Mưu mô của Đảng CSVN khi bải bỏ Chứng Minh Thư và Hộ khẩu tại Việt Nam!

Mưu mô của Đảng CSVN khi bải bỏ Chứng Minh Thư và Hộ khẩu tại Việt Nam

AuthorLisa Phạm SourceChannel VNCG TV – Youtube Posted on: 2017-11-06
Đoạn video nói về mưu mô hủy bỏ hộ khẩu bắt đầu từ phút 32:45. Muốn nghe toàn bộ, xin trở lại từ đầu.

//

Giá trị của hình vẽ trên diễn đàn.

Giá trị của hình vẽ trên diễn đàn.

AuthorLê Hùng Bruxelles Posted on: 2017-11-06
Tôi có đọc đâu đây câu nói; “Một hinh vẽ bằng ngàn lời nói”. Đúng vậy, bất cứ một hình vẽ nào cũng đều chứa đựng vô vàn ý tưởng, dù cho hình vẽ đó do một cháu bé tay vừa biết cầm viên phấn hay bút màu. Nhiều báo chí phương Tây hằng năm đều có phần thưởng dành cho các cháu bé. Tại Bỉ, tờ báo Le Soir hằng năm có tổ chức “Thi đua Vẽ” dành cho các học sinh các lớp 1,2,3. Những hình vẽ được một Ban giám khảo toàn là hoạ sĩ đứng ra chọn lựa. Sau khi có kết quả, hình vẽ dược đăng tải trên báo và tác giả có một phần thưởng xứng đáng. Như vậy đủ thấy trong văn chương , hội họa cũng là phần quan trọng. Mỗi tác phẩm dều chứa đựng trăm ngàn ý nghĩ khác nhau, tùy vào thị hiếu của khách thưởng lãm. Cho nên trong văn chương người ta thường ca tụng và tung hô người họa sĩ là lớp nghệ sĩ có con mắt nhìn trước thời cuộc.
.
Tôi viết dông dài để mở đầu cho câu trả lời của tôi đến hai vị độc giả, hôm nay đã gửi đến tôi, chủ nhân diễn đàn Ba Cây Trúc với lời khuyên tôi nên lưu ý các hình vẽ trên diễn đàn. Tôi cám ơn và thông cảm qúy Vị đã dành cho tôi lời nhắn nhủ. Song le, tôi cũng cần giải thích thêm với nhị vị đã gửi e-mail cho tôi.
 .
1) Bức thư thứ nhất của cô Hoàng Lan Chi viết cho bác sĩ Trần Văn Tích được sao chép (carbon copy) gửi tôi. Tôi xin phép cô Hoàng Lan Chi được phổ biên nguyên văn bức thư (có chèn thêm màu sắc, tô đậm và gạch dưới một số chữ) lên diễn đàn bởi lẽ thư này không có tính riêng tư, mà được xem là muốn phô bày cho nhiều người được đọc bởi lẽ chuyện riêng tư của Ba Cây Trúc (hoặc của Bác sĩ Tích) lại được tác giả gởi cho cho cả hai bên chẳng có liên hệ đặc biệt gì với nhau !
(trích)
 .
Anh Tích ơi
Bất cứ ai nói, viết hay hỏi lăng nhăng, anh cứ fw bài “ Tổng kết” của tôi mới viết là xong. Trong đó có đủ bài cần biết của tôi, Quỳnh Trâm, Quốc bảo. Đủ bằng cớ clip…
Hữu Nguyên cũng hay hồ đồ, chụp mũ người ta là VT: tôi không ưa dù HN lập luận cũng khá. Bà TN Hoàng Hoa cũng vậy. Thế nào trong bài của bả cũng có từ 1-2 điểm hồ đồ. Bằng Phong DVA cũng vậy. Phí cả bài.
Tôi rất căm thù người quốc gia viết hồ đồ! Vì như thế là phá hoại chính nghĩa quốc gia.. Tôi đã năn nỉ nhiều lần: KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC VIẾT AI LÀ VC, VT-MA TRỪ PHI CÓ BẰNG CỚ !
Ba cây trúc thì để tên Trường Sơn nói tục, lắm khi vẽ bậy: tôi không ưa và cũng không liệt kê tên họ …vào danh sách những người viết bài tử tế về vụ TKN.
Anh Lê Hùng ơi, anh hãy lưu ý dùm vụ TS vẽ tục..(hết trích).
2) Bức e-mail thứ hai là của một độc giả fw như sau :
Hình ảnh hài hước và đáng yêu này được ghi lại trên một con phố Sài Gòn vắng vẻ.

Mới đây, một fanpage lớn đã đăng tải nhưng hình ảnh ghi lại cô tây đang đạp xích lô chở vị khách đặc biệt đang hút hồn cư dân mạng.

Sau khi những hình ảnh hiếm gặp được đăng tải, rất nhiều dân mạng để lại bình luận.

Thì ra cũng lắm người ưa xem các hình ảnh để chế diễu xã hội hay để tìm cái cười cho qua thì giờ mệt mỏi. Điều đáng ghi nhận là vị độc giả nầy khuyên tôi nên cho thêm nhiều hình vẽ trên diễn đàn Ba Cây Trúc.
.
Tôi ghi lại hai e-mail nầy là cố ý để cho độc giả suy gẫm có điều gì không hay, không đẹp, hay là vừa tốt vừa dễ hiểu, trong mọi hình vẽ, Tôi miễn phê bình, mà chỉ lưu ý độc giả về bài viết của cô Hoàng Lan Chi nên nhận định xem ý kiến của cô có biết tôn trọng các người cầm bút chống cọng khác hoặc họa sĩ khác… hay là cô ấy đã vượt qua ranh giới của lịch sự để dấn thân vào môi trường ” rất căm thù” để gọi họ bằng danh từ khinh bỉ là tên này thằng nọ.
.
Cô thưòng tự vỗ ngực rằng mình giữ đúng văn hoá của VNCH cho nên văn chương của cô vừa trung thực vừa bóng bẩy hơn hẳn mọi người kể cả nữ sĩ Tôn Nữ Hoàng Hoa là người mà cô cho là hồ đồ (tức là thuộc giới rất căm thù đối với cô). Thiết nghĩ dù cô có giỏi đằng nào đi nữa thì cô cũng không nên khinh miệt người khác quá đáng như vậy. Dù người anh em có hồ đồ đi nũa thì cũng đừng RẤT CĂM THÙ họ, các chữ này VNCH chỉ dùng cho bọn Việt Cọng giết người cướp của và bán nước thôi, nếu cô dùng cho người cùng chiến tuyến thì văn chương VNCH sẽ hụt hết chữ nghĩa để gán cho bọn kẻ thù VC rồi cô ạ, và cũng có lẽ vì đã hụt hết chữ nên cô đòi hỏi người ta phải chứng minh rõ ràng tội lỗi của kẻ thù mới cho phép được chưởi bằng những từ ngữ nằm ngoài tự điển của cô, đây là một quy luật sư phạm chỉ có ở những người quá ư mô phạm như cô mà thôi !!
.
Việc chống Cọng không phải chỉ mình cô mà thành tựu được. Ngược lại, mình nên cần nhiều bàn tay khác giúp sức, dù các bàn tay đó không trọn vẹn lịch sự và đẹp đẽ bằng bàn tay của cô. Cô nên biết kẻ thù có thể chết bằng nhiều cách, chúng có thể chết vì lời lẽ lịch sự của cô, nhưng chúng cũng có thể chết bằng dao búa súng đạn, bằng những lát dao chữ nghĩa thô bạo của những người mà cô “rất căm thù”. Chắc chắn cô không thể giết một thằng ma cô đĩ điếm bằng ngôn từ lịch sự nhỏ nhẹ như … thưa anh… anh làm ơn… nếu có thể xin anh vui lòng ban cho ân huệ vv… giống như Trúc Hồ đã công khai dạy dổ dân rằng “không được ĐÒI mà phải XIN” cho đúng văn hóa lịch sự của VNCH hoặc cho đúng với “Nhân Bản” như cô Kiều Ngọc đã rêu rao chỉ vì không dám “chống Cọng” mà chỉ vổ về chúng bằng tình thương nhân bản và… lịch sự kiểu văn hoá của VNCH hay của Công Giáo thì Cọng mới mủi lòng và tự động sám hối !!
Tôi hiểu cô là nhà mô phạm nên có méo mó nghề nghiệp xem mọi người đều là học trò nên đôi khi cô đã viết mà quên đi trước mắt cô là muôn ngàn độc giả trưởng thành có tư cách, biết suy luận, biết đặt vấn đề, chứ không phải là những đầu non trong lớp học trước mặt cô.
.
Riêng tôi, không trách gì cô, mà chỉ khuyên cô đừng làm cho thành phần độc giả có lập trường chống VC mất đi những người cọng tác có tư tưởng cùng lập trường với họ.

.

Lê Hùng Bruxelles

———–

Ý kiến của JB Trường Sơn :

Trường Sơn chưa bao giờ trực tiếp vẽ tranh mà chỉ nhờ những tranh vẽ của người khác để minh họa giúp cho tư tưởng của mình sống động hơn.

Khi nghe cô Hoàng Lan Chi chê tên Trường Sơn là thô tục thì tôi cũng khá thắc mắc không biết có tranh vẽ nào của tôi được cô nhìn được và đánh giá không. Tôi thường thấy trên Ba Cây Trúc có hình vẽ của Ba Bùi, Đèo Ngang, Minh Sơn vv. và tôi thường mượn hình ảnh của họ để chọc tức cũng như chọc cười thiên hạ.
Tôi là một biên tập viên của trang mạng Ba Cây Trúc nên tôi có đủ mật mã để vào kho hình của trang mạng này, hễ thấy hình nào hợp với hoàn cảnh của bài đang cho đăng là tôi trích ra.
Vây xin Cô Hoàng Lan Chi dạy cho tên học trò TS thô tục này biết hình nào là của thằng trò mất dạy này vẽ ra thiếu văn hoá VNCH và thô tục hay không ??
Tôi cũng là người kiểm duyệt các bài viết trên trang mạng BCT do nhiều cọng tác viên đóng góp, nếu có hình nào hoặc bài viết nào thô tục quá đáng là tôi loại bỏ. Và thời gian kiểm duyệt phải là sau khi bài viết đó được đăng tải lên trong nửa hoặc 1 ngày. Nếu cô gặp phải một hình thô tục mà sau 1 ngày cô còn thấy hình đó thì đúng là lỗi của tôi đã không xóa kịp thời. Nếu nó vừa xuất hiện và sau vài giờ đã bị xóa thì đừng nên bắt bẻ và chê bai bằng những lời lẽ hạ phẩm giá của Ba Cây Trúc !! Hẳn chuyện hiệu đính các bài vở là chuyện thường nhật, và người ta chỉ đánh giá sau khi nó đã được hiệu đính. Ví dụ trong hình chụp dưới đây, trang tin tức của RFI luôn cho đăng ngày giờ đăng tải và hiệu đính. Vì thế hãy kiên nhẫn trong lời bình phẩm và đả kích người khác.
JB Trường Sơn
//

Mùa Trăm Hoa Cũ Và Những Chàng Nhân Văn Giai Phẩm!

Mùa Trăm Hoa Cũ Và Những Chàng Nhân Văn Giai Phẩm 

​​[Trích diện thư: Văn Nhân NY (usa) Fwd, chuyển tiếp; Cám ơn -tunhan-]

Phan Thái Yên

Bạn bè thỉnh thoảng gặp nhau bên ly cà phê tách trà. Sau chuyện trò về gia đình, con cái, việc làm, họ vẫn thường chung cuộc với chút chén văn chương và những nghĩ suy có bấn bíu lòng. Gần đây, trong một cuộc tranh luận, thuật dụng chữ nghĩa của Hoàng Cầm và Trịnh Công Sơn đã được nhóm bằng hữu mang ra bàn cãi so sánh. Có lẽ sự ẩn dụ hai mang của ngôn từ và điệp ngữ lửng lơ trong thơ trong nhạc đã giúp họ trong sáng tác, thành danh, và sự an thân. Dù sao thì ?đàn bò vào thành phố? băng qua lối mòn phản chiến ngoại ô hay chiếc ?lá diêu bông? bên kia sông và người chị buổi thiếu thời từ cuối một làng quê nào đó đã giúp họ sống-còn mà đi ?qua vườn ổi? xanh ngon hay rộn ràng phân bua về một mùa thu thành phố đỏ lá bàng.

Tôi đã không nghĩ nhiều về những điều này mà mãi bận lòng nhớ về những người tuổi trẻ trung thực nhiệt thành, hiên ngang bước chân qua cổng trước của khu vườn Nhân-Văn Giai-Phẩm để rồi chịu cheo leo suốt cả quãng đời dài. Tôi nghĩ nhiều về những người tuổi trẻ ?biết ghét biết yêu?, viết văn làm thơ thời ?trăm hoa đua nở?. Tôi muốn được một lần về thăm lại những người giữ vườn tuổi giữa thanh niên đã một thời dùng máu lệ mình tưới thắm một mùa trăm-hoa cũ. Những Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung, Trần Lê Văn, Bùi Quang Đoài, Tạ Hữu Thiện?với bao nỗi ngậm ngùi. Năm 1956, giữa những ngày Cọng Sản Hà Nội còn đang hăng máu với cuộc Cải Cách Ruộng Đất ?hoàn toàn thắng lợi? thì những sự kiện sửng sốt, không ngờ, dồn dập xảy đến trong hàng ngũ Cọng Sản quốc tế và chế độ miền Bắc.

Ở Nga, Hội nghị lần thứ 20 của đảng Cọng Sản Liên Xô vào tháng Hai 1956 là dịp để Krushchev hạ bệ Stalin và sửa đổi lại luận thuyết bạo động cực tả bằng cách hứa hẹn một chính sách mềm dẻo và dân chủ hơn. Đợi mãi sốt ruột, các nhà văn Nga, mà người cầm đầu là Dunkinsev, bắt đầu lên tiếng đòi hỏi sửa sai những bất công của chế độ.

Ở Tàu, đảng Cọng Sản Trung Hoa tuy đã hoàn thành chiến dịch cải cách ruộng đất từ mấy năm trước cũng buộc phải tuân theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế nên đành hời hợt lờ mờ tung ra khẩu hiệu ? Bách hoa tề phóng?, trăm hoa đua nở, mà không thực sự thi hành một chính sách nới rộng tự do dân chủ nào. Năm 1957, nhóm La-Long-Cơ khởi sự phong trào chống Đảng.

Ở các nước Cộng Sản Đông Âu, vụ Poznan (Ba Lan) vào tháng Sáu 1956 và kế đến là vụ Budapest (Hung Gia Lợi) vào tháng Mười đã làm rung chuyển bộ máy thống trị của Đệ Tam Quốc Tế với các phong trào chống Nga rầm rộ.

Ở Bắc Việt, các lãnh tụ của đảng Cọng Sản Việt Nam đã vất vả hơn nhiều so với đàn anh phương Bắc của họ. Khi đặc sứ Mikoyan của điện Kremlin sang Hà Nội giải thích về luận thuyết mới của Krushchev thì cuộc cách mạng ruộng đất đang ở vào giai đoạn chót và hung hãn nhất. Hồ Chí Minh đành trì hoãn việc phổ biến quyết định của Hội Nghị lần thứ 20 của đảng Cọng Sản Liên Sô và tuyên bố ?sửa sai? vào tháng Tám năm 1956. Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, và Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng phụ trách Cải cách Ruộng Đất bị ?hạ bệ?. Võ Nguyên Giáp phải thay mặt trung ương Đảng thú nhận sai lầm và hứa hẹn sửa chữa, đồng thời thả mười hai ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ. Tình trạng xung đột, ám hại nhau giữa hai thành phần đảng viên cũ và mới, bị tố và ?tố sai?, lan rộng đến nhiều vùng nông thôn. Dân ở những làng xóm nhiễu nhương, địa chủ được tha về lẫn bần nông, tìm mọi cách chạy ra thành phố để mưu sinh và để được yên thân. Không khí nghi kỵ, căm thù, từ nông thôn lan ra thành phố, từ nông dân lan qua giới công nhân, học sinh, và trí thức. ?Vụ Quỳnh Lưu?, việc cán bộ, công nhân, học sinh tập kết khởi loạn ở Ngã Tư Sở và đập phá đồn công an Bờ Hồ (phố Cầu Gỗ, Hà Nội) là kết quả của những nỗi oan ức chồng chất và lòng căm thù đối với chế độ ngày càng sâu rộng. Giới văn thi sĩ trí thức ở miền Bắc trước kia đã chân thành hợp tác với Cọng Sản trong công cuộc kháng chiến dân tộc chống thực dân Pháp nay thấy mình bị lợi dụng, bạc đãi, khinh miệt và cuối cùng là áp bức, khủng bố tới mức độ không thể chịu đựng nổi. Bài diễn văn hạ bệ Stalin mà Krushchev đọc trong một khóa họp bí mật vào tháng Hai 1956 bị lọt ra thế giới bên ngoài đã manh nha phong trào chống lại Đảng dưới hình thức chống tinh thần Stalin. ?Giai Phẩm 1956? ra đời có những bài viết nêu lên thối nát của chế độ. Trong bài ?Cái chổi quét rác rưởi?, Phùng Quán nói rằng chế độ miền Bắc đầy rác rưởi dơ bẩn và một nhà văn như anh sẽ tình nguyện làm cái chổi quét cho sạch rác rưởi đó. Bài viết như một tuyên ngôn khởi đầu cho cuộc khởi nghĩa văn học. Trong bài ?Ông Bình Vôi?, Lê Đạt đã ám chỉ công kích bọn cán bộ lãnh đạo: Những kiếp người sống lâu trăm tuổi Y như một cái bình vôi Càng sống càng tồi Càng sống càng bé lại Hữu Loan thì uất ức: Một điều đau xót Trong chế độ chúng ta Trong chế độ ?Dân chủ Cọng hòa? Những thằng nịnh hót còn thênh thang đất sống… Trong ?Giai Phẩm Mùa Xuân?, thơ Trần Dần tả sự khổ cực, thiếu thốn, thất nghiệp của vợ chồng tác giả. Họ đi giữa Hà Nội, ?không thấy phố không thấy nhà? mà chỉ thấy ?mưa sa trên mầu cờ đỏ?. Cụ Chương Dân Phan Khôi, một sĩ phu Văn Thân xứ Quảng, người nho sĩ tiết tháo cuối cùng đại diện cho cả hệ thống Nho Giáo từ hơn hai nghìn năm trước, đơn thương độc mã đối đầu với ý thức hệ Marxism và chế độ Cọng Sản với một ý chí đấu tranh tới cùng: Nắng chiều tuy có đẹp, Tiếc tài gần chạng vạng.

Mặc dù gần chạng vạng Nắng được thì cứ nắng (1956) Trong Giai Phẩm Mùa Thu tập I ra đời ngày 29 tháng 8 năm 1956, bài viết ?Phê bình Lãnh đạo Văn nghệ? của cụ Phan Khôi như quả bom chấn động cả Hà nội đã gây nên cuộc chiến tranh văn học giữa trí thức miền Bắc với Đảng. Từ tháng Tám 1956, Hà Nội như một khu vườn với hàng trăm loài hoa đua nở. Cụ Phan Khôi cùng Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy xuất bản báo Nhân Văn. Giới sinh viên thì cho ra đời tờ Đất Mới do Bùi Quang Đoài làm chủ bút. Các báo phát hành từ trước như tuần báo Trăm Hoa của Nguyễn Bính, tờ Thời Mới, cũng hưởng ứng phong trào cho đăng những loạt bài đả kích Đảng. Về phía báo Đảng thì có những tờ Cứu Quốc, Nhân Dân, Học Tập, báo Văn (sau khi báo Nhân Văn bị đóng cửa). Bên cạnh những văn thi sĩ trẻ viết văn làm thơ đấu tranh chống Đảng là những ?Con ngựa già của Chúa Trịnh? (truyện Phùng Cung), những tay cặp-rằng văn nghệ chạy theo Tố Hữu như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi… hay tiêu biểu cho một nhóm nhỏ văn nhân xu thời, xoay xở, lúc nịnh lúc chưởi như Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, cốt sao được ăn trên ngồi trước. Tố Hữu là ông thợ cả, là ?thần tượng? của thi ca Cọng Sản Việt Nam. Lời thơ sau đây tỏ rõ tinh thần thấp hèn của người viết khi tán dương lãnh tụ: Hoan hô Sta-lin Đời đời cây đại thọ Rợp bóng mát hòa bình Đứng đầu sóng ngọn gió! … Sta-lin ! Sta-lin ! Yêu biết mấy, nghe con tập nói Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin ! … Ông Sta-lin ơi ! Ông Sta-lin ơi ! Hỡi ôi Ông mất ! Đất trời có không ? Thương cha thương mẹ thương chồng Thương mình thương một thương Ông thương mười… Hay sự tàn bạo trong văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa khi đề cao cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu: Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong, Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Sít-Ta-Lin…bất diệt… Chúng ta thử đọc những câu thơ của một Xuân Diệu tiền chiến lãng mạng: Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây, Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến… Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân… Rồi một Xuân Diệu sau khi ?trở dạ? làm thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa, làm lao động phục vụ Đảng phục vụ giai cấp vô sản, để nhận ra rằng con người có lần ru lòng mình theo tiếng Nguyệt Cầm đã thực sự đánh mất lương tri và tâm hồn thi sĩ : …Thắng hay thua? Đời sẽ méo hay tròn ? Trận quyết liệt! Yên lòng và vững chí! Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí Chuyên chính của ta là thép cương kiên… Mỗi lần tranh đấu gay go Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm Nghe lời Bác dạy khuyên răn, Chúng con ước muốn theo chân của Người… Chúng con thề nguyện một lời Quyết tâm thành khẩn…lột người từ đây… Anh em ơi! quyết chung lưng Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù, Địa hào, đối lập ra tro, Lưng chừng phản động đến giờ tan xương. Thắp đuốc cho sáng khắp đường, Thắp đuốc cho sáng đình làng hôm nay. Lôi cổ bọn nó ra đây Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi… 2. Thế mà giữa đám văn nô Marxism lơ láo, trong khu vườn trăm-hoa đã vụt trỗi lên nhóm nhà văn trẻ tuổi. Họ tiêu biểu cho lớp thanh niên lớn lên trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thù chung. Họ đã hi sinh, chịu đựng gian khổ, tranh đấu giành lại độc lập cho đất nước để rồi cay đắng hiểu ra rằng tự do, dân chủ, bình đẳng, ấm no, là lớp bánh vẽ xa vời mà chế độ Cọng Sản chỉ hẹn hò mà không thực sự mang lại. Họ trở thành tầng lớp ?quần chúng văn nghệ? phải chịu cảnh đời cơ cực bất công trong cuộc sống kinh tế đồng thời bị áp bức kìm hãm khủng bố trong sáng tác. Văn thơ của họ là tiếng nói của con người thiên nhiên khác xa với lớp lối biện chứng vô sản hiện thực thiếu lương tri. Thơ đã thành tiếng gọi của Tự Do. …cửa ngoài bằng đá tảng Tiếng hát đẩy được vào Vì đó là tiếng gọi của trời cao Của đất rộng… (Hoàng Cầm) Ngoài những đóng góp điển hình của Minh Hoàng (Vũ Tuyên Hoàng), Trần Lê Văn (cháu nhà thơ Trần Tế Xương hay Tú Xương), kịch tác gia Hoàng Tích Linh thơ văn của Trần Dần, Phùng Quán, Tạ Hữu Thiện, Bùi Quang Đoài, Phùng Cung, là tiếng gọi sang sảng sấm truyền, đã chân thành nói lên được nghĩ suy tự đáy lòng mình cho dù ai ?cầm dao dọa giết?

Phùng Quán, sinh năm 1932, người trẻ tuổi nhất trong nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Là một ?nhà văn chân thật trọn đời?, ông làm thơ để quét sạch những rác rưởi trong xã hội. Thơ ông là lời tuyên thệ trung thành với tâm hồn của mình, suốt một đời người. Năm 1956 ông ?chống tham ô lãng phí?: …Tôi không nói quá Về Nam Định mà xem Đài xem lễ, họ cao hứng dựng lên Nửa chừng thiếu tiền bỏ dở Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió Mồ hôi máu đỏ mốc rêu. Những con chó sói quan liêu Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng ! Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng Nhớ ?Đài xem lễ? tôi xót bao nhiêu Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo Đêm nay thiếu cơm thiếu áo… Năm 1957 ông nhớ ?lời mẹ dặn? làm người chân thật: …Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều, Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết Cũng không nói ghét thành yêu. Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi Sét nổ trên đầu không xô ngã tôi Bút giấy tôi ai cướp giật đi Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Phần tư thế kỷ sau, thơ Phùng Quán vẫn đam mê chơn chất: Có nơi nào trên trái đất này Mật độ đắng cay như ở đây ? Chín người ? mười cuộc đời rạn vỡ Bị ruồng bỏ và bị lưu đày… Có nơi nào trên trái đất này Mật độ đam mê như ở đây ? Yêu đến phải vào nhà thương điên Thơ đến phải bị còng tay… Có nơi nào trên trái đất này Mật độ yêu thương như ở đây ? Mỗi tấc đất có một người quỳ gối Dâng trái tim và nước mắt Cho nỗi đau của cả loài người… Có nơi nào trên trái đất này ?… Có nơi nào trên trái đất này ?…

Trần Dần sinh năm 1924 tại Nam Định. Vào những năm cuối trung học, chịu ảnh hưởng Baudelaire và Verlaine, ông bắt đầu sáng tác thơ theo thể lối ?tượng trưng?, vận dụng âm điệu để diễn tả những rung động của tâm hồn. Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, ông vào bộ đội tham gia kháng chiến. Năm 1951, ông về Hà Nội nhận công tác viết báo cho cục Quân Huấn và phụ trách giảng dạy về văn nghệ nhân dân trong những lớp đào tạo cán bộ văn công. Bị phê bình giảng dạy sai đường lối của Đảng, ông xin ra công tác ở mặt trận Điện Biên Phủ. Xúc cảm trước sức chiến đấu của bộ đội và cái chết thê thảm của bạn đồng hành Tô Ngọc Vân, Trần Dần sáng tác ?Người người lớp lớp?. Nhờ tập sách này ông được Đảng cho đi Trung Quốc để viết lời dẫn bằng tiếng Việt cho cuốn phim ?Chiến thắng Điện Biên Phủ?. Trần Dần rất bất mãn vì bị cán bộ chính trị dốt nát về văn chương đã dùng quyền lực sửa chữa từng chữ từng câu của ông. Về đến Việt Nam, ông cùng một số văn nghệ sĩ đảng viên khác như Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, Đổ Nhuận, viết kiến nghị yêu cầu hạn chế sự can thiệp của cán bộ chính trị vào lãnh vực văn nghệ. Trong thời gian này, Trần Dần tự tiện lấy vợ, bất chấp sự cấm đoán của Đảng. Người yêu của ông là một thiếu nữ tiểu tư sản, theo đạo Thiên Chúa. Nàng sống bơ vơ một mình ở phố Sinh Từ vì bố mẹ họ hàng đã di cư vào Nam. Đảng vin vào cớ người yêu của Trần Dần sống bằng tiền cho thuê nhà mà bố mẹ để lại là thuộc vào thành phần bóc lột nên không chịu để một đảng viên như ông lấy vợ thuộc giai cấp ?địch?. Trần Dần tự ý xin ra khỏi Đảng và khuyên vợ mang nhà cửa giao cho Nhà Nước. Họ chịu sống trong cơ cực để được yêu thương nhau. Không lâu sau đó, Tố Hữu, ủy viên trung ương Đảng phụ trách lãnh đạo văn nghệ, ra lệnh bắt Trần Dần mang nhốt trên một nhà giam ở Việt Bắc vì ông đã công khai phê bình đả kích cuốn ?Thơ Việt Bắc? của Tố Hữu. Tin Trần Dần bị bắt gây dư luận bất mãn trong giới trí thức kháng chiến. Đảng bèn phải đưa Trần Dần về mạn xuôi, bắt đi theo chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất và cho vợ ông một chân may vá ở mậu dịch Hà nội. Năm 1956, nhóm văn nghệ sĩ kháng chiến nổi lên đấu tranh chống Đảng bằng cách cho xuất bản tập Giai Phẩm Mùa Xuân. Hoàng Cầm đến xin vợ Trần Dần bản thảo bài thơ ?Nhất định thắng? ông viết năm 1954 để in trong Giai Phẩm. Số báo này vừa in xong thì bị tịch thu ngay. Đảng gọi Trần Dần về Hà Nội, mang ra ?đấu? giữa một hội nghị có đông đủ các văn nghệ sĩ, quy Trần Dần tội phản động chống Đảng, đả kích Hồ Chí Minh vì các câu thơ có chữ ?Người? viết hoa. …Ôi ! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người Người vẫn kinh hoàng trước tương lai… Bị giam cầm trong nhà pha Hỏa Lò ở Hà Nội, Trần Dần quá uất ức dùng dao cạo cứa cổ nhưng không chết. Vết sẹo như là một dấu hiệu của sự áp bức văn nghệ dưới chế độ Cọng Sản. Tháng Tám năm 1956, Việt Cọng tuân theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, phát động phong trào ?sửa sai?. Giai Phẩm Mùa Thu và báo Nhân Văn, đấu tranh mạnh mẽ hơn, cụ Phan Khôi và Hoàng Cầm trong bài viết ?Con người Trần Dần? lên tiếng phản đối việc khủng bố Trần Dần và vụ tịch thu tờ Giai Phẩm Mùa Xuân. Bị công kích quá mạnh, Đảng phải thả Trần Dần về. Nhóm Giai Phẩm tái bản tờ Giai Phẩm Mùa Xuân trong đó có bài thơ ?Nhất định thắng? của Trần Dần. Bài thơ dài hơn năm trăm câu, bắt đầu bằng tiếng thở dài. Tôi ở phố Sinh Từ: Hai người Một gian nhà chật. Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui ? Tổ quốc hôm nay tuy gọi sống hòa bình Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất… Bài thơ nói lên sự đói rét và nỗi u buồn trong lòng dân miền Bắc sau ngày đất nước chia đôi. …Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc Đất hôm nay tấm tả mưa phùn Bỗng nhói ngang lưng máu rỏ xuống bùn Lưng tôi có tên nào chém trộm ? A ! Cái lưỡi dao cùn ! Không đứt được ? mà đau ! Chúng định chém tôi làm hai mảnh Ôi cả nước ! Nếu mà lưng tôi lạnh Hãy nhìn xem: có phải vết dao ? Không đứt được mà đau ! Lưng Tổ Quốc hôm nay rướm máu… …Tôi ở phố Sinh Từ Những ngày ấy bao nhiêu thương xót Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ Gặp em trong mưa Em đi tìm việc Mỗi ngày đi lại cúi đầu về… … Em đi trong mưa cúi đầu nghiêng vai Người con gái mới mười chín tuổi Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi Bóng chúng đè lên số phận từng người Em cúi đầu đi, mưa rơi Những ngày ấy bao nhiêu thương xót

Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ. Đất nước khó khăn này sao không thấm được vào Thơ ? … …Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc Tai bổng nghe những tiếng thì thầm Tiếng người nói xen tiếng người ầm ả. Chúng phá hiệp thương Liệu có hiệp thương Liệu có tuyển cử Liệu tổng hay chắn tổng ? Liệu đúng kỳ ? hay chậm vài năm ? Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng. Ôi ! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai … Cuối năm 1957, Trần Dần gửi đăng bài thơ ?Hãy đi mãi? trên báo Văn nói lên ý chí cương quyết đấu tranh đòi tự do đến cùng. …Hãy đi mãi ! Dù trên biển cả sống như người vật vã khắp đại dương. Dù những con tàu bổng nhớ bến bình yên, còi rúc mãi những tiếng kêu rùng rợn. Hãy đi mãi ! Dù khi cần thiết người ta cần đói khát vượt bình xa. Ta bỗng có thể nhịn lâu hơn cả lạc đà, đi đến những kinh thành no ấm. Hãy đi mãi ! Dù có phen chót ngã hãy bó đôi chân lầm lỡ mà đi … … Nếu tôi bị gió sương đầu độc, một hôm nào ngã xuống giữa đường đi tôi sẽ ngã như người lính trận hai bàn tay chết cứng vẫn ôm cờ… …Nếu dĩ vãng đè trên lưng hiện tại nặng nề hàng tạ đắng cay, tôi sẽ nổ tung ngàn kho đạn tiếng kêu tan xác pháo mọi cái gì cũ rích… Tạ Hữu Thiện là một sinh viên viết văn làm thơ theo phái hiện thực xã hội. Lớn lên với tấm lòng đơn giản nhiệt thành anh thắp sáng thơ mình đi tìm tình yêu, đi tìm tâm hồn ?biết ghét biết yêu? giản đơn hòa hợp như anh. Giữa xã hội miền Bắc khô cạn tình người và lối giáo dục cọng sản lọc lừa, lời thơ anh trở thành tiếng gọi đắng cay, tiếng lòng tự hỏi về một phương trời khác nơi anh sẽ tìm ra người yêu trong mộng một đời. ? Tôi đã từng yêu từng chán nản Không bao giờ thấy nguội con tim Không bao giờ thỏa mãn Khát khao Em, tôi vẫn gắng công tìm. Có phải em là người không bao giờ tôi gặp Mới là người tôi ấp ủ trong tim ? Nửa đời người tôi đã đi khắp cả Kiếm tìm Em, sao chửa thấy em đâu ? Em yêu dấu, sao mà xa lạ Đến bao giờ thỏa ước hẹn hò nhau ? ? Hỡi tất cả các cô bạn gái Tôi đã biết hay là tôi chưa quen, Tôi chả bị cái gì làm lạc hướng Nhằm áo hồng, phụ áo vá vai Trong các bạn có chăng người yêu dấu Mà bấy lâu tôi vẫn gắng công tìm ? Đó chính là người tôi chửa gặp Mới là người tôi ấp ủ trong tim. Trên tất cả thành phần lý lịch Trên cao sang, trên sắc đẹp diễm kiều. Em, trọn cuộc đời tôi kiếm gặp Chỉ là người biết ghét biết yêu. Bùi Quang Đoài là sinh viên Văn Khoa sau ngày Cọng Sản tiếp thu Hà Nội. Anh làm chủ bút tờ báo vắn số Đất Mới, cơ quan tranh đấu chống Đảng của sinh viên. Truyện ngắn ?Lịch sử một câu chuyện tình? của Bùi Quang Đoài đăng trong số báo đầu tiên và cũng là cuối cùng là nguyên nhân anh bị đuổi khỏi trường và đưa đi kiểm thảo, học tập. Trong truyện ngắn này có câu văn lãng mạng ?Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn hơn thế nữa? sau này đã được nhiều người trích dẫn trong thơ truyện của mình. ?Đường trăng mà không sáng ! Bóng mây đã che mờ hẳn trăng đêm. Ánh đèn trong những gian phòng khu học xá chiếu hắt ra như những vì sao thứ tự? Đoạn văn trau chuốt mang hơi hưởng Tự Lực Văn Đoàn là dòng khơi từ cho truyện ngắn tả lại không khí sinh hoạt trong khu Học xá ở Hà Nội dưới sự kiểm soát của Đảng. Truyện kể lại một vụ cán bộ Đảng dùng uy quyền chính trị chiếm đoạt tình yêu của một nữ sinh Hà Nội thuộc thành phần gia đình tiểu tư sản. Đồng chia cảnh ngộ với các văn thi sĩ trẻ khác trong nhóm Nhân văn ? Giai Phẩm, Phùng Cung đã phải sống-trong-cảnh-chết rất nhiều năm. Sau ngày ?Con ngựa già của Chúa Trịnh?, ông đã phải sống trong tận cùng nỗi thấm đau phẩm giá con người của bần cùng, sợ hãi, di lụy, kinh hoàng. Tôi rạp đầu Bạc tóc rạp đầu Lạy hạt gạo thiêng !… Trệu trạo trái sim Ruột tím cơ hàn Mắt trước, mắt sau Kinh hoàng, di lụy Quỳ gối chống tay, Vẫn còn sợ ngã Đăng trên báo Nhân Văn số 4, truyện ngắn ?Con ngựa già của Chúa Trịnh? có ngụ ý đả kích văn thi sĩ thành danh trước kia như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Cù Huy Cận, chỉ vì ham được vinh thân thăng tiến trong hệ thống Đảng mà cam tâm tôi đòi cho chế độ. Đời sống tôi mọi đã làm thất thoát khả năng văn nghệ cũng như tâm hồn và lương tri của người cầm viết. Truyện viết về con Kim Bông là một quý mã ?tướng phách hoàn mỹ, có sức vượt hàng nghìn dặm với cái thể cao đầu phóng vĩ của nòi ngựa chiến?. Thuở ấy chúa Trịnh đang cần tuyển mộ một đoàn kỵ binh để bình định đất nước. Kim Bông được chủ là Lão Nông thuận cho rời Phương Lộ, một thôn làng hẻo lánh phía Nam chân núi Tản, về chốn kinh thành mà theo Trịnh Chúa Công xông pha chiến trận. ?Kim Bông phi như gió, giả lại đàng sau những đồi núi, cây cỏ hỗn độn của vùng Sơn Tây. Chỉ trong nửa ngày đã về đến Thăng Long?. Trong ngày hội đua tuyển mã, con Kim Bông đã làm kinh hồn táng đởm hàng nghìn ngựa tốt từ các nơi đem về. ?Chỉ trong chớp mắt, con Kim Bông đã vượt lên hàng đầu, vừa hí, vượt lên, chân trước khoăm lại như móc sắt, đuôi bay như giải phướn, tưởng như chân nó không hề chạm đất?. Sau cuộc đua, con Kim Bông được tặng danh hiệu ?Bạch long Thiên lý mã? và chọn làm mẫu mực để luyện tập cho cả đoàn ngựa chiến của triều đình. Từ đó ?nó cùng bầy ngựa chiến xông pha chiến trận, trải nhiều trận vào sinh ra tử?. Cho đến một ngày con ?Thiên lý? được Chúa Trịnh chọn cho làm mã lệnh và được vào ở trong phủ Chúa. Trong mã đài, ngày ngày chỉ ăn và tắm hoặc đứng yên cho mã phu cắt tỉa từng sợi mao, vuốt ve từng chiếc lông đuôi. Lúc đầu, nó cảm thấy bận bịu tù cẳng, lòng mơ ước cảnh sống khi còn ở ngoài cung cấm, nhưng dần rồi con Thiên lý cũng quen với gấm điều kim tuyến trên lưng và xa giá sơn son thếp vàng nó kéo đến đâu cũng vang rền lời tiền hô hậđẹp rực rỡ như phượng hoàng. Có lần được lệnh kéo chúa Trịnh đi duyệt một đoàn quân kỵ mã, con Thiên lý nhìn hàng quân kỵ oai dũng, chợt nhớ thuở tung hoành xưa, nó ngẩng đầu cất cao tiếng hí. Bầy ngựa chiến òa lên cười chế nhạo. ?Thôi bác ạ ! Đừng khoe tài nữa, chúng em đây ngại bác không rời được khỏi cái xe của Chúa ! Rời ra thì thóc kia trộn mật ai ăn ?? ?Con Thiên lý uất lên, muốn thoát khỏi xe xông thẳng ra ngoài để tỉ sức, nhưng trên xe lại giật cương? nên đành phải cắm đầu đi, lòng vẫn còn tin mình còn đủ sức phi lên hàng đầu. Một ngày kia, Chúa Trịnh vì phải thân chinh đi dẹp loạn nên truyền đem mã lệnh ra đua trường ôn dượt trước khi ra trận. Viên tướng kỵ binh cúi đầu tâu. ?Muôn tâu Chúa công, hiện nay trong triều đình thiếu gì ngựa chiến có dư sức vượt hàng nghìn dặm, và đã từng dự trên dưới một trăm trận. Xin Chúa công để tiểu tướng được chọn dâng một con chiến mã có sức khỏe vào bậc nhất. Còn như con mã lệnh, cứ nên để nó kéo xe; vì từ khi đem nó vào phủ Chúa, nó ăn thì nhiều lại không hề luyện tập, tài nó ắt không được như trước? . Vẫn còn tin ở tài con mã lệnh, Chúa bèn hạ lệnh cho mang con Thiên Lý ra tỉ sức cùng các chiến mã khác để tiện bề kén chọn.? Con Thiên lý được dịp rời phủ Chúa ra đua trường. Hai cái lá đa đã được cất đi. Nó bàng hoàng nhìn giời, nhìn đất, mắt nó hoa hoa, đầu nó choáng váng. Cảnh vật như quay chong chóng, cây như mọc ngược, núi như đổ xuống. Vừa gặp đồng loại một cái, nó cố dóng hai tai bóp bụng lại lấy hơi hí một tiếng để dương oai. Nhưng tiếng hí của nó vừa hé ra thì cụt lủn như có vật gì nút lấy mõm. Các đồng loại của nó cũng nhe răng ra cười rồi cùng cất tiếng hí làm cho nó càng uất. Không chờ tiếng trống lệnh, nó đã lồng lên, tức thì các đồng loại của nó cũng bỏ vạch rượt theo. Tiếng trống liên hồi, con Thiên ly càng cắm đầu cắm cổ chạy. Nó đã tưởng mình thắng cuộc, nó đắc chí ngoảy đầu lại thì bọn ngựa chiến đã tới sát đàng sau. Chỉ trong chớp mắt nó bị tụt lại. Không chịu, nó càng lồng lên. Bổng nó thấy nhói một cái ở trong ngang bụng như bị một nhát gươm chém mạnh, nó ngã vật xuống, vùi đầu trong bụi lốc của đàn ngựa bay qua, nó biết là đứt ruột, không thể sống được. Nó gắng mở to hai mắt, rên lên một tiếng như nói rằng: Tiếng tăm lừng lẫy như ta chỉ có thể chết ở chiến trường. Nhưng, than ôi ! Bãi cỏ này cũng là bãi chiến trường, chết thế này cũng là chết vì giang sơn, vì Chúa ! ? Trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái thế ?cao đầu phong vĩ?? Gần nửa thế kỷ đã trôi qua từ sau mùa trăm-hoa Nhân Văn – Giai Phẩm. Những con người tuổi trẻ muốn làm nhà văn chân thật trọn đời đã hiện thực giấc mơ được làm người-tự-do trong tư tưởng. Họ chắt chiu lấy giấc mơ mình như niềm hạnh phúc lẫn bi thương đã hiện hữu cùng với sự lựa chọn được làm người-chân-thật. Họ đã trả đắt giá cho sự lựa chọn cao quí của mình để làm ?người biết ghét biết yêu? nhiều khi trong giam cầm, đói khát, hãi hùng. Sau nhiều năm quá trễ, tập đoàn Cọng Sản qua những tay cặp-rằng văn nghệ miền Bắc có làm vài bản ?tự kiểm?, ?xét lại? nửa vời, kẻ cả, và xem ra thỏa mãn với hành vi ?sửa sai? tiến bộ của mình. Thực tế thì hai mươi năm sau ngày đấu tố ruộng đất, cuộc đấu tố văn học lại tái diễn vào những năm sau 1975, như Tần Thủy Hoàng đã thẳng tay ?đốt sách chôn học trò? hằng ngàn năm trước ở Trung Hoa. Và hiện nay với báo lề phải, công an ?mạng?, tường lửa? Những năm hòa bình ngắn ngủi ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Đệ Nhất Cọng Hòa vừa giúp manh nha những hoạt động văn học có kích thước thì ngọn lửa chiến tranh dấy động bởi Cọng Sản miền Bắc dưới chiêu bài giải phóng đã đốt cháy tất cả vốn liếng vừa gom. Chúng ta hiểu tại sao những nguồn tư tưởng triết học vĩ đại của Trung Hoa rực sáng tiên phong suốt thời Đông Chu Liệt Quốc chỉ để rồi trì trệ thụ động suốt hai ngàn năm sau đó. Chúng ta hiểu tại sao, hơn ba phần tư thế kỷ qua và có thể còn lâu trong tương lai,Việt Nam vẫn chờ đợi một nhà thơ lớn, một nhà văn lớn, một tác phẩm lớn.

(Viết theo tài liệu từ Đặc San “Trăm Hoa Đua Nở trên đất Bắc, Tủ Sách Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa Sài Gòn, 1959)

Phan Thái Yên

__._,_.___

 

VIỆT CỘNG ! – Nhạc sĩ LÊ DINH

Nhạc sĩ Lê Dinh định nghĩa hai chữ VIỆT CỘNG
quá hay, đầy đủ và chí lý, hãy đọc và phổ biến,
PK

VIỆT CỘNG

NHẠC SĨ LÊ DINH

Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

Việt Cộng – Việt Cộng

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nhạc sĩ Lê Dinh

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “ Mầy là thằng Việt Cộng ” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “ Mầy là thằng Việt Cộng ”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.
Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? ( Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.
– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?
– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.
– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.
– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:
Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”
Hoặc:
Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”
Và còn nữa:
Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”
Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương

Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh… Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “ Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng ”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

1A-VCViệt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “ Việt Cộng về ” hay “ Mấy ổng về ” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu… Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa. Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi.. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tị nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “ biết tàng hình ” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “ 12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái ” là gì, không hiểu cái bồn cầu “ để rửa rau ” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi làViệt Cộng… Mầy là thằng “ Việt Cộng ”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

Lê Dinh

//

* ƠN ĐỜI CHỨA CHAN – Truyện Ngắn Tràm Cà Mau

Ơn Đời Chứa Chan

(Truyện Ngắn – Tràm Cà Mau)

Ơn Đời Chứa Chan (Truyện Ngắn – Tràm Cà Mau)

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen (https://thuvienhoasen.org)

.

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày Chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn”. Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi “ám khí” khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp vía, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:

Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương“.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ”.

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.

Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào.

Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ. Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!”

Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời”.

Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”

Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì?”

Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho”.

Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên người ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.

Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi”. Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi-tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy giá thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xóa tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng”, ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”.

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau.

Tràm Cà Mau

*

Bằng chứng ‘thế giới’ không muốn thay đổi những gì thuộc về Sài Gòn (VNCH)!

—- Forwarded Message —–
From: “V. Pham chuyển gửi [ThanHuuYenBaiPhongQuangVinhQuang]” 
To: Cưu tu VQ-PQ_YB ……..
Sent: Sunday, October 29, 2017 8:48 AM
Subject: [ThanHuuYenBaiPhongQuangVinhQuang] Fwd.Fwd: BẠN CÓ BIẾT ?

Chuyển tiếp đọc để biết trên trường Quốc tế VNCH vẫn là 1 thực thể  CSVN không thể xoá nhoà được 
V. pham

Sent from my iPhone
Begin forwarded
Date: October 29, 2017 at 7:15:59 AM PDT
To: “L. Pham

Tại sao ‘SGN’ ?

Tại sao ‘084’ ?

Mã số điện thoại ‘084′ của Việt Nam hiện nay là mã số của Việt Nam Cộng Hoà trước đây.
Mặc dù chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã sụp đổ trong sự kiện (bị CSBV xâm lược – tn) 30/4/1975 và đến ngày 2/7/1976 Việt cộng đã đổi tên Sài Gòn thành “tp hcm”.
Tuy nhiên có những cái mà chúng không thể thay đổi được mà thế giới đã công nhận trước đó. “Đó là mã số vùng điện thoại của Việt Nam “084” chính là mã số vùng của Sài Gòn ngày xưa trước năm 1975 (trước năm 1975 Bắc Việt không có mã số vùng, điều đó chứng tỏ Bắc Việt không liên lạc với thế giới, cho đến khi cưỡng chiếm được Miền Nam chúng đã xin số vùng thì cơ quan truyền thông quốc tế chỉ có thể cấp số đã có sẵn, không thể thay đổi, đó là mã số của Saigon). 
.
Cũng vậy, mã số phi cảng chúng cũng không thể xin thay đổi, vì thế cho nên dù ép buộc dân Việt Nam phải viết tên Sài Gòn bằng tp hcm, nhưng chúng vẫn không thể xin thay đổi mã số phi cảng Tân Sơn Nhứt là SGN.
.
Nguồn: Van Pham
.
***
//

‘Những lời nhận xét tốt đẹp’ của cựu Tổng thống Carter trước TT Trump.

Ông Trump cảm ơn cựu Tổng thống Carter vì ‘những lời nhận xét tốt đẹp’

Cựu tổng thống Carter không phải là người duy nhất có nhận xét này. Cuộc thăm dò dư luận của công ty POLITICO/Morning Consult được công bố vào ngày 18/10 cho thấy 46% cử tri Mỹ tin rằng các phương tiện truyền thông bịa đặt ra những chuyện về ông Trump và chính quyền của ông.


Trái) Cựu Tổng thống Jimmy Carter và vợ Rosalynn tại lễ nhậm chức của Tổng thống Donald Trump vào ngày 20/1/2017 (Ảnh: Getty). (Phải) Ông Donald Trump tại Nhà Trắng vào ngày 26/9/2017 (Ảnh: Samira Bouaou / Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)
 

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cảm ơn những lời nhận xét của cựu Tổng thống Jimmy Carter vì đã ủng hộ ông về một số vấn đề.

“Khi đọc những lời nhận xét tốt đẹp của Tổng thống Jim Carter về tôi và về cách mà tôi đã bị giới báo chí (Tin tức Giả mạo) đối xử tồi tệ thế nào, tôi cảm ơn Ngài Tổng thống!”, ông Trump đã viết trên mạng Twitter hôm 28/10.

Trong cuộc phỏng vấn với New York Times được công bố ngày 21/10, ông Carter đã chỉ trích các bài viết tiêu cực của giới truyền thông về ông Trump.

“Tôi nghĩ các phương tiện truyền thông đã cứng rắn hơn với ông Trump so với bất cứ vị tổng thống nào mà tôi biết. Tôi nghĩ họ cảm thấy tự nhiên khi tuyên bố ông Trump bị rối loạn thần kinh và mọi thứ khác mà không hề do dự”, ông Carter cho biết.

Bác bỏ thuyết âm mưu rằng ông Trump đã thông đồng với Nga để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, ông Carter nói : “Tôi không nghĩ có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy những gì người Nga đã làm, đủ để thay đổi số phiếu, hay có bất kỳ lá phiếu nào như vậy.”

Cựu tổng thống Carter không phải là người duy nhất có nhận xét này. Cuộc thăm dò dư luận của công ty POLITICO/Morning Consult được công bố vào ngày 18/10 cho thấy 46% cử tri Mỹ tin rằng các phương tiện truyền thông bịa đặt ra những chuyện về ông Trump và chính quyền của ông.

Nói về các vấn đề chính sách ngoại giao khó khăn mà ông Trump phải đối mặt, ông Carter cho rằng những vấn đề này thực ra đã tồn tại từ trước khi ông Trump lên nắm quyền.

Trong một động thái hiếm hoi, ông Carter, một thành viên đảng Dân chủ, cũng chỉ trích cựu Tổng thống Barack Obama về chính sách đối ngoại. Ông Carter nói rằng ông Obama đã “từ chối” nói chuyện với Triều Tiên, và ông Carter cũng thấy rất xót xa trước thực tế rằng ông Obama đã đưa nước Mỹ tham gia vào vụ đánh bom Yemen.

Ông Carter đã lặp lại lời chỉ trích của chính ông Trump, trong đó ông Trump nói rằng các chính quyền trước đây đáng lẽ phải giải quyết xong vấn đề Triều Tiên. Theo Giám đốc CIA Mike Pompeo nói hôm 19/10, Triều Tiên lúc này chỉ còn vài tháng nữa là có khả năng đưa đầu đạn hạt nhân lên tên lửa đạn đạo.

Theo ông Trump, giải pháp duy nhất cho cuộc khủng hoảng Triều Tiên là một Triều Tiên phi hạt nhân hóa. Chính quyền của ông Trump đang sử dụng áp lực ngoại giao, kinh tế và quân sự, nhằm thuyết phục Bình Nhưỡng từ bỏ tham vọng hạt nhân.

Chỉ trích ông Obama và ông Clinton đã sử dụng quyền lực của mình cho lợi ích cá nhâ, ông Carter nói: “Tôi không quan tâm nếu ông ấy hoặc ông Clinton làm giàu hay bất cứ điều gì đó. Tôi không muốn khoe khoang. Tôi không cố gắng làm điều đó. Nhưng khi tôi bị thua [trong cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 1981-1985], tôi đã thông báo rằng tôi sẽ không tham gia vào ban giám đốc công ty, tôi sẽ không cố gắng làm giàu cho mình bằng những bài diễn văn. Tôi đã noi theo cách cư xử của [cựu tổng thống] Harry Truman.”

Ông Carter cho biết ông và phu nhân Rosie đã sử dụng tiền của chính mình để thành lập Trung tâm Carter. “Rosie và tôi đưa tiền vào Trung tâm Carter. Chúng tôi không bao giờ lấy bất kỳ thứ gì ở ngoài,” ông Carter chia sẻ.

Đầu tuần trước, khi “The Hill”, một trang tin chính trị hàng đầu tại Mỹ, đưa tin ông bà Clinton đã dính líu đến chiến dịch hối lộ của Nga, để đạt được một thỏa thuận hạt nhân dưới chính quyền ông Obama. Bài báo đăng tải hôm 17/10, nói rằng Nga đã tham gia vào việc “hối lộ, lại quả, tống tiền và rửa tiền, nhằm phát triển kinh doanh năng lượng nguyên tử của ông Vladimir Putin bên trong nước Mỹ”.

Quan tâm đến thỏa thuận, các nhà đầu tư đã chi hàng triệu USD cho Quỹ Clinton trong khi bà Hillary Clinton, với tư cách ngoại trưởng Mỹ, đang tham gia vào quá trình ra quyết định về thỏa thuận. Một ngân hàng đầu tư của Nga có quan hệ với Điện Kremlin, cũng đã trả ông Bill Clinton tờ séc 500.000 USD cho một bài diễn văn mà ông Clinton trình bày tại Moscow, trong thời gian Mỹ đang ra quyết định về thỏa thuận cho phép Nga kiểm soát hơn 20%  trữ lượng uranium có thể khai thác được của Mỹ.

Bài báo của ‘The Hill’ cũng tiết lộ rằng FBI đã biết về chiến dịch hối lộ của Nga, nhưng không hành động gì. Thay vào đó, ông Robert Mueller, giám đốc FBI lúc đó, đã bay tới Moscow trong năm 2009, để cung cấp cho Nga một mẫu 10 gram uranium đã được làm giàu (HEU).