferson saw  there was no negotiating with Muslims, he formed what is now the Marines (sea going soldiers). These Marines  were attached to U. S. Merchant vessels. When the Muslims  attacked U.S. merchant vessels they were repulsed by armed soldiers, but there is more.
 
The Marines followed the Muslims back to their villages and killed every man, woman, and child in the village.
 
It didn’t take long for the Muslims to leave U.S. Merchant vessels alone.
 
English and French  merchant vessels started  running up our flag when entering the Mediterranean to secure safe travel.
 
Why the Marine Hymn contains the verse, “To the Shores of Tripoli”.
 
This is very interesting and a must read piece of our history.  It points out where we may be heading.
 
Most Americans are unaware of the fact that over two hundred years  ago the United States had  declared war on Islam, and Thomas Jefferson led the charge!
 
At the height of the 18th century, Muslim pirates  (the “Barbary Pirates”) were the terror of  the Mediterranean and a large area of the North Atlantic.
 
They attacked every ship in sight, and held the crews for exorbitant ransoms. Those taken hostage were subjected to barbaric treatment and  wrote heart-breaking letters home, begging their governments and families to pay whatever their Mohammedan captors demanded.
 
These extortionists of the high seas represented the North African Islamic nations of Tripoli, Tunis, Morocco, and Algiers – collectively referred to as  the Barbary Coast – and presented a dangerous and unprovoked threat to the new American Republic.
 
Before the Revolutionary War, U.S. merchant ships had been under the protection of Great Britain.   When the U.S. declared its  independence and entered into war, the ships of the United  States were protected by France.
 
However, once the war was won, America had to protect its own fleets.
 
Thus, the birth of the U.S. Navy. Beginning in 1784, 17 years before he would  become president, Thomas Jefferson became America ‘s Minister to France.  That same year, the U.S. Congress sought to appease its Muslim adversaries by following in the footsteps of European nations who paid bribes to the Barbary States rather than engaging them in war.
 
In July of 1785, Algerian pirates captured American ships, and the Dye of Algiers demanded an unheard-of ransom of $60,000.  It was a plain and simple case of extortion, and Thomas Jefferson was vehemently opposed to any further  payments.
 
Instead, he proposed to Congress the formation of a coalition of allied nations who together could force the Islamic states into peace.  A disinterested Congress decided to pay the ransom.
 
In 1786, Thomas  Jefferson and John Adams met with Tripoli ‘s ambassador to Great Britain to ask by what right his nation  attacked American ships and enslaved American citizens, and why Muslims held so much hostility towards America, a nation with which they had no previous contacts.
 
The two future presidents reported that Ambassador Sidi Haji Abdul Rahman Adja had answered that Islam “was founded on the Laws of their Prophet, that it was written in their Quran that all nations who would not acknowledge their authority were sinners, that it was their right and duty to make war upon them wherever they could be found, and to make slaves of all they could take as prisoners, and that every Musselman (Muslim) who should be slain in battle was sure to go to Paradise.”
 
Despite this stunning admission of premeditated violence on non-Muslim nations, as well as the objections of many notable American leaders, including George Washington, who warned that caving in was both wrong and would only  further embolden the enemy, for the following fifteen years the American government paid the Muslims  millions of dollars for the safe passage of American ships or the return of American hostages.
 
The payments in ransom and tribute amounted to over 20 percent of the United States government annual revenues in 1800. Jefferson was disgusted.
Shortly after his being sworn in as the third President of the United States in 1801, the Pasha of Tripoli sent him a note demanding the immediate payment of $225,000 plus $25,000 a year for every year forthcoming. That changed everything.
 
Jefferson let the Pasha know, in no uncertain terms, what he could do with his demand. The Pasha responded by cutting down the flagpole at the American consulate and declared war on the United States. Tunis, Morocco, and Algiers immediately followed suit.
 
Jefferson, until now, had been against America raising a naval force for anything beyond coastal defense, but, having watched his nation be cowed by Islamic thuggery for long enough, decided that it was finally time to meet force with force.
 
He dispatched a squadron of frigates to the Mediterranean and taught the Muslim nations of the Barbary Coast a lesson he hoped they would never forget. Congress authorized Jefferson to empower U.S. ships to independent United States had both the will and the right to strike back, they quickly abandoned their allegiance to Tripoli.
 
The war with Tripoli lasted for four more years, and raged up again in 1815.  The bravery of the U.S. Marine Corps in these wars led to the line “to the shores of Tripoli” in the Marine Hymn, and they would forever be known as “leathernecks” for the leather collars of their uniforms, designed to prevent their heads from being cut off by the Muslim scimitars when boarding enemy ships.
 
Islam, and what its Barbary followers justified  doing in the name of their prophet and their god, disturbed Jefferson quite deeply.
 
America had a tradition of religious tolerance. In fact Jefferson, himself, had co-authored the Virginia Statute for  Religious Freedom, but fundamentalist Islam was like no other religion the world had ever seen. A religion based on  supremacy, whose holy book not only condoned but mandated violence against unbelievers, was unacceptable to him. His greatest fear was that someday this brand of Islam would return and pose an even greater threat to the United States.
 
This should concern every American. That Muslims have brought about women-only classes and swimming times at taxpayer-funded universities and public pools; that Christians, Jews, and Hindus have been banned from serving on juries where Muslim defendants are being judged;  Piggy banks and Porky Pig tissue dispensers have been  banned from workplaces because they offend Islamist sensibilities; ice cream has been discontinued at certain Burger King locations because the  picture on the wrapper looks similar to the Arabic script for Allah;  public schools are pulling  pork from their menus; on and on and on and on.
 
It’s death by a thousand cuts, or inch-by-inch as some refer to it, and most Americans have no idea that this battle is being waged every day across America.  By not fighting back, by allowing groups to obfuscate what  is really happening, and not insisting that the Islamists adapt to our culture, the United States is cutting its own throat with a  politically correct knife, and helping to further the Islamists’ agenda.
 
If you have any doubts  about the above information, Google “Thomas Jefferson vs. the Muslim World.”
* * *
Read The Latest News On NSVIETNAM Blog

Bu`i Ba?o So+n CVA65

__._,_.___
 

Nghiệm về con Xe, con Chốt!

CON XE CON CHỐT CUẢ MỘT VÁN CỜ

AuthorTôn Nữ Hoàng Hoa Posted on: 2017-09-10

Trong Câu lạc Bộ Bóng Bàn SCL Pinellas Park có anh Nguyễn văn Bằng đánh cờ tướng rất hay. Anh nỗi tiếng là cao thủ

Tôi thường ngồi xem những ván cờ anh đánh. Cứ mỗi lần bắt đầu ván cờ tôi thấy anh đi ngay con xe. Tôi hỏi tại sao? anh bảo:

Dũng mãnh nhất trong Cờ Tướng là con xe. Con Xe có thể đi ngang về dọc . Con Xe là con chủ lực số một vì  nó có nhiều quyền lực. Trong các giai đoạn khai mở ván cờ và ngay trong lúc cuộc cờ đang đi vào giai đoạn chưa phân thắng bại các con Xe luôn luôn là quân chủ lực tác chiến. Còn giai đoạn tàn cuộc, hai bên tổn thất nhiều quân, chiến trường trống vắng khiến Xe càng dễ phát huy năng lực của mình nhiều hơn. Do đó thực lực và tầm quan trọng của quân Xe càng nổi bật.

Còn tội nghiệp nhất là con chốt. Trong bàn cờ con chốt là con cờ giữ vai trò thấp hèn nhất. Nó thấp hèn là vì bởi nhiều lý do. Trước hết , nó có rất ít quyền lực. Mỗi lần đi nó chỉ bước được một nấc cho nên nó không có cơ hội lập công giết địch như con xe, con pháo, con mã.

Lúc bắt đầu ván cờ ít ai xử dụng nó để tấn công và cũng không ai có chủ tâm giết nó. Có chăng thì người ta chỉ dùng những con chốt lót đường cho họ đi . Nó có chết không phải vì nó quan trọng mà chính vì nó làm cản sự tiến quân mà thôi.

Tuy nhiên khi con chốt có được thời cơ qua sông thì lại khác. Một khi con chốt sang sông, ngăn đôi bàn cờ để tiến vào đất địch, con chốt có thêm một chút quyền hạn là được đi ngang, trái, phải và dĩ nhiên được tiến tới . Vì vậy, việc sang sông của con chốt là một sự thay đổi quan trọng trong cuộc đời sĩ tốt. Lúc đó con chốt mới có dịp đến gần cùng Tướng địch và có cơ hội lập chiến công .

Việc sang sông của con chốt là một sự hào hùng trong cuộc đời của nó. Nó có thể lập công để chiếu bí đối phương. Nhưng khi con chốt tiến đến nấc cuối cùng của bàn cờ thì vai trò của nó đã trở nên vô dụng. Chốt đã cùng đường thì không còn tiến thối được nữa.

.

Việt Cộng thường xử dụng con chốt qua sông đi vào đất địch để làm gạch lót đường cho chúng đạt được mục tiêu thống trị muôn đời tại Việt Nam

Những con chốt qua sông tưởng mình sẽ thay đổi được cuộc đời sĩ tốt . Tưởng sẽ có chút quyền lực là có thể trở thành con xe

Mới đây con chốt Cù Huy Hà Vũ bỗng dưng bị sụt sùi trí nhớ cho mình là con xe mà quên đi thân phận của cuộc đời sĩ tốt đã bị VC cho làm con Tốt lót đường đi vào vùng đất địch

Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC mới đây ông CHHV đã tự cho mình có quyền hành đề nghị VC phải chấp nhận VNCH

Chúng ta đã thấy một bài viết nào của những tay cán bộ tuyên vận VC đều chứa đựng những câu nịnh lẫn câu trung

Ông CHHV nói là Ngày 4/3/2010, tôi đã gửi Quốc Hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Việt Nam “Kiến nghị xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng trong việc xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông, cụ thể là lăm le xâm lược nốt quần đảo Trường Sa của Việt Nam…

Đây là một câu nói có tính cách bao che giải độc cho việc CSVN đã dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng từ văn kiện của VC Phạm Văn Đồng ký vào năm 1958 và đã được VC Nguyễn Tân Dũng đã hợp thức hoá vào năm 2000. Như vậy lịch sử đã ghi nhận rõ ràng việc bán nước hại dân của Đảng Cộng Sản VN, nhưng ông CHHV vẫn lập lờ đánh lận con đen qua câu nói:” cụ thể là lăm le xâm lược nốt quần đảo Trường Sa của Việt Nam…”

Trong câu nóiTrong văn bản này, tôi nêu đã nêu Điều 52 Hiến pháp Việt Nam quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước Pháp luật” và Điều 11 “Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng quy định:

Thứ nhất xin hỏi ngay ông CHHV hiện nay tại VN, VC xây dựng thể chế Pháp Trị trên căn bản nào một khi mà Đảng ra lệnh cho nhà nước thi hành chỉ thị thì luật nào đã bảo vệ cho công dân mà đòi bình đẳng trước pháp luật. Để chứng minh một cách rất giản dị trong một nước có thể chế Pháp Trị tức là ở đó quyền của người dân được chấp nhận và mọi việc đều phải đợi toàn dân quyết định.

Chế độ Cộng Sản mà Đảng CS đang cai trị hiện nay là một chế độ xúi dục một thứ loạn nhân tâm. Nó đưa đến sư băng hoại và loạn tan vỡ trên mọi tương giao của giềng mối xã hội

Rõ ràng như vậy mà ông CHHV lại huyên hoang cho rằng VN hiện tại đang có một HỆ THỐNG PHÁP QUYỀN!!!

Ngoài ra ông CHHV còn chơi trò đánh lận con đen cho sự hy sinh cao cả của Hải Quân VNCH là liệt sĩ nhân dân. Đồng hoá Quân Lực VNCH và vai trò con dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mà ông đã từng lấp lững trong bài viết điếu văn cố giáo sư Nguyen Ngọc Bích là ” Ông NNB chỉ dùng VNCH là phương tiện chứ không bao giờ chấp nhận VNCH. (trích):“Là bởi ngự trị nơi ông là một tấm lòng yêu nước nồng nàn. Vả lại cũng chỉ trên có sở ái quốc ấy mới có thể lý giải vì sao là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời Việt Nam Cộng Hòa nhưng Nguyễn Ngọc Bích lại không chủ trương khôi phục chính thể “Việt Nam Cộng Hòa” như ông đã hơn một lần khẳng định.”

Tâm tình của ông CHHV đã được người Việt Tỵ Nạn CS tại hải ngoại tỏ tường. Nhưng lâu lâu ông lại xuất hiện với một vài bài điếu văn phách tấu phách tá chê bai VNCH cho là chỉ có một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới là cội nguồn của những tấm lòng ái quốc(?)

Ông còn trịch thượng láo lếu tôn vinh một nhà nước không có thể chế pháp trị, không hợp lệ với bản TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN đã minh định trong điều 3 mục A rằng :” Một nước có chính quyền hợp lệ là chính quyền đó phải đặt căn bản trên ý nguyện của người dân. Ý nguyện đó phải được thực hiện qua một cuộc bầu cử tự do”

Thử hỏi ông CHHV từ đời thân phụ của ông là một tên CS sắt máu cho đến nay VC xâm lăng từ Bắc tới Nam trên ½ thế kỷ qua có bao giờ cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có một cuộc bầu cử tự do cho dân bầu người đại diện mình tham gia vào chính quyền? Không bao giờ có phải không? Vậy thì đảng CSVN và ông lấy cái gì mà chấp nhận VNCH một khi VNCH là một chính quyền hợp lệ theo Văn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Chẳng qua hôm nay thấy bối cảnh chính trị ở VN đang đấu đá nhau ông CHHV lại quên thân phân con chốt của mình, nhảy ra đòi làm con xe nhưng lại là Xe Lăn để trông chờ có người đẫy.

.

(Viết trong ngày chờ Irma đến thăm Tiểu bang Florida)..

Tôn Nữ Hoàng Hoa

10/9/2017

xxxx

 

Chỗ đứng nào cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam? – Phạm Trần

Chỗ đứng nào cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam?

Phạm Trần

Chỗ đứng nào cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ?(Phạm Trần)

Trong một bài viết trên báo Gíao dục Việt Nam (GDVN) ngày 31/08/2017, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ CSVN, Tiến sĩ Trần Công Trục viết rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ hợp pháp được ra đời từ thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Cách mạnh niền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.


Thắng lợi của đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam Việt Nam là đã lật đổ chính thể Việt Nam Cộng hòa, và lập ra một cách hợp pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Tính chính danh của chính thể Việt Nam Cộng hòa về mặt đối nội và đối ngoại đã bị xóa bỏ hoàn toàn ngay sau khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ngày 30/4/1975”.

Nhưng điều được gọi là “thắng lợi” ấy từ đâu mà có? Chính phủ và quân đội của nhà nước cộng sản đội lốt “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” ở miền Bắc đã đóng vai trò gì trong “thắng lợi” này. Và liệu tổ chức gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” và “Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”  có thể làm nên cơm cháo gì nếu không có quân miền Bắc xâm lược miền Nam?

Vì vậy nếu chỉ nói mà không nói cho hết ngọn nguồn của những Tổ chức hữu danh vô thực như : Đảng nhân dân Cách mạnh niền Nam Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (và) Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì lịch sử  sẽ thành ngụy sử.

THẾ NÀO LÀ BÙ NHÌN, TAY SAI?

Vậy trước hết hãy thử tìm hiểu thế nào là bù nhìn, là tay sai?

Ta hãy cùng nghe ông  Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện sử học, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, đồng thời là tổng chủ biên bộ sách Lịch sử Việt Nam mới phát hành ngày 18-8-2017, giải thích tại sao “các nhà sử học “ của đảng CSVN đã “thống nhất bỏ tên gọi ngụy quyền đối với chế độ Việt Nam Cộng Hòa”

Ông nói: “Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả. Đấy là một chính quyền được dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt Nam một cách lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ  quân sự của Mỹ. Điều đó không có gì nghi ngờ cả”.

“Thứ hai, quân đội Sài Gòn thực chất được Mỹ trang bị hoàn toàn và quan trọng hơn là thực hiện mưu đồ của Mỹ. Đó cũng là một đội quân đi đánh thuê. Thực chất các nhà sử học không có một đánh giá nào khác so với thời gian trước đây”.

“Nhưng về cách gọi, chúng tôi nghĩ rằng trong một văn bản khoa học, mình gọi trung tính vẫn hơn là ngụy quân, ngụy quyền. Bởi vì cách gọi này mang tính biểu cảm, miệt thị cho nên chúng tôi gọi là quân đội Sài Gòn và chính quyền Sài Gòn”.

(Lan Hương, RFA, 21/08/2017)

 

Lời nói sặc mùi kỳ thị, chủ quan và xuyên tạc của ông Cường đã lột mặt gỉa tạo được gọi là “trung tính” khi bỏ lối gọi xách mé, thù hận và mặc cảm “ngụy quân, ngụy quyền” bằng “quân đội Sài Gòn và chính quyền Sài Gòn”.

Ông Cường cũng đã trắng trợn xuyên tạc vì Mỹ không biến miền Nam thành một “thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ”.

Và Quân đội Việt Nam Cộng hòa chưa hề là “một đội quân đi đánh thuê” cho bất cứ ai. Có chăng là khi VNCH bị miền Bắc xâm lược  thì được Hoa Kỳ và các nước Đồng mình giúp để chiến đấu tự vệ  chống lại cuộc xâm lăng không thể chối cãi được của  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nếu vẫn còn nghi ngờ thì ông Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đức Cường và các nhà viết sử Cộng sản hãy đến khấn vái trước di ảnh nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn để nghe ông nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.”  (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nhà xuất bản. Văn Nghệ, 1997, tr. 422)

Như vậy thì lịch sử đã nói rõ “ai là kẻ đánh thuê”, phải không ?

Tại sao như thế ? Bởi vì tất cả những tổ chức mang tên “miền Nam Việt Nam” không hòan toàn do người miền Nam chủ động mà lại do những người Cộng sản nằm trong đảng Lao Động Việt Nam (Cộng sản), công khai thành lập và chỉ huy.

Tên gọi đảng Lao Động Việt Nam, được sử dụng từ tháng 2 năm 1951 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ở Tuyên Quang, vì nhu cầu chính trị để sửa sai những lỗi lầm khi còn mang tên  Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1930.

Sau đó tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, được tổ chức vào năm 1976 sau khi chấm dứt Chiến tranh , tên Đảng lại được đổi lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

NGUỒN GỐC KHUẤY PHÁ TRONG NAM

Để chứng minh cho tham vọng gây chiến, phá hoại Việt Nam Cộng hòa của ông Hồ và đảng CSVN, tài liệu Bách Khoa Toàn Thư Mở viết: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội vào năm 1960 chính thức hóa công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó và đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tại miền Nam. Tại miền Nam, đảng bộ Miền Nam năm 1962 công khai lấy tên Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam, là thành viên và lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam , tuyên truyền chủ nghĩa Marx – Lenin (thành phần Mặt trận còn có Đảng Dân chủ, và Đảng Xã hội cấp tiến và các tổ chức,… do những người cộng sản chủ trương thành lập).”

Nghị quyết của Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam,từ ngày 5 – 10/9/1960 đã viết: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:

“Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.

Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ tất yếu sau khi đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho miền Bắc được ngày càng vững mạnh về mọi mặt thì càng có lợi cho cách mạng giải phóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng trong cả nước, cho việc gìn giữ và củng cố hòa bình ở Đông Dương, Đông – Nam á và thế giới.

Vì vậy, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong khi ở miền Nam phải ra sức tập hợp mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, mở rộng và củng cố khối đoàn kết dân tộc, cô lập đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh củng cố hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy phương châm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam.”

Sau Đại hội đảng III, theo tài liệu Bách Khoa Toàn Thư Mở thì:

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh (Việt Nam độc lập đồng minh (tên chính thức trong nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương) hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí CôngPhùng Văn CungHuỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương.”

Sau đó, tại tại Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 tại Tân Biên (Tây Ninh) chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

Tuy nhiên ai cũng biết Tổ chức này được thành lập dưới sự hậu thuẫn của chính phủ và quân đội  Cộng sản Việt Nam.

Vì vậy, các tài liệu phổ biến trên Internet đã viết: 

“Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Cục miền Nam. Những người Cộng sản miền Nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận. Trung ương Cục Miền Nam là tổ chức đại diện Đảng Lao động trong Nam, hoạt động bí mật (đến 1969 công khai), thời kỳ chiến tranh không công khai về vai trò chỉ đạo (trong khi Đảng Nhân dân Cách mạng là đảng hoạt động công khai), trực tiếp chỉ đạo hay phối hợp với Trung ương Mặt trận – Chính phủ, với Ban dân vận Trung ương Cục (phụ trách dân vận – mặt trận – chính quyền) là cầu nối. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt đại diện tại căn cứ địa của Mặt trận (và Chính phủ cách mạng sau này), và Mặt trận (Chính phủ cách mạng lâm thời) đặt đại diện tại Hà Nội.”

Tài liệu viết tiếp: 

“Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam, mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.”

Vậy cái chính phủ này quan hệ với miền Bắc như thế nào?

Bách Khoa Toàn Thư Mở viết: 

“Trong quan hệ với Việt Nam Dân chủ cộng  hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền nam Việt Nam, nhưng không từ chối các tuyên bố về chủ quyền cả nước của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (tình trạng một quốc gia nhiều nhà nước-mô hình liên bang). Hai miền lập đại diện. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở Miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có hai chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của cả nước, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam có chủ quyền tại Miền Nam.”

Tài liệu cũng viết rõ: 

“Ngày nay Nhà nước Việt Nam khẳng định Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các mặt trận trước đó và sau này là các tổ chức chính trị – xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra.”

Về những nhân vật Mặt trận GPMN được miền Bắc dựng lên, đáng kể hơn là là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996), Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam. Trước khi qua đời, ông được đảng CSVN cho giữ chức Phó Chủ tịch nước rồi Chủ tịch Quốc hội.

Người thứ hai là Kỹ sư Huỳnh Tấn Phát (1913-1989), nguyên Chủ tịch Chính phủ gọi là Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 5 tháng 3 năm 1945.

Người thứ ba là bà nguyên Bộ trưởng Ngọai giao của Chính phủ Việt Cộng Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927), được  kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1948 vì vậy bà được trao Huy chương 70 năm tuổi đàng ngày 31/08/2017.

Ngoài ba nhân vật chóp bu này, nhiều  trí thức miền Nam theo Việt Cộng đã quay ra chống đảng CSVN sau khi chiến tranh kết thúc. Nổi bật nhất là Luật sư Trương Như Tảng , nguyên Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Huỳnh Tấn Phát.

Nhưng về sau, ông Tảng (sinh ngày 19/05/1923) công khai bất đồng với Chính quyền Cộng sản vì không thi hành chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc sau 1975.

Ngày 25 tháng 8 năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và hơn một tuần sau thì được một tàu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia. Sau này ông sinh sống ở Pháp.

Trong hồi ký viết bằng tiếng Pháp, Mémoire d’un Vietcong (Hồi ký của một Việt Cộng), ông đã tố cáo chính sách cai tri hà khắc của đảng CSVN đối với “những người miền Nam thua trận”.

Người thứ hai phải kể là cựu chiến binh Nguyễn Hộ (1916-2009) trong Mặt trận Giải phóng miền Nam.

Theo Bách Khoa Tòan Thư Mở thì: 

“Ông là một trong số lãnh đạo hàng đầu của “Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ” cùng với các ông La Văn Lâm, Đỗ Trung Hiếu, Trần Văn GiàuTrần Bạch ĐằngTạ Bá Tòng và thượng tướng Trần Nam Trung. Tờ báo Truyền thống Kháng chiến của nhóm này ra mắt số đầu tiên vào tháng 9 năm 1988 nhưng sau đó vì quan điểm bị cho là chỉ trích chính quyền nên báo buộc phải đình bản. Tổ chức này năm 1989 cũng bị chính quyền giải tán.

Bất bình, ông từ bỏ Đảng năm 1991 sau hơn 53 năm trong đảng. Sau đó ông bị bắt và quản thúc tại gia vì tội “chống Đảng”.

Từ đó ông càng phản đối mãnh liệt hơn qua những văn bản như bài luận “Giải pháp Hòa hợp Hòa giải” và cuốn sách “Quan điểm và cuộc sống”. Sách của ông kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam hãy từ bỏ Chủ nghĩa Marx-Lenin. Cũng vì quan điểm của ông mà ông bị nhà chức trách bắt lần thứ hai năm 1994. Theo ông Việt Nam ở thời điểm năm 2008 chỉ có độc lập chứ không có tự do.”

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã trao ông giải thưởng Hammett-Hellman (Giải Tự do Phát biểu).

Ông mất ngày 2 tháng 7 năm 2009, thọ 93 tuổi.

Cũng không nên quên, khi giao chiến ở miền Nam, các đơn vị quân miền Bắc đều treo cờ Mặt Trận Giái Phóng miền Nam ở những vùng đất tạm chiếm để tuyên truyền bịp bợm, hay trên cây ăng ten của xe Tăng để diễu hành phô trương. Tiêu biểu cho hình ảnh này là chiếc xe tăng của quân đội miền Bắc húc đổ cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.

Như vậy rõ ràng những gì mà sách báo của nhà nước CSVN  viết về Tổ chức MTGPMN, hay Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) cũng cần phải “giảo nghiệm” xem chúng đã  phản ảnh được bao nhiêu phần trăm “bù nhìn” và “tay sai” cho đảng và quân đội CSVN.

Nếu cứ nhắm mắt nói bừa cho cái chính danh gỉa tạo thì lịch sử sẽ thành  “nát sử”./.

Phạm Trần

(09/017)