Category Archives: Uncategorized

Sự hèn hạ, nhục nhã của ‘chế độ’ CS!

P, Chánh án Tòa Cấp Cao Hà Nội bị người dân ném dép – 25-4-2017

(HNPD) Phó Chánh án không phải là người xét xử mà chỉ đại diện cho Tà quyền cộng phỉ .

 

P, Chánh án Tòa Cấp Cao Hà Nội bị người dân ném dép giật bảng hiệu. 
Chiều qua 25/4/2017, tại trụ sở xã Phúc Sơn, Bắc Giang, Tòa Cấp cao tại Hà Nội (đại diện là ông Phó Chánh án) tổ chức buổi xin lỗi ông Hàn Đức Long, người ngồi tù oan hơn 11 năm trong vụ án giết và hiếp bé gái 5 tuổi xảy ra 12 năm trước tại Bắc Giang. Vụ án qua bốn lần xét xử và cả 04 lần ông Long đều bị tuyên tử hình nhưng gia đình ông cùng các luật sư đi kêu oan khắp nơi. 
Tại buổi xin lỗi hôm nay, người nhà nạn nhân cháu bé 5 tuổi uẩn ức ném dép, giật bảng hiệu, họ không đồng ý với chính quyền khi không tìm ra thủ phạm giết con họ. Nỗi đau chồng chất nỗi đau.
Còn đối với ông Hàn Đức Long, ông cũng không được “tận hưởng” trọn vẹn cho ngần ấy thời gian ngồi tù, còn gì tủi nhục và oan nghiệt hơn thế. 
Do hàng trăm người uẩn ức nên ông Phó Chánh án đọc xong lời xin lỗi khoảng 03 phút là bỏ đi (ông Phó Chánh án không phải là người xét xử mà chỉ đại diện cho Tà quyền cộng phỉ). Thiết nghĩ, chính quyền cần phải tổ chức lại buổi xin lỗi đối với ông Hàn Đức Long.
Người dân trong nước nay đã biết rõ bản chất gian tham lừa đảo của tà quyền cộng phỉ và không còn sợ hải bọn chúng nữa…//
.

Ai đã phát minh ra ‘điện thư’ (email)?

Sent: Friday, April 21, 2017, 9:44:21 PM PDT
Subject: Tưởng nhớ người khai sinh Email

Tưởng Nhớ Người Khai Sinh EMAIL

Raymond Samuel Tonlinson (1941-2016).

Đã vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mỗi ngày có hàng tỷ Emails được gởi đi. Có những Emails chuyên về thương mại, công việc. Có những Emails vô thưởng vô phạt, không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới, hay hạnh phúc cá nhân, nhưng người đọc mệt mỏi với loại thư điện tử này, nên thẳng tay đưa vào thùng rác (spam mails). Có cả những bức thư tình ngắn gọn thời “dot com” của những người đang yêu. Cả tỷ người trên thế giới thi nhau gõ keyboard, gởi, nhận thư điện tử mỗi ngày.
Có cả phim “You got mails” với tài diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks, và Meg Ryan đưa về một lợi nhuận khổng lồ cho Hollywood.
Không biết có ai trong cả tỷ người nghĩ đến người phát minh ra Emails? Chắc là ít ai nghĩ đến “cha đẻ” của Emails. Người kỹ sư điện tài ba, người sáng tạo ra Emails, và dấu @ vừa qua đời hôm thứ bảy, ngày 5 tháng 3 vì bệnh tim.
Thật ra, trước khi ông Ray Tomlinson khai sinh dấu hiệu @ vào năm 1970, người ta đã có thể gởi information qua lại cho nhau, nhưng chỉ gởi và nhận được nếu cùng sử dụng một máy computer. Không thể gởi data cho một người khác ở ngay phòng bên cạnh nếu người gởi và người nhận ở hai máy khác nhau,
Anh chàng kỹ sư trẻ, tự nhận mình là “a nerdy guy from MIT” (trường Đại học Massachusetts Institute of Technology lẫy lừng khắp thế giới đã đào tạo cho Mỹ nhiều nhà khoa học tài năng.) cặm cụi làm việc với niềm đam mê của một người “chỉ biết học thôi chả biết gì” (a nerd).
Ray tốt nghiệp cao học (master degree) về ngành Điện (Electrical Engineer) ở MIT năm 24 tuổi, sau khi đã có cử nhân (bachelor degree) ở Rensselaer Polytechnic Institute vào năm 1963. Thời sinh viên, ông đi thực tập ở IBM và đã làm cho các kỹ sư ở đó khâm phục trí thông minh, và khả năng làm việc của một anh chàng mới bước vào tuổi hai mươi, thiếu cả kinh nghiệm làm việc lẫn kinh nghiệm sống.
Ra trường, ông về làm việc cho Bolt Beranek and Newman((BBN), sau này được Công ty kỹ thuật Raytheon mua lại. Tomlinson làm ở đó như là một programmer giỏi, một nhà khoa học được tất cả mọi người kính trọng. Hơn nửa thế kỷ qua, vẫn ở cùng một công ty, với nhiều thay đổi, các nhà lãnh đạo, đến rồi đi, anh kỹ sư trẻ Ray Tonlinson, bước vào tuồi trung niên, roi bạc tóc, vẫn làm việc ở văn phòng quen thuộc của mình, vẫn yêu những con số, những project khoa học cho đến lúc ông qua đởi vì bệnh tim vào ngày thứ bảy 5 tháng 3 năm 2016.
blank

Ray thời 1970, khi khai sinh mạng lưới email toàn cầu.

Vào năm 1970, ở tuổi 29, anh kỹ sư trẻ Ray Tomlinson phải làm việc cùng lúc ở hai computer khác nhau, data không thể gởi từ máy này qua máy kia. Ngoài phận sự của mình, Ray dành thì giờ nghiên cứu cách gởi data từ các máy khác nhau. Anh dùng tên mình Ray ở máy 1 gởi cho Ray ở máy 2. Để đơn giản hóa, thay vì dùng chữ “at”, Ray dùng ký hiệu @, có sẵn trên bàn phím. Và việc gửi email từ máy này tới máy kia thành công. Chính từ đây, mạng lưới email giữa người này với người khác (Person to person netward email) ra đời và ký hiệu user@host trở thành mẫu ghi phổ thông cho cách ghi địa chỉ email toàn cầu hiện nay.
Khi tự gởi email cho mình (ở hai máy khác nhau) thành công, Tomlinson chia sẻ với một kỹ sư đồng nghiệp khác. Người này vui mừng, định báo tin cho cấp lãnh đạo. Vốn khiêm nhường như bao nhiêu người có tài khác, Ray ngăn lại “Đừng nói cho ai hết, thật ra đây cũng không phải là việc mà mình phải làm”. Nhưng phát minh đó quá tiện lợi, nên “tiếng lành đồn xa”, Ray Tomlinson được cấp bằng sáng chế, và là một trong những người quan trọng phát minh ra Emails.
Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng khoa học có giá trị về các nghiên cứu khoa học từ năm 2000 đến năm 2012. Riêng trong giới programmer về Internet, ông được coi là một trong những nhà phát minh tài năng.
Sau đó, dù luôn khiêm nhường và thầm lặng, ông nổi tiếng trong giới khoa học, được MIT xếp thứ 4 trong danh sách 150 cựu sinh viên tốt nghiệp MIT là những nhà phát minh có đóng góp quan trọng nhất cho khoa học.
Ông được mời đi nói chuyện ở các hội nghị khoa học, là một tên tuổi được kính trọng trong giới high tech, được các sinh viên trẻ coi như một thần tượng.
Dù vậy, nhà khoa học vẫn sống lặng lẽ với tình yêu khoa học, và trang trại nuôi một loại cừu nhỏ ở ngoại ô New York. Ngoài công việc, ông có niềm vui “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” với thiên nhiên vả bầy cừu nhỏ của mình. Cả cuộc đời ông gắn liền với tiểu bang New York, nơi ông sinh ra, lớn lên, đi học, làm việc, và qua đời.
………
Xin viết lại bài này với lòng ngưỡng mộ, và biết ơn người phát minh ra “@”, giúp Emails phát triển hoàn thiện như hôm nay.
Và xin được nhắc nhở mọi người nhớ đến Ray Tomlison, người góp phần quan trọng trong việc đưa Emails đến cả tỷ người ở khắp nơi trên thế giới.

Raymond Samuel Tomlinson sinh tại Amtersdam, NewYork, ngày 23 tháng Tư năm 1941. Khi đột ngột từ trần vị bị kích tim vào ngày March 5, 2016, chỉ còn đúng 4 tuần nữa là Ray sẽ mừng sinh nhật thứ 75.
Tháng Ba, tháng Tư là ngày giỗ, ngày sinh của ông. Khi mở Emails, xin hãy góp phần cầu nguyện cho Ray Tonlinson, mong ông an vui bình yên ở một nơi không còn cần Emails, không cần bất cứ một điều gì ngoài sự nhẹ nhàng, thanh thoát.
ẻ của thư điện tử và ký hiệu @ đã qua đời ở tuổi 74
Ray Tomlinson, một huyền thoại trong ngành điện toán, cha đẻ của thư điện tử (email) và ký hiệu “@” đã qua đời hôm thứ Bảy (5/3) sau một cơn đau tim đột ngột, ở tuổi 74.
Năm 1971, Tomlinson đã gửi đi bức thư điện tử đầu tiên khi ông đang làm việc cho hãng chuyên nghiên cứu phát triển các chương trình làm việc trong môi trường Internet, Bolt, Beranek and Newman (BBN) ở Boston. BBN ở thời điểm đó là nhà thầu dự án mạng dữ liệu Internet đầu tiên có tên gọi ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ. Và với tư cách là một nhân viên của BBN, Tomlinson đã được giao nhiệm vụ tìm ra những vấn đề có thể xử lý trên mạng ARPANET.
Trước Tomlinson, đã có những nhà khoa học nghĩ tới việc truyền tin nhắn cho người khác qua mạng Internet hay chia sẻ các đoạn ghi chú qua một chiếc máy tính, nhưng tất cả chỉ trở nên khác biệt khi Tomlinson sáng tạo ra lệnh SNDMGS. Với lệnh SNDMGS, Tomlinson đã lần đầu tiên gửi được một tập tin thư điện tử qua mạng Internet tới một máy tính khác với địa chỉ thư tomlinson@bbntenexa. Đây cũng là chương trình gửi tin nhắn qua mạng đầu tiên.
Tomlinson được biết đến nhiều nhất khi ông lựa chọn biểu tượng @ để chỉ một tin nhắn sẽ được gửi đến một máy tính khác trên mạng. Ông cũng đi đầu trong phát triển các tiêu chuẩn cho các trường “from” (gửi từ), “subject” (chủ đề) và date (ngày tháng) được tìm thấy trong tất cả các tin nhắn email được gửi đi ngày hôm nay.
Tomlinson đã giành được bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật điện từ ở Viện Bách khoa Rensselaer năm 1963 và là một bậc thầy về kỹ thuật điện ở Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1965.
Sự ra đi của Tomlinson là sự ra đi thứ ba của các huyền thoại trong ngành công nghiệp máy tính trong năm nay. Trước đó, chuyên gia trí tuệ nhân tạo Marvin Minsky đã qua đời vào tháng Một, và nhà phát minh ra máy tính cá nhân Wesley A. Clark qua đời vào tháng Hai. Cả hai đều hưởng thọ 88 tuổi.
 Search/web/by gàn

NHỮNG TÊN GIU-ĐA THỜI ĐIỂM 30-4-1975

NHỮNG TÊN GIU ĐA THỜI ĐIỂM 30-4-1975

Tác giả: Trần Vinh Posted on: 2017-04-21

Lờì giới thiệu cùa Kim Phạm. -Một cuốn sách hay ,phải mua xem ! để biết đồng bọn với chúng nó là những ai để tránh mặt, lỡ khi thấy chúng nó trong nhà thờ.

Đó là Những tên Giu Đa thời điểm 30-4-1975 còn những tên Giu Đa sau 30-4-1975 có cả đống khối ra đó kìa, không biết có Vị nào đang sưu tầm danh tánh và việc làm của bọn Giu Đa sau 30-4-1975 cho đến bây giờ chưa?

Bước sang năm 1975, chiến sự ở Miền Nam đột nhiên chuyển biến mau chóng, Quân lực VNCH bắt đầu triệt thoái dần về phía Nam. Sang Tháng 4 thì chiến thắng của Cộng Sản đã cận kề. Nương theo đà thắng lợi của Cộng quân, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” ở Sài Gòn bắt đầu hành động.

Thành phần của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã kí tên vào bức tâm thư “Gởi Anh Chị Em Công Giáo Miền Nam Việt nam” (nội dung cáo buộc Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre một số tội và đòi Ngài phải ra đi) gồm có 8 tổ chức:

Phong Trào Thanh Lao Công
Phong Trào Công Giáo và Dân Tộc
Đoàn Sinh Viên Dự Tập Dòng Chúa Cứu Thế (rất ít)
Nhóm Liên Tu Sĩ Trẻ (rất ít)
Phong Trào Công Giáo Xây Dựng Hoà Bình (ma)
Phong Trào Thanh Niên Công Giáo Đại Học (rất ít)
Tổng Đoàn Thanh Niên Công Giáo (ma)
Liên Đoàn Sinh Viên Công Giáo (rất ít)

Thực sự thì hầu hết các tổ chức kể trên chỉ có dăm ba thành viên, thậm chí chỉ là tổ chức ma mới thành lập hoặc là một người mà tham gia mấy tổ chức, nhưng đã được những kẻ giật dây nặn ra, cốt để gây thanh thế.

Hai thành phần chính yếu trong “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” là các linh mục và các sinh viên Công Giáo “tiến bộ”. Các linh mục “tiến bộ” gồm có: Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích, Thanh Lãng, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị, Nguyễn Thiện Toàn, Trần Viết Thọ, Nguyễn Quang Lãm, Nguyễn Văn Hoà, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Trinh, Nguyễn Văn Huệ, Đinh Bình Định... Đông hơn cả là nhóm sinh viên Công Giáo “tiến bộ”. Những tay tranh đấu hung hăng nhất trong nhóm này là Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn Khắc Xuyên, Nguyễn Xuân Hàm, Vũ Sĩ Hùng, Nguyễn Chí Thành,Nguyễn Ziên Hồng, Phạm Văn Phổ, Nguyễn Văn Hồng, Trịnh Viết Trung, Dương Thị Hoè, Phi Nga… (Xem Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-1975 của Nguyễn Antôn. Dân Chúa xuất bản, 1988. Trang 225).

Theo một số tác giả từng là chứng nhân tình hình sau 30-4-1975 thì Cộng Sản đã dùng chiến thuật dùng chính người Công Giáo để đánh phá Giáo Hội Công Giáo Miền Nam, mà tên giáo gian đầu sỏ chính là Nguyễn Đình Đầu. Một trong số các tác giả ấy là Lữ Giang, tức thẩm phán Nguyễn Cần (VNCH), đã viết:  “Nguyễn Đình Đầu , một cán bộ Việt Cộng nội tuyến trong hàng ngũ Công Giáo, ở trong nhóm Sống Đạo, đã đứng đàng sau sắp xếp và tổ chức các trận đánh phá này”  (Lữ Giang. Những BÍ Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam. 1994. Trang 200)…  Ông viết tiếp:  “Trong cuốn ‘30 tháng 4’ do nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1985, ký giả Võ Trần Nhã của Việt Cộng cho biết Nguyễn Đình Đầu là người yểm trợ đắc lực cho việc đưa miền Nam vào tay Cộng Sản” và “… Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, bên ngoài Nguyễn Đình Đầu không giữ chức vụ gì quan trọng, nhưng bên trong Nguyễn Đình Đầu đã đứng ra tổ chức và giật giây các chiến dịch chống phá Giáo Hội Công Giáo. Từ vụ hô hào trục xuất Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre, đòi bãi chức Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, đến việc lên án các vụ Vinh Sơn, Đắc Lộ, Dòng Đồng Công… đều có bàn tay thúc đẩy của Nguyễn Đình Đầu” ( Lữ Giang. Sđd. Trang 220, 221).

Chúng tôi chưa biết Nguyễn Đình Đầu có phải là đảng viên Cộng Sản hay không, nhưng chắc chắn ông ta là kẻ theo Cộng Sản. Loại người này sống ở miền Nam, nhưng dùng các quyền tự do được hưởng để chống phá miền Nam và tiếp tay cho Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Thực sự, họ còn nguy hiểm hơn là chính những cán bộ Cộng Sản, bởi vì kẻ nội thù đâm sau lưng thì khó đỡ hơn kẻ ngoại thù chém chúng ta ngay trước mặt.

Mục tiêu đấu tranh đầu tiên của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” nhắm vào Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre. Họ đòi trục xuất Ngài ra khỏi Việt Nam. Trục xuất Đức Khâm Sứ là đại diện của quốc gia Vatican, của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ tức là muốn cắt đứt liên hệ giữa Vatican với nước Việt Nam Cộng Sản, cắt đứt ảnh hưởng của Giáo Hội Mẹ với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” muốn chứng tỏ lòng thần phục đối với chính quyền Cộng Sản sắp được thành lập ở Miền Nam và muốn dâng công đầu tiên là thiết lập một Giáo Hội Công Giáo tự trị theo kiểu Giáo Hội Công Giáo tự trị bên Tầu Cộng. (1)

Tranh đấu hoặc đánh phá phải có lí do. Không có thì phải tạo ra. Nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” tố cáo Đức Khâm Sứ phạm nhiều tội.

Khởi đầu, nhóm này kí tên và phổ biến một bức tâm thư, không đề ngày tháng, nêu rõ lí do và mục tiêu đấu tranh như sau: “Khâm Sứ Henri Lemaitre là người trước đây đã hỗ trợ mạnh mẽ cho chính sách thực dân mới của Hoa Kỳ và cho chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu… Từ trước tới nay, các Khâm Sứ đã xen vào nội bộ của Giáo Hội Việt Nam quá nhiều trái với tinh thần Vatican 2. Giải thoát các Giám Mục MNVN cho khỏi áp lực và xâm lấn của Khâm Sứ Toà Thánh là giúp cho Giáo Hội Việt Nam được trưởng thành.” (Nguyễn AnTôn. Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-75. Dân Chúa xuất bản, 1988. Trang 218).

Trong một bản cáo trạng in roneo, LM Thanh Lãng quy kết: “Từ trước đến nay, ở Miền Nam có 5 vị Khâm Sứ Toà Thánh thì Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre có thành tích bất hảo nhất vì tính chất thực dân, có đường giây điện thoại đỏ với Toà Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam và dính líu với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu” (Nguyễn AnTôn . Sđd. Trang 220).

Lúc ấy, trong Toà Khâm Sứ có Đức Kâm Sứ Henri Lemaitre, một linh mục phụ tá người Ba Lan và linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ. Đức Khâm Sứ là mục tiêu “nhắm bắn” chính, còn linh mục phụ tá người Ba Lan và linh mục bí thư người Việt là mục tiêu phụ, đương nhiên 2 vị là những chứng nhân từ đầu đến cuối.

Để đạt mục tiêu trục xuất Đức Khâm Sứ, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã tổ chức 3 cuộc biểu tình đấu tranh:

Lần thứ nhất: Ngày 02-4-1975, họ kéo tới biểu tình trước Toà Khâm Sứ đường Hai Bà Trưng. Họ đòi Đức Khâm Sứ phải ra đi. Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre vẫn bình tĩnh, nhẫn nại và can đảm. Ngài từ chối yêu sách của nhóm tranh đấu và dứt khoát không rời khỏi Việt Nam nếu chưa có lệnh của Toà Thánh. Lúc này, Cộng Sản chưa chiếm được Sài Gòn, cho nên “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” chưa có hành động thô bạo.

Lần thứ hai: Ngày 14-5-1975, tức là lúc Miền Nam đã lọt vào tay Cộng Sản, nhóm đấu tranh tỏ ra hết sức hung bạo. Đi đầu là Nguyễn Phúc Khánh, bọn họ trèo tường đột nhập Toà Khâm Sứ, dùng búa đập bể ổ khoá cổng để đám đông tràn vào. Mấy tay xông xáo hơn đã trèo lên mái nhà căng biểu ngữ và hạ cờ Toà Thánh xuống. Bọn họ dùng lời lẽ của phường bất hảo để thoá mạ, hò hét. Mỗi lần hô “Đả đảo! Đả đảo!”, “Henri Lemaitre cút đi, cút đi…!” thì cả bọn đồng loạt giơ lên cao những nắm đấm, y hệt một hoạt cảnh bần cố nông đấu tố địa chủ ở Miền Bắc hồi 1954. Sau đó, họ dùng vũ lực xô đẩy Đức Khâm Sứ, linh mục phụ tá nguời Ba Lan và linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ ra khỏi cổng Toà Khâm Sứ, rồi đóng cửa lại.

Trong đợt đấu tranh bạo động này, người ta nhận diện 3 linh mục nổi bật: LM Phan Khắc Từ xách động bên trong Toà Khâm Sứ, LM Huỳnh Công Minh chụp hình liên tục (để báo cáo), còn LM Thanh Lãng thì đứng bên kia đường để “lược trận”. (2)

Rập theo chủ trương của Cộng Sản là dùng bất cứ phương tiện nào miễn là đạt mục đích. Trong những lần đối thoại giữa đôi bên, những tay cầm đầu “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” bất chấp tất cả, đã dám đe doạ Đức Khâm Sứ: “…nếu Đức Khâm Sứ không chịu từ chức và ra đi, thì người ta bắt buộc phải dùng đến một biện pháp “rất đáng tiếc” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 220).

Lần thứ ba: Tối ngày 03-6-1975, “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” lại tổ chức biểu tình tại Toà Khâm Sứ.

Lần này xẩy một sự việc đau lòng. Đó là khi nghe tin Toà Khâm Sứ lại bị “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” quậy phá, hàng ngàn giáo dân trẻ thuộc giáo xứ Bùi Phát kéo nhau đi giải vây cho Đức Khâm Sứ. Đoàn người bị bộ đội Cộng Sản ngăn chặn tại cầu Trương Minh Giảng, một giáo dân bị bắn chết, LM Vũ Bình Định, phó xứ Bùi Phát, bị bắt giữ.

Chiến dịch đánh phá của “Nhóm Công Giáo Tiến Bộ” đã lộ nguyên hình họ là những tên“Giu Đa bán Chúa” bởi vì hành động của họ tạo nên cái cớ rất tốt, rất đúng lúc để chính quyền Cộng Sản ra tay.

Thật vậy, ngay sáng hôm sau, ngày 04-6-1975, Bộ Ngoại Giao Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời MNVN đã mời Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre đến để bảo cho biết: “Ngài nên lánh khỏi Việt Nam trong một thời gian, và càng sớm càng tốt, nếu không sự hiện diện của Ngài sẽ không còn được bảo đảm” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 221). Theo ngôn ngữ ngoại giao phải hiểu đây là lệnh trục xuất. Đức Khâm Sứ phải lấy máy bay để rời khỏi Sài Gòn vào hôm sau, 05-6-1976.

Đức Khâm Sứ đi rồi, linh mục phụ tá người Ba Lan yêu cầu linh mục bí thư Trần Ngọc Thụ phải vào ở thường trực trong Toà Khâm Sứ để phụ với ông đối phó với tình hình mới.

Nghe biết tin này, từ Vatican, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Toà Thánh Jean Villot gửi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà MNVN một bức thư nói: “… rất đau lòng khi hay tin… và sẵn sàng mở những cuộc tiếp xúc cần thiết…” (Nguyễn Antôn. Sđd. Trang 222).

Sau khi Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre rời Việt Nam, ngài được bổ nhiệm làm khâm sứ Toà Thánh ở Uganda, rồi ở nhiều nước Bắc Âu. Nhiệm sở cuối cùng của Ngài là ở Hoà Lan. Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre nghỉ hưu năm 1997 và qua đời năm 2003.

Đức Khâm Sứ đi rồi thì ít lâu sau đến lượt vị linh mục phụ tá người Ba Lan. Chúng tôi không ghi nhận được thêm tin tức gì về vị linh mục phụ tá Đức Khâm Sứ, kể từ khi ông bị trục xuất khỏi Sài Gòn.

Người chủ Toà Khâm Sứ bị trục xuất. Vị linh mục phụ tá người Ba Lan cũng đã phải ra đi. Toà Khâm Sứ chỉ còn là cái xác nhà. Cha bí thư Trần Ngọc Thụ có thể trụ lại được không? Ra khỏi Toà Khâm Sứ, Cha Thụ có thể đi đâu? Dù ở đâu, Cha có được yên thân không để làm việc mục vụ?

Một sự thật sau này mới biết là Đức Khâm Sứ đã tiên liệu xin quốc tịch Vatican cho Cha Thụ từ trước, để hòng khi hữu sự. Quả đúng như vậy. Cha Thụ có quốc tịch Vatican nhưng Cha giấu mọi người. Cha vốn nổi tiếng kín đáo, không bao giờ tiết lộ những chuyện không cần tiết lộ. Nhưng mà giờ đây, việc phải đến đã đến. Đã đến lúc Cha phải quyết định đi hay ở. Cha không giấu kín được nữa. Dù còn vấn vương, không muốn ra đi thoát thân một mình, nhưng Cha phải tìm ra đáp số hợp tình hợp lí nhất cho việc ở hay đi.

Các đấng các bậc thân quen nói Cha nên ra đi. Bà con và tất cả mọi người thương ông, muốn ông được an toàn cho nên đã giục giã ông nên đi.

Cuối cùng, Cha Thụ quyết định ra đi.

Tại phi trường Tân Sơn Nhất, trước khi lên máy bay, đột nhiên có một viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao của chính quyền Cộng Sản tới nói: “Chúc linh mục thượng lộ bình an. Sau này, nếu khi nào linh mục muốn trở về thì cứ cho chúng tôi biết!”

Đâu ngờ, đây là lần ra đi không hẹn ngày về của Cha Thụ.

Đúng là “nói dối như Vẹm!”, sau này, ở Roma, nhiều lần Cha Thụ xin visa tại Toà Đại Sứ CSVN để trở về thăm Việt Nam, thăm cố hương Phát Diệm, thăm mộ phần cha mẹ ở họ Đông Hoà, xứ Văn Hải, nhưng chưa bao giờ CSVN cấp giấy cho Cha.

Bù lại, vì ra đi nên sau này Cha Thụ mới có cơ hội làm nhiều việc quan trọng hơn cho GHCG hoàn vũ và cho GHCGVN.

Trần Vinh

Ghi chú:

(1) Trong cùng thời gian này, nhóm “Công Giáo Tiến Bộ” phát động song hành 2 cuộc đấu tranh nhắm vào 2 mục tiêu: một là trục xuất Đức Khâm Sứ; hai là buộc Đức TGM Phanxicô Nguyễn Văn Thuận phải từ chức Phó Tổng Giám Mục Sài Gòn (do sắc phong của Toà Thánh ngày 25-4-1975). Nhiều sách vở đã kể về vụ Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bởi vì Ngài quá nổi tiếng. Giáo Hội đang xúc tiến việc tuyên thánh cho Ngài. Ở đây, chúng tôi chỉ tường thuật vụ Đức Khâm Sứ, bởi vì chủ đề loạt chuyện của chúng tôi trong sách này là LM Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, bí thư Toà Khâm Sứ. Cha Thụ cũng là chứng nhân của các vụ việc xẩy ra liên quan tới Đức Khâm Sứ.

(2) Về cuối đời, LM Thanh Lãng đã viết di chúc, khiêm nhường ăn năn sám hối, xin Chúa và Giáo Hội “tha tội”. LM Thanh Lãng cũng “công khai sám hối xin lỗi Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, … anh em linh mục và …toàn thể dân Chúa”.

  1. Nguyễn Văn Lục, em ruột GS. Nguyễn Văn Trung, trong bài Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận Nguyên Nhân 13 Năm Lưu Đầy Khổ Nhục, đã công bố một phần bản di chúc 13 trang của LM. Thanh Lãng trao cho GS. Nguyễn Văn Trung, nguyên văn như sau:  “Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội thánh Toàn cầu và Việt Nam. Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con lòng tin, lòng trông cậy và ơn tha thứ. Tôi xin công khai sám hối xin lỗi Đức cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ gìn và trả công cho Đức cha. Tôi xin công khai sám hối xin lỗi tất cả và tình anh em linh mục mà tôi vô tình hay cố ý, làm mất lòng. Tôi xin công khai và xin lỗi toàn thể dân Chúa mà tôi hối tiếc là chưa được phục vụ trong Mục vụ. Tôi xin mọi người tha tội cho tôi để Hội Thánh và Chúa tha tội cho tôi”. Ngày 28-11-1988, Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lãng”. (DCVOnline.net) (Trích trong sách Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ sẽ phát hành cuối năm 2017. Chủ biên: Đức Ông Phanxicô Phạm Văn Phương. Biên tập: Trần Vinh)

Nguyễn-Gia-Kiểng nhận định về cuộc gặp gỡ Trump & Tập!

  • Trích đăng nguồn Internet!

Nguyễn Gia Kiểng nhận định về Thời cuộc

Donald Trump và Tập Cận Bình đã chia tay mà không có họp báo và thông cáo chung sau hai ngày thảo luận. Trong ngôn ngữ ngoại giao đây là một cuộc gặp gỡ không thành công. Đối với Tập Cận Bình, người lãnh đạo tối cao của một phần năm dân số thế giới và đã dành bốn ngày cho chuyến công du này, nó có vẻ như một thất bại.
Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn người ta có thể thấy là Tập đã phần nào thành công. Ít ra ông đã trì hoãn được một thất bại gần như chắc chắn. Ông tới Mỹ trong thế yếu để bàn về những vấn đề trên đó ông chỉ có thể nhượng bộ chứ khôn
g thể đòi hỏi gì hơn và đã ra đi mà chưa phải công khai nhượng bộ điều gì. Đối với Tập như vậy cũng đã là tốt lắm rồi.

Trước hết hãy nhìn tương quan lực lượng. Hoa Kỳ với dân số chưa bằng 1/4 Trung Quốc lại có một tổng sản lượng nội địa (GDP) gấp đôi hoặc gấp ba GDP của Trung Quốc tùy theo cách tính. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ giầu gấp mười lần Trung Quốc. Điều quan trọng hơn là kinh tế Hoa Kỳ đang mạnh lên trong khi kinh tế Trung Quốc ngày càng tới gần tình trạng khủng hoảng. Các số liệu về kinh tế của Trung Quốc chắc chắn là sai trong mục đích che giấu sự thật, người ta chỉ không biết chúng sai tới mức nào. Còn sức mạnh quân sự của hai bên thì không thể so sánh. Hoa Kỳ mạnh hơn hẳn và sự hơn hẳn đó ngày càng tăng lên vì ngân sách quốc phòng luôn luôn cao gấp ba lần Trung Quốc.

Nhưng không phải chỉ có thế. Trung Quốc hiện nay còn là một đất nước đang sụp đổ. Môi trường đã ô nhiễm đến mức mà những người Trung Quốc giàu có hay có phương tiện đang tìm cách bỏ nước ra đi vì sợ chết. Tư bản đào thoát ra nước ngoài trung bình 200 tỷ USD mỗi năm và ngày càng đào thoát nhanh hơn. 

 Các mâu thuẫn kinh tế, văn hóa, tôn giáo, chủng tộc giữa các tỉnh lục địa và duyên hải ngày càng lên cao. Tây Tạng, Tân Cương, Ngoại Mông, Vân Nam, Tứ Xuyên đang là những trái bom nổ chậm. Trái bom nổ chậm nguy hiểm hơn là chính trị. Tập Cận Bình thừa hưởng một Trung Quốc không khác Liên Xô của Gorbachev ba thập niên trước đây, nhưng thay vì thích nghi với tình huống mới, nghĩa là tổ chức sự giải thể của chế độ cộng sản, ông và đảng của ông lại cố gắng bơi ngược dòng thác. Hậu quả có thể sẽ rất kinh khủng.

Tóm lại, về tương quan lực lượng Trung Quốc trước mặt Hoa Kỳ không khác một võ sĩ hạng nhẹ đang yếu bệnh trước một võ sĩ hạng nặng đang sung sức. Tập Cận Bình không thể chọn giải pháp đối đầu, thỏa hiệp là bắt buộc.

Nhưng thỏa hiệp như thế nào ? Tất cả những vấn đề phải thảo luận và thỏa hiệp đều là những vấn đề trên đó Trung Quốc phải nhượng bộ.

Việc Triều Tiên tìm cách chế tạo bom nguyên tử và hỏa tiễn tầm xa trước đây từng là một con bài trong tay Bắc Kinh để mặc cả với Mỹ, Nhật và Hàn Quốc, giờ đây đang được mọi quốc gia nhìn như một thách thức và một đe dọa lớn cho cả thế giới, và càng ngày càng nhiều người nhận định là Trung Quốc đứng đàng sau mối nguy này. Hoa Kỳ thừa khả năng tiêu diệt những căn cứ chế tạo bom và hỏa tiễn của Triều Tiên và sẽ được cả thế giới hoan hô nếu tấn công. Trung Quốc chỉ có thể nhượng bộ chứ không thể mặc cả gì, dù là đòi Hoa Kỳ trì hoãn việc đặt các hỏa tiễn THAAD ở Hàn Quốc, hay đình chỉ việc bán thêm vũ khí tối tân cho Đài Loan. Trung Quốc chỉ có thể yêu cầu Hoa Kỳ buộc Đài Loan đừng tuyên bố độc lập với Hoa Lục. Một cách ngộ nghĩnh, điều mà Trung Quốc muốn chỉ giản dị là Đài Loan vẫn tiếp tục giữ quốc hiệu Trung Hoa Dân Quốc thay vì Đài Loan Dân Quốc, tiếp tục vỗ ngực tự xưng là đại diện duy nhất của Trung Quốc và sẽ giải phóng Hoa Lục !

Thương mại với Hoa Kỳ đang đem lại cho Trung Quốc một số thặng dư khoảng 350 tỷ USD năm 2016. Số thặng dư này tuy đã giảm nhiều so với trước đây nhưng lại cần thiết hơn lúc nào hết cho Trung Quốc, và cũng là điều mà Trump muốn giảm đi một cách đáng kể. Tập Cận Bình có thể giảng giải cho Trump và bộ tham mưu rằng trong nhiều trường hợp thực ra Mỹ chỉ nhập khẩu hàng của Mỹ made in China, rằng khi người Mỹ mua một chiếc Ipad với giá 500 USD thì thực ra phần của Trung Quốc chưa tới 50 USD, gần 300 USD là của Mỹ, phần còn lại của Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan. Đúng, nhưng vấn đề là Apple vẫn có thể chế tạo những sản phẩm đó tại một nước khác trong những điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ. Không những thế, Mỹ và các nước dân chủ phát triển khác còn có lý do để không muốn tiếp tay giúp Trung Quốc giầu mạnh thêm. Họ ngày càng ý thức rằng Trung Quốc càng mạnh lên càng trở thành một đe dọa cho hòa bình thế giới, và chính Tập Cận Bình với chính sách bá quyền khu vực từ bốn năm qua đã cho họ nhận thức đó. Họ Tâp cũng không thể sử dụng khối công trái 1.100 tỷ USD mà Trung Quốc đang giữ của Mỹ. Nó chỉ là 5% khối nợ công của Hoa Kỳ và không thiếu những quỹ đầu tư khác sẵn sàng mua lại. Hơn nữa Trung Quốc cũng cần khối công trái này để, vừa che giấu sự yếu kém của nền kinh tế Trung Quốc, vừa giữ cho hối suất đồng Nhân Dân Tệ đừng lên cao làm hàng hóa Trung Quốc mất sức cạnh tranh. Và đàng nào thì trong quan hệ thương mại giữa hai nước, Trung Quốc cũng là kẻ bán Hoa Kỳ là người mua, và người thiệt hại nếu có xung đột là kẻ bán.

Một vấn đề khác là Biển Đông. Ở đây Trung Quốc không chỉ yếu mà còn vi phạm luật pháp quốc tế. Tầm vóc và sự hung hăng của Bắc Kinh nhiều khi khiến người ta quên rằngvề hải quân và không quân Trung Quốc còn yếu hơn cả Nhật và Đài Loan. Và cũng đã có phán quyết của Tòa án quốc tế Den Haag.

Tập Cận Bình thừa hiểu là trên tất cả những vấn đề có thể tranh cãi – dù là Triều Tiên, quan hệ thương mại, Đài Loan hay Biển Đông – Trung Quốc chỉ có thể nhượng bộ và phải nhượng bộ. Thành công của Tập Cận Bình trong chuyến công du Mỹ lần này chỉ là đã tạm thời trì hoãn được sự công khai hóa những nhượng bộ bắt buộc cho tới sau Đại Hội 19 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc dự trù mùa hè năm nay. 
 
Tập Cận Bình sẽ rất lúng túng trong đại hội này, thậm chí có thể bị mất chức nếu nhượng bộ ngay bây giờ hay nếu để nổ ra tranh chấp với Hoa Kỳ và các đồng minh, trong đó dĩ nhiên Trung Quốc bị thiệt thòi. Có thể nói trong chuyến đi này, họ Tập đã đạt được thắng lợi nhưng đây là một thắng lợi có vị đắng.

Việt Nam sẽ ra sao trong bối cảnh mới này ?

Trái với tâm trạng bi quan của nhiều người, chúng ta không nên lo ngại Việt Nam sẽ bị sáp nhập thành một tỉnh của Trung Quốc. Ngay cả nếu ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam muốn như vậy để được tiếp tục cầm quyền thì Trung Quốc cũng đã có quá nhiều tỉnh bất ổn rồi để còn muốn có thêm một tỉnh còn bất kham hơn nữa. Trung Quốc chưa chắc đã giữ được sự thống nhất hiện nay thì còn lòng dạ nào để chuốc lấy một mối nguy khác ? 
Sáp nhập Việt Nam chỉ có lợi cho Trung Quốc nếu cho phép Trung Quốc kiểm soát Biển Đông. Nhưng nếu tham vọng kiểm soát Biển Đông không còn nữa thì Việt Nam không còn giá trị chiến lược nào đối với Trung Quốc mà chỉ còn là một gánh nặng. Nếu sự sáp nhập không đặt ra nữa thì Việt Nam còn có thể là một mối nguy cho chế độ cộng sản Trung Quốc nếu trở thành một nuớc dân chủ

Một sự thực là ngày nay hai dân tộc Việt và Hoa đã bị đẩy vào thế thù địch, và chính quyền Bắc Kinh hình như còn cố tình đóng góp tạo ra tâm lý thù địch này. Phải chăng vì lo xa Bắc Kinh muốn hai dân tộc thù ghét nhau để một nước Việt Nam dân chủ sắp tới không khuyến khích những đòi hỏi dân chủ tại Trung Quốc ?

Và nếu Trung Quốc không còn là một chỗ dựa thì chế độ cộng sản Việt Nam có thể trụ được không ? Chắc chắn là không, nó đã quá tùy thuộc vào Mỹ, Châu Âu và các nước dân chủ để có thể giữ nguyên bản chất. Bằng cách này hay cách khác Việt Nam sẽ phải có dân chủ trong một tương lai gần. Dù là theo con đường Ba Lan hay theo kịch bản Romania.

.
Nguyễn Gia Kiểng

(09/03/2017)

Câu chuyện đáng suy ngẫm về hai nhân vật Paderewski và Hoover.

AI NGỜ ĐƯỢC !

CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ TẠI ĐẠI HỌC STANFORD NĂM 1892

1892, Stanford University

http://immstories.files.wordpress.com/2012/09/herbert-hoover-j-paderewski.jpg?w=590&h=263

ĐÂY LÀ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT XẢY RA VÀO NĂM 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD

Có một cậu học sinh 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Cậu ta là một đứa trẻ mồ côi, và cậu ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Thế là anh chàng này bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu ta cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J Paderewski . Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2000 để cho ông ấy được biểu diễn. Sau khi họ thoà thuận xong, hai người sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.

Ngày trọng đại ấy cuối cùng đã đến. Paderewski cuối cùng cũng đã buổi diễn tại Stanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $1600. Quá thất vọng, họ đến chỗ của của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng với 1 check nợ $400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.

“KHÔNG”, Paderewski nói. “Cái này không thể nào chấp nhận được.” Ông ta xé tờ check, trả lại $1,600 cho hai chàng thanh niên và nói: “Đây là 1600 đô, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi.” Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski…

Đây chỉ là một làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski.

Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề quen biết. Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu chúng ta giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ khác: “Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp khó khăn ấy?” Họ không mong đợi sự đền đáp, Họ làm chỉ vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.

Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào sau này trở thành Thủ Tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng. Thế nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bây giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa. Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông ta bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.

Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm. Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông Hoover vì cử chí cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”

THẾ GIỚI NÀY ĐÚNG THẬT LÀ TUYỆT VỜI, KHI BẠN CHO ĐI THỨ GÌ, BẠN SẼ NHẬN LẠI ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG TỰ.

Nguồn:

http://www.facebook.com/l.php? u=http://immstories.wordpress. com/2012/09/18/1892-stanford- university/&h= 1AQEMSb1tAQEfuKWPELAGf3TvxukIH 0uphHQ9lJleyIEzwA&s=1

1892, Stanford University

http://immstories.files.wordpress.com/2012/09/herbert-hoover-j-paderewski.jpg?w=590&h=263

This is a true story that had happened in 1892 at Stanford University.

An 18-year-old student was struggling to pay his fees. He was an orphan, and not knowing where to turn for money, he came up with a bright idea. A friend and he decided to host a musical concert on campus to raise money for their education.
They reached out to the great pianist Ignacy J. Paderewski. His manager demanded a guaranteed fee of $2000 for the piano recital. A deal was struck and the boys began to work to make the concert a success.
The big day arrived. Paderewski performed at Stanford. But unfortunately, they had not managed to sell enough tickets. The total collection was only $1600. Disappointed, they went to Paderewski and explained their plight. They gave him the entire $1600, plus a cheque for the balance $400. They promised to honour the cheque at the soonest possible.
“No,” said Paderewski. “This is not acceptable.” He tore up the cheque, returned the $1600 and told the two boys: “Here’s the $1600. Please deduct whatever expenses you have incurred. Keep the money you need for your fees. And just give me whatever is left”. The boys were surprised, and thanked him profusely.
It was a small act of kindness. But it clearly marked out Paderewski as a great human being.
Why should he help two people he did not even know? We all come across situations like these in our lives. And most of us only think “If I help them, what would happen to me?” The truly great people think, “If I don’t help them, what will happen to them?” They don’t do it expecting something in return. They do it because they feel it’s the right thing to do.
Paderewski later went on to become the Prime Minister of Poland. He was a great leader, but unfortunately when the World War began, Poland was ravaged. There were more than 1.5 million people starving in his country, and no money to feed them. Paderewski did not know where to turn for help. He reached out to the US Food and Relief Administration for help.
The head there was a man called Herbert Hoover — who later went on to become the US President. Hoover agreed to help and quickly shipped tons of foodgrains to feed the starving Polish people.
A calamity was averted. Paderewski was relieved. He decided to go across to meet Hoover and personally thank him. When Paderewski began to thank Hoover for his noble gesture, Hoover quickly interjected and said, “You shouldn’t be thanking me Mr Prime Minister. You may not remember this, but several years ago, you helped two young students go through college in the US. I was one of them.”
//

Đề nghị công an Hà Nội bắt ngay tên Nguyễn Chí Đức ! – Mai Tú Ân

Đề nghị công an Hà Nội bắt ngay tên Nguyễn Chí Đức – Mai Tú Ân

( HNPĐ )Tôi đề nghị công an thủ đô cần nhanh chóng nhập cuộc, điều tra và bắt giữ để ngăn chặn hành vi tội ác của tên sát thủ võ mồm Nguyễn Chí Đức vì những tội ác mà hắn sắp gây ra ở đất Ngàn Năm Văn Vật.

( HNPĐ ) Tôi đề nghị công an thủ đô cần nhanh chóng nhập cuộc, điều tra và bắt giữ để ngăn chặn hành vi tội ác của tên sát thủ võ mồm Nguyễn Chí Đức vì những tội ác mà hắn sắp gây ra ở đất Ngàn Năm Văn Vật.
 
Cụ thể trong một cuốn băng mới nhất của Việt gì đó thì hắn đã nhiều lần nhắc đến việc sẽ đi tìm những người đấu tranh dân chủ để “Đòm” cho họ mỗi người một phát đạn. Rồi cuốn băng trước họp báo với Trần Nhật Quang, hắn cũng lên tiếng đe doạ sẽ :”Đòm”, “Đòm” tung toé những người dân chủ đấu tranh. Kinh quá, hắn giết người hàng loạt bằng mồm như thế thì còn gì là vệ sinh nữa khi nước miếng bay như mưa khắp phố phường. Hắn còn tiếc rẻ rằng nếu mà hắn gặp “Thằng Quang A” thì hắn sẽ lấy gạch đập vào đầu thằng Quang A.
 
Ôi, giời ơi. Anh Quang A là bậc cha chú nó thì nó cứ việc lấy gạch đập vào đầu anh, chớ sao lại gọi anh là “thằng”. Tội gọi anh Quang A như thế là tội phạm thượng lắm, đáng tru di tam tộc. Trong khi anh Quang A lại là bố của nó mà nó lại mất dạy như thế thì còn gì là trời đất, là hệ thống chính trị nữa.
 
Vẫn biết rằng chó sủa chó không cắn, người hay to mồm doạ dẫm như thằng Đức ấy thì cu dế lại nhỏ và cong queo nên luôn thấy có chữ Dát ở trên mặt. Người nó mang thân trâu, mặt lai lợn thì gan thỏ và chỉ biết chạy là giỏi. Nó chỉ đi hù thiên hạ để tối về nhà thì được vợ bỏ cấm vận vả cho lên giường thôi chớ chả dám làm ra cái nước non gì.
 
Nhưng khổ một cái là những người dân chủ khác không biết nó là dạng mèo giả hổ, tưởng nó làm thật nên người ta sẽ xử lý nó thì khổ cho nó. Các liền anh Hà Nội là những người chỉ làm thôi chớ không nói nên tôi lo lắng cho số mạng của tên Đức này lắm, đêm đêm không ngủ được. Nên tôi đề nghị công an Hà Nội bắt gấp nó nhốt lại cho chắc ăn, không thằng nào động đến nó được. Các đồng chí phải nhốt lâu, nhốt kỹ chớ không được thả nó ra sớm. Thả nó ra sớm, nó lại buồn buồn nổi máu phản, nó lại phản các đồng chí để trở về với chúng tôi nữa thì bỏ mẹ chúng tôi.
 
Các đồng chí công an cũng không chấp nhận cho nó trở lại đội ngũ vì nó đã phản các đồng chí ra đi rồi, bây giờ nó lại phản dân chủ thêm một lần nữa để quay về thì ai mà chứa cái thằng phản như đi chợ vậy. Các đồng chí cũng biết rồi, phản chính quyền để đến với dân chủ thì được. Chớ còn phản lại dân chủ để quay lại chính quyền thì nó chỉ là một cục cứt…
 
Nhưng xin các đồng chí thương xót cứu lấy nó. Ấy cũng là làm phuớc cho nó vậy.

Mai Tú Ân ( HNPĐ )

//

Nancy Nguyễn – NHỮNG QUẢ NHO… DỮ DỘI!

NHỮNG QUẢ NHO… DỮ DỘI!

Author: Nancy Nguyễn Posted on: 2017-04-11
Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quanh năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.
Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy kinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: niềm đau.
Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?
Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. “Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông”. “Niềm đau” có là một danh từ quá nhẹ?
Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.
Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.
Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.
Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.
Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau “giải phóng”, những-tháng-năm-cấm-vận.
Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quạnh hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.
Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì … hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi … “đưa ánh nắng vào nhà” (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.
Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép “uyên ương”. Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không … vá đít là đủ hấp dẫn rồi!
Và quả nho, những quả nho … dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mỹ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mỹ, giống y chang mấy chùm nho … giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàn toàn mộng muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay … vẫn tiếp tục công cuộc … mưu cầu hạnh phúc.
Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa … sung sướng , vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ còn trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần … ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng … và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.
Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận.
Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: “Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác”.
Cứ mỗi mươi năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi “thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm”, còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng “đặc thù” và cái nào cũng “nhất”!
Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?
.
Facebook Nancy Nguyen

———