Category Archives: Uncategorized

Chuyên gia Liên Xô công bố cái thi hài đang “bảo quản” trong Lăng Ba-Đình, Hà Nội!

Chuyên gia Liên Xô công bố thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân hủy hết từ năm 2009 nằm trong Lăng là xác giả?

Đăng bởi Tiểu Nhi on Tuesday, June 20, 2017 | 20.6.17

[Tin chấn động] Rò rỉ tài liệu tuyệt mật của các Chuyên gia Liên Xô bàn giao cho phía Việt Nam cho biết, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân hủy hết từ năm 2009 xác nằm trong Lăng là xác giả hoàn toàn?

Đăng ký xem tin mới nhất tại: goo.gl/Cy6XtO

//

63 triệu cử tri Mỹ sẽ không bao giờ rời bỏ ông Trump!

63 triệu cử tri Mỹ sẽ không bao giờ rời bỏ ông Trump

SourceWayne Ally Root Posted on: 2017-06-18
Các số liệu thăm dò tín nhiệm mới nhất đã được công bố. Rasmussen (cơ quan thăm dò chính xác nhất của cuộc bầu cử năm 2016) cho biết tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện tại là 48%.
.
Một điều quan trọng cần lưu ý là, 48% chính xác là tỷ lệ cử tri đã bầu cho ông Trump trở thành tổng thống – chỉ chưa đầy một nửa tổng số cử tri của toàn quốc. Bởi vì số người ta đi bỏ phiếu nhiều hơn … và chúng ta có lợi thế về đại cử tri các tiểu bang miền trung Tây Mỹ … nên 48% là tất cả những gì ông Trump cần để thắng cử nếu bầu cử lại.
.
Nên nhớ rằng kết quả 48% này là sau khi ông Trump phải trải qua hai tuần tồi tệ nhất trong lịch sử của các tổng thống Mỹ hiện đại. Đó là sau hai tuần mà ông phải chịu đựng những tin tức thiên vị, xấu xa, tiêu cực nhất từ truyền thông trong lịch sử hiện đại. Đó là sau vụ scandal ầm ĩ sau khi giám đốc FBI bị sa thải.
.
Đó là sau những cáo buộc ông Trump “cản trở công lý” Đó là sau những cuộc trò chuyện giữa ông với các lãnh đạo thế giới bị rò rỉ thông tin, khiến chính quyền của ông chịu tai hại nghiêm trọng.
.
Đó là sau các cáo buộc về đội của ông thông đồng với Nga, và kết quả đó là sau khi ông bị lên án đã tiết lộ thông tin an ninh mật cho người Nga.
.
Phe tự do (liberal) thật đáng thương, tuyệt vọng, và hoang tưởng. Tôi gần như cảm thấy thương hại cho họ. Trong một khoảnh khắc họ thực sự tưởng rằng họ tóm được thóp của Trump đúng vị trí mà họ muốn.
.
Nhưng ông Trump đã bỏ D.C. lại phía sau để tham gia sân khấu thế giới, với phong cách chính xác của một vị Tổng thống. Ông đã có một bài phát biểu tuyệt vời ở Ả Rập Saudi. Ông đã đến thăm Đài Tưởng Niệm Holocaust ở Israel và trở thành vị tổng thống đầu tiên thăm viếng bức Tường phía Tây tại Jerusalem (ông mặc đồ kippah của người Do Thái)
.
Và rồi những kẻ Hồi giáo cực đoan lại tấn công khủng bố. Lần này ở Manchester, Anh quốc. Những kẻ khủng bố IS nửa người nửa quỷ man rợ lần này đã phát nổ một quả bom tại một nhà thi đấu rất đông các bé gái trong một buổi hòa nhạc của ca sĩ người Mỹ Ariana Grande.
.
Và cứ như thế, 63 triệu cử tri ủng hộ Trump đã được nhắc nhở về những vấn đề quan trọng … được nhắc nhở là tại sao họ bỏ phiếu cho Trump … được nhắc nhở là tại sao họ sẽ không bao giờ rời bỏ Trump.
.
Sáu mươi ba triệu người chúng ta đã ủng hộ Trump không phải ông là một vị thánh. Ông không phải là một vị thánh. Hay là một chính trị gia hoàn hảo. Chúng ta không muốn ông giống như các chính trị gia truyền thống. Trump không theo luật lệ của D.C. Trump là một quân bài bí ẩn – và chúng ta thích ông theo cách đó.
.
Nhưng sau cuộc tấn công khủng bố ở Manchester, chúng ta lại được nhắc lại một lần nữa vì sao chúng ta phải ủng hộ ông Trump. Bởi vì ông là người duy nhất giữ cho bọn trẻ an toàn vào ban đêm.
.
Không có gì còn quan trọng hơn. Tất cả những thứ khác chỉ vụn vặt. Chúng tôi không quan tâm đến việc liệu ông ta có sai thải giám đốc FBI hay không, hay vì sao ông ta làm chuyện đó. Đó là đặc quyền Tổng thống của ông. Obama không bao giờ sa thải bất cứ ai bởi vì “bút đã sa”. Tất cả mọi người trong chính phủ đều đứng về phía ông ta.
.
Chúng ta không mấy để tâm khi những người phe tự do (liberal) lên án Trump là “cản trở thực thi công lý”. Tổng thống nào cũng phải đối mặt với giọng điệu như vậy. Hay bạn thực sự nghĩ rằng Obama không hề làm gì gây tác động FBI để thiên vị cho Hillary? Chúng ta biết chắc chắn rằng việc ông chồng Bill Clinton bí mật gặp gỡ Tổng Chưởng Lý Loretta Lynch trên đường băng là cản trở công lý. Vậy cuộc điều tra đó đâu rồi?
ọc thêm).
.

Sự từ bi giả tạo của chủ nghĩa tự do.

.
Tuần trước trên CNN tôi đã tranh luận với một bình luận viên theo đường lối tự do (liberal). Cô ta phê phán kế hoạch ngân sách …
.
Chúng tôi cũng chẳng quan tâm đến một số cuộc gọi hữu nghị với các quan chức Nga – nhân viên của bất kỳ tổng thống tân cử nào cũng có những cuộc gọi tương tự. Nhưng chúng tôi chắc chắn biết rằng Hillary đã bán phần lớn kho uranium của Hoa Kỳ cho Nga để đổi lại vài trăm triệu đô la cho các khoản tài trợ cho Quỹ Clinton. Đây mới là vụ scandal thực sự với người Nga.
.
Chúng ta biết rằng Trump đã không chuyển “thông tin mật” cho các quan chức Nga. Thứ nhất, bất cứ điều gì Tổng thống nói chuyện với các nhà lãnh đạo thế giới khác là ngay lập tức “giải mật”. Đó là luật. Thứ hai, chẳng phải Hillary mới là người có vấn đề về việc rò rỉ thông tin mật ? Những người đảng Dân chủ dường như không quan tâm đến điều đó. Giám đốc FBI cũng chẳng quan tâm đến điều đó.
Và chẳng phải Obama cũng đã chuyển thông tin mật cho người Nga hai lần vào những năm 2014 và 2016 hay sao? Lúc đó, những cuộc điều tra như thế này sao không thấy xuất hiện.
.
Đối với chúng tôi, điều quan trọng là Trump là chính trị gia duy nhất hiểu được mối đe dọa mà những kẻ Hồi giáo cực đoan đặt lên đất nước chúng ta… nền kinh tế của chúng ta… con cái chúng ta. Chính sách của ông đảm bảo cho con cái của chúng ta an toàn vào ban đêm.
.
Trump hiểu được rằng cần phải  xây dựng bức tường để bảo vệ biên giới phía Nam nước Mỹ khỏi các phần tử khủng bố lén vào Mỹ. Đảng Dân chủ thực sự muốn để biên giới mở.
.
Trump hiểu rằng chúng ta phải giao cho các nhân viên biên phòng của chúng ta quyền lực để bảo vệ biên giới. Đảng Dân chủ muốn trói tay các nhân viên biên phòng và sử dụng tiền đóng thuế để trả cho luật sư bảo hộ những người nước ngoài tới đây bất hợp pháp.
.
Trump muốn ngăn chặn những người nước ngoài từ các quốc gia nhất định đã nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố được phép vào Mỹ. Ông muốn “kiểm tra triệt để” vì vậy không ai có thể nhập cư để thực hiện các cuộc tấn công khủng bố như ở Manchester, Anh Quốc. Nhưng các thẩm phán ‘tự do’ không thông qua bầu cử mà được Obama bổ nhiệm chỉ quan tâm đến quyền của người nước ngoài, người bất hợp pháp và khủng bố.
.
Trump muốn chấm dứt nhập khẩu những người tị nạn thuộc khu vực chiến tranh Hồi giáo vào nước Mỹ. Đảng Dân chủ muốn tăng gấp đôi nỗ lực của Obama để đưa nhiều người tị nạn đến các khu phố và trường học của chúng ta. Hãy hỏi công dân EU xem chính sách đó đã thành công thế nào đi.
.
Hãy hỏi Thụy Điển về vấn nạn hiếp dâm. Hỏi Đức về việc phụ nữ không còn cảm thấy an toàn khi đi dạo phố đi. Hãy hỏi cha mẹ của các nạn nhân Pháp bị khủng bố tại phòng hòa nhạc tại ở Paris đi. Hãy hỏi bố mẹ của những cô gái trẻ không bao giờ có thể trở về nhà từ buổi hòa nhạc của Ariana Grande tại Manchester. Hãy hỏi các cảnh sát trung thực ở bất cứ nơi nào trong EU về “vùng cấm xâm nhập” [mà các cộng đồng Hồi giáo lập lên].
.
Một người tị nạn xấu có cái giá quá đắt để cho phép nhập cư vào nước ta. Tại sao bất cứ nhà lãnh đạo có đầu óc bình thường nào lại đi làm việc đó?
.
Trump là cơ hội duy nhất của chúng ta để cứu nước Mỹ. Để tránh cho chúng ta không trở thành EU. Để giữ cho con của chúng ta an toàn vào ban đêm.
.
Xin lỗi những người bạn dân chủ tuyệt vọng và hoang tưởng của tôi. Việc sa thải giám đốc FBI đã không giúp ích cho bạn. Câu chuyện “giả mạo” liên quan đến người Nga đã không giúp ích cho các bạn. Cáo buộc “cản trở công lý” giả dối đã không giúp ích gì cho các bạn. Tôi ghét phải báo tin đó cho các bạn, nhưng mà…
.
Không ai trong số 63 triệu cử tri của Trump sẽ rời bỏ ông. Cuộc thăm dò mới nhất của Rasmussen đã chứng minh điều đó. Chúng tôi sẽ không đi đâu cả.
.
Bởi vì tất cả những tin tức tiêu cực về Trump chẳng là gì nếu đặt cạnh việc ông sẽ giúp bảo vệ con em chúng tôi an toàn vào ban đêm khỏi lũ điên cuồng, cực đoan, hận thù mà đảng Dân chủ muốn đưa tới Mỹ. Chúng tôi hiểu hoặc là Trump, hoặc là sự kết thúc của nước Mỹ.
.
Chính vì thế, dù chuyện gì xảy ra, dù tốt hay xấu, chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục lựa chọn Trump.
.
Wayne Ally Root –

Thu Hương (biên dịch)
//

 

Ký sắc lệnh cấm vận CS Cuba TT Donald Trump cảnh cáo CS thế giới!

 Ký sắc lệnh cấm vận CS CubaTT Donald Trump cảnh cáo CS thế giới!

–  Hữu Nguyên (huunguyen@saigontimes.org) – 

*

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017, tại nhà hát Manuel Artime (tên vị anh hùng Cuba, người lãnh đạo cuộc đổ bổ Vịnh Con Heo vào tháng 4, 1961, nhằm lật đổ chế độ CS Fidel Castro), sau bài nói chuyện dài 40 phút đồng hồ, tố cáo tội ác CS Cuba đồng thời ca ngợi lòng yêu nước của người Cuba tỵ nạn CS, được cộng đồng Mỹ – Cuba hết sức cảm động, vỗ tay hoan hô hơn 50 lần, Tổng Thống Donald Trump đã chính thức ký sắc lệnh TÁI cấm vận nhà nước CS Cuba.

  •  GIỚI THIỆU CỦA PHÓ TT MIKE PENCE

A0-TrumpCuba_01Tại nhà hát Manuel Artime, thành phố Miami, tiểu bang Florida, Hoa Kỳ, Phó Tổng Thống Mike Pence phát biểu, giới thiệu Tổng Thống Donald Trump

Mở đầu buổi nói chuyện với cộng đồng Mỹ – Cuba, Phó TT Mike Pence tuyên bố ý nghĩa lịch sử của Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017, ngày đánh dấu nước Mỹ tiếp tục hậu thuẫn cho tự do dân chủ; ngày dân tộc Mỹ đoàn kết với dân tộc Cuba, dưới sự lãnh đạo cứng rắn và kiên quyết của TT Donald Trump.

Phó TT Pence cũng trình bầy 3 sự thật quan trọng:

  • Một, suốt 58 năm qua, chế độ CS độc tài áp bức tại Cuba đã tước bỏ mọi quyền tự do, cùng tương lai của người dân Cuba.
  • Hai, trải qua nhiều thế hệ, những người tỵ nạn Cuba đã vượt biển tìm tự do tại Hoa Kỳ.
  • Ba, mặc dù đến được bến bờ tự do, những người tỵ nạn Cuba vẫn không quên những thảm cảnh tại quê nhà, và tiếp tục đấu tranh giành tự do cho Cuba.

Sau đó, Phó TT Pence khẳng định với những người Cuba yêu nước chống CS: “Hôm nay, TT Donald Trump sẽ trình bầy một cách minh bạch, nước Mỹ bên cạnh các bạn; nước Mỹ hậu thuẫn những ai bị bách hại, áp bức và bóc lột tại Cuba; nước Mỹ không bắt tay với những tên bạo chúa; nước Mỹ hậu thuẫn những người Cuba can đảm, đấu tranh giành tự do, sự sống và những quyền được Tạo hoá ban” (Today, President Donald Trump will make it clear that America is with you, that America stands with the persecuted, the oppressed, and the exploited in Cuba – that this nation stands not with tyrants, but today, President Donald Trump will make it clear that the United States of America stands with the courageous men and women of Cuba who seek to reclaim their God-given rights to life and liberty).

Giữa tiếng vỗ tay vang dội của mọi người, Phó TT Pence kết thúc phần giới thiệu qua lời hô bằng tiếng Tây Ban Nha: “Cuba Tự Do Muôn Năm” (Que Viva Cuba Libre).

  • BÀI NÓI CHUYỆN CỦA TT DONALD TRUMP

A1-TrumpCuba_02Tại nhà hát Manuel Artime, thành phố Miami, tiểu bang Florida, Hoa Kỳ,
Tổng Thống Donald Trump phát biểu, tố cáo tội ác CS Cuba và công bố quyết định ký sắc lệnh TÁI cấm vận CS Cuba

Việc ký sắc lệnh TÁI cấm vận nhà nước CS Cuba, của TT Donald Trump, có giá trị lịch sử, chính thức huỷ bỏ sắc lệnh “thân thiện CS Cuba” của TT Obama, đồng thời tiếp tục chính sách cấm vận CS Cuba được chính phủ Mỹ theo đuổi suốt gần 60 năm qua.

Quan trọng hơn, sắc lệnh của ông còn là một thông điệp hết sức minh bạch, cổ võ tất cả những người yêu tự do chống CS trên toàn thế giới, nhất là những người Mỹ – Cuba.

Lắng nghe TT Donald Trump trong gần 40 phút, Cộng đồng Mỹ – Cuba đã hết sức xúc động và vui mừng khi TT Donald Trump thẳng thắn vinh danh, ca ngợi sự hiện diện: của những cựu chiến binh Cuba từng chiến đấu trong cuộc đổ bộ Vịnh Con Heo; những nạn nhân của chế độ CS độc tài tàn ác tại Cuba; những người tỵ nạn và bất đồng chính kiến Cuba; những người Cuba đến Mỹ qua Operation Peter Pan [chiến dịch di tản 14,000 trẻ em mồ côi ở Cuba sang Mỹ từ 1960 đến 1962 – chú thích SGT]. TT cũng ca ngợi tất cả những người dân Cuba dám nói sự thật, dám bảo vệ công lý, trong nhà thờ, các tiệm cà phê, trên các đường phố của TP Miami…

TT Donald Trump cũng bầy tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những người Cuba dũng cảm, đã thay mặt những người âm thầm chịu đựng đau khổ tại Cuba, lên tiếng chống lại chế độ độc tài CS Cuba.

Bằng giọng nói chân tình, đầy xúc động, TT Donald Trump nhắc nhở mọi người nhớ lại những tội ác kinh tâm động phách của CS Cuba nói riêng và chủ nghĩa CS nói chung trên toàn thế giới. Ông cũng tố cáo sự thật, chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá Cuba và bất cứ quốc gia nào bị CS đô hộ. Không những thế, TT còn nhắc đến tên tuổi cùng những năm tháng tù đầy, của những nhân chứng sống trong cộng đồng Mỹ – Cuba, hiện đang có mặt trong buổi nói chuyện của TT.

TT Donald Trump cũng kêu gọi mọi người không thể im lặng trước sự đàn áp của CS. Những ai chứng kiến SỰ THẬT về tội ác CS, hãy lên tiếng tố cáo SỰ THẬT đó; và đã đến lúc SỰ THẬT réo gọi mọi người phải hành động.

Ông cũng cho biết, trong cương vị ứng cử viên TT Mỹ, ông đã hứa với cộng đồng Mỹ – Cuba sẽ hành động – thì nay, trong cương vị TT Mỹ, ông giữ lời hứa bằng hành động cụ thể: Ký sắc lệnh TÁI cấm vận Cuba.

Ông khẳng định SỰ THỰC hiển nhiên tại Cuba:

“Suốt thời gian gần sáu thập niên qua, dân tộc Cuba đã chịu đựng muôn vàn đau khổ dưới sự đô hộ của chủ nghĩa cộng sản. Cho tới ngày hôm nay, dân tộc Cuba vẫn còn bị cai trị bởi chính những kẻ sát nhân đã tàn sát hàng chục ngàn người Cuba; những kẻ muốn xuất cảng sự áp bức và cái ý thức hệ hủ bại của họ trên khắp bán cầu của chúng ta; những kẻ đã có lúc chứa chấp vũ khí nguyên tử cách bờ biển chúng ta 90 dặm” (For nearly six decades, the Cuban people have suffered under communist domination.  To this day, Cuba is ruled by the same people who killed tens of thousands of their own citizens, who sought to spread their repressive and failed ideology throughout our hemisphere, and who once tried to host enemy nuclear weapons 90 miles from our shores).

Hiển nhiên, SỰ THẬT tại Cuba được TT Donald Trump khẳng định với cộng đồng Mỹ – Cuba, cũng còn là SỰ THẬT tại những quốc gia cộng sản trên thế giới hiện nay, trong đó có cộng sản Việt Nam.

Sau khi khẳng định SỰ THẬT hiển nhiên đó, TT Donald Trump cũng tố cáo sự vô lý và phản bội của chính phủ tiền nhiệm khi TT Obama thoả hiệp với chế độ CS Castro. Ông nhìn nhận, quyết định của TT Obama không giúp gì cho nhân dân Cuba. Trái lại, nó chỉ làm giầu cho chế độ CS Cuba, khiến chúng càng gia tăng sức mạnh, nghiền nát các phong trào đấu tranh giành tự do, dân chủ của người dân Cuba.

TT Donald Trump cũng đòi hỏi, nhà cầm quyền CS Cuba phải chấm dứt đàn áp, chấm dứt bỏ tù những người bất đồng chính kiến, đồng thời trả tự do cho tù chính trị, trao trả quyền tự do chính trị và kinh tế cho người dân Cuba.

Đặc biệt, TT Donald Trump cũng đòi CS Cuba phải trao nộp:

  • Một, Joanne Chesimard, thành viên thuộc tổ chức khủng bố Black Liberation Army, đã bị toà án Mỹ kết án tội giết người vào năm 1971 và thọ án tù tại Mỹ, đến năm 1979 vượt ngục và đào tẩu sang Cuba năm 1984.
  •  Hai, những thủ phạm đã bắn hạ hai máy bay dân sự của Brothers to the Rescue (tổ chức do người tỵ nạn Cuba thành lập để cứu vớt những người tỵ nạn Cuba vượt biển), khiến 4 người chết.

A2-TrumpCuba_03Trong không khí trang nghiêm tại buổi nói chuyện của TT Donald Trump,
nhạc sĩ vĩ cầm Luis Haza độc tấu bài Quốc Ca Hoa Kỳ,
tưởng nhớ ước mơ thiêng liêng của ông và những người Cuba, về miền đất hứa Hoa Kỳ.

Hiểu rõ, Hoa Kỳ là niềm mơ ước thiêng liêng đối với tất cả những người Cuba yêu tự do, TT Donald Trump đã kể lại câu chuyện hết sức cảm động về Luis Haza, nhạc sĩ Cuba nổi tiếng thiên tài vĩ cầm ngay từ bé, có thân phụ bị CS hành quyết khi CS Cuba cướp chính quyền. Năm đó, Luis Haza mới có 8 tuổi. 4 năm sau, đề tuyên truyền cho cái gọi là “chính sách hoà hợp hoà giải dân tộc”, CS Cuba tổ chức chương trình truyền hình quay cảnh Luis Haza độc tấu vĩ cầm cho Castro nghe. Nhưng Luis Haza từ chối. Tới khi bị lính của Castro chĩa súng vào đầu, Luis Haza, 12 tuổi, đã kéo vĩ cầm bài quốc ca của Mỹ (Star-Spangled Banner).

Kể đến đó, TT Donald Trump tự hào tuyên bố, Hoa Kỳ là biểu tượng cho tự do và hy vọng, không những của Luis Haza, mà còn của tất cả những người Cuba, cũng như của bất cứ ai trên thế giới có lòng yêu tự do.

Hữu Nguyên
huunguyen@saigontimes.org

//

Đảng Dân Chủ Phản Pháo Hillary & Comey Điều Trần & Truyền Thông Bất Lương Khủng Hoảng!

Đảng Dân Chủ Phản Pháo Hillary & Comey Điều Trần & Truyền Thông Bất Lương Khủng Hoảng

AuthorTuyết Lan SourceVietnam Daily Posted on: 2017-06-11
Bạn thân mến,
.
Tình hình chính trị Hoa Kỳ mình đang trong tình trạng hỗn quân hỗn quan, không còn kỷ cương, tôn ti trật tự gì cả: truyền thông bất lương đang ra sức tung FAKE NEWS, chen nhau bịa chuyện “Nga thò tay” bầu Tổng Thống Mỹ 2016” nhằm tuyên truyền lừa mị dân chúng, hòng làm mất tính cách chính thống của Tổng Thống Trump. Bạn đã thấy rõ dư đảng Hillary Clinton-Obama và toàn Đảng Dân Chủ đã thua cuộc trong đau đớn ê chề, nhưng không chịu ngưng phá rối Tổng Thống Trump. Họ cứ ôm ảo vọng truất phế, đàn hặc và diệt trừ Trump với sự tiếp tay của mấy cơ quan truyền thông dòng chính không lương thiện như CNN, MsNBC, ABC, New York Times, Washington Post v…v…
.
Giám Đốc FBI James Comey bị Trump sa thải một cách bất ngờ, nên tức tối điên cuồng, đã tìm cách trả thù thâm độc bằng cách rò rỉ tin mật của cuộc nói chuyện riêng giữa hai người -Tổng Thống Trump và ông ta- cho báo New York Times, nhằm mục đích làm rối loạn chính phủ Trump trong việc thực hiện các lời hứa của Tổng Thống Trump. Trong cuộc điều trần trước Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện, cựu giám đốc FBI Comey đã xác nhận chính ông đã “leak” nội dung “memo” về Trump cho báo chí… nói là để dư luận thúc đẩy thành lập Ủy Ban Điều Tra Đặc Biệt về Có hay Không vụ “Nga can thiệp giúp Trump đắc cử Tổng Thống.”
.
Trong lúc đó, hận thù ngút trời và uất ức không nguôi vì không thành nữ Tổng Thống, bà Clinton đã xuất hiện trên một số diễn đàn “xâu xé” (rips) đảng Dân Chủ, đồng chí đồng rận của bà ta. Trong buổi diễn thuyết tại Recode Conference in Rancho Palos Verdes, California, bà Clinton nói là “Tôi không thừa hưởng được cái gì cả (I inherited nothing) từ cái đảng đã phá sản và bệ rạc ấy.
.
Chủ Tịch đảng Dân Chủ và Ban Chấp Hành điên tiết lên vì những lời chỉ trích thậm tệ của Hillary Clinton. Những “đồng đảng Dân Chủ” giận dữ đã phản pháo lại “nữ ứng viên yêu quý” của họ một cách thô bạo, cho rằng Hillary Rodham Clinton như một đứa trẻ con, không hề tự biết bản thân mình, chỉ trách người khác. Lên tiếng chỉ trích và trách mắng đảng vì bị mất chức Tổng Thống vào tay Donald Trump là sai trái. Bà ta đã nhận định sai lạc về việc làm của ủy ban trong khi không cần thiết phải đốt nóng sự phân chia nội bộ (she mischaracterized the committee’s work while needlessly stoking internal divisions).
.
Ban Chấp Hành Đảng Dân Chủ cho rằng những chỉ trích của Hillary Clinton về đảng Dân Chủ tầm thường đến hèn hạ, dữ kiện vận hành không hiện hữu, giả dối. “mediocre to poor, nonexistent, wrong” data operation). Bạn thấy nữ gian thần Hillary tâm địa hèn mạt và khốn nạn như thế đấy! Bị thua cuộc, quay sang chửi bới, đổ thừa và mạt sát đồng đảng một cách không thương tiếc, sá gì đến Trump và đảng đối lập Cộng Hoà, có lẽ Tự Điển không đủ chữ cho bà ta thoá mạ Bạn ạ! Thật là một tay kinh hoàng Bạn ơi!
.
Lời chỉ trích của Hillary Clinton cũng cho thấy như một quở trách Tổng Thống Obama là người đã lựa chọn lãnh đạo của Đảng Dân Chủ khi còn tại chức…
Andrew Therriault, giám đốc phòng dữ kiện khoa của Đảng Dân Chủ cho rằng những nhận định của bà Clinton đều là “f—ing bulls—” (đồ đĩ miệng, nói bậy). Tuyết-Lan đã không dám viết nguyên chữ Bạn ạ!
.
Therriault cáo buộc Ban vận động của bà Clinton là đã mù tịt về các dữ kiện đã cảnh báo rằng cuộc đua rất ngang ngửa tại ba tiểu bang Michigan, Wisconsin và Pennsylvania đã giúp Trump thắng phiếu Cử tri đoàn.
.
Bạn thân mến ơi, thế là Hillary Clinton đã tự đào hố chôn mình khi Hillary lớn tiếng công khai chửi Đảng đã cưu mang mình thậm tệ, đã bị Đảng trả đũa một cách không thương tiếc và đã bị đồng đảng chửi tục nặng nề. Coi như thế là Hillary tàn đời, tắt ngấm tham vọng chính trị, mộng làm nữ Tổng Thống đầu tiên đã vỡ tan tành bởi sự quá gian ác, lưu manh và thủ đoạn Bạn thân mến ạ!
.
TRUMP ĐƯỢC “GIẢI TỘI” CẢN TRỞ CÔNG LÝ
.
Trong lúc Hillary Clinton bị đảng Dân Chủ phản pháo tơi tả, thì Tổng Thống Trump lại được “tiền hung hậu cát”. Tin Giám Đốc FBI Comey bị Trump sa thải ra điều trần trước Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện vào ngày thứ Năm 08-6-2017 khiến phe Dân Chủ thua cuộc và “Liên minh “Destroy Trump” hí hởn, hy vọng là Trump sẽ bị cái “memo” của Comey ghép vào tội “cản trở công lý” là một tội danh hình sự… Thì bất ngờ những lời điều trần của Comey đã vô tình “giải tội”, đã “minh oan” giúp Trump (theo Gregg Jarrett: Comey exonerates Trump – so much for obstruction).
Chính Comey đã nói “In words, Trump didn’t order me to drop Flynn probe” – “Trong lời nói, Trump đã không ra lệnh cho tôi hủy bỏ cuộc điều tra về Flynn” rồi mà! Vậy là cuộc điều trần công khai của Comey đã giải tội “cản trở công lý” cho Tổng Thống Trump. Thế là mong muốn của truyền thông bất lương và Đảng Dân Chủ thêm một lần nữa lại thất bại thảm hại. Bạn ơi! God ở đâu, sao lại “đi vắng”, để cho công lý sống-cùng-ở-chung với người hiền, thực lòng yêu nước Mỹ là Donald Trump thế hở Bạn!
.
Theo Gregg Jarrett, “hy vọng” rằng một việc gì đó sẽ xẩy ra không phải là một tội phạm. Luật pháp đòi hỏi nhiều hơn thế. Tội “cản trở công lý” quy định rằng “cá nhân tìm cách cản trở nhân viên công lực mở cuộc điều tra hành động một cách đồi bại như mua chuộc, hối lộ (corruptly). Điều luật mô tả một cách rõ ràng rằng tội phạm bao gồm các hành vi: đe dọa, dối trá, đút lót, hối lộ, phá hủy tài liệu, thay đổi hoặc hủy hoại bằng chứng. Nhưng Comey đã không có một mảy may cáo buộc nào liên quan đến các hành vi này, trong khi chính Hillary thì lại rẫy đầy qua vụ xoá hàng vạn e-mail Bạn nhỉ! Trớ trêu chi lắm ông Trời ơi?
.
Có thể nói là qua cuộc điều trần của Comey, Tổng Thống Trump đã được giải tội mà đám truềyn thông bất lương và phe đảng Dân Chủ gán cho là “cản trở công lý”. Thế nhưng nhóm truyền thông bất lương chống Trump vẫn tuyên truyền như là chuyện chưa xong. Bọn chúng vẫn lải nhải chuyện cản trở công lý, chuyện Nga can thiệp vào bầu cử Mỹ… mặc dù các giới chức tình báo đều nói là không có bằng chứng cụ thề về việc Nga đã cầm tay dân Mỹ bỏ phiếu cho Trump, tuyệt đối không thể có việc này.
Nếu Bạn hoặc ai đó còn tin vào các hãng tin tức dòng-chính (?) thì ngày thứ Năm 8-6 vừa qua, với cuộc điều trần của cựu Giám Đốc FBI Comey, các hãng tin lớn như CNN, MSNBC, ABC, New York Times, Washington Post v… v… đã bị rút ruột (gut), bị vạch mặt là thiên kiến và bất lương…
.
Việc rò rỉ rõ ràng của Comey về cái “memo” và truyền thông dòng chính không ngừng nuôi cơn mê loạn (feeding frenzy). Thật vậy, ít nhất là ba cơ quan truyền thông đã đưa ra những điều chứng minh sai lạc từ một sự kiện này. Comey đã nhắc đến báo chí bằng thuật ngữ cổ điển, nói rằng ông ta không chia sẻ “một memo” với truyền thông, bởi vì ông ví von rằng “Tôi lo ngại nó sẽ giống như cho chim hải âu ăn trên bãi biển” Bạn ạ!
.
Giờ đây chỉ còn lại tội lỗi của những tay chỉ trích Tổng Thống một cách bừa bãi, đặc biệt nhiều trong các hãng truyền thông dòng-chính đã đưa ra những khẳng định điên cuồng và vô căn cứ để lớn lối cáo buộc rằng Tổng Thống đã phạm một tội hình sự trong cuộc nói chuyện với Giám Đốc FBI bị sa thải vào ngày 14 tháng 2 vừa qua.
Theo Gregg Jarrett, một cựu luật sư, cộng tác viên Fox News thì qua sự dốt nát và đầy ác tâm, họ đã cố ý trình bầy trần truồng suy tưởng của họ thành sự kiện và luật pháp trong cuộc mưu tìm một sự nhồi sọ chính trị. Thật là nhục nhã Bạn ạ, vì đó không phải là một tội phạm như họ cố ý lèo lái. Có thể rồi đây nhà tù sẽ quá đông đúc các chính trị gia và các nhà báo!
.
Bạn thân mến ơi, sau cuộc điều trần của Comey, chắc chắn sẽ còn phát sinh thêm nhiều chuyện hay ho và bất ngờ lắm.
.
Chuyện “Trump Cản Trở Công Lý” mà CNN, MSNBC tụng hàng giờ trên Tivi coi như đã hạ màn. Giáo Sư Emeritus Alan Dershowitz vẫn luôn cho rằng Tổng Thống hoàn toàn có quyền Hiến Định trong việc ngưng một cuộc điều tra và truy tố.
.
Chính Comey đã thừa nhận: “Tôi không phài là một chuyên gia về luật… nhưng về mặt pháp lý, tổng thống là người đứng đầu Hành Pháp, trên lý thuyết, có thể chỉ đạo rằng một người nào đó bị điều tra hoặc không bị điều tra.” – “I’m not a legal scholar… but as a legal matter, the president is head of the executive branch and could direct, in theory, that anybody be investigated or not be investigated.”
.
Chuyện thứ nhất có thể là luật sư của Trump sẽ kiện Comey về vụ cho rằng Tổng Thống Trump nói dối.
.
Chuyện tiếp theo là Comey rò rỉ memo cho báo chí. Bên cạnh chuyện cản trở công lý, có chuyện gây sửng sốt hơn, đó là lúc mà Comey thú nhận đã cố ý rò rỉ nội dung memo cuộc nói chuyện với Tổng Thống Trump cho một “người bạn” giáo sư (?) nào đó… để ông ta có thể phổ biến và nhờ loan truyền tới truyền thông. Comey cho rằng cái memo là tài sản riêng của ông. Điều này không đúng đâu Bạn ạ !
Bởi vì, theo Federal Records Act và Điều Lệ quản trị các Ghi Chép (Memo) thuộc sở hữu của FBI, thì “bất kỳ một tài liệu nào được hình thành trong dòng dịch vụ” đều là tài sản không phải của nhân vật tạo ra nó, mà là tài sản của chính phủ Mỹ. Và nội dung của nó cũng vậy. Không có vấn đề là tài liệu ấy, giống như cái này, chưa được coi là tài liệu mật.
.
Xem như vậy, Comey đã nhầm lẫn hoặc có lẽ đã rò rỉ một cách phi pháp một tài liệu của chính phủ liên quan đến một cuộc điều tra của FBI. Ít nhất, thì Comey cũng vi phạm vào điều lệ của chính phủ (government rules) vì đã hoán chuyển tài sản của chính phủ, để sử dụng như của riêng. Phải chăng đây là một tội phạm? Bởi Comey về pháp lý, lúc đó ông ta đã không còn là nhân viên của FBI nữa! Bạn thân mến ơi.
Tuyết-Lan vừa nghe lóm được rằng theo Điều 18 USC 793 (Leaking Non-Classified Information): Rò rỉ tin tức chưa xếp hạng là một tội hình sự có thể bị phạt đến 10 năm tù giam! 10 năm Bạn nhé! 10 năm hơi dài cho một đời trai (hơi chai mặt) của cựu Giám Đốc Tình Báo Mỹ uy quyền cao ngất ngưởng trong tư cách phản trắc và xoay như chong chóng !
.
Do đó, chắc sẽ còn rất nhiều bàn cãi quanh vụ Comey cố ý rò rỉ memo của FBI Bạn ạ! Chuyện Thủ Tiêu & Xoá E-mail và nhiều chuyện chung quanh Hillary Clinton cũng có thể bị lôi ra điều tra lại. Trong khi chờ đợi chung cuộc, chúng ta hãy ráng chờ xem hồi sau Bạn nhé.
.
Thư này Tuyết-Lan xin tạm ngưng ở đây. Thân mến chào Bạn. Hẹn Bạn thư sau.
.
Tuyết-Lan.
———-
Is it time for Democrats to back away from Hillary Clinton?

Hồ và đàn bà (viết thêm phần.1) – Việt Nhân

Hồ và đàn bà (viết thêm phần.1) – Việt Nhân

A-NAQuoc

(HNPĐ) Chuyện Hồ (và cả Nguyễn) với đàn bà, người ta đã nói quá nhiều rồi, hai chữ người ta dùng ở đây không chỉ những ai, lên tiếng vạch trần đời tư của Hồ, họ bị đảng thường gán cho là thế lực thù địch hay phản động, mà còn có cả những người một thời cùng phe với đảng, như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, hay cả đồng chí Tung Của vĩ đại là Hoàng Tranh, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây.

Nhân vật Vũ Kỳ thư ký riêng của Hồ, trong chuyện Hồ và đàn bà đã đóng một vai nhân chứng… Đơn giản thôi vì chính Vũ Kỳ đã đem đứa con rơi của Hồ và Nông Thị Xuân về nuôi đặt tên là Vũ Trung, sau đó trả lại họ thật cho đứa bé là Nguyễn Tất Trung (sinh năm 1956). Nay là thời đại internet, đã thổi tan những mù mờ sương khói mà cái đảng thổ tả An Nam cộng, cố bọc lấy nhân thân Hồ để dựng Hồ làm một ‘thánh bác’, khiến cho đời thường của Hồ đã bị lột truồng, đạo đức Hồ bị đánh giá dưới cả mức tầm thường. Vì thế đảng đang cố vẽ lại một Hồ đạo đức!

Đạo đức Hồ được đảng tô lại qua chuyện đàn bà, có cố gắng nhưng không thành công, ngược lai qua đó dư luận lại càng tin chắc hơn những gì họ đã biết đúng là sự thật, và cái càng lấp liếm lại càng làm cho kẻ nói dối trở nên lố bịch. Chuyện Hồ và đàn bà đã ồn trở lại khi cái goi là: Tư liệu Đặc biệt: ÔNG VŨ KỲ KỂ CHUYỆN CỤ HỒ KÉN VỢ, tư liệu này có thể tìm đọc trên Google hay qua trang Tễu Blog-xuandienhannom… Vũ kỳ (1921-200) đã chết, người chết rồi thì không nói được, dân gian biết điều đó, đây cũng một trường hợp tương tự, cứ nói Vũ Kỳ nói là xong!

Độ xác thực không có thì không gì hay bằng, gán cho những điều muốn nói là của kẻ sắp chết, vì thế gian vẫn thường nói: con chim sắp chết tiếng kêu thương, con người sắp chết nói lời nói phải. Mà đảng tung ra chuyện bây giờ mới nói, những điều cho là của Vũ Kỳ nói về Hồ và đàn bà trước lúc nhắm mắt (15h-26/04/2005). Người được mời đến để ghi âm là Nguyễn thị Tình, bí thư đảng ủy, giám đốc bảo tàng HCM, cuộn băng này được Nguyễn thị Tình chép lại ra giấy, còn cuốn băng được chuyển đến bộ Văn hóa Thông tin (Nguyễn Xuân Nghị).

Cuốn băng nay cho là đã bị hư, những gì nói là của Vũ Kỳ, thực ra là Nguyễn thị Tình nói là ghi từ băng ra giấy (?!): “Từ trước tới nay, trong các sách về tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa đề cập đến được, tức là vấn đề cuộc đời riêng tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tức là cái này cũng có lúc Bác công bố là Bác không có gia đình. Con cháu của Bác là con cháu chung của đất nước. Thế mà có nhiều chuyện cũng xảy ra điều này điều khác… Nhưng theo tôi, ở gần Bác thì thấy cuộc đời riêng tư rất là trong sáng, theo cách nói của Trung Quốc là rất minh bạch”.

Những người đàn bà nêu ra trong bản ghi của bảo tàng Hồ, trong đó ta thấy rõ nét nhứt là hai người Tăng Tuyết Minh và Nông Thị Xuân… Còn Nguyễn thị Phương Mai (ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa), Và một được gọi là cán bộ phụ nữ Nam bộ không nêu tên hiện còn sống, (may mắn cho cả hai không là nạn nhân của Hồ), hai nhân vật này xin phép được nói trước. Theo Nguyễn Huy Hoan (chết 2012), phó giám đốc bảo tàng Hồ, thì ngày 05/06/2007 NTPM xác nhận: “Không ai nói với tôi là có ý định giới thiệu với bác, nhưng đúng là có bố trí để tôi tiếp cận…”

Trước giờ dư luận vẫn đã biết đến chuyện NTPM không thành cùng Hồ, vì ngay lần tiếp xúc đầu tiên, NTPM đã đặt vấn đề hôn nhân chính thức trên mặt pháp lý, với kẻ chuyên chơi quỵt bắt nó ký hôn thú, thì chuyện không thành là dễ hiểu. Còn cán bộ phụ nữ Nam bộ được đưa ra tận bắc để phục vụ Hồ, thì tài liệu này viết khá đầy đủ: “Ở gần bác thì bác thấy cũng được, giúp bác phục vụ đánh máy. Nhưng thế nào đạo đức lại không giữ được… Lúc ấy có một cán bộ cao cấp miền Nam ra làm việc với bác lại quan hệ với bà này có thai, thế mới hết hơi…”

“Lê văn Lương, lúc ấy vừa là trưởng ban ttổ chức, vừa là Chánh văn phòng Trung ương lo quá. Người phụ nữ đưa ra là để phục vụ cho bác, lại có thai thì phải lo đưa xuống Vĩnh Phúc để sinh đẻ, chứ để ở đấy thì mang tiếng cho bác… Bà này sinh ra một đứa con trai… Ông cán bộ cao cấp kia sau phải nhận…” Chuyện này thì dư luận không phải cần đến tài liệu này mới biết, và cái biết còn rõ hơn, cán bộ cao cấp miền Nam ra tay trước xơi đồ cúng của bác, chính là Võ Văn Kiệt tức Sáu Dân, người gái Nam vượt Trường Sơn tiến cung (bắc bộ phủ), tên là Hồng Minh.

Đứa con rơi của Sáu Dân là Phan Thanh Nam, nay là tay tư bản đỏ ở thành Hồ, còn gái dâng bác (không biết tên thật), người đàn bà này đã không nhận con, và cái tên Hồng Minh đây có thể chỉ là tên gọi, như chúng vẫn thường lấy bí danh… Qua hai nhân vật vòng loại, Nguyễn thị Phương Mai và Hồng Minh đều là gái trong đảng, ta thấy toàn quốc gái hai miền Nam Bắc dập dìu tiến cung phục vụ Hồ, chuyện này nhắc đến câu chuyện nay cũng đã quá quen với dân mạng: ‘lần gặp bác Hồ tôi bị mất trinh’ của Huỳnh thị Thanh Xuân, người Quảng Nam Đà Nẵng.

HTTX người Quảng Nam Đà Nẵng, 1964 vượt Trường Sơn ra Bắc để rồi bị mất trinh vì Hồ, câu chuyện này xuất hiện trên mạng cũng là lúc rộ lên cái nghi vấn Nguyễn và Hồ là hai thân phận khác biệt, mà đưa ra giả thuyết chưa chắc HTTX đã gặp phải Nguyễn Sinh Coong (sn.1890), mà chính là Hồ Tập Chương (sn.1901). HTTX lúc đó đã là gái 15 tuổi đang sức lớn, tuy chưa bẻ gãy sừng trâu nhưng lão già Nguyễn bệnh lao 74 tuổi cũng khó thắng, những ai đã đọc qua bài viết đó, không khó cho câu đáp Nguyễn, Hồ, ai là kẻ làm Huỳnh thị Thanh Xuân mất trinh?

Tuần rồi nhân đọc bài báo của mỗ tôi nói về ngày sinh của Hồ, vì cho tới nay chưa có một tài liệu nào nói chắc chắn chỉ một ngày sinh, vì đụng đâu cũng gặp toàn của dỏm, mà một người bạn đã gửi đến cho mỗ tôi thêm một ngày sinh nữa của Hồ. Lần này phải thú thật quá mệt mỏi về cái không gì thật của Hồ, mà mỗ tôi không cả thiết hỏi bạn đây có là ảnh thật, liệu có bị photoshop ngày tháng năm sinh, nhưng một chi tiết đã khiễn mỗ tôi chú ý là tấm hình của Nguyễn,

Như đã nhiều lần mỗ tôi vẫn thưa, Nguyễn luôn ăn diện quần tây áo vét, cà vạt, còn Hồ thì luộm thuộm với áo ka ki đại cán của Mao, đó là chi tiết cho thấy Nguyễn và Hồ cá tính ăn mặc của hai người khác hẳn nhau… Chi tiết này sẽ được đưa ra trong kỳ tới, lúc viết thêm phần 2 chuyện Tăng Tuyết Minh người vợ có cưới hỏi của Nguyễn Sinh Coong lúc sống tại Quảng Châu, Trung Quốc, và Nông Thị Xuân, người vợ bị giết của Hồ Chí Minh tại Bắc bộ phủ, Hà Nội.

VIỆT NHÂN (HNPĐ) 

Kỳ 2: Trên Chiến Trường Sôi Động!

Kỳ 2: TRÊN CHIẾN TRƯỜNG SÔI ĐỘNG

NT2 Đinh Hồng Lân

  • Để tưởng nhớ Phạm Văn Thẩm và Tôn Thất Nguyện

Chiến xa hành quân trong rừng cao su vùng Lộc Ninh.

Niên trưởng Thành dẫn tôi qua khỏi ụ đất bên trong, quẹo trái chừng mười bước thì tới căn hầm của bộ chỉ huy đại đội. Một cái hầm nửa nổi nửa chìm, cũng do những thùng đạn pháo binh xếp thành hình vuông, chung quanh vây bởi vài hàng bao cát có chừa ba lỗ châu mai ngang tầm người đứng. Nghe gọi, đại đội trưởng, đang nằm trên chiếc võng nylon cột xéo một góc hầm, choàng dậy bước ra. Làm đúng thủ tục trình diện như lúc còn ở quân trường, tôi vừa quan sát. Dáng người tầm thước, da ngâm đen ở mặt và hai cánh tay, nhưng qua khoảnh hở nơi cổ, nước da không đến nỗi. Cái đen chắc là do dày dạn nắng mưa sương gió. Ông ta mặc áo thun, chân mang đôi dép nhật, trông không khác một anh lính trơn bình thường. Tôi đã được niên trưởng Thành cho biết trước, ông này xuất thân từ hạ sĩ quan, được đi học khóa sĩ quan đặc biệt và leo lên tới chức vụ này. Thường những người như vậy hay có mặc cảm với đám sĩ quan, nhất là sĩ quan hiện dịch, lại còn cái mác CTCT.

Sau khi niên trưởng Thành bỏ đi, lúc đó cũng đã hơn năm giờ chiều. trung úy Đình, tên vị đại đội trưởng của tôi, kêu ông thượng sĩ thường vụ đại đội dẫn đến cho tôi một chú “tà lọt”. Đây là danh từ ở ngoài tác chiến chúng tôi thường dùng để chỉ những người lính có nhiệm vụ giúp đỡ các sĩ quan trong công việc lặt vặt hàng ngày như mang đồ ngủ cá nhân, dọn dẹp chỗ ngủ, đào hầm hố vv… Chú lính của tôi còn rất trẻ, Thiềm, không to con lắm nhưng nhìn vẻ lanh lẹ. Hắn đỡ chiếc ba lô từ tay tôi, lặng lặng đi vào hầm giăng ngay cho tôi một cái võng. Đồ cá nhân tôi cũng chả nhiều nhặn gì, một bộ đồ trận để thay đổi, một cái mền nhà binh và một tấm poncho. Hắn gom hết bỏ sang ba lô của hắn. Vừa xong, một anh lính khác bước vào mời ra dùng cơm.
Bữa cơm chiều đầu tiên của tôi tại đơn vị thật thanh đạm. Một nồi cơm lớn được đặt ở giữa, cạnh một nồi canh chua lá bứa nấu với khô gì đó tôi không rõ, cái nắp vung được trưng dụng làm đĩa xếp trên đó ít con khô sặc. Cả một ban chỉ huy đại đội, sau này chúng tôi quen với danh từ BC để chỉ ban chỉ huy, gồm hai ông trưởng phó, thường vụ, ba lính truyền tin, một y tá và hai tà lọt, mỗi người một cái muỗng xúm vào xeo nậy nồi cơm, húp canh và xé khô bằng tay. Bữa cơm chấm dứt cũng khá nhanh, chỉ độ mười phút. Tôi ăn ngon miệng thực tình vì từ 10 giờ sáng, lúc leo lên xe ở hậu cứ tới giờ, tôi đâu có gì bỏ bụng.

Có một câu chuyện nho nhỏ ở đây, sau này qua một thời gian thử lửa, khi thấy tôi không ai chỉ vẽ mà vẫn chứng tỏ khả năng tác chiến vững vàng, tay đại đội trưởng này mới thổ lộ, ông khá thật, chẳng bù cho Đào Hồng trước đây, ăn qua loa lấy lệ xã giao với lính, sau đó hỏi tôi chừng nào mới lên nhà ăn sĩ quan! Không biết hắn có đặt chuyện cho niên trưởng Đào Hồng hay không! Nhưng thử cựa tôi thì hắn đã làm. Mấy tháng sau đó, trong một cuộc hành quân qua vùng rừng tre mênh mông ở Bù Nho, Phước Long, sáng họp các trung đội trưởng phân phối nhiệm vụ, tôi cũng ở cạnh hắn không hề nhắc tới. Sẵn tấm bản đồ, tôi lắng tai nghe mỗi khi hắn điều động trung đội mở đường đi phương giác nào, cứ mỗi trăm bước đôi, tôi vừa đi vừa đếm là vạch trên bản đồ một vạch để có thể tự chấm cho mình một tọa độ. Tôi phòng xa, rủi hắn ngủm củ tỏi bất thình lình, không phải trù ẻo, nhưng chiến trận ai mà biết được, chắc chắn tôi sẽ là người trách nhiệm, phải thủ trước. Một buổi chiều vừa cơm nước xong, hắn cười cười hỏi tôi, tôi đố ông biết mình đang ở đâu? Không ngượng ngập tôi nói ngay điểm đứng đã chấm trên bản đồ.

Cuộc đời tác chiến của tôi bắt đầu từ đây. Sau bữa ăn trời cũng vừa sập tối. Leo lên võng, tiếng léo nhéo vang trong hai cái máy truyền tin PRC25, tiếng trả lời, những tiếng khè khè dán đoạn đưa tôi vào giấc ngủ. Hai tiếng nổ lớn khiến tôi giật mình thức giấc, thêm vài tiếng nữa tôi mới nhận ra đó là tiếng nổ phát ra từ hai khẩu 105 ly đặt sau ụ đất bên trong. Xa xa đâu đó vọng lại những tràng súng nổ… Rồi im lặng trở lại và tôi lại thiếp đi trong giấc ngủ lúc nào không hay.

Tôi trải qua ngày đầu tiên nơi chiến trận giản dị như thế. Nhưng những ngày sau đó hoàn toàn khác hẳn. Chỉ một tuần sau đó, đang đóng quân trong một khu rùng cao su thì đơn vị bạn cách đó khoảng nửa cây số đụng địch. Đại đội ra lệnh báo động, thấy lính tráng chụp vũ khí nhảy vào vị trí tôi cũng vớ vội giây ba chạc đeo vào người, móc khẩu colt lên đạn cái rộp. Mấy thằng đệ tử trong BC và cả tay đại đội trưởng nhìn tôi phá ra cười. Thì ra lần đầu tiên nghe tiếng súng nổ, nhất là trong rừng cao su, tôi chưa nhận định được khoảng cách, nên tưởng rất gần!
Hai ngày sau đó bị thêm một vố nữa. Căn cứ chúng tôi đang nửa đêm bị pháo binh 204 ly của Mỹ pháo lầm. Chỉ có hai trái, lọt vào ngay giữa ụ pháo binh. Hầm đạn với 2.000 trái 105 ly bốc cháy và bắt đầu phát nổ. Từng tiếng nổ dữ dội phát ra, kèm theo với những miểng đạn văng tứ phía khiến căn cứ trở nên náo loạn. Tôi tụt xuống khỏi chiếc võng, xỏ giày, trang bị xong chạy ra khỏi hầm thì chỉ còn một tên đệ tử mang máy truyền tin giữ máy liên lạc với các trung đội. Hai thày trò kéo nhau phóng tới bờ đất phòng thủ ngoài cùng và nằm rạp xuống để tránh những miểng đang bay khắp phía.
Đại đội trưởng không biết đã biến đâu mất. Cái máy truyền tin liên lạc không thấy các trung đội trả lời.
Thằng nhóc truyền tin theo kinh nghiệm đoán rất nhanh và quay sang nhờ tôi:
– Họ qua tần số lớn hết rồi, ông thầy làm ơn vặn dùm em, đổi qua tần số lớn đi.
Hắn đọc ra cái tần số. Ngoài tác chiến, chúng tôi thường xử dụng danh tư máy lớn, máy nhỏ để phân biệt: máy lớn liên lạc với tiểu đoàn, máy nhỏ liên lạc với các trung đội. Mỗi loại máy có một tần số riêng. Tôi ngồi dậy đưa tay vặn hai cái núm tìm con số hắn vừa đọc. Chỉ được vài nấc hai chiếc núm kẹt lại không chịu di chuyển nữa. Chết mẹ, tôi nghĩ thầm, làm sao đây? Thử nghiến răng xoay mạnh cũng vô hiệu. Kiến thức tối thiểu bằng những buổi ngủ gật ở quân trường đã khiến tôi toát mồ hôi hột. Chả lẽ bảo với hắn tôi không biết xài máy PRC25? Đang kiếm cách gỡ rối thì một tiếng nổ bùng lên kèm theo những mảnh bay vụt qua đầu, tôi bỏ máy úp mặt xuống né. Lợi dụng thời cơ, tôi quay sang:
– Tối quá tao không thấy rõ, với lại ở đây nguy hiểm quá, thầy trò mình dọt hàng rào ra ngoài cho đỡ miểng đã rồi tính sau.
Không kịp để hắn phản ứng, tôi chồm dậy phóng mình băng đại qua lớp concertina bên ngoài hường về phía con lộ, hắn cũng theo sát ngay. Cũng may chúng tôi không đạp trúng mìn bẫy lính gài. Sự thực tôi đâu có biết ban đêm lính gài mìn bẫy ở đâu. Ra tới ngoài lộ tôi thoát nạn. Hắn đặt máy xuống đất và tự mình thay đổi tấn số và liên lạc được với đại đội. Ngài đại đội trưởng, kinh nghiệm cùng mình, đã nhanh nhẹn dọt ra ngoài từ ít phút đầu tiên và điều động đại đội ra theo đang bố trí đại đội phía trong con lộ, đối diện căn cứ khoảng hơn trăm thước.Thoát cảnh đạn nổ tôi không mừng lắm, cái chính là thoát được khỏi mất mặt với thuộc hạ vì sự ngu dốt của mình!

Thời gian hơn hai năm ở quân trường mẹ, kiến thức thu thập chỉ là con số không. Tôi hoàn toàn bỡ ngỡ trước hoàn cảnh mới. Để thích ứng và tồn tại, tôi phải tự tìm tòi học hỏi từ đó. Học hỏi kinh nghiệm dầy dặn của tay đại đội trưởng xuất thân từ hàng hạ sĩ quan đi lên mà hắn vì mặc cảm không hề chỉ bảo, học hỏi cách đáp ứng với tình thế của ngay cả những binh sĩ trong đơn vị, học âm thầm vì không thể nói là mình không biết… Cứ như thế, tôi đã trải qua hết trận chiến này đến trận chiến khác Bố Đức, Đồng Xoài, Đức Phong, Lộc Ninh, Bình Long, Chơn Thành, Long Nguyên, An Điền, Bến Cát…

Những ngày tháng như thế tiếp diễn liên tục. Bạn bè cùng về một trung đoàn thật ít khi gặp mặt. Mỗi tiểu đoàn phụ trách một vùng trách nhiệm khác nhau. Gặp nhau quả là một tình cờ hú họa.

Với Hoàng, lần gặp đầu tiên, sau 29 ngày đêm tại Snoul, tiểu đoàn tôi rút về Lộc Ninh sau khi TĐ4/7 sang thay thế. Mới về chiều hôm trước, sáng đang lững thững ra chợ, cái chợ chiều dài chưa được trăm thước thì nghe tin “quân ta đã về!”. Cộng quân đã tập trung cả một công trường bao vây, tấn công và phục kích một đoạn đường dài hơn mười cây số từ Snoul về sát biên giới Việt Nam, tiền pháo hậu xung nhằm đè bẹp quân ta với cấp số chỉ một trung đoàn mà sau mấy tháng trời đã mệt mỏi vì hành quân liên tục.

Gặp Hoàng còn nguyên vẹn, tôi mừng thầm cho bạn. Tôi đã học được những bài học vỡ lòng thật quan trọng cho cuộc đời binh nghiệp của tôi sau 29 ngày đêm tại chiến trường này. Nó đã giúp tôi vững vàng, trưởng thành và tồn tại qua cuộc chiến đầy gian nan mà tôi sẽ còn gánh chịu sau này.

Tháng 2-1972, trung đoàn tôi được lệnh hành quân tại vùng biên giới phía bắc An Lộc, mệnh danh là vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu giáp ranh với tỉnh Kratiê của Kampuchia. Sau một tuần trải quân lục soát, chúng tôi phát hiện địch đã ủi những đường lộ khá rộng khoảng 4-5 thước bề ngang với những hệ thống giây điện thoại trải dọc theo đường, suốt từ biên giới chạy dài về Bình Long, băng qua những rừng rậm, suối đồi, những đồn điền cao su mênh mông… Chúng tôi thỉnh thoảng chạm địch nhưng chúng chỉ là những toán nhỏ, có thể giao liên, tiền thám hay công binh, truyền tin gì đó… Thường chúng né tránh bỏ chạy, không hề gặp một đơn vị lớn.

Ba ngày sau, do tin tình báo, chúng tôi được lệnh bằng mọi giá phải kéo về An Lộc gấp trong vòng 24 tiếng. Địch đang tập trung lực lương chuẩn bị tiến chiếm Bìnhh Long với cấp số lớn. Chúng tôi không ước lượng lớn cỡ nào, chỉ nhìn những đường lộ ủi rộng như vậy cũng hiểu chúng phải mang cả công trường là ít. Chúng tôi gần như chạy. Vài lần chạm súng, địch bỏ lại xác và vũ khí chúng tôi cũng được lệnh không cần thu dọn. Chỉ trong một ngày, chúng tôi băng rừng lội suối về tới thị xã. Đại đội tôi được lệnh bố trí chốt tại đồi Đầm Long, án ngữ ngay hướng bắc về phía Lộc Ninh. Tính hình lúc này chưa có gì, chúng tôi còn thả bộ lòng vòng quanh khu chợ. Vẫn còn sinh hoạt náo nhiệt với các quán xá mở cửa, người qua lại đông đúc.

Qua ngày hôm sau, địch bắt đầu mở màn bằng những tiếng pháo từ hướng tây bắc thị xã. Một hai trái đầu tiên khiến dân chúng nhốn nháo hoảng sợ, một số hàng quán đã vội vàng đóng cửa, không khí trở nên nặng nề khó thở, đường phố vắng hẳn. Những ngày tiếp theo cũng vậy, chúng tiếp tục nã đạn lai rai vào thành phố. Đạn rớt lung tung, khi ở chỗ này khi ở chỗ nọ, có lúc bay tuốt đâu đâu! Sau này chúng tôi hiểu được, với sự trợ giúp của mấy tay nội tuyến nằm trong thị xã, chúng đang điều chỉnh tác xạ. Với chúng tôi, pháo kích là chuyện cơm bữa, lính tráng mấy khi được ở thành phố, mấy trái pháo kia làm sao có thể giữ chân họ nổi.

Tôi gặp Nguyện ở đây trong một quán cà phê sáng ngày thứ ba từ khi về thị xã. Nguyện vẫn thuộc đại đội niên trưởng Việt và đang trấn giữ vành đai phía tây thị xã sát cạnh ty Chiêu Hồi. Nguyện đi một mình vì niên trưởng Việt đang mắc họp ở tiểu đoàn. Nguyện đen xạm hẳn đi nhưng có vẻ rắn chắc hơn cái ngày chúng tôi còn nằm chung trong cái bunker ngày nào. Cũng chẳng có trao đổi gì nhiều ngoài sự thăm hỏi tình hình bạn bè và dăm ba chuyện gẫu, chúng tôi lại chia tay sau đó.

Buổi chiều chúng tôi được lệnh di chuyển về đóng chốt tại rừng cao su Xa Cam, phía nam thị xã, cách thị xã độ hơn cây số. Đại đội tôi đóng tại đây được một tuần lễ thì địch tiếp cận bao vây. Những ngày đầu, chúng mở vài đợt tấn công nhưng thất bại vì chúng tôi đào hầm hố có nắp khá kiên cố. Chúng tôi cũng học theo cách làm hầm chữ L của bọn chúng, có hai vị trí chiến đấu hai đầu, hầm rất hẹp để tránh pháo kích, trên có nắp bằng những nhánh cao su xếp sát lại và đổ đất cao bên trên, rất chắc chắn. Đạn cỡ 122 ly nổ trên nóc hầm không nhằm nhò, đạn cối chỉ gãi ngứa trừ phi rớt trúng ngay miệng hầm. Tấn công chúng tôi, địch chỉ có cối 61, 82 yểm trợ. Sau những loạt tiền pháo không mấy hiệu quả chúng phóng ra một đợt hậu xung thì mìn Claymore tự động nổ vang và đồng thời lãnh hàng loạt đạn đủ loại của chúng tôi khai hỏa. Chúng co vòi thụt lại. Sau vài lần thử lửa nữa, chúng chỉ kéo thêm xác đồng bọn về.

Có lẽ không xác định được vị trí cũng như số mìn chúng tôi gài, để tránh thiệt hại chúng đổi chiến thuật. Tối ngày sau, chúng tổ chức đánh đặc công! Cũng khoảng nửa đêm, bốn tên đặc công tất cả, hai tên đi trườc chia thành hai cánh song song, cách nhau hai hàng cao su, ở trần mặc xà lỏn, tay cầm K54, bụng cột một chùm bêta bò vào. Hai tên sau, quần áo đầy đủ, mang AK. Một tên loay hoay thế nào không biết đá trúng sợi giây mìn tự động mìn nổ ngay. Vô phúc tên còn lại, tuy không đứng ở vị trí trái mìn nào cả nhưng do hoảng sợ vì tiếng nổ, chạy xéo qua một bên bèn lãnh ngay một trái khác cũng gục tại chỗ. Hai tên bò vào gần tới, không còn thế lùi vì có lùi cũng đâu biết mìn chỗ nào mà né. Chúng liều vùng đứng dậy chạy vào vòng đóng quân của đại đội tôi rút bêta liệng. Vô phúc cho chúng, tôi đã từng trải qua kinh nghiệm xương máu với kỳ đặc công đánh trường năm nào. Lính đã có lệnh, ban đêm, có chuyện xảy ra, tất cả xuống hầm, ai chạy trên mặt đất là địch, bắn xả láng. Chúng tôi khai hỏa, chỉ vỏn vẹn chưa đầy năm phút, im lặng trở lại. Chúng tôi cố thủ tại hầm chờ trời sáng. Kết quả, tờ mờ sáng, hai xác đặc công đang nằm sõng sượt trên mặt đất, một tên người lỗ chỗ cả chục vết đạn, tên kia, một trái M79, cái đầu đạn vàng khè nằm ngay giữa bụng do sức ép chui vào lọt bên trong làm banh bộ lòng ra ngoài nhưng đầu đạn không nổ vì khoảng cách bắn quá gần! Chúng tôi tịch thu hai khẩu K54. Qua liên lạc máy, toán tiền đồn báo về cũng đã lượm thêm hai khẩu AK, một 47 một 50.

Chưa chịu bỏ ý định tính sổ tụi tôi, ngay tối hôm đó, khoảng nửa đêm, chúng vào một cái ấp gần đó lùa bầy trâu của dân đẩy vào phòng tuyến đại đội. Chúng tôi đang ngủ thì liên tiếp những tiếng mìn nổ vang dội chung quanh. Vội vàng xuống hố bố trí, chúng tôi chờ địch xung phong. Cố gắng dõi tầm mắt xuyên qua bóng đêm dầy đặc để quan sát, nín thở để nghe ngóng từng tiếng động. Cả tiếng đồng hồ im lặng trôi qua, không một tiếng động, không có dấu hiệu nào chứng tỏ địch mở đợt tấn công. Tất cả được lệnh chấm dứt báo động ngoại trừ những người có nhiệm vụ canh gác phải cẩn thận hơn.

Tờ mờ sáng, sương mù chưa tan hẳn, chúng tôi nhìn ra hướng mìn nổ, sáu xác trâu nằm rải rác chung quanh vòng đai phòng thủ lẫn lộn trong những nhánh cao su gãy bên cạnh. Cho một toán bò ra lục soát, chúng tôi không thấy gì khác hơn xác những con trâu đã chết vì vướng mìn. Chúng tôi phải gài lại những trái mìn khác thay thế.

Từ đó, chúng từ bỏ ý định tấn công tiêu diệt chúng tôi vì tổn thất quá nhiều. Tất nhiên vị trí đóng quân của đại đôi tôi gây trở ngại cho chúng không ít trong việc chuyển vận vũ khí đạn dược cho những đơn của chúng đang chuẩn bị cho đợt tấn công vào trong thị xã. Chúng vẫn tiếp tục công việc này bằng cách di chuyển chạy, từ gốc cao su này dọt sang gốc cây cao su khác. Thoạt tiên, lính cũng nhắm bắn, nhưng không hiệu quả. Mình thấy địch mới bóp cò đạn chưa tới nơi nó đã dọt sang chỗ khác. Có bắn chận đầu thì cũng chỉ hú họa và chưa chắc đã có kết quả. Ở vào tình trạng bị bao vây cô lập như tụi tôi lúc này, không được tiếp tế, tiết kiệm đạn dược là điều cần phải làm. Vậy là mạnh địch địch chạy, mạnh ta ta ngó!

Tụi việt cộng quả thực tính toán mánh lới. Chúng không tấn công tụi tôi nữa vì nghĩ rằng chỉ cần bao vây cô lập, tụi tôi cũng không còn đường sống. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi tụi tôi đã không còn nước uống. Lợi dụng một tối trời mưa, chúng tôi giăng poncho trên mặt đất trũng lấy nước đổ đầy bình dự trữ. Cũng chẳng được bao nhiêu. Một ít đổ vào những bao gạo sấy vò cho nhuyễn đỡ bao tử, số còn lại để uống tiết kiệm. Chúng tôi đã báo cáo trình trạng này về tiểu đoàn xin chỉ thị nhưng lệnh ban ra vẫn là cố thủ vị trí. Chúng tôi không còn may mắn nữa. Chả có trận mưa nào tái diễn dù là mưa bụi. Tới ngày thứ bảy chúng tôi không còn một giọt nước. Việt cộng không đánh chúng tôi cũng chắc chắn sẽ tiêu. Chúng tôi phải qua tần số hẹn (một tần số liên lạc truyền tin quy định riêng trong nội bộ tiểu đoàn, cấp trên không biết) xin tiểu đoàn trưởng cho rút. Tiểu đoàn trưởng và phó của chúng tôi lúc này là hai ông cùng khóa 20 VBĐL, đại đội trưởng đại đội tôi, trung úy Đạt khóa 23. Hai ông bàn nhau sao đó, đồng ý cho chú đàn em rút dù để bảo toàn lực lượng và dặn dò phải phá bỏ triệt để hầm hố phòng khi cấp trên bắt tái chiếm.

Mặc dù bỏ ý định tấn công chúng tôi nhưng lũ địch không ngơi quan sát. Khi chúng tôi bắt đầu phá bỏ hầm hố, địch hiểu ngay ý định. Chúng tập trung lực lương thật nhanh và khai triển tấn công liền. Cũng may chúng tôi đã trù liệu, để lại một trung đội chận hậu với tất cả mìn dàn sẵn, M72 kéo nòng chờ đợi, rút từng toán nhỏ một, từng đoạn đường một yểm trợ lẫn nhau trong khi lui. Toán địch đầu tiên vừa xung phong là lãnh nguyên nhiều loạt M72, cộng thêm những trái mìn Claymore còn lại cũng được kích hỏa từ những con cóc mìn trong tay những người lính của trung đội chận hậu. Chúng khựng lại một lúc, ép sát mặt đất để né tránh cái hỏa lực mãnh liệt phát ra từ những sinh vật, vì sự sinh tồn, đã bằng mọi nỗ lực hành động tìm cho mình con đường sống. Lợi dụng sự khựng lại của bọn địch, trung đội cuối cùng đã vùng dậy, lao theo lớp đồng đội đi trước. Thấy chúng tôi đã thoát khỏi tầm tấn công, địch đuổi theo bằng mấy viên đạn cối rồi thôi. Tới quốc lộ 13, cách vị trí chúng tôi vừa rời bỏ độ nửa cây số, kiểm điểm lại quân số, chúng tôi còn nguyên nhưng không vẹn, ba chiến sĩ bị thương dù không có gì trầm trọng lắm.

Thị xã An Lộc đổ nát trong mùa hè đỏ lửa 1972

Cả đại đội kéo vào thị xã, vừa qua khỏi cổng Nam thì mấy trái đạn pháo lao tới: 105,130, 122 ly… đủ loại. Trái nổ gần, trái nổ xa, tiếng hú xèo xèo, tiếng nổ ù tai, biết đường nào mà né. Cả đại đội chỉ biết nhào vào hai bên đường nằm xuống, úp mặt có, ngửa mặt có, trời kêu ai nấy dạ, hầm hố đâu mà trú ẩn. Thì ra, tình hình trong tỉnh lỵ còn nặng nề hơn. Địch pháo kích cả ngày lẫn đêm, bất kể giờ giấc từ hai hướng: tây và tây bắc. Những khẩu pháo, theo sự đo đạc ước lượng của chúng tôi, cách thị xã khoảng chừng 30 cây số. Chúng tôi có muốn phản pháo cũng vô hiệu quả vì tầm pháo 105 ly của ta không thể đi xa tới thế, vả lại còn lại trong tỉnh lỵ chỉ có hai khẩu 105 ly với vài chục trái đạn nên phải tiết kiệm dành cho trường hợp tối cần thiết.
Pháo 175 ly chúng ta có nhưng đặt mãi tận căn cứ Lai Khê. Có thể nói, dưới cái hỏa lực pháo tàn bạo của địch, rót xuống một phần đất mà diện tích bao gồm chưa tới một cây số vuông, ngày này qua đêm nọ, ròng rã suốt mấy tháng trời, binh lính trấn đóng tại đây, hầu hết đều bị thương vì đạn pháo. Thậm chí có người bị thương hai ba lần vì không có phương tiện di tản. Yểm trợ cho An Lộc lúc đó chỉ trông chờ vào những phi vụ máy bay oanh tạc của ta và Mỹ từ chiến hạm Mỹ bay vào. Đạn dược, thức ăn, thuốc men có được nhờ vào thả dù tiếp tế. Để tránh pháo và cao xạ, máy bay thả dù phải bay thật cao và thả những kiện hàng xuống, nhiều kiện hàng đã bay lọt ra ngoài phạm vi thị xã.

Mấy tháng trời vây hãm với quân số trội hẳn, hơn ba công trường chính qui: 3, 5 và 7 với xe tăng, pháo hạng nặng, hỏa tiễn…, mở bao đợt tấn công, chúng vẫn không chiếm được một tỉnh lỵ nhỏ bé mà lực lượng phòng thủ chưa tới một sư đoàn! Chúng quên mất một yếu tố quan trọng: bao vây quân ta tứ phía, không chừa một ngõ thoát thân. Con vật nào cũng vậy, khi bị dồn vào chân tường đều phải phản ứng tự vệ tới cùng tìm cho mình một con đường sống. Chúng tôi đã tồn tại như một bản năng. Hơn thế nữa, với sức chịu đựng bến bỉ, với một ý chí kiên cường, chứng kiến tận mắt sự thô bạo của bọn chúng khi sát hại đồng bào vô tội trên quốc lộ 13 khi họ tìm cách trốn chạy về hướng nam, quân ta đã làm nên một kỳ tích cho chiến sử Việt Nam qua chiến thắng An Lộc.

Sau khi vào thị xã, đại đội tôi được điều động bố trí tuyến phòng thủ hướng nam, sát cạnh đồn Cảnh Sát Dã Chiến tỉnh. Mỗi ngày, chúng tôi, ngoài cảnh hứng chịu những đợt pháo kích liên tục từ xa mà nguy hiểm nhất với những trái xuyên phá, không nổ trên mặt đất mà chui sâu dưới mặt đất hai ba thước xoáy thành những lỗ sâu hoắm nhằm phá hủy những hầm hố phòng thủ, chúng tôi còn phải đối phó những đợt bắn khuấy rối của đám việt cộng bên ngoài với đủ loại đạn: bắn sẻ bằng M79 lấy được của phe ta, cối 61, 82, đại bác không giựt 57, 75, AK, đại liên, B40, B41, lựu đạn phóng vào bằng giàn thun, trong đó có cả những lựu đạn cay khiến chúng tôi lúc nào cũng phải kè kè bên mình cái mặt nạ phòng hơi độc.

Một buối sáng sớm, trung úy Đạt, đại đội trưởng lợi dụng êm pháo cầm xẻng ra ngoài đi vệ sinh, từ phía rừng cao su hướng nam một trái M79 phóng vào, Đạt ôm quần chạy xuống hầm. Một bên mông đang ứa máu với những miểng nhỏ ghim lỗ chỗ. Hắn gọi máy về tiểu đoàn báo cáo. Ngày hôm sau, Đạt ra cổng nam leo lên trực thăng di tản về Lai Khê. Hắn có lệnh về học khóa Cao đẳng công binh cách đây nửa tháng nhưng tiểu đoàn không cho đi vì tình hình chiến sự. Trực thăng tản thương lúc này cũng đã có trên một đoạn của quốc lộ 13 phía nam thị xã nhờ một lữ đoàn dù được trực thăng vận lên tiếp viện đã trấn giữ một phần hai bên quốc lộ cách tỉnh lỵ khoảng hơn cây số.

Mang tiếng là có trực thăng tản thương nhưng mỗi lần thấy bóng dáng trực thăng bay tới là việt cộng pháo phủ đầu. Nhiều khi máy bay vừa đáp xuống chưa kịp bốc thương binh đã phải vọt bay lên. Những người bị thương nhẹ dễ có cơ hội được bốc hơn, nhất là những anh có thể tự leo lên trực thăng một mình không cần người khiêng hay dìu đỡ.

Đạt thuộc một trong số những người đi tản thương kiểu đó dù chưa được sự ưng thuận của tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng, sau khi biết sự việc, chửi thề đòi báo cáo đưa hắn ra tòa án quân sự. Tiểu đoàn phó can ngăn bảo dầu gì hắn cũng là đàn em, làm vậy sẽ hại cho cuộc đời binh nghiệp của hắn. Thế là sự việc xếp lại và tôi được chỉ định xử lý thường vụ.

Đêm 13/5/1972, việt cộng mở một trận pháo kích khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh. Từ 6 giờ tối đến rạng sáng hôm sau, địch rót vào thị xã hơn mười ngàn trái đạn để chuẩn bị cho đợt tấn công của bộ binh phối hợp với chiến xa ngay sau khi pháo vừa dứt điểm. Tiếng pháo cứ liên tục bung binh không ngớt suốt đêm và vừa ngưng vào rạng sáng hôm sau thì tiếng xích xe tăng rít kèn kẹt vượt qua những lớp kẽm gai ngoài hàng rào phòng thủ đã vang lên. Những chiếc tăng mà lần đầu tiên quân ta trực tiếp đối đầu T54, PT76… đã ập vào tận tuyến phòng thủ. Có những chiếc chạy qua cán dẹp lép những căn hầm tránh pháo kích của ta. Tất cả binh sĩ đã được lệnh lên khỏi hầm nghinh đón bộ binh địch. Không một bóng dáng tên việt cộng nào cả, họ xoay sang tìm cách tiêu diệt xe tăng.

Lần đầu tiên chạm trán, loại súng duy nhất để chống chiến xa ta có chỉ là M72 chống người và phá hủy hầm hố. Lính giương nòng nhắm trực xạ vào những chiếc tăng đang tung hoành ngang dọc. Có vài trái trúng mũi xe, pháo tháp… bay vuột đi mất. Rút kinh nghiệm rất nhanh, họ nhắm vào dãy bánh xích xe bên hông. Những tiếng nổ ùng uỳnh vang lên khắp nơi. Hình như không hiệu quả. Một chiếc rõ ràng đã trúng đạn vẫn hùng hổ lao tới ủi sập một góc nhà trước căn hầm của BC đại đội kẹt ở đó nhưng máy lại càng rú mạnh hơn. Một số binh sĩ thấy coi bộ M72 không công hiệu đã chạy theo xe, bám vào thành xe leo lên tìm chỗ trống thảy lựu đạn vào. Qủa tình phương pháp này hữu hiệu hơn nhiều. Sau tiếng ục ùng vang lên trong thùng xe, chiếc tăng bất động.

Khí thế nổi lên, lính ta ùn ùn rủ nhau đi rượt xe tăng. Cũng nhờ địch, lần đầu áp dụng chiến thuật bộ binh tùng thiết, hoặc giả chúng trục trặc trong việc phối hợp sao đó, lính ta tha hồ rảnh tay diệt tăng mà không sợ bộ binh yểm trợ. Chiếc T54 sau một hồi kẹt ở góc nhà, pháo tháp được đẩy lên, từ trong chui lên một tên bộ đội, hai tay đưa thẳng lên trời, miệng không ngớt kêu xin hàng đừng bắn. Lôi hắn xuống, hắn cho biết còn một tên nữa trong xe. Bọn tôi bảo hắn leo lên pháo tháp gọi tên kia ra. Đó là hai tù binh mà chúng tôi bắt được tại tuyến phòng thủ qua đợt tấn công duy nhất việt cộng có thể tổ chức dù đã chuẩn bị nhiều tháng trời. Thì ra, mặc dù trái M72, không làm xuy xuyển chiếc tăng nhưng với sức nổ, hai tên trong xe đã bị dội ép đến bất tỉnh. Cách thiết kế của xe tăng địch trái ngược với ta. Ga xe khi nhấn mạnh là giảm tốc độ, còn buông ra là xe chạy mạnh hơn. Hèn chi khi tên lái xe ngất đi, cần ga không người điều khiển lại càng hú lên dữ dội khiến chúng tôi tưởng lầm và đã hơi hoảng lúc đầu.

Chúng tôi may mắn giữ vững phòng tuyến nhưng tiểu đoàn bạn 3/7 thì không. Tuyến hướng tây tương đối bằng phẳng, tạo dễ dàng cho địch trong việc tiến công. TĐ3/7 bị chọc thủng phòng tuyến, tan hàng. Đại đội của niên trưởng Việt và Nguyện cùng chung số phận. Hai sĩ quan CTCT đã anh dũng hy sinh đúng như lời thề nguyện ngày nào trên vũ đình trường đem máu xương bảo vệ sơn hà.

Chiều hôm đó tôi nhận lệnh dẫn đại đội đi tái chiếm lại một phần tuyến đã thất thủ của TĐ3/7. Gần 6 giờ chiều chúng tôi mới tới được một dãy nhà cách tuyến phòng thủ cũ của TĐ 3/7 khoảng hơn trăm thước. Trời sắp sập tối. Phía trước, qua ống nhòm tôi thấy thấp thoáng đằng sau dãy nhà đổ nát bóng hai chiếc tăng T54 với họng pháo dài nhô ra bên ngoài bức tường gạch nám màu khói lửa xám xịt. Tôi xin lệnh dừng quân bố trí để mở cuộc tấn chiếm lại vào sáng ngày mai. Buổi tối trước khi ngủ, tôi khấn thầm, mong hương hồn Nguyện linh thiêng phù trợ để tôi có thể tìm tới nơi chỗ xác bạn, lo cho bạn được một chỗ an nghỉ tươm tất trong lòng đất.

Tôi đã không làm được điều đó. Mới năm giờ sáng, một trái đại bác 100 ly trực xạ phát đi từ nòng chiếc tăng T54 trúng ngay bức tường nơi tôi đặt BC đại đội. Anh hạ sĩ gác ngồi trên nóc hầm bị một miểng chém ngang đứt hẳn phần đầu, những miểng còn lại tạt xuống dưới khiến một số bị thương. Tôi bị một miểng xuyên qua gót chân trổ ra bên cạnh mắt cá. Qua làn cát bụi mịt mù, tôi nghe tiếng rên la của chú đệ tử kế bên vì chân trái đã bị một cái miểng đạn chém đứt nhưng còn sợi giây gân dính lại với phần đùi bên trên. Phải chừng nửa phút tôi mới cảm thấy ê ê dưới gót chân, rà bàn tay xuống, gót chân phải của tôi, một phần thịt bầy nhầy. Hai tên mang máy truyền tin may mắn nhất vì căng võng sát trần hầm nên khi miểng chém đứt giây võng, hai đứa té xuống vội vã bỏ hầm chạy đâu mất. Sau khi an ủi chú đệ tử bị thương, dặn nằm đó chờ, tôi nhét khẩu colt vào bụng, đội nón sắt, với chiếc mặt nạ phòng hơi độc đeo vào vai, chân phải xỏ giày cột lại đàng hoàng. Chiếc còn lại không thể mang được, thấy tiếc, tôi xỏ tay trái vào và bò sang cái hầm y tá gần đó. Vừa chui đầu vào một trái pháo nổ tiếp theo, một làn hơi nóng với sức ép xô tôi lọt vào bên trong đồng thời bức tường sập xuống bít chặt miệng hầm lại. Chúng tôi hoàn toàn bị nhốt kín trong căn hầm không có cách gì liên lạc với bên ngoài.

Hai tiếng sau, tiểu đoàn cho đơn vị lên tiếp cứu moi hầm lôi ra. Đại đội tôi được một sĩ quan khác chỉ huy vì tôi hoàn toàn bất khiển dụng từ đây.
Tôi được tiểu đoàn cho một cậu lính theo chăm sóc suốt thời gian còn lại. Hắn cõng tôi vào tòa hành chánh tỉnh, nơi đây tôi được bác sĩ Hùng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 quân y khâu “sống” cái gót chân nát bấy của tôi, nghĩa là khâu băng kim chỉ mà không có thuốc tê. Cũng chả đau đớn gì mấy vì cái nhức trong xương, lúc này mới phát ra, còn ghê gớm hơn cái đau của mũi kim xuyên qua da thịt gấp trăm lần. Tôi chịu như thế hơn một tháng trời. Nhiều lần, gã đệ tử cõng đi tản thương đều thất bại. Có lần đang đi, pháo tới, hắn quẳng tôi xuống để tìm chỗ núp vì đạn bay quá gần, tiếng xè xè cho biết như vậy. Một hai lần tới được bãi đáp thì không tranh kịp với những người bị thương nhẹ hơn.

Đợi đến khi bộ tư lệnh sư đoàn lập ra một toán phụ trách tản thương, tôi mới được đưa lên trực thăng chuyển về Lai Khê. Lúc đó vết thương đã lành miệng. Cám ơn chú lính chăm sóc cho tôi, mỗi lần máy bay thả dù tiếp tế chú chịu khó lục lọi tìm những ống trụ sinh về chích, nhờ đó vết thương không làm độc. Nhiều người đã phải cưa chân hai ba lần vì vết thương bị nhiễm trùng. Ngồi trên trực thăng, tôi đưa bàn tay sờ xuống sàn, hơi thép mát lạnh tôi có được cảm giác mình còn sống sót. Những người ở lại, vẫn đang tiếp tục những gian khổ tôi từng trải qua, những người đã nằm lại vĩnh viễn, trong đó có bạn tôi Tôn Thất Nguyện, có niên trưởng Lê Bách Việt và bao chiến sĩ vô danh khác nữa…

Sau nửa năm nằm bệnh viện, tôi trở lại đơn vị. Thành Laba lúc này về làm trưởng ban 5. Tiểu đoàn trưởng là ông phó lên thay. Thành mới đổi về, không được lòng mọi người vì cái miệng bô lô bô loa của hắn. Tiểu đoàn trưởng bảo sẽ đưa tôi làm trưởng ban 5 thay cho Thành sẽ ra ngoài đại đội tác chiến. Tôi từ chối nại rằng Thành đủ khả năng để giữ chức vụ này, tôi không muốn mang tiếng tranh dành vị thế của bạn. Một tuần sau, một đại đội trưởng có lệnh thuyên chuyển về cảnh sát, tiểu đoàn trưởng đề nghị tôi giữ chức vụ này và khuyên tôi làm đơn xin xuất ngành. Tôi chính thức trở thành đại đội trưởng cho đến ngày tan hàng.

Một thời gian sau đó, tôi tình cờ gặp Thẩm trong khi về hậu cứ trung đoàn lấy sự vụ lệnh đi học khóa Bộ binh trung cấp. Tiểu đoàn Thẩm đang hoạt động tại Phú Giáo. Đang rảnh rỗi, tôi kéo Thẩm ra quán nhậu mừng rỡ vì bạn bè quá lâu mới gặp. Thẩm hỏi thăm cách thức nộp đơn xin xuất ngành. Tôi khuyến khích sau khi nói sơ cho Thẩm biết những đơn từ cần làm gửi thẳng về Bộ Tổng Tham Mưu thay vì Tổng Cục CTCT để tránh bị phạt. Ít lâu sau đó Thẩm chính thức nắm đại đội.

Sau khi mãn khóa học trở về, tôi còn nhớ rõ, nhận lại đại đội, lúc đó tiểu đoàn tôi đóng tại Lai Khê, tiểu đoàn trưởng đã đổi, thiếu tá Dũng, khóa 16 võ bị từ trinh sát dù về, tôi được lệnh dẫn đại đội tăng phái cho trung đoàn 8, giữ an ninh cho bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn đang ở tại khu Lò Than ngay ngã tư Bến Cát. Ngã tư này, cách quốc lộ 13 năm trăm thước về hướng đông. Chạy về tây bắc là ngõ đi lên mật khu Long Nguyên, phía tây nam rẽ vào An Điền Rạch Bắp là nơi chiến sự đang sôi động lúc này. Giữa đường An Điền-Rạch Bắp một chiến đoàn của sư đoàn gồm một số các tiểu đoàn của trung đoàn 8 và 9 phối hợp với thiết đoàn 5 đang quần thảo với một lực lượng khá lớn của địch nhằm cắt đứt quốc lộ 13. Bộ chỉ huy nhẹ chúng tôi đang giữ an ninh là trung tâm điều khiển các cuộc hành quân ở đó. Với nhiệm vụ nhẹ nhàng này, sau khi bố trí, tôi cho đệ tử ra Bến Cát khiêng về hai két 33 để đãi các trung đội trưởng.

Đang ngồi nhậu, tôi thấy Thẩm dẫn đại đội đi trên đường hướng về phía Long Nguyên. Tôi đứng dậy giơ cao tay ngoắc ngoắc miệng kêu tên. Thẩm cũng nghe thấy và đưa tay đang cầm tấm bản đồ vẫy lại, chỉ có thế vì đang bận với hai cái ống liên hợp trên tay điều động đơn vị và tiếp tục di chuyển. Tôi ngồi xuống tiếp tục tiệc rượu. Chừng mười lăm phút sau, tôi nghe có tiếng nổ lớn như tiếng mìn về hướng Thẩm đang di chuyển và tiếp theo là nhiều loạt đạn nổ vang. Chắc chắn Thẩm đang chạm địch. Cái máy truyền tin đặt cạnh tôi vang lên những báo cáo không hay. Vì biệt phái nên tôi xài chung một tần số với tất cả các đơn vị phối hợp. BC đại đội của Thẩm đã lọt vào điểm phục kích của địch. Ngay lúc trái mìn và những viên B40, 41 đầu tiên, bộ chỉ huy của Thẩm đã là trọng tâm của cuộc phục kích. Trung đoàn đã trực tiếp điều động các trung đội còn lại của Thẩm phản công vì hai máy truyền tin của đại đội Thẩm không còn lên tiếng. Chỉ sau đó ít phút tôi mới biết rõ Thẩm đã hy sinh. Một người bạn nữa lại ra đi không lời trăn trối. Vĩnh biệt Thẩm.

Đúng 9 giờ tối, tôi được lệnh dẫn đại đội đi gấp vào Rạch Bắp để trám tuyến cho một tiểu đoàn bạn đang rối loạn vì có một số lính bỏ chạy ra ngoài. Trước đó địch đã mở một đợt tấn công tràn ngập tuyến phòng thủ của tiểu đoàn 2/8. Tôi kéo đại đội đi ngay bỏ lại những mìn bẫy còn đang gài ngoài tuyến. Trời đang lất phất mưa khiến con đường đất đỏ dẫn vào trận địa trở nên trơn trượt. Buổi chiều tôi uống hơi nhiều, không biết vì vui khi trở lại đơn vị với những thuộc hạ cũ của mình hay buồn vì một người bạn thân vừa nằm xuống. Tôi xuýt té mấy lần. Dọc đường tôi gặp một số lính nhốn nháo chạy ra ngược chiều cùng với mấy chiếc chiến xa M48. Cũng may, tôi dẫn đại đội tới nới an toàn. Cả tối đó không có động tịnh gì cả. Sáng hôm sau, trung đoàn cho một toán kiểm soát chận bắt tất cả những lính đã tháo chạy trong đêm khuya vì khi nghe tiếng xe M48 của ta di chuyển tưởng lầm chiến xa việt cộng. Chúng tôi được lệnh kéo về. Tới bộ chỉ huy trung đoàn, tôi nhận thêm một tin buồn, niên trưởng Quách Kế Nhơn, tiểu đoàn phó 2/8 vừa hy sinh tối qua trong cuộc đột kích của việt cộng.

Cuối cùng, trong số khóa 2 về trung đoàn 7 chỉ còn Thành, Hoàng và tôi. Chương đi đâu tôi không hề nghe tin tức, chỉ biết hắn bị đì dữ lắm, vẫn còn mang lon thiếu úy.
Những kỷ niệm này, tôi giữ trong lòng từ lâu, vì chẳng có dịp kể cho ai nghe. Gần đây, qua Email, một số các bạn có lên tiếng về cái chết của Nguyện và Thẩm, tôi thấy mình phải có nhiệm vụ nói rõ về chuyện hy sinh của hai người bạn quá cố mà chính tôi là người gần gũi nhất.
Cầu chúc cho tất cả bạn bè chúng ta, những người đã nằm xuống, vì bất cứ lý do gì, yên hưởng thanh bình vĩnh viễn nơi cõi hằng cửu xa xôi nào đó.

NT2 Đinh Hồng Lân

Đời Lính – NĐC

fb Martin Duc added 2 new photos.

May 20, 2016 ·

 *

  Đời Lính

chaoco_thienNgon

LTG: Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

Anh ạ! tháng tư mềm nắng lụa,
Hoa táo hoa lê nở trắng vườn,
Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi,
Em mở lòng xem lại vết thương,
Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm,
Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê,
Hay sương thành lệ tra vào mắt,
Mờ khuất trong em mọi nẻo về.

Sau khi đọc bài thơ này của Nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt. Bốn mươi mốt năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại hồng thủy tháng tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài gòn”(trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ quốc?.

Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ Quân đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là Thiếu Úy, với chức vụ nhỏ nhất là Trung đội trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ Tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam . Mùa Hè đỏ lửa năm 72 là năm Quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong. Niên khóa năm 71-72, tôi là Sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại,tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly, đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…” Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?.

Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ,chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ Hằng ngày họ xem TV thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bài cho tôi. Trong bài “Đại bác ru đêm” của Trinh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về Thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã ầm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.

Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn. Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của Miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.

Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường ĐH tụ họp về đây, chúng tôi làng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thực thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gang thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong 5 tuần lễ đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa.

Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh viên Sĩ quan chỉ huy buổi Lễ: “Quì xuống các SVSQ”, sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa: “Đứng lên các Tân Sĩ Quan”. Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài gòn, bỗng cái Ông Thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn: “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, SĐ 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề”. Oái oăm thay ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho SĐ 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh SĐ 9 tại Vĩnh Long. SĐ này có 3 Trung Đoàn: 14,15 và 16. Tôi được đưa về Trung đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài gòn qua Ngã ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa ĐTM lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú. Đám Tân SQ chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị Sĩ quan Quân số hỏi có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong “Tháng Ba Gẫy Súng” tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một Trung Đoàn Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. ĐĐ/TS cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giong nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ: “Chuẩn úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời: “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám”. Trời đất, tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm Trung đội phó là sao nhĩ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Trung đội phó là còn may, các Sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng toán Viễn thám, thiệt là chết dở.

Đai Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm 2 Trung đội Trinh Sát và 1 Trung đội Viễn Thám. Các Sĩ quan Trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng? Sau một thời gian sống gần gũi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa Đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước ĐĐ, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi ! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu, cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng, bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

– Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ quan nào vậy?

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

– Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

– Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ !

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh viên Sĩ quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm, hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp. Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng, ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chớ hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng, tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72. Anh ta là người trí thức có bằng Cử nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dở khóc dở cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng: “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”. Tôi ngượng điếng người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát: “Ý cha! cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!” Thiệt là khổ cho cái thân học trò của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán.

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy. Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa sạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đấu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.

Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa sạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lỗ chỗ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường BB Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn SQ đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành Phế-binh thương tật. Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của Sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung đội trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên lính dễ chết thì Trung đội trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung đội phó, không biết nói sao nữa.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền tin nói với C/U Thắng: “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp.” C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi: “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu”. Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi: ” Nè! C/U Châu, tôi giao Trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông xin tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn: “Tất cả theo tôi”. Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa). Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quăng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông xếp của mình. Thiệt là khôi hài. Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một Sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau đó tôi được điều qua các Trung Đội khác, phụ trách công việc tạm thời cho các Trung đội trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế. Ông Trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các Sĩ quan trong đơn vị cho ĐB mới được biết. Sau khi điểm mặt 3 Trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung đội phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người: ”Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến… “Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bươn chải về phía trước. Đối với ĐB mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ SQ xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung đội trưởng, sao lại là cái ông Trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặt khác, đầy hung hiểm chết người.

Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải “động não” đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp Chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung đội tôi vào nơi Tử địa. Khi Đại đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Tr.đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một Sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có Huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ sử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nổi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi đầu sóng ngọn gió. Vậy mà tôi sống, mới kỳ.

Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè -Cai lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của đồng bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt 1 ngày với xe thiết giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có 1 sinh vật nào sống nổi trong vùng này, đừng nói chi đến con người. Vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn. Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng – Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền – Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lềnh trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai – Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc-ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, 2 bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lát, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm 74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu. Khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm 1 gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng 3 khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh. Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ.

Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có 1 đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân. Lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất, tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư! Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ rạch, có tên là Rạch Cái Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này. Người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là hóc-bà-tó. Đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ. Cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn giấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luộc.

Lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời, chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường 1 Chi đoàn thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến 1 điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng: ”Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!” Không ngờ lời nói của tôi “linh như miễu”. Đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh rờ rẩm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, song phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ 2, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn mà còn sống như tôi vậy

Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: ”Thiếu Úy ơi! cứu em! “ Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước mặt, cách tôi chừng dăm ba thước. Thông thường các Sĩ quan Trung đội Trưởng có 2 người lính đệ tử, 2 người này có nhiệm vụ lo chỗ ăn chỗ ngủ và lo mang vác đồ đạc cho ông Thầy. Những người lính đệ tử của tôi thường đối với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết vì tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn Trung đội xung trận, 2 người lính này theo sát để bảo vệ cho tôi. Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là Hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.

Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe Thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: ”Đừng làm thế, Tường ơi! “. Sau đó, Trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn Úy Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt!”

Không biết sao đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa sạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy. Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chổ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo.

Đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình. Ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay. Tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vắng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu. Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên 1 cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo. Một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em. Câu chuyện thật tội nghiệp. Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này,đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết,nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “chảnh”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé: “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát”. Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu. Ban Quân số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ. Càng về sau các Sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một trung đội nữa vỗ vào mặt chính diện, trung đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra 1 trái hỏa tiển B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà. Tội nghiệp Hà chết không toàn thây. Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đính anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

– Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?.

Tôi lúng túng trả lời:

– Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh xá Tiểu đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy. Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi Bịnh xá, đứng trên Quốc lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

NĐC

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: outdoor
 //