Category Archives: Sử liệu

“Hanoi Jane” Fonda! [tn]

A-Black memorial wall

“Hanoi Jane” Fonda! [tn]

She was born Lady Jayne Seymour Fonda, but earned her reputation as “Hanoi Jane” Fonda after “aiding and abetting” the enemy — North Vietnam — as documented in these photos taken in Hanoi (July 1972):

“Nhớ nhà châm điếu thuốc”Image result for jane fonda vietnam
Hanoi Jane on North Vietnamese anti-aircraft gun: A few hundred yards from the location of this photograph, American POWs were being subjected to all manner of torture at the “Hanoi Hilton.” You can read about one of those POWs, Col. Roger Ingvalson, whose aircraft was shot down by an NVA-AAG similar to the gun Hanoi Jane is straddling.
Hanoi Jane laughing it up
Showing her admiration
Fonda called returning POWs “hypocrites and liars,” adding, “These were not men who had been tortured. These were not men who had been starved. These were not men who had been brainwashed. … Pilots were saying it was the policy of the Vietnamese and that it was systematic. I believe that’s a lie.” You can read about one of Fondas “hypocrites and liars” in this Veterans Day Profile: Point Man, Roger Helle
Visiting with Friends
Looking for Target
With Tom Hayden back from Hanoi
Read the transcript of Hanoi Jane’s propaganda radio broadcast delivered in Hanoi, North Vietnam on August 22, 1972.
As for the success of anti-democracy protests by radical protagonists like Fonda, John Kerry and others, Hanoi could not have been more pleased.
General Vo Nguyen Giap, supreme leader of the North Vietnamese Army, told CBS in a 1989 interview: “We paid a high price [during the Tet offensive] but so did you [Americans] … not only in lives and materiel. Do not forget the war was brought into the living rooms of the American people. … The most important result of the Tet offensive was it made you de-escalate the bombing, and it brought you to the negotiation table. It was, therefore, a victory…. The war was fought on many fronts. At that time the most important one was American public opinion. “
More to the point, in a 1995 interview with The Wall Street Journal, Bui Tin, a communist contemporary of Giap and Ho Chi Minh, who was serving as an NVA colonel assigned to the general staff at the time Saigon fell, had this to say about the Leftmedia and Soviet puppets like “Hanoi” Jane Fonda and John Kerry: “[They were] essential to our strategy. Support of the war from our rear was completely secure while the American rear was vulnerable. Every day our leadership would listen to world news over the radio to follow the growth of the American antiwar movement. Visits to Hanoi by people like Jane Fonda, and former Attorney General Ramsey Clark and ministers gave us confidence that we should hold on in the face of battlefield reverses.”
Bui stated further, “Those people represented the conscience of America. The conscience of America was part of its war-making capability, and we were turning that power in our favor. America lost because of its democracy; through dissent and protest it lost the ability to mobilize a will to win.”
Most notably, Bui observed, that the 1968 Tet Offensive was “to weaken American resolve during a presidential-election year. We had the impression that American commanders had their hands tied by political factors. Your generals could never deploy a maximum force for greatest military effect.”
Sixteen years later, under enormous pressure after Ronald Reagan had restored the honorable social standing of military service, Fonda admitted to former American POWs and their families that she regretted the pain she caused them. Few accepted her apology.
 Fonda Power
In a 2005 interview with CBS, Fonda reiterated that she had no regrets about her trip to North Vietnam in 1972. “There are hundreds of American delegations that had met with the POWs. Both sides were using the POWs for propaganda… It’s not something that I will apologize for.”
Peace
More Peace
Fonda with last in husband line, Ted Turner, Village drunk and self-appointed ambassador to North Korea, who observed recently, “Obviously, I don’t like to see nuclear proliferation, and I’m very upset about [the North Korean test],” as opposed to his earlier position being “absolutely convinced that the North Koreans are absolutely sincere” about not developing nuclear weapons.
What a life
Hanoi Jane’s real life — so far…

— 
//

*Nguyễn Vĩnh Long Hồ – XIN ĐỪNG GỌI ‘BÁC HỒ’ LÀ TÊN CHÓ ĐẺ !

XIN ĐỪNG GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN CHÓ ĐẺ

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

(butsachnguyen vinh long ho)

A-Bả cHó 1

Bác Hồ = Bả cHó (Google) Hình Internet; posted by tunhan

Thói thường ở đời, mỗi khi đánh giá nhân cách đồi bại, lưu manh, đểu cáng, lừa thầy phản bạn, tàn bạo, vô tình bạc nghĩa, buôn dân bán nước…của một nhân vật nào đó, người ta thường gọi là “ĐỒ CHÓ ĐẺ”, “ĐỒ CẨU TRỆ”, “ĐỒ CHÓ CHẾT”. Hồ Chí Minh cũng bị gọi là “TÊN CHÓ ĐẺ”. Vậy, nhân vật đầu tiên nào trong lịch sử đã gọi Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ”? Xin thưa, người đó là cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức. Do đâu mà Hồ Chí Minh bị cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức mắng thậm tệ như thế ? Tôi xin dẫn chứng vài giai đoạn lịch sử, cái gọi là cuộc “Kháng chiến chống Thực dân Pháp” do Hồ lãnh đạo như sau:

LÀM TAY SAI CHO ĐỆ TAM CS Quốc Tế:
Lúc đầu, Việt Nam có đến 3 tổ chức Cộng Sản: An Nam Cộng Sản ở Nam kỳ – Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ – Đông Dương Cộng Sản Đảng ở Bắc Kỳ. Cuối năm 1929, CSQT ban hành chỉ thị mang số 9444/5 ngày 27/10/ 1929 bằng tiếng Pháp ra lệnh cho 3 tổ chức phải thống nhất lại và một buổi họp được tổ chức tại Cửu Long từ ngày 2 đến 7/2/ 1930, thống nhất tổ chức lại, lấy tên là VIỆT NAM CỘNG SẢN ĐẢNG, đặt trực thuộc ĐÔNG PHƯƠNG BỘ của CỘNG SẢN QUỐC TẾ. Nhưng ngay sau đó, Đông Phương Bộ chỉ thị không được lấy tên Việt Nam Cộng Sản Đảng, vì tên nầy có tánh cách cục bộ và địa phương, mà phải đổi thành ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG.
Khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam hoạt động, Đông Dương Cộng Sản Đảng đã tổ chức bạo động khắp nơi, nên chỉ sau một thời gian hoạt động, đa số các đảng viên cốt cán đều bị Pháp bắt. Số liên hệ bị bắt lên đến 10.000 người. Hay tin nầy, CỘNG SẢN QUỐC TẾ đã chỉ thị cho Hồ Chí Minh từ Trung Quốc phải quay về hang Pắc Pó triệu tập hội nghị vào ngày 19/5/1941 để duyệt xét và điều chỉnh lại phương thức hoạt động. Trong đại hội, Hồ Chí Minh đọc chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế, ra lệnh cho các đảng viên của ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG lùi vào hoạt động trong bóng tối. Vì thế, đại hội đã quyết định tái lập VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI, gọi tắt là “VIỆT MINH” để hoạt động.
Như vậy, ngay trong thời kỳ đầu, việc hình thành từ danh xưng và cả đến phương thức hoạt động đều do CỘNG SẢN QUỐC TẾ quyết định. ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG chỉ là công cụ phục cho quyền lợi của CSQT mà thôi.

LÍNH ĐÁNH THUÊ CHO TRUNG HOA – MỸ – PHÁP:
Năm 1944, do sự thúc đẩy của Hoa Kỳ, chính phủ Trung Hoa đã tổ chức một hội nghị VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI (VIỆT CÁCH) tại Liễu Châu vào ngày 19/3/1944 để thành lập một tổ chức đưa trở về Việt Nam hoạt động chống Nhật. Hồ Chí Minh liền giơ tay xung phong. Hồ được Trương Phát Khuê và Việt Cách cấp giấy giới thiệu, một giấy thông hành dài hạng, một bản đồ quân sự, một số tiền mặt và 18 cán bộ do Hồ lựa chọn có tên sau đây: Dương văn Lộc, Vi văn Tôn, Hoàng Kim Liên, Phạm văn Minh, Hoàng văn Trao, Nông văn Mưu, Hoàng Sĩ Vinh, Trương Hữu Trí, Hoàng Gia Tiên, Lê Nguyên, Nông Kim Thành, Hoàng Nhân, Hoàng Thanh Thủy, Hà Hiến Minh, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viên và Đỗ thị Lạc.
Trước khi lên đường, Hồ xin 1.000 khẩu súng trường, 6 súng cộng đồng, 4.000 quả lựu đạn, 50.000 quốc tệ, 25.000 tiền Đông Dương và 15.000 viên thuốc quinine. Nhưng, Hồ chỉ được cấp một khẩu súng lục tùy thân và 76.000 quốc tệ với lời hứa khi các đơn vị chiến đấu được thành lập, Hoa Kỳ sẽ huấn luyện và cung cấp vũ khí. Hồ Chí Minh đã làm lễ tuyên thệ trước trước lá cờ của VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI và hứa trung thành với VNCMĐMH là giúp hai chánh phủ Trung Hoa và Hoa Kỳ thiết lập hệ thống tình báo tại Việt Nam.
• Tháng 7 năm 1944, Hồ Chí Minh đem nhóm cán bộ được tuyển chọn về Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của “OFFICE OF STRATEGIC SEVICES” (OSS) , tức cơ quan Tình Báo Chiến Lược của Hoa Kỳ.
• Ngày 16/7/1945, một toán biệt kích “Commando” Mỹ – Pháp gồm 6 người do Thiếu Tá ALLISON K. THOMAS cầm đầu, được gọi là DEER TEAM. Toán nầy nhảy dù xuống Kim Lung, Tuyên Quang để huấn luyện cho quân đội của Hồ Chí Minh chống lại NHẬT. Toán Deer Team đã huấn luyện các đơn vị của Võ Nguyên Giáp về hoạt động tình báo, lượng giá các tin tức, ám sát đến hoạt động tuyên truyền…
• Sau khi huấn luyện xong. Từ ngày 10 đến 14/8/ 1945, Mỹ đã gởi đến cho Hồ các loại súng trường Garant M – 1, Carbines, tiểu liên, phóng lựu, Bazooka để chiến đấu chống với quân đội Nhật Bản. Như vậy, Hồ Chí Minh và lực lượng Việt Minh không phải là “LÍNH ĐÁNH THUÊ” cho Hoa Kỳ thì gọi là cái giống gì? Chính nhờ vào các võ khí do Mỹ cung cấp và huấn luyện mà Việt Minh đã cướp được chính quyền vào tháng 8/1945.

LÀM TAY SAI CHO TRUNG CỘNG:
Năm 1946, khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh rút khỏi Hà Nội và chạy lên vùng Việt Bắc. Từ 1947 đến 1949 là những năm Việt Minh là bị Pháp đuổi chạy dài. Giữa năm 1949, khi Hồng Quân Trung Cộng tiến về phía Nam Trung Hoa, Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã yêu cầu Đảng Cộng Sản Đông Dương đem quân chiếm vùng Ưng Long Khiêm, sát vùng Đông Bắc của Việt Nam; mặc dầu, lúc đó bị giặc Pháp rượt đuổi chạy vắt giò lên cổ. Dù vậy, Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng phải cố gắng thành lập một lực lượng đặc nhiệm là sư đoàn 316 (còn gọi là sư đoàn Thổ) do Lê Quảng Ba (người gốc Tày) làm Tư Lệnh và Trần Minh Giang do Đảng Cộng Sản Trung Cộng cử qua làm Chính ủy.
• Ngày 10 tháng 6 năm 1949, lực lượng nầy tiến vào đất Trung Hoa trong chiến dịch “Thập Đại sơn” đánh nhau với quân Tưởng Giới Thạch. Đến ngày 5 tháng 7 năm 1949, lực lượng nầy trở lại Việt Nam.
• Khi Trung Cộng chiếm xong Hoa Lục, Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan. Ngày 01/10/ 1949, Hồ cử Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thụy đến Bắc Kinh cầu viện. Hàng ngàn cán bộ và bộ đội Việt Minh đã được đưa qua Tàu huấn huyện về chiến thuật hành quân, kỷ thuật tác chiến, xử dụng vũ khí, tình báo… Trung Cộng muốn biến Việt Nam thành tiền đồn chống Chủ nghĩa Tư bản nên đã cung cấp vũ khí, quân trang, quân dụng thật dồi dào để đánh Pháp. Nhưng, Hồ Chí Minh phải thi hành những điều kiện và yêu sách do Mao Trạch Đông đưa ra và Hồ đã chấp nhận để cho Trung Cộng đề cử đoàn Cố vấn chính trị hùng hậu do Lưu Dương Bình lãnh đạo để giám sát và chỉ đạo các hoạt động của Việt Minh.
Từ đó, hiện tượng “Tàu hóa” ngày càng rõ rệt trong bộ đội Việt Minh: Hồ Chí Minh và dàn lãnh đạo Đảng CSVN như: Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẫn, Tôn Đức Thắng…đều vận y phục “đại cán”, vay mượn của Trung Cộng từ ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự…
Dưới áp lực của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh phải phát động cuộc “cải cách ruộng đất” đẫm máu, kinh hoàng theo kiểu Trung Cộng. Số người bị giết chết dã man trong chiến dịch nầy, lên đến mấy trăm ngàn người, dưới sự giám sát của các chuyên gia Trung Cộng. Có thể nói, nếu Trung Cộng không chiếm được Hoa Lục, làm gì Hồ Chí Minh và Đảng CSVN kết thúc được cuộc chiến tranh “Đông Dương lần thứ nhất”? Huyền thoại chiến thắng “Điện Biên Phủ” cũng là thứ huyền thoại dõm. Nếu không có đoàn chuyên gia quân sự ( CMAG) do Vi Quốc Thanh làm cố vấn, có lẽ không có trận Điện Biên Phủ.
Tóm lại, Trung Cộng đã đóng vai trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp và đánh bại quân đội viễn chinh Pháp, chớ không phải do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN lãnh đạo, họ chỉ là những tên thừa hành lệnh của quan thầy Trung Cộng mà thôi.

HỒ CHÍ MINH NỐI GIÁO CHO GIẶC PHÁP :
Hồ Chí Minh đã gián tiếp nối giáo cho giặc Pháp, làm suy yếu tiềm lực chiến đấu chống Thực dân Pháp của người Việt Quốc Gia yêu nước. Bao nhiêu nhà ái quốc, các đảng phái cách mạng từ trong Nam ra Bắc, những anh hùng tử sĩ xả thân chiến đấu chống Thực dân Pháp, họ không chết trước họng súng của quân xâm lược Pháp mà chết vì sự khủng bố tàn bạo do bọn sát thủ của nhóm Dương Bạch Mai, Trần văn Giàu và hung thần Chợ Đệm Nguyễn Trấn. Dẫn chứng một vài trường hợp điển hình:
• Đêm 23/9/1945, người bị giết đầu tiên, phơi thây trên đường Albert 1er là ông Lê văn Vững, Bí thư vùng Sài gòn – Chợ Lớn, thuộc nhóm Tranh Đấu. Trần văn Giàu sai sát thủ tên Lý Huê Vinh thuộc Quốc Gia Tự Vệ Cuộc ám sát.
• Ngày 23/9/1945, cô giáo Nguyễn thị Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc.
• Cuộc khủng bố trắng, ám sát các nhân sĩ yêu nước có uy tín với đồng bào nhưng không chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản bắt đầu từ ông Bùi Quang Chiêu, Hồ văn Ngà, Trần Quang Vinh, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn thị Sương (nguyên Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong), nhà báo Diệp văn Kỳ, luật sư Dương văn Giáo…
• Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bị tên Việt gian Bửu Vinh, cán bộ Việt Minh mưu sát tại làng Tân Phú (tức Đốc Vàng Hạ) vào ngày 16/4/1947 theo kế hoạch của Hồ Chí Minh vì chủ trương đấu tranh bất bạo động của Đức Huỳnh Giáo Chủ động viên hơn 4 triệu người Việt Quốc Gia yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giai cấp…hưởng ứng nhiệt liệt, và “Chủ nghĩa Quốc Gia” trở thành một thách đố gay gắt với chủ trương của Hồ Chí Minh là núp dưới chiêu bài “Giải phóng Dân Tộc” để thực hiện “Chủ nghĩa Cộng sản” trên toàn cõi Đông Dương theo lệnh của Đệ Tam QTCS. HCM đã nhờ ai đó viết trên báo L’HUMANITÉ rằng: “Le nationalisme était si on ne le controlait pas, un dangeureux phénomène risquant de menacer l’expansion du communisme dans les colonies” (Chủ nghĩa Quốc gia nếu không bị khống chế thì sẽ là một hiện tượng nguy hại cho sự phát triển Chủ nghĩa Cộng sản ở các xứ thuộc địa).
• Hồ Chí Minh đã hiện nguyên hình là con chó săn cho thực dân Pháp, khi bán đứng cụ PHAN BỘI CHÂU cho thực dân Pháp tại Thượng Hải vào tháng 6/1925, với giá 10 vạn đồng để tiêu diệt VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI. Theo lệnh của Hồ Chí Minh, cán bộ Đảng Cộng Sản Đông Dương đã rãi truyền đơn tố cáo cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa của VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG do Lãnh Tụ NGUYỄN THÁI HỌC đề xướng vào tháng 2/1930.
Ngoại trừ, những tên trí thức thiên tả bẻ cong lịch sử theo đơn đặt hàng của bọn đầu gấu Bắc Bộ Phủ, còn những nhà viết sử chân chính đều đi đến kết luận rằng: Nếu Hồ Chí Minh và Đảng CSVN không làm tay sai, lính đánh thuê cho Trung Cộng và Liên Xô thì Việt Nam đã không có cuộc chiến kéo dài 30 năm hoàn toàn vô ích, Việt Nam đã độc lập thực sự vào cuối thập niên 1940 và đã trở thành con rồng của Á Châu.
Ngày 16 tháng 6 năm 1997, Hà Nội tổng kết cuộc chiến kéo dài 30 năm và Thông Tấn Xã nhà nước CSVN công bố như sau: 3.000.000 người Việt Nam thiệt mạng, 4.400.000 bị thương và 2.000.000 người bị nhiễm các chất độc hóa học. Mười năm sau 1975, có gần 5.000.000 trẻ em dị dạng vì hậu quả của chiến tranh. Những con số thương vong to lớn nầy, tự nó đã vạch trần sự thật về sự tuyên truyền khoác lác về kỳ tích chiến thắng ba đế quốc sừng sỏ NHẬT – PHÁP – MỸ do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN lãnh đạo.
Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, phong trào giải đế, bài thực trở thành xu hướng chung của nhân loại. Lần lượt các quốc gia thuộc địa cũ của các đế quốc đều được trao trả nền độc lập mà không cần dùng đến hình thức “chiến tranh giải phóng dân tộc” do Hồ và Đảng CSVN lãnh đạo tại Việt Nam, vì nó sẽ gây đổ máu, nhiều chết chóc, tang thương, đổ nát vô ích, không cần thiết cho đất nước của họ.
• Tại Á CHÂU: Các thuộc của Anh, Pháp, Hòa Lan… đều lần lượt thu hồi nền độc lập như Ấn Độ (1947), Miến Điện (1948), Tích Lan (1948), Phi Luật Tân (1946), Nam Dương (1949), Mã Lai (1957), Singapore (1959)…
• Tại PHI CHÂU: Có khoảng 30 quốc gia đều trở thành độc lập như Algérie, Maroc, Tunisie…
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Việt Nam được ký kết: từ vĩ tuyến 17 là ranh giới chia đôi đất nước. Trên một triệu người Việt Nam từ miền Bắc di cư vào Nam, họ đã bỏ phiếu bằng chân để lựa chọn chế độ “Tự Do & Dân Chủ” của miền Nam. Hiệp Định Genève ra đời là do CSVN cấu kết với thực dân Pháp, còn phái đoàn Việt Nam Quốc Gia và Hoa Kỳ không ký tên vào Hiệp định nầy.
Tại Miền Bắc XHCN, chánh phủ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA do Hồ Chí Minh lãnh đạo, luôn rống gân cổ kêu gào, động viên nhân dân miền Bắc XHCN tiếp tục hy sinh sức người, sức của “ĐÁNH CHO MỸ CÚT – NGỤY NHÀO” để làm gì? Đây là những lý do:
Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là ngày Quốc Khánh, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA do Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ VNCH do ông lãnh đạo được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập ngoại giao và được gia nhập vào Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Yếu tố “Chính Danh” nầy đã làm cho Hồ Chí Minh tức tối.. Hồ điên cuồng ra lệnh cho bọn cán bộ VC nằm vùng (từ 3 đến 5.000) được cài ở lại trong miền Nam trước khi tập kết ra Bắc, bắt đầu hoạt động khủng bố, ám sát, bắt cóc… các viên chức chánh phủ để tạo nên tình trạng bất ổn trong dân chúng; vì thế, chánh phủ VNCH đã ban hành sắc luật “Đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật.”.
Còn cái là “MTGPMNVN” qua “Liên Minh Dân Chủ” rồi đến “Chánh phủ Lâm Thời Cộng Hòa MNVN”. Cả 3 tổ chức trá hình nầy không đại diện cho một ai cả, nó chỉ là công cụ, tay sai do bọn CSVN dựng lên để lừa bịp dư luận trong nước và thế giới và nó bịp luôn bọn trí thức ngây thơ ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng sản: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình Thảo, Trương Như Tảng, Ngô Bá Thành, Dương Quỳnh Hoa, Mã thị Chu…
Sau khi cưỡng chiếm MNVN, cái gọi là CPLTCHMNVN chỉ tồn tại một thời gian ngắn rồi bị tập đoàn Lãnh đạo Đảng CSVN xóa sổ ngay.
Núp dưới chiêu bài “Chiến tranh Giải Phóng Dân Tộc” và “Chống Mỹ Cứu Nước” để phát động “CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC MIỀN NAM”. Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã nhìn mục tiêu “ĐỘC LẬP QUỐC GIA” chỉ là một chặng đường trên lộ trình vô sản hóa thế giới. Lòng nhiệt tình yêu nước của dân tộc Việt Nam bị Hồ Chí Minh lợi dụng, khai thác triệt để phục vụ cho âm mưu bành trướng lãnh thổ của Đệ Tam QTCS.
Rút kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, Trung Cộng điều động cả triệu quân chí nguyện trang bị vũ khí hiện đại, ào ạt vượt qua sông Áp Lục (Yalu river) đối đầu trực tiếp với quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh và chiếm được Hán Thành (Seoul) ngày 4/1/1951. Nhưng đến ngày 14/3/1951, Hán Thành được quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh tái chiếm lại, chí nguyện quân Trung Cộng bị tổn thất nặng nề, phải bỏ chạy về đến tận sát biên giới Trung – Hàn.
Vì vậy, trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần nầy, ngoài việc tranh giành uy thế lãnh đạo trong khối Đệ Tam QTCS với Liên Xô, Trung Cộng cung cấp, yểm trợ các loại chiến cụ, quân trang, quân dụng… to lớn cho Hà Nội với hình thức bán chịu, lên đến 20 tỉ USD , và điều động 327.000 quân tới Bắc Việt Nam chỉ làm nhiệm vụ “giữ nhà” để quân CSBV rảnh tay, dồn hết quân nổ lực xâm lược Miền Nam Việt Nam. Bọn Trung Nam Hải vô cùng thâm độc trong quyết tâm: “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG!” và “DÙNG NGƯỜI VIỆT GIẾT NGƯỜI VIỆT”. Tên Việt Gian Hồ Chí Minh và Đảng CSVN chết tiệt đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh niên Việt Nam để phục vụ cho tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Cộng.
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, khi Trung Cộng ngang ngược tuyên bố lãnh hải “Lưỡi rồng” chạy dọc bờ biển VN xuống Nam Dương, rồi vòng lên phía Đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả các đảo ở Biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Để đền ơn bọn lãnh đạo Trung Nam Hải cho mua chịu 20 tỉ USD vũ khí, bom đạn…để giết người Việt Quốc Gia. Hồ đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm văn Đồng nhân danh chánh phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Trung Cộng là Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Nếu chiếu theo “ĐIỀU 73 LÊ TRIỀU HÌNH LUẬT” thì cái tội phản bội Tổ Quốc của Hồ Chí Minh bằng cách cấu kết với ngoại bang, xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, tên Hồ Chí Minh phải bị bêu đầu là gương: “CHƯ MẠI BIÊN CƯƠNG ĐIỀN THỔ DỮ NGOẠI QUỐC NHƠN TRẢM” (Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị chém).
Ý đồ của Trung Cộng là muốn Hà Nội dùng chiến tranh du kích, trường kỳ kháng chiến để kéo dài cuộc chiến tranh làm cho Việt Nam kiệt quệ hoàn toàn, từ đó dễ bề thôn tính Việt Nam để làm bàn đạp, bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, làm chủ tình hình biển Đông, nuốt chững quần đảo HOÀNG SA trước, vói tay xuống TRƯỜNG SA sau nầy.
Nếu Hồ Chí Minh và tập đoàn Lãnh đạo Đảng CSVN không cam tâm làm tay sai và lính đánh thuê cho Liên Xô và Trung Cộng quyết tâm nhuộm đỏ MNVN trước, để làm bàn đạp bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á Châu, trực tiếp đe dọa đến chiến lược sinh tồn của Mỹ, Anh Quốc và khối Anglo Saxons ở Úc và New Zeland thì Hoa Kỳ và đồng minh đã không đổ quân vào MNVN để giúp chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa be bờ, ngăn chận làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn xuống MNVN và các nước ĐNÁ theo học thuyết DOMINO. Đây là cuộc “CHIẾN TRANH VIỆT NAM” do Hồ Chí Minh và Đảng CSVN gây ra theo lệnh của Đệ Tam QTCS…
CARL SCHMITT đã nói rất đúng: “Một dân tộc có sinh mệnh chính trị thật sự, khi nào tự nó với cái nhu yếu sống còn mà nhận thức ai là kẻ thù, tùy theo tình trạng thực tiễn mà nó phải đương đầu. Nếu dân tộc ấy phải chấp nhận kẻ thù do một thế lực ngoại bang chỉ định phải chiến đấu hay không chiến đấu thì dân tộc ấy không còn là một dân tộc còn quyền tự do chính trị nữa. Nó đã bị cuốn hút vào một hệ thống chính trị khác rồi.”
*
Cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức gọi Hồ Chí Minh là kẻ vô học, có lẽ vô học nhất trong hàng ngũ lãnh tụ trên thế giới. Nhưng gian manh, đểu cáng, tàn bạo; có lẽ, vào bậc nhất trên thế giới. Từ vô học đến đểu cáng vô nhân đạo, vô ơn, bạc tình bạc nghĩa không xa. Tôi (cụ Chức) muốn nói đến vụ y đối xử với những người đàn bà đã hiến thân cho y, hoặc đã cưu mang y.
Vụ nàng Nguyễn Thị Xuân – hiến trinh cho y, và có con với y, bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp cực kỳ dã man nhiều lần, rồi sau đó bị giết thê thảm – đã không thể xảy ra, nếu không có sự đồng tình mặc nhiên của Hồ Chí Minh.
Cụ Chức đánh giá về HCM không sai! Vào thập niên 1950, có lần HCM đứng trước ảnh của hung thần Staline và Mao, rồi nói với Phạm văn Đồng rằng: “Bác là người có khuyết điểm, chớ hai vị nầy là người trong suốt như pha lê, hoàn toàn không có tì vết. Vậy, chúng ta hãy lấy tư tưởng của người đưa vào Hiến pháp làm nền tảng chỉ đạo”.
André Gide lập lại ngôn từ của Thoreau, dùng để đánh giá HCM trong trường hợp nầy rất chính xác: “The worst thing is being the slave dealer of one’s soul.” (Cái tồi tệ nhất là tự thỏa thuận nô lệ trong tâm hồn con người.)
*
Nhưng, thưa cụ VIP KK Nguyễn văn Chức, cụ gọi Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ” là cụ vô tình xúc phạm đến “DANH DỰ LOẠI CHÓ” rồi đó cụ ạ! Nếu như, Hồ Chí Minh có được 1/10 phẩm chất của loài chó, có lẽ đất nước Việt Nam đã đi vào một ngả rẽ khác có lợi cho dân tộc VN nhiều hơn.
Loài chó đáng được người ta “vinh danh” hơn là đem loài chó để so sánh với kẻ vô loại, ngu dốt như tên Hồ Chí Minh chẳng hạn. Tôi xin dẫn chứng hai câu chuyện về họ hàng nhà chó để cụ suy gẫm.

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT: (nguồn Ba Cây Trúc ngày 13/1/ 2009 do Bửu Đồng chuyển ngữ).
Trước tòa án ngày 23/9/1870, Luật sư George Graham Vest (1830-1904) đại diện cho thân chủ Burden có con chó săn bị người hàng xóm tên Hornsby bắn chết. Burden thắng kiện và Vest nổi danh, sau đó, trở thành Dân Biểu rồi Nghị sĩ của tiểu bang Missouri.
Con chó tên “OLD DRUM” được nhiều người ngưỡng mộ dù đã chết. Ngày 23/9/1958, tượng Old Drum được đúc bằng đồng đen, dựng trước tòa án của Johnson County ở Warrensburg, tiểu bang Missouri.
Bài diễn văn tuyệt vời của Luật sư Vest đã gây xúc động cho mọi người có mặt trong phiên tòa, còn lưu lại tới ngày hôm nay. Nhà bỉnh bút William Safire và báo The New York Times đã chọn bài “TRIBUTE TO DOGS” (Vinh danh loài chó) của Luật sư Vest là bài diễn văn hay nhất “THIÊN NIÊN KỶ”.
Thưa Quý vị Bồi Thẩm.
Người bạn tốt nhất mà ta có được trên thế gian nầy, một ngày nào đó có thể quay lại chống ta và trở thành kẻ thù.
Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình thương bao la vô hạn, rốt cuộc có thể là những kẻ bội bạc, vô ơn.
Những người kề cận, thân thiết ta nhất, những người mà ta phó thác hạnh phúc và danh dự, có thể trở thành kẻ phản bội, phụ lòng tin yêu.
Tiền bạc mà ta có được rồi sẽ mất đi. Nó biến mất đúng lúc ta cần nó nhất.
Tiếng tăm ta xây đấp bấy lâu cũng có thể tiêu tan trong giây phút bởi một hành động điên rồ.
Những người phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta thất thế, sa cơ…
Duy chỉ có một con vật là bạn, vâng chỉ một, hoàn toàn không vụ lợi mà con người có thể có được trên thế gian đầy ích kỷ nầy, một con vật không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở với ta…đó là con chó của ta!
Con chó của ta luôn luôn ở cạnh bên ta khi thịnh vượng cũng như lúc cơ bần, khi khỏe mạnh cũng như lúc yếu đau.
Nó ngủ trên nền đất lạnh, dù gió đông thổi siết hay bão tuyết lấp vùi; miễn sao, nó được kề cận bên chủ là được.
Nó vẫn trìu mến hôn bàn tay ta, dù ta không còn thức ăn gì cho nó.
Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy mà ta lãnh chịu khi đương đầu với cuộc đời nhiều gay góc này.
Nó canh gác giấc ngủ cho ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta chỉ là một gã hành khất ăn xin.
Nó vẫn ở lại bên ta, khi tất cả bạn bè khác đã bỏ ta mà xa chạy cao bay.
Dù khi tán gia bại sản, thân bại danh liệt, ta vẫn còn có con chó trung thành. Tình thương yêu nó dành cho ta không dời đổi như vầng thái dương rực sáng trên bầu trời mênh mông.
Nếu chẳng may số phận nghiệt ngã, đá ta ra bên vĩa hè xã hội, không bạn bè, vô gia cư…thì con chó trung thành chỉ xin ta ân huệ…không gì khác hơn là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù.
Và khi trò đời dâu bể hạ màn, thần chết đến gõ cửa rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh thì khi ấy, khi tất cả bạn bè quyến thuộc đã phủi tay, quay mặt đi để tiếp tục sống cuộc đời của họ. Vâng, khi ấy, bên nắm mộ ta vẫn còn con chó nằm phủ phục, gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thật ngay cả khi ta đã qua đời…
GEORGE GRAHAM VEST

CÂU CHUYỆN THỨ HAI (nguồn Diễn đàn Portland ngày 27/1/ 2011, Linh Phạm đưa tin.)
Trong nhiều ngày liền, chú chó Leao ở Brazil nằm phục trước mộ của chủ nhân và chú nhất định không chịu rời đi, dù đội cứu hộ đã đưa Leao đi cách xa nghĩa trang hàng chục cây số.
Theo trang Albu Express, chủ nhân của Leao là cô Cristina Maria Cesario Santana, bị thiệt mạng trong trận lụt ở Brazil cuối tuần trước. Cô được chôn cất ở nghĩa trang Teresopolis, thủ đô Rio de Janeiro, Brazil.
Chú chó Leao cũng chứng kiến cảnh chôn cất chủ nhân mình và từ đó, chú luôn nằm trước mộ của Cristina để canh gác.
Leao không ăn uống và cũng không đi đâu nửa bước trong suốt ba ngày liền.. Đội cứu hộ gần đó đã tìm cách đưa chú về một trại nuôi chó hoang. Nhưng, chỉ một tiếng sau, Leao lại trốn thoát và tìm về đúng ngôi mộ của Cristina. Phóng viên của nhiều tờ báo đưa tin về con chó trung thành này và bức ảnh Leao nằm phục trước mộ chủ đã được lan truyền trên mạng, nó đã làm xúc động con tim hàng triệu người trên thế giới.
Qua bài diễn văn tuyệt vời của Luật sư George Graham Vest: “TRIBUTE TO DOGS” (Vinh danh loài chó), tôi không biết cụ VIP KK Nguyễn Văn Chức suy nghĩ như thế nào mà gọi tên Hồ Chí Minh là “TÊN CHÓ ĐẺ”? Cụ Chức đặt “Bác Hồ” ngang hàng với loài chó là cụ vô tình đã sỉ nhục và xúc phạm tới danh dự họ hàng nhà chó rồi đó …
Kẻ hậu bối xin kính chào cụ VIP KK Nguyễn văn Chức.

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

//

-“Một nước Việt ở ngoài dải đất hình chữ S” – Nguyễn Lương Tuyền M.D.

Người Việt hải ngoại và viễn ảnh một nước Việt thứ hai tại hải ngoại, ở ngoài dải đất hình chữ S

Biến cố tháng 4 năm 1975 đã khiến hàng triệu, triệu người dân Việt phải rời quê hương để trốn chạy chế độ Cộng Sản, sống ở hầu như khắp mọi nơi trên thế giới tự do. Cuộc chiến do người CSVN gây ra đã khiến hơn 3 triệu người Việt bị chết. Sau ngày 30/4/1975, người Việt vẫn tiếp tục ra đi, từ chối sống dưới chế độ độc tài Cộng Sản. Đó cũng là một hình thức phủ nhận sự hiện hữu của chế độ phi nhân, man rợ này ở quê hương. Cho tới những năm đầu thập niên 80, số người vượt biên, vượt biển giảm dần dần. Hàng trăm, trăm ngàn người đã bỏ mình trên đường vượt biên. Thảm cảnh vượt biên – Boat People – đã làm rúng động lương tâm nhân loại.
Một trong những thống kê đầu tiên nói về Người Việt Tỵ nạn CS là thống kê năm 2001. Theo thống kê này, vào thời điểm đó có từ 2 tới 3 triệu người Việt tỵ nạn CS định cư tại các nước tự do. Họ định cư rải rác tại nhiều quốc gia tự do. Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Anh Pháp… là những quốc gia nhận nhiều người tỵ nạn CS định cư.
Một vài cuốn sách viết về người Việt tỵ nạn CS – rất hiếm hoi – là cuốn Giá Tự Do với ấn bản tiếng Anh được xuất bản năm 2014 bởi Nhà Xuất Bản Truyền Thông. Tác giả là Ông Lâm Vĩnh Bình tức ông Lâm Văn Bé. Ông Lâm là một giới chức cao cấp trong ngành Giáo Dục của VN Cộng Hòa trước ngày 30/4/1975. Sách đã được tái bản năm 2015. Theo ông Lâm vĩnh Bình, US Bureau of Census làm Thống Kê về Người tỵ nạn Việt Nam mỗi 10 năm. Nhưng giữa 2 lần thống kê chính thức, US Census cũng làm thống kê mỗi 1 năm, mỗi 3 năm và mỗi 5 năm để cập nhật hóa một số dữ kiện.
Theo US Census, năm 2015 tại Hoa Kỳ, có 1.710.547 Người Việt Tỵ nạn CSVN định cư ở Hoa Kỳ. Nếu kể cả các con lai đa chủng, con số này sẽ lên đến 1.928.363 người.
Khi chế độ CS sụp đổ ở Nga, ở Đông Âu, một số lớn các lao động VN được CSVN gửi sang các nước đó làm ‘”lao nô” đã vượt biên giới sang sinh sống tại các nước tự do. Con số này lên đến 1,4 triệu người kể cả các du học sinh. Theo ông Lâm Vĩnh Bình, chúng ta phải phân biệt sự khác nhau giữa Người Việt Tỵ nạn Công Sản và những người này.
Người Việt Hải Ngoại đã rất thành công trong cuộc sống hội nhập mới. Hàng trăm ngàn chuyên viên kỹ thuật rất có khả năng đã và đang đóng góp tích cực vào quê hương thứ hai. Chính Người Việt tỵ nạn CS – (bọn đĩ điếm trốn nợ quê hương theo giọng điệu của Cộng Sản Việt Nam) – đã cứu nền kinh tế của CSVN khỏi bị sụp đổ vào những năm 80. Cũng chính các “khúc ruột ngàn dậm” (CSVN gọi người tỵ nạn CS bằng ngôn từ mới) đã gửi về VN hơn 12 tỷ Mỹ Kim mỗi năm.
Trước Thế Chiến thứ hai, rất nhiều nước trong đó có VN, bị các đế quốc đô hộ, nên hoàn toàn mất chủ quyền. Hiện nay vẫn còn vài nước bị đô hộ, dân tộc bị đồng hóa, bị diệt chủng.
Các nước hiện còn bị đô hộ, đồng hóa; dân tộc bị tiêu diệt bởi các hình thức đế quốc, thực dân:
Đế quốc Nga đã tan vỡ, các nước trong Liên Bang Sô Viết cũ đã được hoàn toàn độc lập. Các đế quốc khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đã trao trả độc lập cho các thuộc địa cũ. Chỉ còn một đế quốc duy nhất là Trung Cộng. TC đang đô hộ, đồng hóa và diệt chủng từ từ các sắc dân sau đây:
– Tây Tạng: TC chiếm Tây Tạng năm 1952. Văn minh Tây Tạng cũng như các di tích văn hóa của Tây Tạng đều bị TC phá hủy. Ngày 20 tháng 7 năm 2016, TC đã phá hủy Học Viện Larung Gar – một chứng tích của văn minh Tây Tạng -, mặc dù có nhiều sự phản đối cũng như cầu xin đến từ mọi nơi trên thế giới. Trước khi bị TC chiếm, dân số Tây Tạng khoảng 3 triệu người. Hiện nay số người định cư ở Tây Tạng là hơn 7 triệu người, nhưng gồm đa số là người Hán sang định cư. Dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên quê hương của họ.
– Dân tộc Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương: đa số là người Hồi Giáo. Tân Cương trở thành 1 Đặc Khu Tàu từ năm 1826. Hiện nay người Duy Ngô Nhĩ chi còn độ 8,3 triệu. Số còn lại của 21 triệu 8 là người Hán đến định cư ở Tân Cương và một số nhỏ các sắc dân khác.
– Nội Mông Cổ: là Khu Tự Tri thuộc Trung Hoa từ năm 1947.. Dân Nội Mông Cổ bây giờ là dân thiểu số trên chính quê hương của họ: 3 triệu 7 versus 21 triệu 7 sau hơn 70 năm bị người Hán đô hộ.
Tham vọng kế tiếp của TC là biến VN thành một Đặc Khu nằm trong nước Đại Hán. Dân Việt chắc chắn sẽ bị Đại Hán diệt chủng từ từ.
Những dân tộc đang đi tìm một tổ quốc:
Chúng ta đang sống ở đầu thế kỷ thứ 21, nhưng trên thế giới vẫn còn có những dân tộc vẫn đang tìm, trong tuyệt vọng, một giải đất dung thân, để họ gọi là Tổ Quốc như:
* Người Arméniens: khoảng hơn 11 triệu. Họ sống rải rác tại nhiều nước trên thế giới như tại nước Pháp có độ 1/2 triệu người Améniens nhưng đông nhất là tại vùng Russia Armeny (khoảng hơn 3 triệu người).
* Người Kurdes: khoảng 23 triệu. Họ hiện sống ở vùng biên giới phía Bắc của Irak, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ.
* Người Palestine: Hiện nay Do Thái đã trao trả cho người Palestine, giải đất Gaza và vùng West Bank. Tại Gaza có hơn 1 triệu người Palestine định cư trong khi tại vùng West Bank có độ từ 1 đến 2 triệu. Ngoài ra,người Palestine sống rải rác tại nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại… Sau khi có 1 giải đất để làm tổ quốc,các cuộc tấn công của người Palestine nhắm vào người Do Thái đã giảm thiểu rất nhiều.
* Trường hợp dân tộc Do Thái: Lịch sử lập quốc của người Do Thái là một lịch sử đầy máu và nước mắt cũng như những vinh quang. Dân tộc Do Thái bị phát vãng khắp nơi. Hơn 6 triệu người Do Thái định cư ở Âu Châu, đã bị Đức Quốc Xã tàn sát trong thế chiến thứ 2. Quốc gia Do Thái hiện nay được Liên Hiệp Quốc cho thành lập tại Trung Đông vào năm 1948, ngay tại một vùng Đất Thánh của nhiều sắc tộc Ả Rập. Cả nước Israel chỉ rộng độ hơn 20 000km2. (Trước khi mất Ải Nam Quan và mất một giải đất vùng biên giới vào tay Trung Hoa, VN có diện tích 330 000 km2, gấp 17 lần nước Do Thái hiện nay).
Lịch sử tái hồi nước Do Thái được khởi đầu vào năm 1948 khi Liên Hiệp Quốc dành giải đất ngay tại vùng Địa Trung Hải để Dân Do Thái có một tổ quốc. Khối Ả Rập không chấp nhận sự kiện nước Do Thái hiện hữu ở vùng Trung Đông, một vùng đầy dân Ả Rập rất bài Do Thái. Nhiều cuộc đại chiến đã xảy ra giữa Do Thái và khối Ả Rập. Do Thái đã toàn thắng tất cả các trận chiến, đã mở rộng đất đai của nước Israel. Hiện nay dân số của Israel có khoảng dưới 6 triệu nhưng đại đa số người Do Thái sống ở Hoa Kỳ (hơn 6 triệu) Anh, Pháp và Canada và một số nước ở Âu Châu. Người Do Thái rất thông minh, tài giỏi. Họ luôn luôn hỗ trợ rất tích cực quê hương Israel. Người ta có thể nói không ngoa là lực lượng bảo vệ nước Israel hữu hiệu nhất chính là khối người Do Thái sống ở bên ngoài chính quốc. Họ rất thành công: tại Mỹ, Gia Nã Đại… Ban Giảng Huấn tại các Đại Học nổi tiếng có nhiều người Do Thái. Người Do Thái cũng chi phối đời sống chính trị, kinh tế và văn học tại các nước mà họ định cư: Cựu Tổng Thống Pháp Nicolas Sarcozy, Thủ Tướng Pháp (nay là Ngoại Trưởng) Laurent Fabius là người gốc Do Thái. Nhiều người Do Thái được giải thưởng Nobel về mọi lãnh vực nhất là khoa học hơn bất kỳ một sắc dân nào trên thế giới. Độ 160 người Do Thái được giải Nobel kể từ ngày giải thưởng cao quí này được thiết lập (1/5 tổng số giải Nobel được trao tặng), trong khi cả khối người Ả Rập chỉ được trao tặng giải thưởng này có 11 lần.
Dù sống ở bất kỳ ở đâu, họ luôn luôn giữ sắc thái “Do Thái” của họ. Có lẽ tôn giáo, ngôn ngữ, văn tự… là keo sơn thắt chặt người Do Thái ở khắp mọi nơi trên thế giới với nhau.
Trường hợp Việt Nam:
Cũng như dân tộc Do Thái, lịch sử của dân Việt là lịch sử các cuộc chiến để bảo vệ tổ quốc trước dã tâm xâm lấn, rồi đồng hóa của người Tàu ở phương Bắc. Bị Tàu đô hộ, có khi kéo dài hơn 1000 năm, nhưng dân Việt không bị đồng hóa hay nói đúng hơn không đồng hóa được.
Khởi thủy, Tổ Tiên của người Việt – nhóm Bách Việt – cư ngụ ở bên trong nước Tàu, ở vùng Thiểm Tây, Tứ Xuyên, phía Nam sông Dương Tử. Các nhóm Bách Việt bị người Hán đồng hóa. Chỉ còn một nhóm chạy xuống lập nghiệp ở phía Nam, ngay tại châu thổ sông Hồng Ha, là còn tồn tại, không bị đồng hóa. Họ lập ra nước Văn Lang vào khoảng năm 700 trước Công Nguyên. Đó là khởi thủy lập quốc của Việt Nam. Trong quá khứ, Tàu đã đô hộ VN nhiều lần. Lần đô hộ lâu nhất kéo dài hơn 1000 năm nhưng người Tàu không đồng hóa được dân Việt. Tuy vậy văn hóa của Đại Hán đã ảnh hưởng sâu rộng lên dân Việt.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân Việt và ngay cả cho đến ngày nay, ý định xâm lăng, chiếm đóng, để rồi đồng hóa VN, lúc nào cũng ám ảnh người Tàu. Cơ may cho họ đã đến khi Hồ Chí Minh và đảng CSVN cầu cứu Tàu viện trợ về mọi phương diện trong 2 cuộc chiến tranh Đông Dương để áp đặt chế độ Cộng Sản lên dân tộc.
Thực ra “cam kết dâng nước Việt cho TC” đã được Hồ Chí Minh ký bằng “lời hứa danh dự” vào năm 1926 với 2 đại tướng Tàu cộng là Trần Canh, Vi Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông. Khi thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh lại xác định một lần nữa với Thủ Tướng TC Châu Ân Lai: ”Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một nền văn hóa Một phong tục…”
Hồ Chí Minh đâu có ngờ – hay cố tình giả mù, giả điếc – hay không biết đến dã tâm của Tàu, trong lịch sử, từ cổ chí kim: đó là sát nhập VN vào nước Tàu.
Bản đồ Tàu vẽ lại năm 1954 tại Bắc Kinh sau khi Mao Trạch Đông hoàn toàn chiếm cứ nước Tàu, cho thấy TC vẫn coi VN là 1 phần lãnh thổ của Tàu.
Bản đồ “Đại Hán” do Trung cộng vẽ năm 1954 tại Bắc Kinh. Theo TC, nước Tàu bao gồm cả các nước ở Đông Nam Á, Đài Loan, bán đảo Triều Tiên, tất cả Biển Đông.
Sau khi CS sụp đổ ở Nga và tại các nước ở Đông Âu, để sống còn, CSVN bèn quay sang “lạy lục” TC để giao hảo lại. Mối giao tình đã trở nên lạnh nhạt sau cuộc chiến biên giới năm 1979. Nguyễn Văn Linh, người kế vị Lê Duẩn (chết năm 1987) trong chức vụ Tổng Bí thư của đảng CSVN, đã sang TC nhiều lần để bàn bạc với các thủ lãnh của TC như Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang để: “cắt đất, cắt biển để sau cùng sát nhập VN vào Trung Quốc một cách êm ả qua chiến thuật: hòa bình, hữu nghị, chầm chậm, êm ả, kín đáo”.
Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng va Đỗ Mười, đã giấu nhân dân VN để ký với các lãnh tụ TC một Hiệp Ước bán nước tại Thành Đô nên được họ gọi là Hiệp Ước Thành Đô. Nguyễn Văn Linh nổi tiếng với câu nói để đời trong lịch sử của dân tộc Việt: “Tôi biết rằng đi với TQ là mất nước nhưng thà mất nước còn hơn mất Đảng.”
Nội dung của Mật Ước Thành Đô được giữ kín, nhưng các rò rỉ cho thấy việc sát nhập VN vào nước Đại Hán sẽ qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 20 năm kể từ năm 2020.
Trên thực tế, tới giờ phút này (cuối tháng 12/2016), VN đã bị TC hoàn toàn xâm chiếm mà TC không cần nổ một tiếng súng nào:
* Ở vùng biên giới, TC đã chiếm cứ hàng ngàn km2 vùng biên giới. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc… nay thuộc TC.
* Các biển, đảo của VN (quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như toàn Biển Đông đều bị TC chiếm cứ.
* Người Tàu đã có mặt trên toàn cõi VN. Các đặc khu Tàu mọc lên như nấm trên quê hương Việt Nam.
* Bên cạnh sự có mặt đông đảo của người Tàu tại VN, TC còn “bao vây” VN bằng những gọng kìm hiểm độc khiến VN bị bốn bề thọ địch:
– Phía Tây: giòng sông Mekong, huyết mạch của sự sống của cả Miền Nam nước Việt. Họ kiểm soát lưu lượng nước chảy xuống hạ nguồn của giòng sông khiến miền châu thổ của sông Cửu Long ở Miền Nam bị muôn vàn khốn đốn, ảnh hưởng đến sự sống còn của vài chục triệu người dân Việt.
– Biển Đông: bị TC chiếm đóng. Nghề đánh cá cũng như các hoạt động ngư nghiệp khác của ngư dân ở Miền Trung đang bị Hải Quân của TC cản trở. Về phương diện quân sự, Hải Quân TC coi Biển Đông thuộc về TC. Lãnh Hải của VN bị thu hẹp lại, chỉ còn là một giải nước chật hẹp dọc bờ biển Miền Trung.
Trong nội địa của nước Việt: TC đã gần như chiếm toàn cõi nước Việt bằng kinh tế, bằng di dân cũng như tàn phá môi trường quê hương cũng để giết hại người Việt trong ý đồ diệt chủng của họ bằng các chất độc. Điển hình là vụ Formosa ở Hà Tĩnh đã khiến biển Miền TRung bị triền miên nhiễm độc. 90% các dịch vụ đấu thầu đều rơi vào tay các nhà thầu TC. Người ta thấy đầy chất độc trong các thực phẩm, các dụng cụ, đồ dùng hàng ngày nhập cảng từ TC. Vụ Formosa là một trong muôn vàn thí dụ TC đang tàn phá môi trường của sự sống ở VN.
Tóm lại cả dân tộc Việt đang bị đầu độc để rồi bị tiêu diệt từ từ bởi Trung cộng. Người ta tin rằng TC có cả một chiến dịch để tiêu diệt dòng giống Lạc Hồng như họ đã và đang thi hành ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông… Dân số 90 triệu của VN sẽ còn lại độ bao nhiêu sau vài chục năm Hán thuộc?
Việt Nam ngày nay: sau gần 1 thế kỷ Xã Hội Chủ Nghĩa
Hai cuộc chiến tranh tàn hại trên nước VN do Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra chỉ để nhuộm đỏ toàn nước Việt theo lệnh của CS Quốc Tế. Đó không phải là cuộc chiến tranh giải phóng như CSVN thường tuyên truyền. Hậu quả của 2 cuộc chiến đó là:
* Khoảng trên dưới 3 triệu người bị thiệt mạng;
* Quê hương bị tàn phá, tan nát không bút nào tả xiết vì “chiến tranh giải phóng” của CSVN;
* Người Việt bỏ xứ ra đi. Các hiểm nguy trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do không làm họ sờn lòng. Hàng triệu người đã bỏ mạng trên đường vượt thoát chế độ CS bất nhân, bạo tàn. Bi hùng ca “vượt biên, vượt biển” đã kéo dài hàng chục năm nhất là 5-6 năm đầu sau ngày định mạng 30/4/1975. Trong lịch sử của dân tộc, chưa bao giờ người dân lại phải bỏ quê hương, đi tha phương cầu thực đông như vậy, mặc dù quê hương đã im tiếng súng. Hàng triệu, triệu người đã chết tức tưởi trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, rời bỏ “thiên đường” Cộng Sản. Hàng triệu, triệu gia đình tan nát, chia lìa… vì cuộc chiến – một cuộc chiến vô ích, không cần thiết chỉ nhằm thiết lập một chế độ man rợ, đi ngược lại lương tâm con người bình thường.
* Năm 1975, ngay sau khi chiếm được Miền Nam, CSVN đã hành xử như những quân ăn cướp, thổ phỉ đến từ một nước ngoại quốc. Họ đã ăn cướp bằng đủ loại chiến dịch như đổi tiền, đánh tư sản, tịch thu các cơ sở thương mại kỹ nghệ của Miền Nam… Quân CS đến từ Miền Bắc quả là những tên ăn cướp, như những tên thổ phỉ đang bị đói, thiếu ăn, đến từ một nước khác. Quả thực “cuộc giải phóng” miền Nam của quân Bắc Việt Cộng Sản quả là một cuộc xâm lăng theo đúng nghĩa của 2 chữ này. CSVN đã lập ra những nhà tù trên khắp nước để cầm tù khổ sai trên 1 triệu Quân, Cán, Chính của Miền Nam.
* Văn hóa CS đã được Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông ta xâm nhập bằng võ lực sắt máu để bắt người dân phải theo. Đó là một nền văn hóa của nói dối, của lường gạt, chỉ tạo ra những kẻ ăn cắp ăn cướp giết người không gớm tay. Tất cả chỉ để tận diệt một nền văn hóa tiến bộ dung hòa giữa văn hóa Tây Phương và văn hóa cổ truyền của dân Việt.
* Hậu quả của gần 100 năm dưới chế độ CS,, xã hội VN là xã hội của ăn cắp, ăn cướp: ăn cắp từ trên xuống dưới. Quan lớn CS ăn cắp lớn, quan nhỏ ăn cắp nhỏ. Người Việt “nổi tiếng” ăn cắp trên thế giới vì khi ra ngoại quốc hay đi ăn cắp. Ngày nào các cơ quan truyền thông cũng loan tin các vụ ăn cắp, ăn cướp, các hành động cướp của giết người không gớm tay cũng như các vụ đâm chém nhau hàng loạt hầu như xảy ra mỗi ngày. Con người trở nên hoàn toàn vô cảm trước các tệ đoan xã hội, vô cảm hơn bao giờ hết. Vô cảm ngay đối với đại họa mất nước đang từ từ xảy ra cho quê hương. CSVN đang hủy hoại hoàn toàn không thương tiếc đất nước yêu quí này.
* CSVN, với lực lượng Công An, Cảnh Sát khổng lồ đang bắt cả dân tộc làm con tin cho chủ nghĩa Cộng Sản. Người dân bị cấm đoán, không được nói lên tiếng nói yêu quê hương của mình. Nền giáo dục, Y Tế đang bị hoàn toàn phá sản. Trong khi đó CSVN cố ru ngủ dân chúng bằng các chương trình văn nghệ giải trí, ăn chơi. Một số văn nghệ sĩ ở hải ngoại, đã tạm quên hay cố quên hẳn những ngày vượt biên, vượt biển đầy gian lao, quên cái quá khứ tỵ nạn, để về VN tiếp tay cho CS để tiếp tục hành hạ dân tộc.
Người Việt tại Hải Ngoại: nguồn hy vọng độc nhất cho dân tộc Việt
Khối người Việt tại Hải ngoại đã rất thành công trong non một nửa thế kỷ. Khả năng kinh tế, tài chánh của 3 triệu Việt Kiều (theo Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc kiêm Ủy Viên Bộ Chính Trị Nguyễn Thiện Nhân thì con số người Việt sống ở nước ngoài lên đến 4 triệu rưỡi) hơn hẳn khả năng kinh tế của hơn 90 triệu người tại quê hương VN. Số lượng các chuyên viên kỹ thuật, tài chánh v.v… có thừa khả năng thay thế đảng CSVN để điều khiển cả quốc gia với hơn 90 triệu người như VN hiện nay. Người Việt Tỵ nạn CS đã thành công trong mọi lãnh vực, hòa nhịp vào đời sống của xã hội mà họ được nhận vào định cư. Hoa mắt trước những thành công của Người Việt Hải Ngoại, chóa mắt vì những “đồng dollars” của “bọn đĩ điếm, bọn trốn nợ quê hương của ngày nào”, CSVN bèn đổi ngay thái độ, chuyển sang ve vãn những người đã từng là nạn nhân của cộng sản, bằng tất cả các “mỹ từ” để gọi các người đã bị “các đồng chí” làm cho khốn khổ khi còn ở quê nhà.
Khối người Việt hải ngoại là nguồn hy vọng:
– Cho sự sống còn của dòng giống Lạc Hồng.
– Cho việc duy trì và phát triển văn hóa của giống nòi Việt. Trong khi đó tại quê nhà, văn hóa cổ truyền của dân Việt từ ngàn xưa bị Cộng Sản Việt Nam thay thế dần dần bằng văn hóa Mác Xít – Lênin, văn hóa của nói dối, lường gạt, văn hóa của ăn cắp.
– Cho sự sống còn của quê hương trước sự xâm lăng của người Tàu từ phương Bắc. Các người cầm đầu của đảng CSVN đang hiến dâng quê hương cho kẻ thù truyền kiếp. Mọi biểu lộ công khai lòng yêu nước đều bị CSVN cấm đoán, đàn áp dã man. Ngay từ những ngày bắt đầu cuộc sống ly hương chạy trốn chế độ Cộng Sản, người Việt, được định cư tai các nước tự do trên quả địa cầu, đã tìm về sống gần bên nhau, những mong tìm được hơi ấm của tình đồng hương. Hô lập ra các Cộng Đồng Người Việt. Tại rất nhiều nơi, với sự giúp đỡ của các chính quyền sở tại, các Cộng Đồng Người Việt với lá cờ vàng ba sọc đỏ được chính thức nhìn nhận là các đại diện cho tập thể người Việt Quốc Gia, không Cộng Sản. Tại bất kỳ ở đâu, một ban đại diện của cộng đồng được thành lập một cách dân chủ tự do. Nhiệm vụ của các người lãnh đạo cộng đồng là giúp các đồng bào ổn định cuộc sống đồng thời duy trì và phát triển cộng đồng, gìn giữ và phát triển nền văn hóa dân tộc. CSVN tìm mọi cách xâm nhập các cộng đồng người Việt ở Hải Ngoại để phá hoại nhưng cho tới bây giờ họ vẫn không thành công. Trong số hàng trăm tổ chức cộng đồng Việt ở hải ngoại, không có một tổ chức cộng đồng nào trở thành một cộng đồng thân Cộng hay có những hành động cổ động cho chế độ phi nhân cộng sản. Các nhân vật CS đặt chân tới các cộng đồng hải ngoại đều bị đồng bào tẩy chay. Thậm chí tại nhiều nơi có đông đảo người gốc Việt định cư, các thành phần CS còn bị cấm cửa, không cho đặt chân tới.
Các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản đã thành lập ra một nước Việt thứ hai ở ngoài giải đất hình chữ S. Giải đất này đang dần dần mất vào tay ngoại bang với sự tiếp tay đắc lực của CSVN.
Để tạo thành một quốc gia, ta cần nhiều yếu tố như: lãnh thổ, dân tộc, một chính quyền… Ngoài ra yếu tố văn hóa cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng. Người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở Hải Ngoại có đầy đủ những yếu tố này để tạo thành một nước Việt Nam khác, hoàn toàn ở Hải Ngoại.
Lãnh thổ: Hiện nay với các phương tiện giao thông hiện đại, các phương tiện thông tin cực kỳ tối tân, con người đã có mạt tại khắp mọi nơi. Biên giới quốc gia bị thu nhỏ lại. Ta có quyền gọi một nơi nào đó trên thế giới là lãnh thổ của dân Việt bất cứ nơi nào có Cộng Đồng Việt sinh sống.
Dân tộc: Bất cứ một cộng đồng Việt tỵ nạn CS trên thế giới cũng là một phần của dân tộc. Thật đúng như người CSVN đang rêu rao: người tỵ nạn là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt. Không ngờ người CSVN lại đồng thuận với “một” quan niệm, một cái nhìn về nước Việt của Người Việt Quốc Gia về quê hương.
Chính quyền: Tại các cộng đồng Việt tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới, những người lãnh đạo của cộng đồng chính là một hình thức chính quyền. Chính quyền này được bầu ra một cách hết sức dân chủ. Chính quyền này được dân chúng bầu ra để thực sự phục vụ cộng đồng. Không phải một loại “chính quyền” của đảng CS, được đảng CS đặt ra, theo kiểu đảng cử dân bầu – không qua một cuộc bầu cử dân chủ và công bằng tối thiểu nào.
Các cộng đồng người Việt di tản tại hải ngoại càng ngày càng vững vàng và hùng mạnh đầy khả năng, an cư lạc nghiệp trong một xã hội mới. Giai đoạn an cư lạc nghiệp của người Việt hải ngoại chỉ trong vài chục năm, đã thành công rực rỡ trên mọi lãnh vực của đời sống, ngay cả trong lãnh vực chính trị, khiến người CSVN vô cùng thèm muốn, pha lẫn ganh tị.
Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn của phát triển và hội nhập hoàn toàn. Hơn lúc nào hết, vì tương lai của sự sống còn của dòng giống Việt, tương lai của văn hóa của dòng giống Lạc Hồng, các cộng đồng Việt tại khắp nơi trên thế giới sẽ phải hướng các hoạt động của tập thể Việt vào các lãnh vực này. Nước Việt ở ngoài quê hương ở bán đảo Đông Dương sẽ là một nước hùng mạnh, có khả năng lấy lại quê hương đang bị CSVN và CS Trung Quốc giày xéo.
Khối người Việt tỵ nạn cộng sản ở ngoài nước Việt đã hình thành một Tổ Quốc Việt Nam hùng mạnh, đầy khả năng trong khi quê cũ đang bị mất dần về tay Trung Cộng với sự đồng lõa của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Người Việt Hải Ngoại đã thành công, bảo vệ lý tưởng quốc gia tại bất cứ nơi nào họ lập nghiệp. CSVN không thể xâm nhập vào các cộng đồng Việt để phá hoại. Một vài hoạt động chống CS đã gây được tiếng vang không những trong tập thể Người Việt tại khắp mọi nơi trên thế giới mà còn đạt được sự ngưỡng mộ và thán phục tại nhiều quốc gia có người Việt tỵ nạn CS lập nghiệp như:
– Phá vỡ huyền thoại Hồ Chí Minh khiến y không được Liên Hiệp Quốc vinh danh là vĩ nhân của thế giới;
– Ngày 11/5 mỗi năm được Quốc Hội Hoa Kỳ xác định là Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam;
– Cờ vàng ba sọc đỏ đã được nhiều Tiểu Bang của Hoa Kỳ, Gia Nã Đại… công nhận là cờ của tập thể người Việt tỵ nạn Cộng Sản;
– Nhiều nơi ở Hoa Kỳ đã cấm nhân viên CSVN đặt chân tới cũng như mọi hình thức tuyên truyền như cờ đỏ đều bị cấm bằng các đạo luật do Quốc Hội sở tại ban hành;
– Nhiều người Việt trở thành Quan Toàn Quyền, Bộ Trưởng, Nghị Sĩ, các khoa học gia tại các đại học nổi tiếng. Nhiều tướng, tá gốc Việt đã và đang chiến đấu trong Quân Đội Hoa Kỳ, Quân Đội Úc, Quân Đội Gia Nã Đại…
Nhiệm vụ của mỗi Người Việt tỵ nạn CS là phải tiếp nối những người đi trước trong công cuộc bảo vệ, duy trì dòng giống Việt. Chỉ có nước Việt tại Hải Ngoại mới có khả năng, ý chí cũng như khát vọng bảo tồn và phát huy văn hóa Việt, một nền văn hóa đang bị CS tiêu diệt để giúp ngoại bang mau chóng đô hộ quê hương, diệt chủng giống Lạc Hồng.
Phát triển bền vững cộng đồng để tạo nên sức mạnh cần thiết cho việc quang phục quê hương để giải cứu giống nòi.
CSVN đã tàn phá quê hương, giết người hàng loạt trong vòng gần 100 năm để rồi họ dâng đất nước cho ngoại bang ở phương Bắc. Cuộc diệt chủng nhắm vào người Việt của TC đã và đang được tiến hành (như họ đã và đang làm tại Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông Cổ). CSVN đã làm tê liệt sức đối kháng, làm thui chột lòng yêu nước của toàn dân ở trong nước. Chỉ còn Người Việt ở Hải Ngoại là nguồn hy vọng độc nhứt của giống nòi. Cuộc quang phục cứu quê hương, cứu dòng giống Lạc Hồng mới chỉ được bắt đầu. Xin mời bạn.
05.01.2017

Hồ Chí Minh & đảng Việt gian CSVN….tai họa của dân tộc!

 Hồ Chí Minh & đảng Việt gian CSVN

Tai hoạ lớn nhất cho nhân dân VN !  Kẻ thù lớn nhất của dân tộc VN !

* LS. Nguyễn Văn Chức

Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.
Tôi viết tặng những thế hệ mai sau. Và tri ân thầy mẹ tôi : Phêrô Nguyễn Thiều Quang, Maria Nguyễn Thị Sinh.Sách vở về Hồ Chí Minh có nhiều lắm. Do Việt Cộng viết. Dốt nát, bịp bợm, và làm trò hề.
Một số học giả ngoại quốc cũng viết, nhưng hầu hết viết sai, viết gian, và đầy mặc cảm.

Dưới đây là tiểu sử Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, do tôi viết. Ngắn, và dựa trên tài liệu, sự việc.

 

  • Chương Một
Nguyễn Sinh Cung ; Thời Thơ Ấu & Niên Thiếu ; Đói Khổ, Thất Học
Hồ Chí Minh sinh năm nào ? Sử sách Việt Cộng viết : 1890.
Hồ Chí Minh sinh ngày nào ? Sử sách Việt Cộng viết : ngày 19/05.

Chúng ta hãy nghe :

“Tháng 05/1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội Nghị Trung Ương đảng CS Đông Dương lần thứ Tám. Theo quyết định của hội nghị này, thì ngày 19/05/1941 Mặt Trận Việt Minh chính thức được thành lập. Như vậy là ngày sinh và tháng sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trùng với ngày thành lập của Mặt Trận Việt Minh”. (Hồ Chí Minh, Giải Phóng Dân Tộc Và Đổi Mới. Nxb Hà Nội,1977, trang 40).

Đúng là logic Việt Cộng. Thứ logic đồng hóa bệnh ỉa chảy với cái lỗ đít.

Rất may, lịch sử còn đó.

Ngày 06/03/1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ, chấp nhận cho Pháp mang quân ra đóng ở Bắc Việt.

Chủ Nhật 19/05/1946 Đô Đốc D’Argenlieu của Pháp đến Hà Nội. D’Argenlieu đã được đón rước cực kỳ long trọng. Hà Nội hôm đó tràn ngập cờ đỏ sao vàng.

Tại sao Hà Nội lại treo cờ đỏ sao vàng để đón rước giặc Pháp ? Xin thưa : Hà Nội treo cờ đỏ sao vàng không phải để đón rước giặc Pháp, mà để mừng sinh nhật của Bác. Bởi vì : trước đó hai ngày, ngày 17/05, đài phát thanh Hà Nội đã chính thức công bố ngày 19/05 là sinh nhật của Bác, đồng thời kêu gọi dân chúng hãy treo cờ trong ba ngày (từ ngày 17 đến ngày 20), để mừng sinh nhật của Bác.

Bác đây là Hồ Chí Minh.

Nói tóm lại, ngày 19/05 là ngày Hồ Chí Minh rước giặc Pháp vào Hà Nội. Và để lừa bịp dân chúng cũng như giữ thể diện cho đảng và nhà nước, Việt Cộng đã phải tuyên bố ngày 19/05 là sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Như vậy : 19/05 là ngày sinh của Hồ chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Chứ không phải ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng thị Loan.

Xuân Diệu đã viết bài thơ ghi nhớ ngày sinh của Hồ chí Minh :

Hôm nay Mười Chín tháng Năm
Lòng con vui sướng reo trăm tiếng cười
Lỗi lầm đã nói được vơi
Hồn như mở rộng dưới trời Chí Minh
Ngày sinh nhật Bác quang vinh
Là ngày sinh nhật hồn xanh muôn người

*
Hồ Chí Minh sinh tại đâu ?

Về điểm này, sách vở Việt Cộng đều viết : tại thôn Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Tố Hữu đã viết :

“Nhất vui là thôn Kim Liên
Cảnh tiên có cảnh, nguời tiên có Người”.

Người viết chữ hoa, là Hồ Chí Minh.
*
Ông bà Sắc có mấy người con ?

Thưa : có bốn nguời con. Người con cả là Nguyễn Thị Thanh, người con thứ là Nguyễn Sinh Khiêm. Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh sau này) là người con thứ ba.

Còn người con thứ tư ?

Sách vở Việt Cộng viết : người con thứ tư này tên làø Nguyễn Sinh Xin.

Tại sao ông bà Sắc lại đặt tên con là Xin ? Chúng ta hãy nghe :

“… bà Hoàng Thi Loan sinh thêm người con thứ tư. Sinh trong cảnh túng quẫn, phải nhờ bà con lao động láng diềng giúp đỡ, bà Loan lấy cảnh ngộ ấy đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Xin” (Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Nghệ An 1995, tr. 18).

Quyển “Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ”, (Nxb.Trẻ, 161B Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn, tr. 21) và cả trăm sách vở Việt Cộng đều viết về đứa bé tên Xin này. Đặc biệt, quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” (Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 1997), của Võ Nguyên Giáp cũng viết về đứa bé tên Xin này. Viết rằng : “Đó là nỗi khổ đau của Người phải bế em đi xin sữa” (sđd, tr. 230).

Người đây là Hồ Chí Minh.

Đứa bé tên Xin này – đứa bé mà Nguyễn Sinh Cung đã phải lê lết bế đi hàng xóm xin sữa thừa xin gạo thừa, xin cám thừa, xin cơm thừa, xin cháo thừa, xin khoai thừa, xin sắn thừa, xin ngô thừa để bú mớm – đã chết yểu.

Sự kiện nói trên xác nhận một thực tế : Hồ Chí Minh đã sinh ra trong một gia đình hạ cấp đói rách. Thực tế ấy suốt đời ám ảnh y.
Sau khi vợ chết, ông Sắc đổi tên hai người con trai thành những tên đầy hứa hẹn. Nguyễn Sinh Khiêm đổi là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Sinh Cung đổi là Nguyễn Tất Thành.
*
Hồ Chí Minh có bao nhiêu bí danh và bút hiệu ? Sách vở VC và sách vở ngoại quốc kê khai khoảng hơn 30 bí danh và bút hiệu. Chưa kể bút hiệu Trần Dân Tiên, tác giả quyển “Những Mẩu Chuyện Về Hồ Chí Minh”, trong đó chính Hồ Chí Minh ca tụng Hồ Chí Minh.

Trần Dân Tiên nghe hao hao như Tôn Dật Tiên. Chế Lan Viên đã viết :

“Bác sinh ra làm người hiền
Dân Tiên cùng với Dật Tiên một vần”.

*
Tôi sẽ thiếu sót, nếu không nói thêm về ông Nguyễn Sinh Sắc, bố của Nguyễn sinh Cung, tức bố của Hồ Chí Minh.

Mãi cho đến năm 1990, tất cả tài liệu VC đều ca một luận điệu : thân sinh của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, là một vị quan thanh liêm của triều đình Huế. Vì chống thực dân Pháp, cụ đã treo ấn từ quan về sống với dân nghèo.

Sự thật không phải thế. Sự thật là : Nguyễn Sinh Sắc – một thư lại của Bộ Lễ – đã bị án “truyền nọc đánh trăm trượng trước công đường” vì tội ăn hối lộ. Vì biết hèn hạ lậy lục, Nguyễn Sinh Sắc đã không bị nọc đánh trăm roi, mà chỉ bị cách chức đuổi về làng.
Việt Cộng đã tìm mọi cách phi tang vụ này. Nhưng tài liệu còn đó :

“Ngày 19/05/1910, Hội Đồng Nhiếp Chánh làm xong bản án số 140. Ngày 27/08/1910, bản án mang số 140 được duyệt y, Nguyễn Sinh Sắc bị kết án nọc ra đánh 100 trượng, rồi sau đổi thành giáng cấp 4 chức và bị triệt hồi” (Trần Minh Siêu, Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Trẻ, 161 B Lý Chánh Thắng, quận 3, Sài Gòn, 1996, trang 41).

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Vụ Nguyễn Sinh Sắc được loan truyền khắp nơi, cả Nghệ An không ai là không biết.
Riêng Nguyễn Sinh Cung, tức Hồ Chí Minh, suốt đời không quên vụ của bố, cũng như không quên cảnh nghèo đói của gia đình, với đứa em tên Xin.

  • Chương Hai
Đói, Phải Đi Kiếm Ăn ; Cực Khổ , Và Không Tương Lai, Nạp Đơn Xin Học Trường Thuộc Địa

Ngày 05/06/1911, Nguyễn Tất Thành (lúc đó 20 tuổi ) xin được một chân phụ bếp trên chiếc tầu buôn của hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville.

Theo quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Bác Hồ”, do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng Hồ Chí Minh, thì Bác, lúc đó tên là Ba, “làm đủ mọi việc, từ rửa chén đĩa, đến nhặt rau mổ cá, chặt thịt, đến bày bàn, bưng bê các món ăn, rót rượu …”

Và, tất cả kho tàng sử liệu Việt Cộng đều viết : “Bác đi tìm đường cứu nước”.

Sự thực không phải thế. Bác không đi tìm đường cứu nưóc, mà tìm đường cứu đói cho đời bác.

Lúc đó gia cảnh Nguyễn Tất Thành vô cùng quẫn bách. Bố thì bị đuổi việc. Nguyễn Tất Thành thì mồ côi mẹ, đói khổ và thất học. Hai mươi tuổi mà không có được cái bằng tiểu học “primaire”, cái bằng mà thời ấy nhiều học sinh VN đã có, lúc chưa đầy 12 tuổi.

Cho nên, vụ Nguyễn Tất Thành đi làm bồi trên tầu Amiral La Touche Tréville của Pháp phải được hiểu là đi tìm kế sinh nhai, đồng thời thực hiện giấc mơ mà giai cấp nghèo mạt thời đó hằng ấp ủ. Được đi Pháp, được sống ở Pháp một thời gian, rồi về nước, biết nói tiếng Tây, dù là tiếng Tây bồi. Cái gì, chứ kiếm một chân thông ngôn hay thông phán thì không khó.

Đó chính là chí lớn và quyết tâm của Nguyễn Tất Thành khi bỏ nước ra đi. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y. Cho nên, y phải vươn lên cho bằng được. Vươn lên bằng cách đi Pháp. Đi Pháp với bất cứ giá nào. Điều này, sách vở Việt Cộng cũng đã viết :

“Khi đã có chí, đã quyết tâm, mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mà nhất định phải vượt được. Phải sang tới Pháp. Quyết không vì một sơ sểnh nào mà bị đuổi lên một bến bờ không định trước. Mục tiêu là nước Pháp kia” (Thy Ngọc, Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ, Nxb Trẻ, Hà Nội 1997, trang 48).

Đó chính là giấc mơ của Nguyễn Tất Thành, lúc đóù 20 tuổi, thất học và con nhà nghèo. Giấc mơ được đi Pháp, được học trường Pháp, rồi về nước làm quan cho Pháp. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụï của bố ám ảnh y.

Nhưng, Việt Cộng thì viết khác.

Mãi cho đến cuối năm 1982, tất cả sách vở Việt Cộng đều ca một luận điệu : vì căm thù thực dân Pháp, và vì quyết tâm đi theo tiếng gọi của non sông, Bác đã bỏ con đường học vấn, bôn ba tìm đuờng cứu nước.

Trong cuốn Hồ Chủ Tịch, Trường Chinh còn khẳng định : “vì Người phát giác trường học của Pháp chỉ nhằm đào tạo tay sai cho đế quốc, cho nên Người đã bỏ ra đi tìm đường cứu nước”.

Võ Nguyên Giáp cũng viết thế. Phạm Văn Đồng viết thế. Tố Hữu viết thế. Tất cả văn nô Việt Cộng từ trên xuống dưới đều viết thế.

Chúng nó đã bị Người lừa.|Người đây, là Hồ Chí Minh.

Sự thật là : sau một thời gian làm bồi tầu, Nguyễn Tất Thành lâm vào cảnh cực kỳ quẫn bách, và gần như tuyệt vọng. Chẳng lẽ suốt đời làm bồi tầu, bị bạc đãi, bị chửi bới và không tương lai. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y bèn nạp đơn xin vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) của Pháp.

Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Giấu cả bọn Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn …
Mãi cho đến năm 1983.

Năm 1983, một học giả Người Quốc Gia VN (tiến sĩ Nguyển Thế Anh) tìm thấy tại Thư Khố Đông Dương ở Aix En Provence bên Pháp một tài liệu vô cùng quý giá : lá đơn viết tay của Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thuộc điạ của Pháp. Lá đơn đề ngày 15/09/1911.

Marseille le 15 Septembre 1911

Monsieur le Président de la République
J’ai l’honneur de solliciter de votre haute bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l’Ecole Coloniale comme interne.
Je suis actuellement employé à la Compagnie des Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Trévile” pour ma substance.Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’instruire. Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’Instruction.
Je suis originaire de la province de Nghê An, en Annam.
En attendant une réponse que j’espère favorable, agréez, Monsieur Le Président, l’assurance de ma reconnaissance anticipée.
Nguyễn Tất Thành, né à Vinh en 1892, fils de Mr. Nguyễn Sinh Huy (sous docteur ès- lettres). Etudiant Francais, quốc ngư, caractère chinois.

Lá đơn nổ như một trái bom. Đảng CSVN nhìn nhau, ngơ ngác. Họ đã bị Bác lừa.

Bác đây là Hồ Chí Minh. Dưới đây tôi xin tạm dịch ra tiếng Việt :

Marseille ngày 15 tháng 9, 1911
Kính gửi Tổng Thống Cộng Hoà Pháp
Tôi hân hạnh thỉnh cầu Ngài vui lòng cho tôi đặc ân được vào theo học Trường Thuộc Điạ với tư cách nội trú.
Hiện nay, tôi làm công cho hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville để sinh sống.
Tôi hoàn toàn túng quẫn và ham muốn được học hành. Tôi ước ao trở nên hữu ích cho nước Pháp trong tương quan đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể giúp đồng bào tôi hưởng những lợi ích của học vấn.
Tôi sinh đẻ tại Nghệ An, Trung Kỳ.
Trong khi chờ đợi một sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi cho tôi, Tổng Thống hãy nhận nơi đây lòng biết ơn trước của tôi.
Nguyễn Tất Thành,
sinh tại Vinh năm 1892,
con trai ông Nguyễn Sinh Huy
(phó bảng văn chương),
học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho.

Có nhiều điểm đáng nói.

Điểm 1 : Tiếng Pháp trong lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành quá kém.

Điểm này cần được nêu ra, để chứng minh một sự thực vô cùng quan trọng : những tài liệu viết bằng tiếng Pháp ký tên Le Patriot hay Nguyen Le Patriot tại Paris sau này, như “Mêmorandum Des Reven-dications du Peuple Annamite”, “Le Paria”, “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, v. v. đã không do Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết, mà do nguời khác viết.

Điểm 2 : Trong đơn, Nguyễn Tất Thành xin được làm học sinh nội trú, nghĩa là được ăn ở ngay trong trường.

Nguời ta thấy rõ : Nguyễn Tất Thành nạp dơn xin vào “học nội trú”, là để đỡ đói rét, ngoài giấc mơ sau này được làm quan cho Tây.

Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Điểm 3 : Trong đơn xin học, Nguyễn Tất Thành khai y sinh năm 1892. Y khai gian. Sự thực, y sinh năm 1890.

Điểm 4 : Trong đơn xin học, y khai đã học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho. Chỉ có vậy.
Nói tóm lại : Nguyễn Tất Thành nạp đơn xin vào học nội trú Trường Thuộc Đia Pháp, là để có chỗ ăn chỗ ở, đỡ đói rét, và để sau này được về làm quan cho Tây. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y. Nhưng đơn của y đã bị bác.

Lời Bàn Mao Tôn Cương: Rất Sáng Suốt Của Cụ Víp KK, Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Lời bàn 1 : Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, vì đói rách và không tương lai, đã nạp đơn xin học nội trú trường thuộc điạ của Pháp và đơn đã bị bác. Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Bọn Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng không biết, cho nên cứ mồm loa mép giải rằng : vì ghét cái học của Pháp, Bác đã bỏ học, đi tìm đường cứu nước.

Lời bàn 2 : Tất cả sách vở của đảng đều viết rằng hồi nhỏ Bác đã từng học trường Quốc Học Huế và từng dậy học tại trường Dục Thanh, Phan Rang. Đây là những thành tích văn hóa tốt. Nếu có thật, Nguyễn Tất Thành đã không dại gì mà không kê khai trong lá đơn xin học. Nhưng, trong đơn xin học, y chỉ dám khai là đã “học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho”. Y không dám khai gian, vì sợ người Pháp cóù hồ sơ của trường Quốc Học Huế và trường Dục Thanh.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười của Đảng CSVN, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất hoan nghênh những nhận định rất sáng suốt của cụ VIPKK.

Cựu Tổng bí thư Đỗ Mười còn nói : tất cả đảng CSVN bọn tôi, đứa nhớn đứa nhỏ, nhất là những đứa đã vào được Chính Trị Bộ, đều gian manh bịp bợm. Nhưng, so với Bác Hồ, bọn tôi còn kém xa. |

Về vụ án cụ Nguyễn Sinh Sắc, cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : vụ đó có thiệt. Sở dĩ Trần Minh Siêu có được tài liệu và dám in trong cuốn “Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ” là do sự bảo trợ ngầm của Võ Văn Kiệt, lúc đó đứng thứ 3 trong chính trị bộ.

Vẫn theo Cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì tài liệu ấy đã do bọn phản đảng miền Nam (Bẩy Trấn, Trần Văn Giầu và Nguyễn Hộ) ngầm phổ biến trong cuộc hội thảo của “Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ Sài Gòn”. Cuộc hội thảo này đã diễn ra ngày 07/01/1990, tại Nhà Văn Hoá Lao Động Sài Gòn, tức trụ sở quốc hội cũ thời Mỹ Nguỵ. Cuộc hội thảo ấy mang tên :

“Công Cuộc Cải Tổ, Cải Cách, Đổi Mới Ở Các Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em Và Ở Việt Nam”. Diễn văn khai mạc là của Trần Văn Giầu. Diễn văn bế mạc là của Nguyễn Hộ.

Vẫn theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì cuốn sách của Trần Minh Siêu đã in xong và phân tán trong một đêm tại Hà-nội, dưới sự bảo trợ ngầm của phe cánh Võ Văn Kiệt. Sau đó, nhà nước đã cho cán bộ đi tịch thu, nhưng không kịp. Trong Nam cũng như ngoài Bắc, bọn phản động chuyền tay nhau in lén ra hàng trăm ngàn cuốn và bán chợ đen rất chạy.

  • Chương Ba
Lại đi kiếm ăn ; Đánh Cắp Danh Xưng Nguyễn Ái Quốc.

Sau khi đơn xin vào học Trường Thuộc Điạ bị bác, Nguyễn Tất Thành vô cùng chán nản.Tài liệu của đảng viết : “Bác lại đi tìm đường cứu nước”.Bác lại đi làm bồi tầu.

Vì phải làm việc quá nặng nhọc, Nguyễn Tất Thành mắc bệnh ho lao, sức khỏe trở nên suy nhược, và bị đuổi khỏi hãng.
Y về sống tại Anh, số 10 Orchard Place, Southampton, England. Tại đây, y làm đủ nghề : quét tuyết, bồi khách sạn, bồi ổ điếm, rửa phim ảnh ; đời sống cô đơn và cơ cực. Vì vậy y quyết định rời Luân Đôn để về sống ở Paris.

Y viết thư cho cụ Phan Chu Trinh lúc đó ở Paris. Trong thư, y gọi cụ Phan là Hy Bá Nghi Mã Đại Nhơn, và xưng cháu. “Cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác đi hay không và cháu rất cần một lời …” . Bức thư này do y viết tay, hiện lưu trữ tại thư khố Luân Đôn.

Năm Đinh Tỵ (1917), y rời Luân Đôn, về định cư tại Paris, làm nghề thợ ảnh, đời sống vẫn cơ cực và không tương lai.
Lúc đó, Paris có đông người Việt Nam lưu vong, và là trung tâm của nhiều tổ chức chính trị Pháp thiên tả, đặc biệt Đảng Xã Hội Pháp SFIO (Section Francaise de l’Internationale Ouvrière), một chi nhánh của Đệ Nhị Quốc Tế.

Lúc đó, phong trào Việt Nam chống Pháp dành độc lập lan rộng. Hai nhóm chính được sử sách ghi nhận. Một nhóm, do cụ Phan Chu Trinh lãnh đạo, nhắm vào văn minh Âu Châu. Một nhóm, do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, tức Việt Nam Quang Phục Hội, nhắm vào Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên. Nhóm thứ nhất hoạt động tại Pháp. Nhóm thứ hai hoạt động tại Trung Hoa.
Sách vở Việt Cộng đã triệt để khai thác sự kiện này, khi viết “Bác đi tìm đường cứu nước”, với thâm ý đặt bác Hồ của họ ngang hàng với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, của người quốc gia Việt Nam.
*
Lúc đó, tại Paris có nhóm nhân sĩ Việt Nam của cụ Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, và kỹ sư Nguyễn Thế Truyền. Nhóm nhân sĩ này rất đươc kính nể, vì là tác giả nhiều bài tham luận chính trị có tầm vóc, như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise” (Bản Án Chống Thực Dân Pháp), Le Paria (Việt Cộng dịch là Người Cùng Khổ) và “Mémorandum Des Revendications du Peuple Annamite” (Những Yêu Sách Của Nhân Dân Annam) gửi Hội Nghị Versailles năm 1919.

Những tài liệu này được viết bằng một tiếng Pháp trình độ hàn lâm, và được ký dưới một tên chung : Le Patriote, hoặc Nguyen Le Patriot.

Kẻ được thuê mướn đi phân phát những tài liệu đó tại Paris, là Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành đã không bỏ lỡ cơ hội. Y tự nhận là Nguyen Le Patriot. Y trở thành Nguyễn Ái Quốc. Và y đã vào được đảng Xã Hội Pháp (SFIO). Một vinh dự lớn cho y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa :

Ngày xưa tôi tập sự luật sư tại văn phòng Luật sư Bùi Tường Chiểu, số 148 Pasteur, Sàigòn. Ls Chiểu đã dậy dỗ tôi nhiều về văn chương Pháp, và về khoa hùng biện.

Luật sư Chiểu từng quen thân Ls Nguyễn Mạnh Tường. Theo Ls Chiểu kể lại, thì Ls Nguyễn Mạnh Tường quả quyết : Nguyễn Tất Thành chỉ nói đuợc thứ tiếng Pháp của anh em lính thợ Annam không chuyên nghiệp ONS (Ouvrier Non Spécialisé) được tuyển mộ sang Pháp thời đó. Nguyễn Tất Thành không đủ trình độ để hiểu, chứ chưa nói viết, những bài tham luận có tầm vóc như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, và nhất là bản “Memorandum des Révendications du Peuple Annamite” gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles năm 1919.

Mới đây, bạn tôi, Chủ nhiệm Lê Hồng Long của tờ Thế Giới Ngày Nay, gửi cho tôi tuyển tập “Une Histoire de Conspirateurs Annamites à Paris” của Ls Phan Văn Trường. Tôi đã đọc.

Trong bài tựa của tuyển tập, trang 6, học giả Ngo Van viết : “En 1919, il rédige le ‘Mémorandum des Revendications du Peuple Annamite’ adressé à la Conférence de Paix à Versailles, dont Nguyen Ai Quoc – le futur Ho Chi Minh – revendiquera la paternité. (Tạm hiểu : “Năm 1919, [Phan văn Trường viết] ‘bản văn ngoại giao về những yêu sách của nhân dân Annam’ gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles. Bản văn đó, Nguyễn Ai Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, đã mạo nhận là tác giả).

Tôi muốn kết luận gì đây ? Tôi muốn kết luận : tất cả những bản văn chính trị viết bằng tiếng Pháp tại Paris từ 1910 đến 1940 và ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã do người khác viết, Nguyễn Ái Quôc chỉ là kẻ mạo danh.

Năm 1960, cụ Nguyễn Thế Truyền ra tranh cử tổng thống tại miền Nam Việt Nam. Tôi có đi theo anh em báo chí đến nghe Cụ nói chuyện.

Khi đuợc hỏi về những tài liệu viết bằng tiếng Pháp tại Paris ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhất là bản Mémorandum gửi Hội Nghị Hoà Bình Versailles 1919, cụ Truyền nói : Nguyễn Tất Thành chưa học hết tiểu học Pháp. Lúc đó ở Paris, nhóm chúng tôi mướn anh ta đi phân phát những tài liệu đấu tranh bằng tiếng Pháp do chúng tôi viết. Anh ta đã nhận xằng mình là Nguyễn Le Patriot và nhận xằng mình là tác giả những tài liệu đó.

Đó là Nguyễn Ái Quốc, tức Bác Hồ của đảng CSVN.

  • Chương Bốn
Đói Ăn Và Thèm Danh Vọng ; Trở Thành Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế.
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc trở thành tay sai của Đệ Tam Quốc Tế .

Đệ Tam Quốc Tế là gì ?

Là Cộng Sản Quốc Tế (Komintern) do Lê Nin sáng lập năm 1919, nhằm tách ra khỏi Đệ Nhị Quốc Tế.

Đệ Tam Quốc Tế chủ trương liên minh giai cấp vô sản trên thế giới với các dân tộc bị đàn áp trên thế giới để tiến hành một cuộc cách mạng toàn thế giới do Liên Sô lãnh đạo. Tiến hành bằng đấu tranh giai cấp và bạo lực.

Đệ Tam Quốc Tế – do Liên Sô sáng lập, và lãnh đạo – bao trùm tất cả các đảng CS điạ phương trên thế giới. Những đảng CS điạ phương này chỉ là lũ tôi tớ nằm trong kỷ luật sắt của Liên Sô, và có bổn phận phải đóng góp cho sự lớn mạnh của Liên Sô. Đóng góp bằng tiền bạc cướp được của nhân dân, và đóng góp bằng xương máu, nếu tình thế đòi hỏi.

Đệ Tam Quốc Tế là bản thân Liên Sô, một đế quốc thực dân, bóc lột, tàn bạo và đểu cáng như chưa hề có trong lịch sử nhân loại.
*
Nguyễn Ái Quốc đã đi theo Đệ Tam Quốc Tế. Và y đã trở thành một cán bộ đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế. Y không còn con đường nào khác để giải quyết cái hiện tại “đói rách” của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y được Mạc Tư Khoa trợ cấp hàng tháng một số tiền khá lớn, và được Mạc Tư Khoa xử dụng như một cán bộ nòng cốt trong chiến lược nhuộm đỏ Đông Dương.

Lúc đó là tháng 07/1920. Theo tài liệu Việt Cộng, lúc đó y 30 tuổi.

Tháng 12/1920 Đảng Xã Hội Pháp (SFIO) họp đại hội tại Tours (Pháp quốc), Nguyễn Ái Quốc đứng lên đả kích SFIO. Sau đó, y bỏ SFIO, công khai gia nhâp đảng Cộng Sản Pháp, và trở thành cán bộ chính thức của Liên Sô. Nguyễn Ái Quốc nổi danh từ đó.
*
Tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : con đường giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản thế giới, và vì lòng nhân ái muốn cứu dân cứu nước, Bác đã đi theo con đường cách mạng vô sản.

Sách vở Việt Cộng còn nhắc lại bài ca rất mùi của Nguyễn Ái Quốc, cái đêm y đọc “Bản Luận Cương Lê Nin”. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Ái Quốc ca sáu câu vọng cổ :

“Luận cương của Lê Nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, tin tưởng biết bao ! Tôi vui mừng đến phát khóc. Ngồi một mình trong buồng, tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo : hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ : đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” (Hồ Chí Minh Toàn Tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 127).

Người ta không khỏi lắc đầu.

Thứ nhất : Hồ Chí Minh vô cùng lưu manh. Lưu manh ngay cả đối với những tay chân thân tín nhất của y. Vụ y nạp đơn xin vào học nội trú trường Thuộc Điạ của Pháp, là bằng cớ. Vụ này, cho đến lúc chết, y vẫn giấu. Giấu Đảng, giấu cả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh. Vì vậy tất cả đảng CS Việt Nam đã mắc lỡm khi ca tụng Bác “vì căm thù giặc Pháp, nên đã bỏ học rất sớm”.

Rồi quyển “Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng chính Hồ Chí Minh, là bằng cớ thứ hai ,về cái lưu manh của Hồ Chí Minh.

Tôi vừa đưa ra hai sự việc, để chứng minh một sự thực : Hồ Chí Minh là một tên lưu manh, và có tài đóng kịch.
Bên cạnh cái lưu manh và tài đóng kịch, còn một thực tế phũ phàng : cái nghèo khổ đói rách của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Cho nên : sự kiện y trở thành tay sai Đệ Tam Quốc Tế là điều dễ hiểu.

Đó là con đường duy nhất giúp y thoát khỏi cảnh nghèo đói lúc đó tại Paris. Và đó cũng là con đường có thể đưa y tới danh vọng.
Nói tóm lại, Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì không còn đường tiến thân nào khác. Và nhất là vì nhu cầu cấp bách của y lúc đó tại Paris, nhu cầu có miếng ăn hàng ngày và đỡ đói rách. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì đói, vì tiền. Y không mất mát gì. Y không xuất thân từ một dòng họ danh vọng. Y xuất thân từ một gia đình hạ cấp đói rách, như hầu hết những cán bộ đầu sỏ Việt Cộng sau này. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Bài ca Luận Cương Lê Nin của Hồ Chí Minh chỉ là sáu câu vọng cổ rẻ tiền nhằm biện minh cho sự bán thân và vong thân của y. Bán thân vì đói, vong thân vì tiền.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn và từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, hoàn toàn đồng ý với lời bàn rất sáng suốt này của cụ Vip KK.

  • Chương Năm
Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế ; Thời Kỳ Huấn Luyện Tại Nga Sô.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đuợc CS Pháp thuê mướn đi rải truyền đơn. Bị mật thám Pháp truy nã, y được đảng CS Pháp bố trí cho sang Đức, rồi từ Đức đáp xe lửa đi Mạc Tư Khoa. Giấy thông hành của y (số 1829, đề ngày 16/06/1925 đóng dấu toà đại sứ Nga tại Bá Linh) ghi : Chen Wang, sinh ngày 15/01/1895 tại Đông Dương, làm nghề thợ ảnh. (Nguyên văn : Chen Wang né le 15 Janvier 1895 à Indochine, profession : photographe) .

Nguyễn Ái Quốc được ở lại Mạc Tư Khoa, học tập lý thuyết Marx, học tập chủ nghĩa Marx – Lenin, và học tập sách lược đấu tranh của Lê Nin.

Y được tham dự đại hội đảng Cộng Sản Quốc Tế tại Mạc Tư Khoa, trên tư thế một đảng viên CSQT đại diện nhân dân Viêt Nam. Trước đại hội, y đã lớn tiếng tố cáo tội ác của thực dân Pháp.

Ngoài ra, y cũng được dự một vài hội nghị khác tại Mạc Tư Khoa. Cũng vẫn bài bản cũ : tố cáo thực dân Pháp và bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Liên Sô trong sự nghiệp giải phóng nhân loại khỏi áp bức.

Và y đã trở thành một cán bộ thuần thành của Mạc Tư Khoa.

Nhưng y không thể trở lại Pháp. Vì vậy, Mạc Tư Khoa đã xử dụng y trong tổ chức mang tên Cục Đông Phương CSQT.

  • Chương Sáu
Tay sai đê tam quốc tế ; Thời Kỳ Hoạt Động tại Trung Hoa
Cục Đông Phưong Cộng Sản Quốc Tế (CĐP/ CSQT) là gì ?

Là một phân bộ quan yếu của Mạc Tư Khoa tại Đông Phương lúc đó, với nhiệm vụ lũng đọan Trung Hoa Quốc Gia (Trung Hoa Quốc Gia của Tôn Dật Tiên, và sau này của Tưởng Giới Thạch), đồng thời giúp đỡ đảng CS Trung Quốc của Mao Trạch Đông còn đang trong thời kỳ phôi thai.

Riêng đối với Nguyễn Ái Quốc, CĐP / CSQT còn là chặng đường lý tưởng giúp y du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam.Lúc đó, y lấy tên là Lý Thụy.

Năm Quý Hợi (1923) Lý Thụy được Mạc Tư Khoa phái sang Quảng Châu, phục vụ trong phòng thông tin của Borodin (sách Tầu ghi là Pháo La Đình), môt cán bộ của Mạc Tư Khoa.

Võ Nguyên Giáp đã viết rất rõ “Lý Thuỵ được phái sang Quảng Châu để chỉ đạo phong trào cách mạng và phong trào nông dân ở Trung Quốc và một số nước châu Á”.

Ngoài ra, tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : Quảng Châu, Miền Nam Trung Quốc, là nơi nhiều nhà cách mạng VN yêu nước đang hoạt động, cho nên Người rất quan tâm.

Người đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh. Theo sử gia Trung Hoa Tưởng Vĩnh Kính trong quyển Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, thì lúc đó “Quảng Châu không những là một trung tâm cách mạng của Trung Quốc, mà còn là thánh địa của Á Châu chống đế quốc chủ nghĩa”.

Và Mạc Tư Khoa đã gửi Lý Thụy đến thánh địa đó.
*
Tại Quảng Châu, Lý Thụy có dịp tiếp xúc một số thanh niên VN của Phong Trào Đông Du, thuộc Tâm Tâm Xã, một tổ chức chống Pháp dành độc lập.

Tâm Tâm Xã do cụ Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Châu năm Giáp Dần (1914). Tổ chức này đuợc giới cách mạng Trung Hoa Quốc Gia cũng như giới cách mạng Việt Nam Quốc Gia ngưỡng mộ, nhất là sau vụ liệt sĩ Phạm Hồng Thái.

Chúng ta nên ôn lại lịch sử.

Năm Quý Hợi (tháng 06/1923) Toàn Quyền Đông Dương Merlin ghé qua Sa Diện (Quảng Châu) trên đường sang Nhật Bổn. Phạm Hồng Thái ám sát Merlin, nhưng ám sát hụt. Bị cảnh sát truy nã, họ Phạm gieo mình xuống đầm Bạch Nga. Thi hài họ Phạm đuợc anh em cách mạng Việt Nam tại Trung Hoa vớt lên chôn ở chân đồi Bạch Vân. Năm Ất Sửu (1925), để tôn vinh nhà cách mạng VN, tỉnh truởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã truyền đưa hài cốt họ Phạm vào an táng tại Hoàng Hoa Cương, thánh địa của những vị anh hùng cách mạng Trung Hoa Dân Quốc.

Phạm Hồng Thái được coi là linh hồn của Tâm Tâm Xã.

Lý Thuỵ, tức Hồ Chí Minh, đã xâm nhập đuợc Tâm Tâm Xã, nhân danh cách mạng Việt Nam, và nhân danh tinh thần Phạm Hồng Thái bất diệt. Y đã lừa bịp được tổ chức này và được tổ chức này nhiệt tình ủng hộ. Một vài thành viên ưu tú của Tâm Tâm Xã đã được y móc nối gửi sang học tập tại Mạc Tư Khoa, và trở thành cán bộ CS sau này.

Năm Ất Sửu (1925), trong mưu đồ nắm trọn quyền lãnh đạo Tâm Tâm Xã, và để kiếm một món tiền thưởng rất lớn của thực dân Pháp, Lý Thụy đã cùng với Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viễn) lập mưu bắt cụ Phan Bội Châu trao cho Pháp.

Cụ Phan bị bắt tại Thượng Hải, bị đưa về Hương Cảng, rồi từ đó bị giải về Hải Phòng. Ngày 8 tháng 10 năm Ất Sữu (23/11/1925) , cụ bị đưa ra trước Đại Hội Đồng Đề Hình của Pháp (tại Hải Phòng) và bị lên án tử hình. Sau đó, để trấn an dư luận, toàn quyền Varenne của Pháp đã ra lệnh ân xá, và an trí cụ tại Huế. Cũng năm Ất Sửu (1925), tại Quảng Châu, tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội’ ra đời, gồm phần lớn thành viên của Tâm Tâm Xã. Tổ chức nói trên cũng đã bị Lý Thụy xâm nhập, và trở thành đội ngũ tiền phong của đảng CSVN sau này.

Theo Hoàng Văn Hoan tác giả “Giọt Nước Trong Biển Cả” xuất bản thâp niên 1980, thì suốt thời kỳ hoạt động tại Trung Hoa, Bác đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cụ Hồ Học Lãm, một nhà cách mạng VN có uy tín lớn tại Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.
Bác đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh.

Cũng theo Hoàng Văn Hoan thì cụ Hồ Học Lãm lúc đó vẫn coi Bác là một nhà cách mạng Việt Nam trong truyền thống Phạm Hồng Thái- Nguyễn Thái Học.

(Chú thích của tôi, Nguyễn Văn Chức : Hoàng văn Hoan là Đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đầu tiên tại Bắc Kinh năm 1950 ; Uỷ Viên Trung Ương Đảng năm 1951 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ 1956 về Cải Cách Ruộng Đất, Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Khoá 1 năm 1958, khoá 2 năm 1960, khoá 3 năm 1964, khoá 4 năm 1971 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ đảng CSVN năm 1960, Bí Thư Thành Uỷ Hà-nội năm 1961).
*
Theo tất cả sách vở và tài liệu của Việt Cộng, đặc biệt quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp, thì năm Canh Ngọ (tháng 2 năm 1930), Trần Phú sáng lập Việt Nam Cộng Sản Đảng . Vẫn theo Võ Nguyên Giáp, thì tháng 10 năm đó, thi hành lệnh của Mạc Tư Khoa, Bác đã đổi tên Việt Nam Cộng Sản Đảng thành Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Bác đây là Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh.

Sáu tháng sau, ngày 19/04/1931 Trần Phú, – từng được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa, có tầm vóc hơn Hồ Chí Minh, và là lãnh tụ đầu tiên của phong trào CS tại Đông Dương – đã bị Pháp bắt tại Sàigòn. Dư luận lúc đó quả quyết : Nguyễn Ái Quốc đã chủ mưu vụ này, nhằm loại trừ một đối thủ có tầm vóc.

Lơi Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Tât Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh, là một tên đại lưu manh. Nhờ vậy, y đã thành công rực rỡ. Từ một tên bồi tầu đói rách, y đã trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cờ đỏ sao vàng, và vị lãnh đạo tối cao của đảng CSVN.

Đại hội X (tức đại hội 10, nhân dân trong nước đọc là đại hội Ếch) của đảng CSVN hồi tháng Tư 2006 vừa qua đã khiến cả nước phải lắc đầu. Ngay cả bọn Phan Văn Khải CSVN cũng đã phải ngượng mồm khi lên tiếng tôn vinh Hồ Chí Minh. Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt nói trên của cụ Vip KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : Phan văn Khải, tức tên thủ tướng của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN trong chuyến Úc du tháng 04/2005 và Mỹ du tháng 06/2005 đã bị Người Việt Tỵ Nạn vác cờ vàng ba sọc đuổi chạy vãi cả ra quần, cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK.

Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyẽn Tấn Dũng – bây giờ có trong tay cả trăm triệu Mỹ kim nhờ tham nhũng, trộm cắp buôn lậu – cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK vô vàn mến yêu.
Cựu tổng bí thư Đỗ Mười cũng cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyễn tấn Dũng dự định sang Mỹ vận động cho nhà nước và đảng ta, nhưng sợ bị lũ ngụy hải ngoại đánh đuổi như đã đánh đuổi Phan văn Khải trước đây năm 2005.

Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn chửi địt mẹ cái Nghị Quyết chó đẻ 36-NQ/TU ngày 26/03/2004. Theo cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Phan Văn Văn Khai phàn nàn rằng : chính vì cái nghị quyết chó đẻ 36-NQ/TU ấy, mày đã bị Người Việt Hải Ngoại cầm cờ vàng ba sọc đánh đuổi như con chó, trong chuyến Úc du và Mỹ du của y năm 2005.

  • Chương Bảy
Trốn Khỏi Trung Hoa ; Sang Hoạt Động Bên Xiêm La.

Năm 1927, chính quyền Trung Hoa Quốc Gia mở chiến dịch lùng bắt cộng sản.

Borodin bỏ chạy về Mạc Tư Khoa. Nguyễn Ái Quốc bị bắt giam. Nhờ uy tín của cụ Hồ Học Lãm, y đã được phóng thích. Y trốn về Mạc Tư Khoa, và được Mạc Tư Khoa phái sang Hương Cảng, làm việc dưới quyền một tên CS Pháp : Hilaire Noulens (sách Tầu ghi là Ngưu Lan).

Nguyễn Ái Quốc được Ngưu Lan giao phó công tác vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có đông nguời Việt lưu vong. Chỉ trong mấy năm, y gặt hái đuợc nhiều kết quả, nhờ tài tổ chức và bịp bợm.

Và cũng nhờ thời cuộc.

Ngày 10/02/1930, cuộc khởi nghĩa Yên Báy thất bại. Nhiều anh em VN Quốc Dân Đảng bị Pháp bắt, tra tấn, thủ tiêu. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cồ Việt tỉnh Hải Dương. Ngày 17/07/1930 ông và một số đồng chí bị đưa lên máy chém tại Yên Báy. Trước khi chết, ông đã hô to “Không thành thân thì thành nhân. Việt Nam muôn năm”.

Theo quyển “Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc” của Tưởng Vĩnh Kính, thì Nguyễn Ái Quôc đã vô cùng hoan hỉ truớc tai họa của Việt Nam Quốc Dân Đảng, coi đó là cơ hội ngàn vàng. Y đem đảng CS của y trám vào chỗ trống. Trong thư luân lưu gửi đảng viên, y viết :

“Lần khởi nghĩa Yên Báy giai cấp tư sản đã mất hết ảnh hưởng trong việc vận động giải phóng dân tộc ; đảng ta được tha hồ tổ chức giai cấp công nhân và quần chúng nông dân lao động vào đảng, và đảng ta trở thành lực lượng duy nhất thi hành lãnh đạo cách mạng chống đế quốc chủ nghĩa”.

 

  • Chương Tám
Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Người Quốc Gia Trở Thành Mặt Trận Việt Minh.

Ngày 20/06/1940, Pháp bị Đức đánh bại ở Âu Châu, Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại hội đảng tại Côn Minh, sửa soạn về nước cướp chính quyền.

Tưởng cũng nên nhắc lại : tại Trung Hoa lúc đó, có những tổ chức cách mạng sau đây của người Việt quốc gia lưu vong :

1. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do cụ Hồ Học Lãm chủ trì.
2. Việt Nam Giải Phóng Đồng Minh Hội do cụ Trương Bội Công chủ trì.
3. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, do cụ Nguyễn Hải Thần chủ trì.

Mượn danh nghĩa chống Pháp dành độc lập, Nguyễn Ái Quốc đã xâm nhập được những tổ chức nói trên. Thành công ngoạn mục nhất của y là đã cướp danh xưng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (của cụ Hồ Học Lãm) để đặt tên cho một tổ chức cộng sản của y.

Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm đã bị bỏ mất chữ Hội, để trở thành Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt Việt Minh, một tổ chức võ trang tuyên truyền với võ khí do Trung Cộng cấp phát và cán bộ do Trung Cộng đào tạo.

Về vụ thành lập mặt trận Việt Minh, Võ Nguyên Giáp viết như sau :

“Tháng 05/1941, Người chủ trì Hội Nghị Trung Ương lần thứ 8 […] Hội Nghị đề ra chủ trương thành lập mặt trận rộng rãi lấy tên là Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh” (Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đuờng Cách Mạng VN, tr. 32).

Người đây, là Hồ Chí Minh.

Trước và sau Võ Nguyên Giáp, cả trăm sách vở Viêt Cộng đều cùng một luận điệu đó .

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ VIP KK Chánh Án Tư Quốc Tế Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa

Trong đảng CSVN, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai (bố vợ của y), và Hoàng Minh Giám, là những người có học nhất.
Cả ba từng là cựu giáo sư trường trung học Thăng Long Hà Nội ngày xưa. Cả ba đã đi theo cộng sản. Và cả ba rất hèn. Nhất là Võ Nguyên Giáp.

Trong vụ tên tướng VC Hoàng Văn Thái, người được Võ Nguyên Giáp che chở và cất nhắc (nghe nói còn là thông gia với Võ Nguyên Giáp), bị bọn Lê Đức Thọ Lê Duẩn ám hại, Võ Nguyên Giáp đã không dám hé răng. Năm 2002, bản thân y bị bọn Lê Khả Phiêu công khai hạ nhục. Y cũng không dám hé răng.

Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Muời, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao ruợt vì hoạn chết lợn của nguời ta, rất hoan nghênh nhận định rất sáng suốt này của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : giữa thập niên 1990, Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Khả Phiêu làm nhục. Để vớt vát uy tín, Võ Nguyên Giáp đã viết quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mệnh”. Trong quyển sách ấy (xuất bản năm 1997), Võ Nguyên Giáp kể truyện bác Hồ lúc bé phải bế em đi hàng xóm xin sữa xin ăn, tuởng rằng viết như vậy là đề cao Bác. Võ Nguyên Giáp đã bị cả đảng chửi như con chó. Bọn Lê Khả Phiêu đã xuýt tát vào mặt y.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 247, Võ Nguyên Giáp còn viết rằng các nhà văn hoá của đảng đã phát hiện khoảng 600 (sáu trăm) gương tốt của bác Hồ. Địt mẹ, cả đảng phải bịt mũi. Nịnh Bác, mà nịnh quá, chỉ làm trò hề.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 249, Võ Nguyên Giáp còn viết :

“Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ Chức Văn Hoá Và Giáo Dục Thế Giới (UNESCO) đã tôn vinh Người là Vị Anh Hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá kiệt xuất …”

Theo Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Võ Nguyên Giáp lại viết láo. Năm đó (1990), quả thật UNESCO dự định tôn vinh Bác là nhà văn hoá kiệt xuất, nhưng bị lũ nguỵ hải ngoại chống đối. Lũ Nguỵ hải ngoại kéo nhau đến biểu tình la hét trước Hội Nghị UNESCO tại Giơ Ne Vơ, và hô to đả đảo Hồ Chí Minh. Sau đó, UNESCO đã nhìn thấy sự thật, rút lại ý định tôn vinh Bác, và xin lỗi lũ nguỵ.

Thế mà Võ Nguyên Giáp dám viết rằng bác đã đuợc UNESCO tôn vinh.
|
Ngoài ra, tủ sách giáo khoa của đảng và nhà nước có quyển sách mang tên “Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Những Tác Phẩm Tiêu Biểu (Nxb Giáo Dục, xuất bản ngày 01/01/2000, Sài Gòn). Quyển sách giáo khoa này cũng trích dẫn lời của Võ Nguyễn Giáp, và lớn tiếng ca tụng Bác đã được UNESCO vinh danh là nhà văn hoá kiệt xuất của thế kỷ 20. Trang 14 của quyển sách đó viết như sau (nguyên văn) :

“Năm 1990, Tổ Chức Văn Hoá Giáo Dục Khoa Học Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã trao tặng Chủ Tịch Hồ Chí Minh danh hiệu danh nhân văn hoá thế giới, và đã long trọng kỉ niệm 100 năm sinh của Người”.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : toàn bộ sách giáo khoa và nền giáo dục của đảng CSVN chúng tôi từ hơn 50 năm nay đều là gian manh lừa lọc. Tội nghiệp cho bao nhiêu thế hệ học sinh con em chúng ta.

Vẫn theo Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười, thì đã đi theo Bác, thằng đéo nào cũng hèn, cũng lưu manh bịp bợm. Càng có học, lại càng hèn, càng lưu manh bịp bợm. Võ nguyên Giáp là điển hình.

Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười gửi biếu cụ Vip KK quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” của Võ Nguyên Giáp, kèm hai câu ca dao đuợc truyền tụng trong dân gian khi Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Đức Thọ hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Uỷ Ban Hạn Chế Sanh Đẻ Nhà Nưóc :

Ngày xưa đại tướng công đồn
Bây giờ đại tướng canh l. cản c.
và :
Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em”

 

  • Chương Chín
Bản Chúc Thư Số Hai ; Hồ Chí Minh Chạy Tội Trước Lịch Sử

Hồ Chí Minh chết ngày 02/09/1969, và được phát tang ngày 03/09/1969. Y để lại một bản chúc thư trong đó y kể công lao của y và của đảng CSVN đối với dân tộc. Y vui mừng sắp được về với thánh tổ Các Mác. Y căn dặn đảng viên các cấp phải “giữ gìn đảng như giữ gìn con ngươi của mắt”.

Bản chúc thư nói trên – gọi là bản chúc thư số I – được Việt Cộng trân quý như thánh kinh của đảng.

Ngoài bản chúc thư số I nói trên, cuối thập niên 1980, người ta thấy xuất hiện ở Pháp một bản chúc thư số 2, đề ngày 14-8-1969, nói là do Hồ Chí Minh viết để lại cho đúa con gái lai tại Pháp.

Trong bản chúc thư số 2 này, Hồ Chí Minh phủ nhận bản chúc thư số I. Chẳng những thế, y còn viết rõ : y hối hận đã đi theo cộng sản làm hại đất nước.

Năm 1986, một ngưòi Pháp từ Paris gửi biếu tôi – Nguyễn văn Chức – bản chụp chúc thư số 2 này, kèm bản chụp bút tự của Hồ Chí Minh.

Nếu tôi không lầm, thì bản chúc thư số 2 này cũng đã được phổ biến trên nhiều báo tiếng Việt ở hải ngoại, hồi cuối thập niên 1980.

Dưới đây, tôi xin đăng lại nguyên văn bản chúc thư số 2 ấy, như một tài liệu :

“Thời xưa, ở bên Trung Quốc, người ta thường nói con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, con người trước khi chết thì lời nói phải. Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý họ. Tôi đã viết, mà trong bụng thì tấm tức vô cùng. Nay tôi viết thêm di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không nhận bất cứ di chúc nào khác là của mình. Tôi ước mong một ngày nào đó di chúc tôi đang viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới đuợc thoả lòng.

Tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày Tổ Quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho cả dân tộc về cả hai mặt văn minh và đời sống. Không lượng sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ, nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này dần dần trở thành lạc hậu và phản động, những người theo Mác Xít chỉ là giả bộ, để đánh lưà giai câp nghèo mà cướp lấy chánh quyền cho nước Nga.
Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với mình. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đầu ngờ họ đều là mật thám của Nga, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường nước Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào tôi làm điều gì độc ác thì tôi phải chiụ hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ Cải Cách Điền Điạ ở Bắc Việt bây giờ nhân dân còn nguyền rủa oán trách tôi không biết để đâu cho hết. Dù sao thì tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu nàm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy ông thuộc Uỷ Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam Bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô Đình Diệm, kèm theo một bức thư. Trong bức thư, tôi chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giầu nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.

Truyện này vỡ lở ra, cụ Ngô bị giết ở trong Nam, còn ở ngoài Bắc tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định gì nữa cả. Đáng lẽ ra thì tôi bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tôi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để cho tôi sống thêm. Tôi đã già, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh ngục tù, cứ nghĩ đến điều này là tôi ứa nước mắt. Họ không giết tôi nhưng sai ông bác sĩ Tôn Thất Tùng cho uống thuốc độc, để tôi không thể đi đâu nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết lần chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.

Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối di chúc, tôi xin thú nhận tôi không phải thần thánh gì, nên khi còn sống cũng đủ bẩy tình như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được một đưá con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi khi đọc được tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức Cha Lê Hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hoá. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng Sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng Sản. Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều mượn tạm hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước đấng Cao Xanh :

Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam”.

Ngày 14/08/1969

Hồ Chí Minh

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Đình Tân Kiểng Bên Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Ngày Xưa

Lời bàn một

Trong bản chúc thư số 2 nói trên, Hồ Chí Minh viết : “tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do”.
Hồ Chí Minh viết bản chúc thư đó năm 1969. Nhưng y vẫn dấu nhẹm vụ y nạp đơn xin vào học trường Thuộc Điạ Pháp năm 1911.

Lời bàn hai

Hầu hết – nếu không muốn nói là tất cả – những tên đầu sỏ Việt Cộng cao cấp đều thất học cu ly cu leo, và con nhà khố rách áo ôm. Chúng nó đi theo cộng sản vì không còn con đường tiến thân nào khác. Nhưng trong tiểu sử hoặc chúc thư thì thằng chó nào cũng phét lác rằng mình đi theo cách mạng là để mưu tìm độc lập tự do cho Tổ Quốc. Đó chính là trường hợp Hồ Chí Minh.

Lời bàn ba

Những trại cải tạo rùng rợn Đầm Đùn, Lý Bá Sơ, cuộc tiêu thổ kháng chiến 1945, cuộc đấu tố rưộng đất 1953-1956, cuộc đàn áp văn nghệ sĩ năm 1956, vụ dâng đảo Hoàng Sa cho Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam VN, vụ giết và chôn sống đồng bào hồi Tết Mậu Thân Huế, v. v… Tất cả những tội ác đó cũng như muôn vàn tội ác khác, đều do bàn tay Hồ Chí Minh.

Trong bản chúc thư số 2, Hồ Chí Minh đổ lỗi cho người khác.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười – tức đồng chí Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta – rất đồng ý với những lời bàn rất sáng suốt của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười không dám quả quyết vụ Bác Sĩ Tùng cho bác Hồ uống thuốc độc là có thật. Nhưng cựu tổng bí thư quả quyết chữ viết và luận điệu trong chúc thư là của Bác Hồ. Vụ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đàn áp bác Hồ 2 năm trước khi bác chết, cũng có thật. Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn cho biết : Lê Duẩn đã có lần nói hỗn với Bác, xô Bác té trên giường. Tội nghiệp cho Bác.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : trong bản chúc thứ số 2 này, Bác tạ lỗi với đứa con gái lai Pháp, vì đã không làm bổn phận một người cha. Địt mẹ, làm như Bác chỉ có môt đứa con hoang. Theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì con rơi con rụng của bác, trắng đen, vừa trắng vừa đen, bạch tạng, rỗ chằng rỗ chịt, mắt toét mắt lồi, Marốc, Mễ, Tiêm La, Tầu, Việt Nam, Kampuchia, đếm đuợc cả trung đội.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cũng nhắc đến chuyến đi Phát Diệm của Bác thăm Giám Mục Lê Hữu Từ năm 1946. Năm đó, Võ Nguyên Giáp có đi theo Bác, khi về đã kể chuyện lại.

Võ Nguyên Giáp kể rằng : giữa đám đông tụ tập trước Phương Đình Phát Diệm, Bác giơ cao tay hô to “Hoan Hô Đức Chúa”. Đồng bào công giáo Phát Diệm ôm bụng cười. Thật là vô lễ với Bác. Bác còn lớn tiếng xin Giám Mục Lê Hữu Từ làm phép rửa tội ngay cho Bác, để Bác trở thành người của đạo Chúa. Nhưng Giám Mục Lê Hữu Từ bảo Bác phải học đạo 6 tháng mới được chịu phép rửa. Đồng bào có mặt đã vỗ tay hoan hô Giám Mục. Thật là vô lễ.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn kể : Tết Giáp Ngọ (1954) Bác Hồ gửi biếu Giám Mục Lê Hữu Từ một cành đào và khuyên Giám Mục nên ở lại Phát Diệm, đừng di cư vào Nam. Nhờ Đức Chúa chuẩn bị tư tưởng, Giám Mục Lê đã lãnh đạo con chiên bổn đạo di cư vào Nam. Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười quả quyết : Giám Mục Lê mà ở lại Phát Diệm thì thế nào cũng bị Bác cho đi trại cải tạo Lý Bá Sơ hoặc Đầm Đùn, để trả thù về vụ đồng bào Công Giáo Phát Diệm làm nhục Bác năm 1946.

Cự Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : chúng tôi đã đi theo Bác thì thằng đéo nào mà chả gian ác lưu manh cu ly cu leo tổ mẹ. Nhưng so với Bác thì vẫn còn thua xa.

  • Chương Mười

Kết luận

Quyển tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi, đến đây là hết. Nhưng cần một kết luận.
Trước khi kết luận, tôi thấy cần phải minh xác với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ.

Tôi không phải là sử gia. Sử gia phải khách quan, không được viết theo cái chủ quan của mình.

Riêng tôi, tôi đã viết theo lập trường chủ quan của tôi, lập trường của một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cộng với lập trường của một kẻ suốt đời ôm hoài bão được bước theo gót người xưa : Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu …
*
Viết về Hồ Chí Minh, tôi dựa trên hai loại tài liệu.

Tài liệu của LỊCH SỬ VIẾT HOA, tức tài liệu của ngoại quốc.

Và tài liệu của LỊCH SỬ KHÔNG VIẾT HOA, tức tài liệu của Việt Cộng. Phần lớn những tài liệu hiếm có này đã do người bạn trẻ của tôi, nhà văn Nguyễn Thế Khanh, cung cấp.

Bây giờ, tôi xin trở lại cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi.
*
Một kẻ xuất thân từ gia đình nghèo mạt, đi ăn xin, thất học cu ly cu leo lưu manh đểu cáng, đã trở thành chủ tịch một nước và được nhiều sách vở Tây Phương ca tụng.

Đó là Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận : Hồ Chí Minh thông minh và mưu lược. Rất tiếc : y là một tên vô lại, lưu manh, và cuối cùng phản bội dân tộc.

Quyển Le Prince của Machiavel và quyển Sử Ký Tư Mã Thiên ám ảnh tôi. Lưu manh, vô lại, đểu cáng tàn bạo là phương tiện. Và cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Quyển Les Mains Sales của J. P. Sartre cũng một triết lý đó. Muốn thành công trong chính trị – nghĩa là muốn cướp được chính quyền – phải biết để cho bàn tay mình nhơ bẩn.

Quyển Les Mains Sales nói về trí thức trong hành động. Tôi nghĩ : Les Mains Sales có thể áp dụng cho bất cứ ai bước vào chính trị quyền lực, thứ chính trị bất chấp luân lý đạo đức. Có học cũng như vô học.

Hồ Chí Minh là một kẻ vô học, có lẽ vô học nhất trong hàng ngũ lãnh tụ trên thế giới. Nhưng lưu manh, đểu cáng tàn bạo, có lẽ cũng vào bậc nhất trên thế giới. Y đã chấp nhận để cho bàn tay của mình nhơ bẩn. Chẳng những nhơ bẩn, mà còn đẫm máu đồng bào ruột thịt. Mục đích : để đạt cứu cánh.

Câu hỏi đựợc đặt ra : y và đảng CSVN của y đã đem lại đuợc gì cho đất nước ?

Ba cuộc chiến tranh Đông Dương không cần thiết – đánh Pháp dành độc lập 1947-1954, chống Mỹ cứu nước 1969-1975, đánh Pol Pot 1979 – với hàng triệu người Việt Nam chết thê thảm và bị tàn phế. Hai cuộc đấu tố ruộng đất cực kỳ dã man, và một chế độ cai trị tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc. Chưa kể cả một giang sơn gấm vóc bị tàn phá khủng khiếp. Chưa kể đời sống dân Việt Nam nghèo khổ nhất thế giới. Chưa kể con người Việt Nam bị xuất cảng làm lao nô ở nuớc ngoài. Chưa kể hàng trăm phụ nữ và em bé gái Việt Nam được xuất cảng đi làm nô lệ tình dục ở nuớc ngoài. Chưa kể cắt đất dâng biển cho Trung Cộng. Chưa kể một chế độ cai trị vô cùng tàn bạo đểu cáng trộm cắp mang tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Và chưa kể : hiện nay, Việt Nam vẫn là mảnh đất nghèo khổ nhất trên thế giới, với bọn cu ly cu leo Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, giầu có vào bậc nhất Đông Nam Á. Nhờ tham nhũng bóc lột.

Đó là công nghiệp của Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y đối với Tổ Quôc VN.
*
Hồ Chí Minh là một tên đại lưu manh, đại bịp, đại đểu cáng. Và có bàn tay nhơ bẩn.

Ngoài ra, y còn là một tên hề mặt trơ trán bóng, cái mặt trơ trán bóng không tìm thấy nơi bất cứ một lãnh tụ nào trên thế giới, kể cả những tên tồi tệ nhất.
Quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên làm cho người đọc buồn nôn. Trần Dân Tiên là y, Hồ Chủ Tịch là y. Y kể chuyện Hồ Chủ Tịch, tức y kể truyện chính y. Y ca ngợi Hồ Chủ Tịch, tức y ca ngợi chính y. Sao trên đời lại có đưá vô liêm sỉ đến thế. Câu trả lời là : y là một tên vô học.

Tôi đã đọc tiểu sử Gandhi, Nehru, Tôn Dật Tiên, Ngô Đình Diệm … Tôi cũng đã đọc tiểu sử Lenine, Staline, Hitler, Mao Trạch Đông.

Chính hay tà, đạo đức hay vô đạo đức, những tên tuổi nói trên không làm trò hề như Hồ Chí Minh. Dù sao họ cũng có học. Đang khi đó, Hồ Chí Minh là một đứa vô học.
*
Từ vô học đến đểu cáng vô nhân đạo vô ơn bạc tình bạc nghĩa, không xa. Tôi muốn nói đến vụï y đối xử với những người đàn bà đã hiến thân cho y, hoặc đã cưu mang y.

Vụ nàng Nguyễn Thị Xuân – hiến trinh cho y, và có con với y, bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp cực kỳ dã man nhiều lần, rồi sau đó bị giết thê thảm – đã không thể xẩy ra, nếu không có sự đồng tình mặc nhiên của Hồ Chí Minh.

Rồi vụ cụ Vũ Đình Huỳnh. Và vụ nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm Giữa Ban Ngày – quyển sách gối đầu giừơng của tôi từ nhiều năm nay, cùng với quyển “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ” của Hà Sĩ Phu.

Thời Pháp thuộc, cụ ông và cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã nuôi Hồ Chí Minh trong nhà, bất chấp những hiểm nguy có thể xẩy ra. Riêng nhà văn Vũ Thư Hiên lúc bé từng được ngủ chung giuờng với Bác.

Và Hồ Chí Minh đã trả ơn như thế nào ?

Năm 1967, cụ ông Vũ Đình Huỳnh và nhà văn Vũ Thư Hiên bị còng tay đưa vào khám Hỏa Lò, người cha đi trước người con đi sau. Hồ Chí Minh đã không có được một lời hoặc một cử chỉ, can thiệp.

Cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã không thèm đến kêu oan với Hồ Chí Minh, vì biết rằng kêu oan với một đứa vô ơn cũng vô ích.

Lịch sử nằm ở đó. Cái đẹp nằm ở đó. Và cũng nằm ở đó, cái tồi tệ đểu cáng mất dậy vô học mang tên Hồ Chí Minh.
*
Rất tiếc, Hồ chí Minh đã được một số chính khách tên tuổi ngoại quốc tiếp tay.

Tôi muốn nói : TT Hoa Kỳ John F. Kennedy, kẻ đã chủ mưu cuộc tạo phản ngày 01/11/1963 của bọn Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim. Cuộc tạo phản ấy đã giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và dọn đường cho Việt Cộng thôn tính Miền Nam.

Và tôi muốn nói : cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon, kẻ đã cùng với tên lưu manh Kissinger trao Miền Nam VN cho cộng sản Bắc Việt năm 1975.
Phản bội, gian manh, lá mặt lá trái, phải chăng đó là truyền thống của chính trị Mỹ ?

Riêng tôi, cũng đã học bài học thấm thía. Trong bức điện tín 25/04/1969 gửi về Toà Bạch Ốc, đại sứ Mỹ Bunker đã viết về tôi như sau :

“Những nhà lãnh đạo như Trần Văn Hương và vị trưởng khối Độc Lập tại Thượng Nghị Viện, Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức, tuần này đã công khai bầy tỏ lòng tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Việt Nam” Nguyên văn : Leaders such as Tran Van Huong and the Head of the Senate’s Independance Bloc, Senator Nguyen van Chuc, this week publickly expressed confidence that the US would not abandon Vietnam. (The Bunker Papers, Reports to the President from Vietnam, vol. 2, page 419).

Bunker đã hoàn toàn bịa đặt. Tôi, Nguyễn Văn Chức, không hề tuyên bố như vậy. Có cần phải nói thêm ? Thời Saigon, Bunker nhiều lần mời tôi đến tư dinh, nhưng tôi đã cáo lỗi.
*
Ngoài những tên tuổi chính trị nói trên, những kẻ đã phản bội Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và tiếp tay cho Hồ Chí Minh thôn tính Miền Nam Viêt Nam, còn những kẻ tự nhận là nhà văn hoá, là nhà viết sử. Họ cũng ca tụng và tiếp tay cho Hồ Chí Minh.

Tôi muốn nói : những Jean Lacouture, William J. Duiker, Bernard Fall, David Hamberstam, Stanley Karnow, William Burchett ..
.
Tôi đã đọc họ. Họ ca tụng Hồ Chí Minh. Tôi không trách họ. Nhưng tôi trách họ sau này không đủ trí tuệ để thấy mình sai và nhất là không đủ liêm sỉ để nhìn nhận mình sai.

Họ không đáng xách dép cho Nguyễn Mạnh Tường của “Un Excommunié”, cho những Arthur Koesler, Ignazio Silone, Louis Fisher của “The God That Failed”, cho Trần Dần của “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cho Hà Sĩ Phu của “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, v.v…

Riêng Jean Paul Sartre, một thời đã cùng với Merleau Ponty, Raymond Aaron và Simone de Beauvoir hết lời ca tụng con đường cứu rỗi nhân loại của Liên Sô. Sau vụ Budapest (Hungary) 23/11/1956, Sartre đã tỉnh ngộ. Câu nói để đời của ông “Un anticommuniste est un chien” (thằng nào chống cộng sản, thằng đó là con chó) đã mặc nhiên trở thành “Un pro communiste est un chien”. (Thằng nào đi theo cộng sản, thằng đó là con chó).
Trí thức là ở đó.
*
Tôi đã từng tranh luận tại nhiều diễn đàn Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế (Union Interparlemen- taire), trên thế giới. Tôi đã từng lớn tiếng nói lên chính nghĩa đấu tranh của Người Quốc Gia Việt Nam, đồng thời vạch mặt bọn chó đẻ cộng sản quốc tế và tay sai, trong đó có bè lũ Hồ Chí Minh.
*
Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.

Chính nghĩa đó, là : thiết lập một chính quyền mà cựu tổng thống Liên Sô Gorbachev đã định nghĩa là : “nảy sinh từ một cuộc tổng tuyển cử hợp pháp (legal) chánh đáng (legitimate) và lương thiện (honest).” Dĩ nhiên, cuộc tổng tuyển cử ấy phải được đặt dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc, với sự hiện diện của báo chí quốc tế.

Đó là giải pháp duy nhất và cũng là điều kiện tiên quyết để đem dân tộc vào ổn định và đưa đất nước tiến lên.
*
Tôi viết xong tập sách nhỏ này đêm nay. Mái tóc bạc đối diện với lịch sử.

Trước mặt tôi là hai tấm ảnh đã cũ.

Tấm ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm bên cạnh ba người chiến sĩ QLVNCH hải lục không quân. Với lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Và tấm ảnh các vị anh hùng đã tuẫn tiết cuối tháng Tư 1975 : tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Nguyễn Khoa Nam, tuớng Lê Nguyên Vỹ. Và đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Với lá cờ vàng ba sọc.

(Riêng đại tá Cẩn, theo tôi được biết, đã bị Việt cộng đem ra xử bắn trước công chúng, vì bất khuất và nặng lời thoá mạ Việt Cộng).

Houston tháng 05/2006
Tháng kính Đức Mẹ Maria
Nguyễn Văn Chức

.

 

218 Bí danh, Biệt danh, Bút danh của Hồ Chí Minh (tên giả)!

HAI TRĂM MƯỜI TÁM (218) BÍ DANH, BIỆT DANH, BÚT DANH CỦA HỒ CHÍ MINH

“…Thâm ý của Trần Dân Tiên là muốn biến hình ảnh ma ảo thành hiện thực, sống mãi trong lòng người dân Việt. Kẻ ác luôn luôn có mục đích như thế. Ngoài ra được sự phụ họa của Hoa Nam, họ Hồ hiển thánh trở thành “cha già dân tộc”. Buồn nhất là có lắm kẻ trí tuệ mờ tối chấp nhận để họ Hồ lừa đảo.”

Cha mẹ đặt tên cho con mang tính hy vọng, tất cả đều hướng về mai sau tươi sáng, vào một đời nhân ái, đạo đức, trang nhã, thanh bạch, làm người tốt để xây dựng xã hội nhân bản hơn. Cha mẹ không bao giờ đặt tên cho con mình với những cái tên Z, Y, X, hoặc những tên biểu hiện sự bạo tàn, bỉ ổi, thối tha và trộm cướp v.v… Họ tên đôi khi được dùng để ghi nhớ những thành tích lịch sử, thể hiện huyết thống, gia phả của quê cha đất tổ.

Cho nên làm người, việc đầu tiên phải biết tên họ của chính mình, và biết giá trị điểm đứng, vị trí trong không gian hiện hữu. Họ tên cũng mang tính chất  thiêng liêng, cho nên người ta còn nói “bán mạng không bán tên”. Không rõ ông Hồ Chí Minh, lãnh tụ của đảng CSVN, học từ đâu cái thói ẩn núp quá ư phiền lụy, mà ông ta có đến 218 họ tên khác nhau. Ông có quá nhiều tên để trở thành một nhân vật xuất chúng. Thực tế đã chứng minh “kẻ bất lương thay tên đổi họ, xoay như chong chóng”.

Một họ, một tên cũng đủ tạo ra sự nghiệp lớn, nhiều tên lắm họ làm sao thực hiện được trọn vẹn chức năng của con người. Tham vọng lớn con người xem ra quá thấp hèn. Bất cứ ai yêu đất nước không nhất thiết phải tạo ra quá nhiều huyền thoại về mình bằng những họ tên phi nghĩa lý. Điều cần thiết là biết lấy lương tri, kiến thức để thuyết phục quần chúng, và lấy khả năng, sự nghiệp để quản trị đất nước. Không ai vay mượn súng đạn của ngoại bang để khuất phục nhân dân. Độc tài, độc đảng không thể dùng để làm nguyên tắc quản trị đất nước. Việc một vị nguyên thủ có quá nhiều bí danh, bí số qua những tên Hán, Nga và Pháp, chứng tỏ đương sự chỉ có chủ đích đánh lừa, đổi trắng thay đen, làm rối mù lịch sử dân tộc. Đương sự liều lĩnh áp đặt lên đất nước một chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai, kéo theo sự phân hóa của dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời chỉ biết tạo ra bất ổn. Lòng dân ly tán, xã hội phân chia và đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa hoà tan vào lãnh thổ Trung Quốc. Đất nước Việt Nam quằn quại, rên siết từ ngày có đảng Cộng Sản. Trải qua 70 dài năm đằng đẵng, người dân chỉ biết câm nín trong đau khổ. Hai trăm mười tám (218) bí danh của ông Hồ Chí Minh đã bào mòn đất nước, tạo nên ly loạn. Đất nước tiêu hao vì chiến tranh, hết chiến tranh lại tiêu hao vì kinh tế. Hiện tại người dân đang dần dà mất hết sinh lực. Quả thực những bí danh do Hồ Chí Minh tạo ra thật đáng ái ngại. Những tên tuổi Hoa Nam đang lan tràn trên đất nước Việt Nam.

Chân dung Hán (Hồ Chí Minh) vẽ bởi họa sĩ John Carlton. AP Wirephoto lưu (d41850) 1969. Nguồn: Hoa Nam.
Chân dung Hán (Hồ Chí Minh) vẽ bởi họa sĩ John Carlton. AP Wirephoto lưu (d41850) 1969. Nguồn: Hoa Nam.

Để lại tên tuổi cho đời sau có một ngàn cách chân chính, không nhất thiết phải cố khuấy trộn bí danh, biệt danh, bút danh. Càng không thể lấy nó để dựng nên cô hồn hiệp đảng, dùng sức mạnh để cướp chính quyền. Để rồi cuối cùng thiên hạ ngỡ ngàng khám phá sự thật họ Hồ chẳng qua là một người Trung Quốc, lòng Hán áo Việt. Đương sự có thể nào thương dân Việt được.

Chúng ta xem xét một tư liệu thật bất ngờ về Hồ Chí Minh. Mời quý bạn đọc duyệt qua 218 tên gọi để thử tìm hiểu con người phức tạp này và nhận diện ít nhiều vị lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam vĩ đại, điêu ngoa tuyệt đỉnh.

Họ tên nguyên thủy 1890

  1. Nguyễn Sinh Cung.
  2. Nguyễn Sinh Côn.

Họ tên thiếu niên và trưởng thành 1893-1911

  1. Nguyễn Tất Thành.
  2. Nguyễn Văn Thành.
  3. Nguyễn Bé Con.
Nguyễn Ái Quốc (x)năm 1924 ở Moskva, chụp ảnh chung với Lev Trotsky. Nguồn: Hoa Nam.
Nguyễn Ái Quốc (x)năm 1924 ở Moskva, chụp ảnh chung với Lev Trotsky. Nguồn: Hoa Nam.

Hồ Chí Minh hoạt động Cộng Sản Pháp và tình báo KGB

  1. Asan (Á Tam – 阿三), 1911 [1]
  2. Paul Tất Thành (Nguyễn Tất Thành – 阮必成), 1912.
  3. Nguyễn Kinh Thiên Aiguo (Nguyễn Ái Quốc – 阮爱国). Ông Big Brother giới thiệu tham dự những buổi sinh hoạt đảng CS Pháp, Paris 1919.
  4. U L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ,năm 1922.
  5. H A. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ, năm 1923.
  6. Li Rui Chí (Hồ chí Minh hóa danh Lý Thụy – 胡志明化名李瑞). Ngày 13 tháng 12 năm 1924, từ Liên Xô đi Quảng Châu, Trung Quốc.
  7. T V. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng ?
  8. Loo Shing Yan, 1 tài liệu, ngày 12 tháng 11 năm 1924. Bản gốc tài liệu đánh máy bằng tiếng Pháp (Loo Shing Yan – Nữ đảng viên Quốc Dân Đảng)
  9. Nilốpki, 6 tài liệu từ tháng 10 năm 1925 đến tháng 3 năm 1926. 1924 (hồ sơ khác ghi 1924).
  10. Z A C, 1925. Bí danh nữ tình báo.
  11. Howang T.S, 1 tài liệu Báo cáo trong Đại hội công nhân và nông dân ngày 2 tháng 1925
  12. LT, 4 tài liệu viết từ tháng 4 năm 1925 đến tháng 5 năm 1954. (hồ sơ khác ghi 1925)
  13. X X, 1926.
  14. H T, 1 tài liệu “Bà Trưng Trắc” đăng trên báo Thanh Niên, số 72 ngày 12 tháng 12 năm 1926.
  15. X. 7 tài liệu từ tháng 12 năm 1926 đến tháng 3 năm 1927.
  16. AP, 1 tài liệu, bài “Văn minh Pháp ở Đông Dương”- tạp chí Inpekorr. Tiếng Đức. số 22. 1927.
  17. Lin, 5 tài liệu viết từ tháng 1 năm 1935 đến tháng 9 năm 1939. (có nơi ghi Line. 1924-1938, dùng tại Diên An, Trung Quốc).
  18. N K, 1 tài liệu “Sự thống trị của đế quốc Pháp tại Đông Dương”-Tạp chí Inprekorr. bản tiếng Pháp. ngày 15 tháng 10 năm 1927.
  19. N A K, 1 tài liệu “Thư gửi Quốc tế nông dân” ngày 3 tháng 2 năm 1928.
  20. Wang, 6 tài liệu từ tháng 9 năm 1927 đến tháng 6 năm 1928.
  21. N, tài liệu từ tháng 2 năm 1922 đến tháng 1 năm 1924. (hồ sơ khác ghi 1923).
  22. T V Wang, 1930.
  23. Victo, 1930.
  24. Vichto Lơ bông, (Victor Lebon), 1930 ?
  25. L  M  Wang, 1930.

32 .Quac.E. Wen, 1931.

  1. K V, 1931.
  2. V, 2 tài liệu đều trong tháng 2 năm 1931.
  3. K, 1931.
  4. New Man, 1933.
  5. Li Nốp, 1934.
  6. P C Lin, 8 tài liệu từ tháng 12 năm 1938 đến tháng 7 năm 1939.
  7. X Y Z, 10 tài liệu từ tháng 10 năm 1947 đến tháng 9 năm 1950.

1

Xác ướp Hồ Chí Minh nằm trong quan tài pha lê, được tình báo Hoa Nam âm thầm tráo đổi, quan tài pha lê thay đổi thây ma đã mấy lần, kẻ trộm cướp xác, người giả thay vào biểu diễn ngoạn mục. Cho đến nay người dân Việt Nam mới biết được một phần, khi ấy truyền thông thế giới đã biết tên bi danh Hồ Chí Minh. Đến lúc xác ướp rỉ rõ mạnh, mọi lưu trữ trong dối trá bấy lâu, nay tiết lộ. Và AP Wirephoto đến AP. Lấy chân dung họ Hồ, phân tích, đối chiếu; bản gốc lần thứ nhất, chụp họ Hồ ngày 12/3/1950, lần thứ nhì ngày 20/6/1950 đúng 60 tuổi, và lần thứ ba 66 tuổi (1966). Cho thấy cả ba chân dùng trên không cùng một người. Sau đó người ta công bố (Câu chuyện dài về Hồ Chí Minh). Nguồn tư liệu mật: Hoa Nam.

Tình báo KGB-Hoa Nam

  1. Albert de Pouvourville, 1920.
  2. Phéc-đi-năng  (Ferdinand).
  3. Culixe,1 tài liệu ngày 13 tháng 2 năm 1922. (bản gốc tài liệu tiếng Pháp đề: “Culixe” Nguyễn Ái Quốc dịch.
  4. Pôn, 1 tài liệu ngày 27 tháng 2 năm 1930. (hồ sơ khác ghi Paul Thành 1915).
  5. Vichto, 5 tài liệu từ tháng 9 năm 1930 đến tháng 4 năm 1935.
  6. Henri Tchen (Trần). 1922.
  7. Un Annamite. (Một người An Nam), 1924.
  8. Liwang, 1927.
  9. Teng Man Huon, 1935. Bí danh nữ tình nhân
  10. N A Q. 8 tài liệu viết từ tháng tháng 6 năm 1922 đến tháng 9 năm 1930.
  11. Pôn (Paul), 1930.

51.Vector Lebm.

  1. Q TH, 14 tài liệu từ tháng 12 năm 1945 đến tháng 10 năm 1946. (hồ sơ khác ghi 1945)
  2. Q T, 10 tài liệu từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946.
  3. T C, 1946.
  4. Đ H, 1946.
  5. A, 1947.
  6. Z, 1947.
  7. H G, 1949.
  8. AG, 7 tài liệu viết từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 1 năm 1950.
  9. Đ X, 51 tài liệu viết từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 7 năm 1954, (trong chuyên mục “Thường thức chính trị” trên báo Cứu quốc. (hồ sơ khác ghi 1951).
  10. N T, 1951
  11. H B, 1 bài “Có phê bình phải có tự phê bình” – Báo Nhân Dân số 488 ngày 4 tháng 7 năm 1955.
  12. K C, 1957
  13. T, 1958
  14. V K, 1 tài liệu “Kiều bào ta ở Thái Lan luôn hướng về Tổ Quốc” ngày 3 tháng 1 năm 1960. (có nơi 1951).
  15. CK, 9 tài liệu viết từ tháng 1 năm 1960 đến tháng 3 năm 1960.
  16. K K T, 1960
  17. Ly, 1961
  18. Ch-Kopp (A-la-ba-na). 1963
  19. CS, 1964
  20. LK, 1964
  21. K O, 1965
  22. B.
  23. E Wan.

75.K K V.

76.Lonis-Berlin.

  1. Wau you. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng.

78.Loa Roi Ta.

  1. Paul.
  2. Dic-donc (Đi Đông)
  3. H C M. Mật bút viết 8 tài liệu, từ tháng 3 năm 1946 đến tháng 12 năm 1966.
  4. Lý Mỗ (李默), 1925.
  5. Trương Nhược Trừng (张弱惩) 1925.
  6. Vương Sơn Nhi (王山儿), 1925.
  7. Vương (王), tháng 5 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).
  8. Mộng Liên (梦联), 1926. Bí danh nữ tình nhân
  9. Tống Thiệu Tổ (宋绍祖), 1926. Bí danh nữ tình nhân
  10. Vương Đạt Nhân (王达人), 1926.
  11. Tiết Nguyệt Lâm (节林月), 1930. Bí danh nữ tình nhân

1

Năm 1950, Shangjian Kang (Thượng Kiện Khang – 尚健康) Hồ Chí Minh “60 tuổi”, bí mật qua biên giới Việt Nam-Trung Quốc, sau đó cùng đi với tướng Chu Đức (朱德), tướng Nhiếp Vinh Trăn (聂荣臻), tướng Lý Duy Hán (维汉), tướng Liêu Thừa Chí (廖承志), đến Bắc Kinh. Ảnh chụp tại cửa Nam Trung Quốc thuộc phía Bắc của Ải Nam Quan Việt Nam. Nguồn: Hoa Nam.

Tình báo Hoa Nam

  1. Tống Văn Sơ (宋范初), 1931.
  2. Lâm Tam Xuyên (林三穿), 1939.
  3. Hồ Quang (濠光). thiếu tá Côn Minh và Quế Lâm. (hồ sơ khác ghi 1938-1940)
  4. Cúng Sáu Sán (朝六菌). 1941.
  5. Hồng Liên (紅联), 1953. Bí danh nữ tình nhân
  6. Thu Sơn(秋山), 1942.
  7. Cheng Vang (郑旺Trịnh Vượng) 1923.
  8. Lucius, 1945.
  9. K T, 1948.
  10. K Đ, 1948.
  11. G, 1949.
  12. T T, 1949.
  13. Shangjian Kang (Thượng Kiện Khang – 尚健康) Hồ Chí Minh “60 tuổi”, bí mật qua biên giới Việt Nam-Trung Quốc, sau đó cùng đi với tướng Chu Đức (朱德), tướng Nhiếp Vinh Trăn (聂荣臻), tướng Lý Duy Hán (李维汉), tướng Liêu Thừa Chí (廖承志), đến Bắc Kinh, năm 1950.
  14. Din, 3 tài liệu viết từ tháng 1 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953. (hồ sơ khác ghi 1950).
  15. T L, 80 tài liệu từ tháng 4 nam 1950 đến tháng 6 năm 1969. (hồ sơ khác ghi 1950)
  16. CB,147 tài liệu viết từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 3 tháng 1957 (trên báo Nhân Dân)
  17. H, 1951.
  18. Ph K A, 1959.
  19. Jean Fort, 1960.

109.V Quac.

  1. LW Vương.
  2. Pan.
  3. S Chon Vang.
  4. Jeng Man Huân. (Trịnh Hoan Vấn 郑欢文) Bí danh nữ tình nhân.

114 – 115. Tuyết˗Lan, 1935˗1960. Bí danh (Trịnh Hoan Vấn – 郑欢文) và (Ngọc Lan Châu –

玉兰洲) nữ gián điệp.[3]

  1. Thanh Lan, 1963. Bí danh nữ gián điệp.
  2. Ngô Tam, 1963. Bí danh nữ tình nhân.
  3. Thu Giang, 1959.Bí danh nữ tình báo.
  4. Đ L Đ. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc.
  5. T R. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc.
  6. H L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân.
  7. H C. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân.
  8. L. Bút danh ký dưới bài viết năm 1959.
  9. Lý Thụy (李瑞). 2 tài liệu từ ngày 18 tháng 12 năm 1924 đến ngày 6 tháng 1 năm 1926. (hồ sơ khác ghi 1925)
  10. Lý An Nam (李安男). 1924-1925
  11. Bình Sơn (平山), 10 tài liệu viết từ tháng 11 năm 1940 đến tháng 12 năm 1940.
  12. La Lập (啦立). Dùng 1 lần tại báo Nhân Dân số 4530 ngày 1 tháng 9 năm 1966.
  13. Vương Bạc Nhược (王白弱). Bí danh dùng khi hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, năm 1925
  14. Trần Vương (陈王).
  15. Tân Sinh (新生). Dùng 1 lần tháng 1 năm 1948.?
  16. Trầm Lam. Bí danh nữ tình nhân.
  17. Ai QuaQue (爱过桂). Bí danh nữ tình nhân.
  18. Lý Tín Tống (李信宋).

1

Tình báo KGB xác định Nguyễn Ái Quốc (Нгуен Ай Куок), đã qua đời năm 1932, tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932), hài cốt hiện đang lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevo Moscow…Khi ấy Hoa Nam tạo ra một hồ sơ Hồ Chí Minh hoàn toàn mới, theo kỹ thuật chỉnh hình, tạo thành sản phẩm chính trị, Trung Quốc nhằm mục đích bành trướng Đông Á. Đến năm 1965. KGB tìm được đáp số chứng minh: Chân dung thực Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 3 năm 1965, ngày 15 tháng 9 năm 1965, và ngày 15 tháng 6 năm 1966. Cho thấy cả ba chân dùng trên không cùng một người. Nguồn tư liệu mật: Hoa Nam.

Đảng CSVN phiên bản của tình báo Trung Quốc˗Việt Nam với những tên rất Việt

  1. Nguyễn Hữu Văn.
  2. Nguyễn Hải Khách
  3. Nguyễn Lai.
  4. Chính.
  5. Tín.
  6. Văn Ba (khi làm phụ bếp trên tàu biển, 1911)
  7. Tất Thành.
  8. Ng.A.Q. Dùng 1 lần ngày 1 tháng 8 năm 1922. (có nơi ghi 1921-1926).
  9. Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1914 đến tháng 8 năm 1942. (có nơi 1919)
  10. Nguyễn.A.Q, 2 tài liệu ngày 14 tháng 10 năm 1921 và ngày 1 tháng 8 năm 1922.
  11. Nguyễn. 2 tài liệu từ tháng 4 năm 1924 đến tháng 8 năm 1928. (hồ sơ khác ghi 1923)
  12. Chú Nguyễn. Dùng 1 lần tháng 3 năm 1923.
  13. Ái Quốc, 1924
  14. N Ái Quốc, 1 tài liệu ngày 16 tháng 12 năm 1927.
  15. Ng. Ái Quốc, 1930
  16. Ông Lai, 1927
  17. Thọ, 1928
  18. Nam Sơn, 1928
  19. Chín (Thầu Chín) 1928.
  20. Ông Lý (李), 1930.
  21. Công Nhân, 1930.
  22. Đông Dương, 1931.
  23. Ông Lu, 1924.
  24. Ông Trần, 1940 .
  25. Già Thu, 1941.
  26. Kim Oanh, 1941. Bí danh nữ tình nhân.
  27. Bé Con, 1941.
  28. Ông Cụ, 1941.
  29. Hoàng Quốc Tuấn, 1941.
  30. Bác, 1941.

1

Tháng 7 năm 1970, sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Trung Cộng ghi công, mở cuộc thi sáng tác vẽ tranh hí họa. Hoạ sĩ Phi Canh đoạt giả nhất với tác phẩm Cáo Hán (Hồ Chí Minh), loan tải trên báo: Nghệ thuật tranh ảnh (Picturechina). Nguồn: Hoa Nam.

  1. Xung Phong, 1942.
  2. Hồ Chí Minh (胡志明). Từ tháng 8 năm 1942 đến 2 tháng 9 năm 1969.
  3. Hy Sinh, 1942.
  4. Cụ Hoàng, 1945.
  5. CM Hồ, 3 tài liệu viết từ tháng 7 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945.
  6. Chiến Thắng, 8 tài liệu viết từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 10 năm 1945.
  7. Ông Ké, 1945.
  8. Hồ Chủ tịch, 1945.
  9. Hồ (胡). 7 tài liệu từ tháng 5 năm 1945 đến tháng 2 năm 1947. (hồ sơ khác ghi 1945)
  10. Trần Thắng Lợi. Dùng 1 lần ngày 18 tháng 1 năm 1949.
  11. Trần Lực, 1949.
  12. Lê Nhân. Dùng 1 lần tại bài “Thất bại và thành công”
  13. Lê Quyết Thắng, 1948.
  14. Xuân, 1946. Nữ gián điêp.
  15. Một người Việt Nam. 1946.
  16. Tân Sinh, 1947.
  17. Anh, 1947.
  18. Bác Hồ. Dùng tại 119 tài liệu viết từ 27 tháng 10 năm 1946 đến 21 tháng 7 năm 1969.
  19. Chí Minh, 1950.
  20. Đinh, 1950.
  21. Nguyễn Du Kích, 1951.
  22. Nguyễn Thao Lược, 1954.
  23. Lê. 1954.
  24. Tân Trào, 1954.
  25. Nhân dân, 1951.
  26. Nguyễn Tân, 1957.
  27. Chiến Sĩ. Dùng tại 128 tài liệu viết từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 7 năm 1969. (hồ sơ khác ghi 1958).
  28. Nguyễn Kim. 1963.
  29. Nguyễn Văn Trung, 1963.
  30. Dân Việt, 1964.
  31. Đinh Văn Hảo, 1964.
  32. Nguyên Hảo Studiant (Nguyên Hảo, sinh viên), 1959.
  33. Lê Ba. 1 tài liệu “Trả lời ông Menxphin thượng nghị sĩ Mỹ” ngày 20 tháng 4 năm 1966. (báo Nhân dân số 4407).
  34. Nói Thật, 1966.
  35. Chiến Đấu, 1967.
  36. Việt Hồng, 1968. Nữ gián điêp Vũ Thị Việt Hồng.
  37. Đinh Nhất, 1968.
  38. Trần Lam, 1960.
  39. Một người Việt kiều ở Pháp về, 1960.
  40. Lê Nông, 1964.
  41. Lê Thanh Long, 1963.
  42. Luật sư Th Lam, 1961. Bí danh nữ tình nhân, điệp viên Hoa Nam.
  43. Ông Lý Hồng Công.
  44. Nguyễn Lai.
  45. Trần Lực. Dùng tại 25 tài liệu từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 1 năm 1961.
  46. Lan. (Mỹ Lan) Bí danh nữ tình nhân.
  47. Ông Trần.
  48. Trần.
  49. Nói Thật.
  50. Kỳ Viễn (期远).
  51. Lê Đinh. Ký trong một số bức điện gửi ra nước ngoài.
  52. Diệu Hương. Bút danh ký dưới bài đăng báo Thanh niên, năm 1926. Bút danh nữ tình nhân.
  53. Tân Sinh. Viết cuốn “Đời Sống Mới”, bút danh và tác giả (Hồ Chí Minh). NXB: Uỷ ban Trung ương vận động Đời sống mới. 1947.
  54. Lan.Viết cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” 1961. Tự bốc thơm qua bút danh nữ tình nhân. T Lan tên của một tình nhân.
  55. Trần Dân Tiên. Tác giả của “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”. Tình báo Hoa Nam gợi ý Hồ Chí Minh lấy bí danh cuối cùng Trần Dân Tiên để tự viết ca tụng đời mình.
Chữ ký, tên gọi, bí danh, biệt danh, bút danh của Hồ Chí Minh. Nguồn: Hoa Nam.
Chữ ký, tên gọi, bí danh, biệt danh, bút danh của Hồ Chí Minh. Nguồn: Hoa Nam.

Xác định 7 nhóm bí danh, biệt danh, bút danh:

1 ‒ 23 phụ nữ, yêu quí nhất của Hồ Chí Minh có bí danh, bí số theo từng thời gian chung sống [3].

2 ‒ 34 bí danh, biệt danh Hán tộc.

3 ‒ 14 bít danh, biệt danh hoạt động thời Cộng Sản Pháp.

4 ‒ 20 bí danh, biệt danh Cộng Sản Nga.

5 ‒ 34 bí danh, biệt danh Trung Cộng.

6 ‒ 39 bí danh, biệt danh Hoa Nam.

7 ‒ 53 bí danh, biệt danh, bút danh Cộng Sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh mượn văn chương lừa dối người, qua nhiều bút danh.

1 – Tân Sinh, bí danh hơn là bút danh của họ Hồ, ông ta chơi trội trên đấu thiên hạ, tự mình chọn một tên bí danh cô hồn nào đó, để viết dạy đời bằng cuốn sách “Đời Sống Mới” nội dung trình bày theo hỏi và đáp.

Trên thực tế quá nhiều xác thể họ Hồ, do Hoa Nam cấy tạo vào đất nước Việt Nam, họ Hồ đã giả cố xây dựng cho thực, lại càng làm thêm giả. Ngày 14/2/1951. Mao Trạch Đông trao đổi với Chu Ân Lai, rằng: “胡者肢肢者˗ Hồ giả chi chi giả” (Hồ, một kho chứa của tất cả mọi sự giả), rất may Mao Trạch Đông vô tình không che đậy bên trong nguyên sự thực của họ Hồ. Cho nên khi họ Hồ nào đó, đứng trên đỉnh cao của đất nước Việt Nam, điều cần trước nhất, tạo cho mình một vị trí tin cậy trong lòng dân Việt Nam, bằng cách cho ra đời một tập hỏi và đáp “Đời Sống Mới”.

Ngày nay, mọi sự thật trong cái che đậy, tự nó bày ra. Như có bao giờ báo chí được trực tiếp phỏng vấn Hồ Chí Minh, rất ít khi họ Hồ công khai trước quần chúng, ông chưa hề mở ra những cuộc thảo luận, trao đổi minh bạch trước nhân dân Việt Nam. Tất cả chỉ nghe qua hệ thống của tuyên truyền, báo chí, do những chuyên gia Hoa Nam thêu dệt, vẽ nộm tượng hình thánh nhân. [4]

2 – T Lan. Bút danh “Vừa đi đường vừa kể chuyện” 1961. Tự bốc thơm qua nguyên tác “Vừa nằm vừa kể chuyện“, ý tứ lịch lãm trong phòng the dâm đãng, cho nên họ Hồ đổi lại “Vừa đi đường vừa kể chuyện”. Từ đó T Lan và họ Hồ trong trái tim “Vừa nằm vừa kể chuyện“, chính là tình nhân không thể quên trong đời ông. [5]

3 – Trần Dân Tiên. Vì lý do nào đảng CSVN không công bố bút danh Trần Dân Tiên vào danh sách tự hào đời riêng tư của chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi vì bút danh thứ 218 Trần Dân Tiên chính là tác giả của “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch“. Tự viết một tác phẩm ca tụng chính mình vĩ đại. Bản chất Trần Dân Tiên là thế đấy. Y nằm trong tim của họ Hồ, tự vẽ thân phận mình thành thần thánh, ca tụng, bốc thơm, thể hiện thành tích sống của vị thầy. Nhờ đó huyền thoại về họ Hồ càng lúc càng được củng cố. Thâm ý của Trần Dân Tiên là muốn biến hình ảnh ma ảo thành hiện thực, sống mãi trong lòng người dân Việt. Kẻ ác luôn luôn có mục đích như thế. Ngoài ra được sự phụ họa của Hoa Nam, họ Hồ hiển thánh trở thành “cha già dân tộc”. Buồn nhất là có lắm kẻ trí tuệ mờ tối chấp nhận để họ Hồ lừa đảo, để đất nước Việt Nam bị hệ lụy đến hôm nay (2013).

Đã đến lúc người dân Việt Nam cần bình tỉnh để đưa đất nước sang một ngõ rẽ nhân bản hơn, bằng đồng thuận Dân Chủ Đa Nguyên, và sáng tạo một Dự Án Chính Trị đặc thù dân tộc Việt Nam. Từ bỏ ý thức hệ ngoại lai của người Cộng Sản, đã quay cuồng trong hư danh đại đồng dối trá, 70 năm đưa đất nước Việt Nam đến kiệt quệ mọi khả năng sống, hiện tại rơi vào trầm luân khốn khó trí tuệ, và bị đẩy ra khỏi thế giới tinh anh. Quả thực dân tộc Việt Nam đã rơi vào mạng lưới chiến lược của bí danh. Quá trình xây dựng bí danh đã ăn sâu vào lòng đất Việt. Nó bành trướng từng ngày và “sinh xôi nảy nở” đến hằng triệu bí danh. Đây là một loại vi trùng của “CS” đã đục khoét xã hội một cách tàn bạo, nó quyết liệt ăn mòn bệnh nhân, đến khi chết vẫn không biết Cộng Sản giết mình!

Chính Hồ Chị Minh còn không biết mình là ai. Năm 1959, nhận dịp về thăm cố quốc, ông ta nói với Chu Ân Lai [6]:

“‒ Bạn (Trung Quốc và Liên Xô) là hai người anh trai, chị gái, khi gặp chuyện, chúng ta mới là anh, em (xã hội chủ nghĩa) không thể nhìn nhau xa lạ để làm gì? “.”他曾经对周恩来说: “你们(中国和苏联)一个是大哥哥,一个是大姐姐,你们闹矛盾,让我们这些弟弟妹妹(其他社会主义国家)怎么办 ?” [Tha tằng kinh đối Chu Ân Lai duyệt: Nhĩ môn (Trung Quốc hòa Tô liên)  Nhất cá thị đại ca ca, nhất cá thị thư thư, nhĩ môn náo mâu thuẫn, nhượng ngã môn giá tá đề đệ muội muội (kí tha xã hội chủ nghĩa quốc gia) chẩm yêu biện]. Điều này chứng minh họ Hồ là người Hán, khác máu tanh lòng, nào phải người dân Việt!

Bao lâu nay đảng CSVN tự hào Hồ Chí Minh có 174 tên gọi [2], nhưng thực thế vượt hơn hẳn con số này. Nay chúng tôi truy tìm, bổ túc thêm 44 họ tên chính thức của họ Hồ, tổng cộng gồm có 218 bí danh, biệt danh, bút danh.

Một lần nữa xin lưu ý về họ tên:

‒ Văn bản, tên phổ, tên khoa học, biệt hiệu không nên nhầm lẫn với bút danh. Trong một vài trường hợp bí danh sử dụng tương đương tên thật. Và thử hỏi Hồ Chí Minh có bao nhiêu họ  tên và họ tên nào là thật. Phải chăng toàn là họ tên lưu manh, được đảng CSVN đánh bóng nhưng thực chất là một con người hoàn toàn ảo. Căn nguyên cuộc sống hằng ngày của họ Hồ đã bị mất, con người ấy không trung thực và trong sáng. Tiếc thay đến giờ này phần lớn nhân dân Việt Nam vẫn không biết về con người thật của Hồ Chí Minh.

Dân tộc Việt Nam ngày nay có cần thiết phải tự hào về người này nữa hay không. Trong quá trình xây dựng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ông Hồ Chí Minh có công đầu du nhập chủ thuyết Mác Lê và tất nhiên các đệ tử phải tiếp tục ca ngợi ông để duy trì quyền lãnh đạo đất nước và vấp phải bệnh lưỡng lự, không dám phạm đến ông và do đó không thoát ra khỏi vũng lầy lội mà chính ông đã tạo ra. Hy vọng người Việt yêu nước dứt khoát quyết định từ bỏ quá khứ tồi tệ, sớm lôi kéo nước Việt Nam ra khỏi vòng kiềm tỏa mờ mịt, u tối hiện nay.

Huỳnh Tâm

Tham khảo:

[1] Bút danh, bí danh, biệt danh họ Hồ: sachhiem.netmy.go.vn , Đôi Mắt.

[2] Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Nội. “Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, công bố thống kê 169 tên chính thức, và nêu lên 17 bút danh khác của Hồ Chí Minh. Và NXB Quân đội nhân dân. “Hồ Chí Minh –Những tên gọi đi cùng năm tháng”. Hà Nội, 2003, thống kê Hồ Chí Minh có 174 tên gọi; trong đó có 78 tên chính thức, và 96 tên bí danh, bút danh.

[3] Những phụ nữ đã qua tay họ Hồ, không có bí danh, biệt danh, bút danh. Cho nên, chúng tôi không bổ túc vào nội dung tư liệu này, xin hẹn quý độc giả vào dịp khác.

[4] Tân Sinh. “Đời Sống Mới”lichsuvn , lichsuvn,

tuyengiao: http://www.tuyengiao.soctrang.gov.vn .

[5] Tư liệu Hoa Nam, do ký giả Cát Thuần cung cấp.

[6] Tìm Hiểu Cuộc Đời Hồ Chí Minh

Advertisements

SỐNG, HỌC, LÀM, CHƠI – Hoàng Hải Thủy

SỐNG, HỌC, LÀM, CHƠI

Tôi thích đọc chữ Nho – tên khác là Chữ Hán, Chữ Tầu – nên năm 1967 tôi mua sách dậy Chữ Nho về tự học. Hai lần tôi tự học Chữ Nho, hai lần tôi bỏ cuộc. Chữ Nho khó tự học quá. Khi ấy tôi đã có vợ con, có việc làm, tôi lại ham chơi hơn học. Tôi đã tưởng như vậy là thôi, là trọn đời tôi không có Chữ Nho.

Tôi từng thu xếp Đời Sống của tôi với ba Việc chính: Làm, Học và Chơi. Ba việc có liên can với nhau: Tôi Làm để có thể Học và Chơi, tôi Học để có thể Làm việc kiếm sống, tôi Chơi để có thể Học và Làm. Tôi ham Chơi nên phần Chơi trong đời tôi luôn luôn lấn sang phần thời giờ tôi dành cho Làm và Học.

Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn trong một sáng mùa xuân. Mùa xuân ấy tôi mười tám tuổi.

Năm tôi 14 tuổi – năm 1948 – tôi đi kháng chiến chống Pháp. Đã hơn một lần tôi viết “Tôi đi kháng chiến cho “oai.” Thực ra việc làm thứ nhất có tiền lương trong đời tôi là việc làm liên lạc viên cho cơ quan Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Tôi có tiền lương tháng 120 đồng tiền Việt Minh; tôi ăn cơm trong cơ quan 50 đồng một tháng. Năm 1950 tôi trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Năm 1951 tôi vào Sài Gòn.

Năm 1951 tôi đọc trong một nhật báo Sài Gòn lời nhắn tìm người dịch bài chữ Pháp ra chữ Viêt của một ông bác sĩ. Tôi tìm đến phòng mạch của ông bác sĩ tôi không nhớ tên. Phòng mạch ở đường Verdun. Sau năm 1956 đường Verdun là đường Hàm Nghi. Người tiếp tôi là ông thư ký của ông bác sĩ. Ông đưa tôi một tờ chữ Pháp đánh máy cho tôi dịch. Hôm sau tôi mang bản dịch đến nộp cùng bản tên và địa chỉ của tôi. Tôi đề nghị tiền công tôi dịch một trang chữ Pháp như thế là 5 đồng.

Vài ngày sau tôi được phòng mạch bác sĩ gọi đến giao việc dịch. Ông bác sĩ cho tôi quyển Danh Từ Khoa Học, quyển tự điển tác giả là ông Hoàng Xuân Hãn. Tập tài liệu chữ Pháp khoảng 30 trang, tôi dịch được 150 đồng. Tiền trả ngay. 150 đồng là khoản tiến tôi kiếm được thứ nhất trong đời tôi. Năm 1950 giá tiền tô phở Bắc ở Sài Gòn là 5 đồng, vé xi-nê hạng bét là 8 đồng.

Vì cần tiền tôi bỏ học đi tìm việc làm.

Nhiều năm sau, tôi có việc làm, có vợ con, tôi vẫn thích Học. Tôi thích đọc Chữ Nho. Nhưng, như tôi đã viết, hai lần tôi tự học Chữ Nho, hai lần tôi bỏ cuộc.. Đầu năm 1968 tôi đọc trong mục Rao Vặt của một nhật báo lời rao:

“Học trong hai tiếng đồng hồ có thể tự đọc được Chữ Nho.”

Khoảng 3 giờ chiều một ngày Thứ Bẩy tôi đến trường Đức Trí, đường Cao Thắng. Trong một lớp học ở trường này lần thứ nhất tôi gập thày Đào Mộng Nam. Ông trạc tuổi tôi. Chờ ông dậy xong tôi gặp ông, tôi tự xưng tên tôi, kể với ông việc tôi tự học Chữ Nho mấy lần mà đều phải bỏ cuộc.

Thầy Đào Mộng Nam cho tôi một tập bài học chữ Nho in ronéo. Ông hỏi địa chỉ của tôi. Khoảng tuần sau ông ghé nhà tôi. Ông chỉ cho tôi cách đếm nét chữ tìm âm và nghĩa của chữ. Những âm và nghĩa này có ghi ở dưới bài chữ Hán..

Sáu mươi năm qua, nay tôi vẫn nhớ những lời ông nói:

– Anh tự học Chữ Nho không được là vì anh phải nhớ nhiều quá. Anh phải nhớ mặt chữ, nhớ âm và nghĩa của chữ. Nay học theo phương pháp của tôi mỗi ngày anh học một bài trong sách. Anh mở sách, tìm âm, tìm nghĩa của những chữ trong sách, dịch toàn bài sang tiếng Việt. Xong anh gập sách, anh đi làm việc khác. Anh quên bài học đi. Hôm sau anh mở sách học bài tiếp. Bài tiếp này có mấy chữ bài trước, và mấy chữ mới. Anh quên, anh lại xét mặt chữ, tìm âm, tìm nghĩa của nó. Bài học tiếp có một số chữ anh đã học. Hai, ba lần như thế, anh sẽ nhớ. Chỉ cần mỗi ngày anh học một bài. Học một bài cả trong ngày chủ nhật. Đừng bỏ học ngày nào.

Năm ấy Thầy Đào của tôi đi xe bốn bánh. Cứ khỏang mười ngày Thầy ghé nhà tôi một lần, hỏi có chữ khó nào tôi không tìm được âm-nghĩa không. Nếu có ông bảo tôi viết chữ đó, đếm nét chữ, rôi tra tự điển.

Hiếm có những ông thầy đã dậy không lấy tiền còn đến nhà học trò chỉ dậy thêm, như Thầy Đào Mộng Nam.

Ông chỉ cho tôi đến chỗ mua quyển Tự Điển Thiều Chửu. Tự điển này không bán ở Nhà Sách Khai Trí mà bán trong một nhà tư nhân gân rạp xi-nê Nam Việt. Đường gì tôi quên mất tên; chỉ nhớ tên Pháp là đường Chaigneau. Tôi nhớ quyển Tự Điển Thiều Chửu tôi mua năm xưa ấy là 30 đồng.

Tôi có tới hai, ba quyển Tự Điển Thiều Chửu. Nhưng nay tôi chỉ giữ một quyển. Quyển Tự Điển Thiều Chửu, ảnh kèm theo bài, tôi có từ năm 1968.

Nhờ Thầy Đào Mộng Nam, tôi có Chữ Nho. Tôi nhớ ơn Thầy.

Tôi vừa tìm thấy bài viết về Giáo Sư Đào Mộng Nam trên Intenet.

Thầy Đào Mộng Nam.

Tóc thường để dài, cột sau gáy, trang phục thường xuề xòa, mắt nhìn ngây thơ, cử chỉ dịu dàng, tính trầm mặc, ưa lặng lẽ, khi lên tiếng thì lời vi diệu, đầy ẩn mật, cho thấy những suy nghĩ lạ lẫm nhưng cổ kính,  ngôn ngữ trau chuốt nhưng thơ mộng… và cũng bất ngờ khi anh chợt đến, khi anh chợt đi. Đó là hình ảnh của giáo sư, và cũng là nhà thơ, Đào Mộng Nam.

Nhà văn Nguyễn Tiến Văn ghi nhận trên mạng Talswas.org hôm 1-9-2006, qua bài “Đào Mộng Nam, Về..…” với những dòng chữ mở đầu như sau:

“Đào Mộng Nam vừa qua đời tại California, hoàn toàn đơn độc tại trai phòng chỉ có bồ đoàn, máy vi tính, ấm trà, những bản thảo dịch thơ Cao Bá Quát và những tập bản thảo sưu tập các giai thoại về Bùi Giáng…”

Đào Mộng Nam đã sống một cuộc đời đầy những hồn thơ, kể cả khi lặng lẽ từ trần trong thư phòng, phòng chất đầy quanh tường và các kệ sách là Thơ của Cao Bá Quát và Bùi Giáng.

Người ta một thời gặp anh Đào Mộng Nam thường xuyên trên các phố Bolsa, nhưng vài năm gần đây thì ít gặp anh hơn. Những công trình anh muốn làm thì nhiều hơn việc làm của một đời người. Khi gặp nhau, khi được hỏi về các vấn đề cổ học, về Hán học, hay ngay cả về văn chương hiện đại, chúng ta thường nghe anh nói với những kiến thức đời thường ít gặp, ít thấy… Anh đọc nhiều hơn rất nhiều người, và đọc một cách sâu sắc lạ thường.

Khi hỏi chuyện riêng tư, thì anh thường cười và quay mặt đi. Chỉ thỏang khi chúng ta mới gặp vài ngôn ngữ nồng thắm tư riêng của anh. Thí dụ, như thử trích mấy câu thơ sau trong bài “Đồi Cỏ” của Đào Mộng Nam:

“Xin hãy cùng em bước lên đồi cỏ dại
Thế giới thủy tinh màu nắng là màu xanh
Thoảng nhẹ âm thanh chỉ tiếng gió thì thào
Ta riêng một cõi tạm quên đời dâu bể…”

Bài thơ nhiều đọan này về sau được một số bạn hữu đưa vào một CD Tuyển Thơ của nhiều nhà thơ.

Nhưng dấu ấn lớn nhất của Đào Mộng Nam đối với văn học Việt Nam là vai trò một nhà Hán học của anh. Rất nhiều sinh viên của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh thời trứơc 1975 không thể nào quên công trình quảng bá chữ Nho của Đào Mộng Nam.

Giáo Sư Đào Mộng Nam có một phương pháp dạy và học chữ Hán mới hơn, giúp học sinh tiếp cận văn học chữ Nho nhanh hơn và nhớ hơn các lối học truyền thống. Trước đây, nhà văn Hòang Hải Thủy từng viết rằng chỉ nhờ học chữ Hán theo phương pháp của Đào Mộng Nam trong 5 tháng là đã có thể tự đọc được Tam Quốc Chí bằng Hán văn. Hiển nhiên, như thế là phi thường kinh khủng.

Nếu chúng ta hình dung ra cơ sự tương tự mới thấy được cái hay của phương pháp tiếp cận mới đó: chỉ cần học Anh ngữ trong 5 tháng là có thể đọc được văn của Shakespeare hay Charles Dickens. Có lẽ, với Shakespeare thì 5 tháng chưa đủ, nhưng với Charles Dickens thì có thể phần nào, nếu có ai học Anh ngữ với một năng khiếu phi thường.

Thế đấy, hiển nhiên là, Đào Mộng Nam đã để lại những kỷ niệm không thể nào quên nổi với rất nhiều người từng một thời say mê chữ Hán hay cổ học.

Nhà thơ Khế Iêm hôm Thứ Sáu cũng gửi một điện thư tới tất cả các nhà thơ từng góp mặt trong Tạp Chí Thơ để tưởng niệm Đào Mộng Nam, trích:

“…Học giả Đào Mộng Nam là người đã cộng tác với Tạp chí Thơ ngay từ số ra mắt với những bài thơ dịch thơ Cao Bá Quát. Chỉ có thế thôi cũng đủ để chúng ta biết ơn, và hân hạnh đựơc sự cộng tác của ông. Ông là lớp nhà Nho hiếm hoi của thời đại chúng ta. Ông sống lặng lẽ và ra đi cũng lặng lẽ, để lại nơi chúng ta nỗi ngậm ngùi. Chúng tôi xin gửi đến quí anh chị bản tin này và mong quí anh chị đã từng cộng tác với Tạp chí Thơ và website www.thotanhinhthuc.org hãy để ra 1 phút để tửơng niệm Đào Mộng Nam, một ngừơi mà suốt cuộc đời phục vụ cho nền văn học Việt…”

Trở lại với nhà văn Nguyễn Tiến Văn trên Talawas.org, nơi đây cuộc đời Đào Mộng Nam được kể như sau:

“…Từ giữa thập niên 60, Đào Mộng Nam mở lớp dạy Chữ Nho cho các sinh viên Y khoa Đại học Huế trong chương trình kết hợp Đông và Tây; dưới sự tôn vinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, và lời thề với Y tổ này thay cho lời thề Hippocrate của Tây y. Đồng thời anh phát triển các khoá dạy chữ Nho tại Đại học Vạn Hạnh, Đại học Minh Đức, dạy miễn phí cho công chúng tại trường Đức Trí, đường Cao Thắng, quận 3 mỗi chiều thứ bảy, chủ nhật. Cũng như xuất hiện trên truyền hình để quảng bá việc học chữ Nho theo cách mới đến mọi tầng lớp.

Năm 1966 cùng với thân hữu, anh chủ trương Nhà Xuất Bản Nguồn Sáng, phát huy quốc học và chủ trương dung hòa Đông Tây. Nxb Nguồn Sáng, ngoài việc xuất bản bộ Chữ Nho tự học của Đào Mộng Nam, còn cho ra đời những bộ sách giá trị như Nho văn giáo khoa toàn thư của bác sĩ kiêm Đông y sĩ Nguyễn Văn Ba, tủ sách Việt Nho của Lương Kim Định, những sách dịch như Ấu học quỳnh lâm, các tiểu thuyết của Dostoievski như Anh em nhà Karamazov, Lũ người quỷ ám, Đầu xanh tuổi trẻ, tiểu thuyết của Han Su-yin (Hàn Tố Âm), của Heinrich Bull, thơ của Tagore, Kahlil Gibran… và tủ sách thiếu nhi gồm các danh tác thế giới và Việt Nam, trong đó đặc sắc là bộ Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Selma Lagerloff do Lý Quốc Sinh dịch…

Ra nước ngoài từ 1975, Đào Mộng Nam định cư ở Hoa Kì, trôi nổi từ miền Đông sang miền Tây, sau cùng cố định ở Westminster, California… Cộng tác với các tạp chí ở hải ngoại như Hợp lưu, Văn học, Văn, Tạp chí Thơ, Khởi Hành… ở Hoa Kì, và Trăm Con ở Canada, Đào Mộng Nam hăng hái cổ xuý cho sự kết hợp phương pháp rung nhịp của hơi thở thiền định với tiết điệu của thơ, nhất là thể loại lục bát truyền thống của dân tộc qua ca dao,Truyện Kiều, Lục Vân Tiên..v.v.. Đào Mộng Nam dịch và xuất bản tập Nhã ca (tương truyền của vua Salomon trong Kinh Thánh Do Thái và Cựu Ứớc của Kitô Giáo) in kèm với tranh của họa sĩ trừu tượng của Nga là Marc Chagall.

Ước vọng cuối cùng của Đào Mộng Nam là dịch toàn bộ Thơ Cao Bá Quát, khoảng 2.000 bài. Thơ CBQ chữ Hán. Anh mới thực hiện được vài trăm bài thì từ giã chúng ta. Hi vọng sẽ có người nối chí anh để hoàn tất công cuộc đó vì Cao Chu Thần là đỉnh cao của cả ngàn năm văn học kinh điển Việt Nam. Có lẽ, Đào Mộng Nam đã dịch gần hết Thơ của Cao Bá Quát,

Báo Văn Nghệ ở Hà Nội, trong một số báo gần hai năm trứơc, có ghi nhận về công trình nghiên cứu và dịch thuật của Đào Mộng Nam về Thơ Văn Cao Bá Quát – với người viết là Nguyễn Huy Thuận và tựa bài viết là “Biết thêm về Cao Bá Quát”, trích như sau:

“Ngày 16-12-2004, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thuộc Hội Nhà văn đã tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập và Hội thảo khoa học về Cao Bá Quát. Đông đảo các nhà nghiên cứu văn học, các chuyên gia Hán, Nôm, các nhà văn và bạn đọc đã đến dự. Giáo sư tiến sĩ Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm đã ôn lại chặng đường 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc, đặc biệt là các công trình lớn về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, về từ điển Tiếng Huế… Trong công việc thầm lặng vô cùng khó khăn này, với sự cộng tác tâm huyết của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước, Trung tâm đã sưu tầm, bổ sung nhiều tài liệu đặc biệt quý hiếm, chẳng những có giá trị về văn chương mà còn là những chứng tích rực rỡ về lịch sử, chính trị, dân tộc học, ngôn ngữ học… Vừa công phu lật tìm trong bụi phủ của quá khứ vừa chạy đua với thời gian, vì có nhiều chuyên gia lớn về Hán, Nôm đã trên dưới 100 tuổi, công phu, chuẩn xác, năng động, sáng tạo, chặng đường 10 năm của Trung tâm là một điển hình đẹp đẽ đầy tâm huyết với văn hoá dân tộc… Văn nghệ xin giới thiệu bài “Biết thêm về Cao Bá Quát “của tác giả Nguyễn Huy Thuận trong Ban Quản lý Di tích Phú Thị, quê hương Cao Bá Quát.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, sinh viên đại học, cao học về làng Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) tìm tư liệu về Cao Bá Quát và quê hương Phú Thị. Đặc biệt có giáo sư Đào Mộng Nam, nhà nghiên cứu Đông Phương ở hải ngoại về Phú Thị thăm và giới thiệu công trình của ông đã dịch trên 1.400 bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát ra quốc ngữ. Ông đã phát hiện ra “thần lực” trong thơ Cao Bá Quát và từ khởi điểm này ông đang xây dựng một công trình văn hoá: “Nét đặc trưng văn hoá Việt Nam và tiến bộ khoa học hiện đại”. Ông đã đánh giá rất cao Cao Bá Quát:

– Nhà thơ vĩ đại nhất Á Đông.
– Bậc thi bá duy nhất tập đại thành cả 3 nghìn năm tư tưởng thi ca Đông Á.
– Thi sĩ, chiến sĩ cách mạng, thi sĩ tiên tri.

Ông có đọc cho các bạn ông nghe bài thơ “Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Quát ” trong đó có 2 câu:

Vạn thuở văn chương còn chẳng nát
Muôn đời thần khí lẽ nào tan…”

Đúng vậy, thật sự là như thế. Giấy rồi sẽ ra bụi, mực rồi sẽ phai mờ, nhưng văn chương không thể hư nát. Và thần khí lẽ nào tan…

Khi bạn đọc những dòng chữ naỳ, tang lễ của Giaó Sư Đaò Mộng Nam đã hoàn tất. Nhưng hình ảnh nhà thơ họ Đào vẫn còn đi lại quanh đây với chúng ta, còn thật lâu…

Phải chăng hình ảnh Đào Mộng Nam thương khóc Cao Bá Quát cũng là một cái nhìn tiên tri về chính cuộc đời của nhà thơ Đào Mộng Nam – người cũng y hệt như họ Cao, “suốt đời chỉ cúi đầu chào hoa mai” như một dòng thơ cổ lưu lại của họ Cao.

Nhân vật thứ hai trong Viết ở Rừng Phong đến với bạn đọc tuần này là Cư sĩ Thiều Chửu.

Ông tên thật là Nguyễn Hữu Kha, ra đời trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống  Đa, Hà Nội. Thân phụ của ông là ông Nguyễn Hữu Cầu, người cùng thời quen gọi là cụ Cử Đông Tác, từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên bị thực dân Pháp bắt tù, đày đi Côn Đảo. Cụ nội của ông là ông Nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý.

Ông kể về tuổi thơ của ông: “Nhà nghèo, chị em tôi 7-8 tuổi phải chăn bò, cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm, nấu cám, 10 tuổi tát nước, 12 tuổi cày bừa. Năm tôi 13 tuổi, bố tôi bị giặc Pháp bắt, được hai tháng thì mẹ tôi sinh con thứ 8. Đẻ được ba ngày mẹ tôi đã phải đi làm đồng.”

16 tuổi, Hữu Kha đến Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống. Vì tin người nên ông mất hết vốn, ông phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, có lúc phải đi ăn xin. Hai năm trời cực khổ ấy khiến ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ, cứu người của đạo Phật.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu ra tù, ông về giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh không lấy tiền. Ông lấy hiệu là Tịnh Liễu (Tịnh: trong sạch, Liễu: hiểu biết), ông bắt đầu tự học đạo Phật và ngoại ngữ. Được bà nội và bác ruột dạy chữ Hán, cùng đức tính kiên trì tự học, dần dà ông đã am hiểu chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo, lại thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nhật.Tu theo Phật giáo, ông lấy hiệu là Thiều Chửu, có nghĩa là “cái chổi quét bụi,” thể hiện  tâm nguyện của mình là “cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình”. Ngoài ra, “hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẩn đục bởi phiền não vô minh che lấp”. Ông không trở thành tu sĩ mà chỉ là một cư sĩ, tu tại gia.

Ông thôi việc hiệu thuốc để giúp bà chị ông mưu sinh bằng nghề cho thuê đòn tang. Lúc 28 tuổi, ông giúp cậu em họ kiếm sống bằng cách cùng mua một máy in dập chân, thuê nhà số 36 phố Sinh Từ mở hiệu sách Hòa Ký, tên hiệu lấy từ phương châm Lục Hoà của Phật giáo.

Sau thời gian nghiên cứu Phật giáo, ông cho ra đời bản dịch Khóa hư lục, “bộ kinh cứu khổ cho đời” mà theo ông tác giả là vua Trần Nhân Tông, vị tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.

Thiều Chửu góp công lớn trong việc sáng lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ (1934), nhưng khi Hội mời vào Ban Trị sự thì ông lại do dự vì thấy Ban này có mấy vị quan cai trị. Sau cùng ông nhận lời với ý nghĩ có thể lợi dụng Hội này để thực hành cái chí cải tao cái tệ nạn  thối nát của nhà chùa thời đó.

Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập năm 1934 và ra báo Đuốc tuệ, Thiều Chửu nhận lời làm quản lý và biên tập cho tờ báo. Ông tham gia thành lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ vào năm 1938.

Năm 1936, ông cùng bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyển) đồng sáng lập Hội Tế Sinh và làm Tổng Thư ký Hội. Ngay năm sau Hội mở cuộc cứu giúp nạn nhân trận lụt Đinh Sửu.

Ông kể: “Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin yêu. Rất nghèo mà Hội cần tiền bao nhiêu cũng có.”.

Năm 1937, lụt ngập đồng đất hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngoài việc góp sức  cứu trợ nhân dân, ông cùng bà Cả Mọc còn  đi xin tiền, xin quần áo; rồi cùng ông Hoàng Đạo Thúy, ông Trần Duy Hưng hàng ngày đem thuốc, tiền, quần áo đi tới từng nhà nạn nhân giúp cho đến khi họ sống được. Những nhân viên của Hội đã đi cứu tế ba tháng liên tục cho đến lúc lúa chín.

Năm 1941, khi trường Phật Học Phổ Quang được mở, ông đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ mà nhiều học viên sau này trở thành các bậc tu hành có uy tín như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1946 ông cùng một lớp học tăng ni và một số trẻ mồ côi hội Tế Sinh đi theo kháng chiến chống Pháp, tham gia lao động sản xuất, giáo dục, ông viết và dịch sách.

Trong Cải cách ruộng đất, do việc tố cáo của đội cải cách ruộng đất ở xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Thiều Chửu bị quy là địa chủ và bị đưa ra xỉa xói mắng nhiếc, ông bị vu cho là người làm đủ các tội ác. Bị vu cáo, cộng với sự thương cảm nhiều nông dân bị hàm oan trong Cải cách ruộng đất mà thấy mình bất lực, ông đã tự vẫn ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ, ngày 15 tháng 7 năm 1954,  trên dòng sông Cầu chỗ đập Thác Huống, tại xóm Đồng Tâm, xã Vạn Thắng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi mất, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Hồ Chí Minh, và thư dặn các học trò ông phấn đấu thực hiện cuộc Kháng chiến chống Pháp đến cùng, ông viết lời kết bản Tự Bạch như sau:

“Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn sống làm sao được nữa.”

Ông nhẩy xuống sông Cầu tự vận.

Cái chết của ông đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật tử cả nước.

Ni sư Thích Đàm Ánh, một học trò của Thiều Chửu kể: Thiều Chửu dặn đừng vớt xác ông, cứ để xác ông theo dòng sông trôi đi, nhưng người trong gia đình ông và học trò ông không nỡ làm thế. Sau năm 1954, họ trân trọng rước hài cốt ông về Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3.

Thiều Chửu để lại 93 tác phẩm viết và dịch. Ngoài bộ Hán Việt tự điển có giá trị vượt thời gian, ông dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật như Kinh Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Dược Sư, Phả Môn, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Lễ Sáu Phương, Lục Tổ Đàn Kinh, Khóa Hư. Các sách  khác của ông có thể kể: Vì sao tôi tin Phật giáo, Phật học cương yếu, Tây du ký…

Ông viết nhiều sách về Phật học như Sự tích Phật tổ diễn ca, Nhòm qua cửa Phật, Cải tà quy chính, Khóa tụng hàng ngày, Con đường Phật học thế kỷ 20.

Năm 1943, ông soạn cuốn Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, chủ yếu dùng triết lý Phật học để giải thích. Ông coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật chứ không chỉ là một tác phẩm văn chương.

Tác phẩm cuối cùng của ông là “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX ” xuất bản năm 1952, tác phẩm thể hiện quan điểm của một Phật tử chân chính, yêu nước

//

Đảng Dân Chủ: Tang Gia Bối Rối?

Đảng Dân Chủ: Tang Gia Bối Rối?

27/06/201700:00:00(Xem: 1242)

Obamacare đã thất bại. Cả chục hãng bảo hiểm nhỏ phá sản. Các hãng bảo hiểm lớn lỗ lã…

Tuần qua đánh dấu một bước tiến mới của đảng Dân Chủ. Hay chính xác hơn, một bước… lùi mới.

Thứ ba tuần trước, Khu Vực 6 (District 6) của tiểu bang Georgia có cuộc bầu cử đặc biệt để chọn người thay thế dân biểu Tom Price được TT Trump bổ nhiệm bộ trưởng Y Tế. Đây là lần tứ tư có bầu cử đặc biệt để thay thế dân biểu tham gia nội các Trump.

Cả bốn cuộc bầu cử đều có những mẫu số chung đáng để ý:

– Cả bốn dân biểu tham gia nội các đều là CH, tức là cả bốn lần bầu đều được tổ chức trong các khu vực trước đây bỏ phiếu cho CH và cho TT Trump;

– Dù vậy, trong những tuần trước ngày bầu, TTDC nhất tề tung hô cả bốn lần bầu đều cực kỳ quan trọng vì tất cả đều là trưng cầu dân ý về thành quả của TT Trump, là cơ hội cho DC chiếm ghế dân biểu tại đây khi mà tỷ lệ hậu thuẫn của TT Trump mỗi ngày mỗi lao xuống vực theo những thăm dò dư luận mà TTDC cho là đáng tin cậy;

– Cả bốn lần, TTDC đều khua chiêng trống tiên đoán ứng viên CH sẽ thảm bại, phản ảnh sự bất mãn của dân đối với TT Trump, kể luôn cả những người đã bầu cho ông nhưng bây giờ đã sáng mắt, hối hận;

– Trong cả bốn lần bầu, Ủy Ban Quốc Gia của đảng DC đều vận động tiền từ khắp nước, gửi đến để yểm trợ cho ứng viên DC, những tai to mặt lớn DC đều xếp hàng đến tận chỗ để vận động cho gà nhà;

– Và mẫu số chung lớn nhất: tất cả các ứng viên CH đưa ra đều thắng cử. DC thua đủ bốn lần: 0-4!

Nhìn vào mấy điểm trên có một điều lạ: có thể nói lý luận CH sẽ đại bại của TTDC có vẻ không sai mấy khi ta nhìn vào chiến dịch tấn công TT Trump của TTDC, với những tin xấu tràn ngập mặt báo, nghe như TT Trump sắp bị đàn hặc, nhưng lạ lùng thay, tất cả ứng viên CH vẫn thắng hết.

Ở Montana, ứng viên CH còn bị dính đáng vào một cái mà TTDC hét ầm lên như là một xì-căng-đan kinh khủng nhất của thiên niên kỷ: ông ứng viên này cả gan dám xô đẩy một anh phóng viên, bị ra tòa luôn. Trời, “phạm thượng” kiểu này thật quá mức tưởng tượng. Một tay côn đồ coi thường một phóng viên như vậy sao làm đại diện cho dân được? TTDC nhất loạt đăng cáo phó ông này. Kết quả, ông đắc cử.

Tại Georgia, TTDC và đảng DC phân tích rất kỹ chiến trường. Đây là khu vực thành đồng của CH từ mấy chục năm nay, là đất của cựu chủ tịch Hạ Viện Newt Gingrich, đã bầu cho ông Tom Price trong 6 nhiệm kỳ liền, nhưng bù lại, có nhiều đại học, tức là thành phần sinh viên trí thức, tất nhiên có tư tưởng cấp tiến, và quan trọng hơn cả, không ưa ông Trump chút nào. Trong cuộc bầu sơ bộ, khu vực này đã bỏ phiếu cho thượng nghị sĩ hàng xóm, ông Marco Rubio của Florida. Trong kỳ bầu chung kết, ông Trump thắng bà Hillary khít nút, chưa tới 1%. Thăm dò mới nhất tại đây cho thấy TT Trump được hậu thuẫn chưa tới 35%, thấp nhất trong tất cả các khu vực CH trên toàn quốc.

Đảng DC quyết định vẫn dùng sách lược cơ bản: “trưng cầu dân ý” về ông Trump, hô hoán phải gửi thông điệp chống Trump cho thật rõ. Ứng viên DC tại Georgia mở đầu cuộc vận động bằng khẩu hiệu “Làm Trump Nổi Giận” (Make Trump Furious, nhạo báng khẩu hiệu Make America Great!).

Ủy Ban Quốc Gia của đảng DC vận động cả nước đóng tiền yểm trợ, quyên góp được đâu 25 triệu, tuyệt đại đa số từ Hollywood gửi qua dĩ nhiên. Đảng DC tố xả láng. Ủy Ban Quốc Gia của đảng CH thấy nguy, cũng vận động đâu được hơn hai chục triệu để chống đỡ. Tổng cộng gần 50 triệu được đổ vào, đưa đến cuộc chiến đắt tiền nhất lịch sử bầu dân biểu Mỹ. Tất cả các “thăm dò” đều cho thấy ứng viên DC dẫn đầu từ 2 đến 7 điểm. Kết quả bà CH thắng với 4 điểm. Lại một thành tích đáng ghi nhớ của các cơ quan thăm dò dư luận.

CH đại thắng cả bốn lần khiến đài Fox News hớn hở nhắc lại một câu nói của ứng viên Trump: “Tôi sẽ thắng, và thắng nhiều đến độ thiên hạ phát ngán, mắc bệnh luôn”. Khi ông nói câu này, cả nước chỉ cười “đúng là Trump!”. Bây giờ thì dường như ít người cười hơn nhiều.

Trước ngày bầu, tất cả TTDC nhất tề phán đây là những cuộc bầu mang tính sinh tử, có thể chấm dứt triều đại Trump, điềm báo cuộc bầu giữa mùa cuối năm tới sẽ mang lại thắng lợi toàn diện cho DC, chiếm đa số tại cả hai viện quốc hội, dư thừa túc số để đàn hặc Trump.

Sau ngày bầu, tất cả TTDC nhất tề phán đây là những cuộc bầu tầm thường, chẳng mang ý nghiã gì đặc biệt vì đều là đất của CH, CH thắng là đương nhiên, chẳng có ý nghĩa hay hậu quả gì quan trọng.

Từ “sinh tử” đến “tầm thường”, nếu TTDC có lưỡi, thì phải nói… đúng là lưỡi không xương.

Câu chuyện có vẻ mang tính tiếu lâm, thiên hạ chỉ mắc cười trước những màn múa lưỡi của TTDC.

Sự thật, câu chuyện quan trọng gấp bội. Ý nghĩa chính trị của cả bốn cái thất bại đã khiến phe CH nhẩy tưng tưng vui mừng, nhưng lại làm cấp lãnh đạo và chiến lược gia DC điên đầu tìm nguyên nhân, cách giải thích và nhất là tìm thuốc chữa.

Tìm nguyên nhân và thuốc chữa cho thất bại của bà Hillary chưa xong, bây giờ lại thêm bệnh mới. Họ không thể hiểu được tại sao với một tổng thống là đại họa như ông Trump mà mấy ông ứng viên CH vẫn có thể thắng, cử tri vẫn ủng hộ được. Cái thắc mắc này chỉ là triệu chứng của cái bệnh quá tin vào những xuyên tạc bôi bác do chính mình phịa ra.

Các chính khách, chuyên gia, và TTDC phân tích, nghiên cứu, rồi khám phá ra rất nhiều lý cớ cho thất bại sau khi tự kiểm thảo theo mô thức của bác Mao.

Cuộc kiểm thảo bắt đầu từ chuyện nhỏ, tức là từ hai ứng viên. Trước bầu cử thì ông ứng viên của DC được TTDC thổi lên tận mây xanh như là hình ảnh tương lai của DC: trẻ tuổi, đẹp trai, vợ đẹp con khôn, nói năng lưu loát, nhân bản, không quá khích, thần tượng của đám sinh viên trong khu vực. Người của thế kỷ 21. Trong khi ứng viên của CH là bà chính trị gia già nua của khu vực, đã từng ra tranh cử đủ thứ như thượng viện tiểu bang, thống đốc, nhưng đều thất bại. Chỉ là con cờ của Trump.

Nghe TTDC mô tả hai nhân vật, thấy rõ ai là ứng viên lý tưởng. Cho đến khi kết quả bầu cử được công bố.

Bây giờ thì TTDC kiểm thảo, đổi giọng, biện giải. Ứng viên DC còn quá trẻ, ít người biết đến, là một thanh niên vô danh, mới 30 tuổi, không có kinh nghiệm chính trị gì, một tay mơ không biết kỹ thuật vận động tranh cử, đã vậy lại cũng không cư ngụ trong khu vực bầu, có nghĩa là chính anh ta cũng không có quyền đi bầu luôn. Còn bị tố oan là có quan hệ quá gần với bà Nancy Pelosi, lãnh tụ khối thiểu số DC tại Hạ Viện. Trong khi ứng viên CH là chính khách lão làng, dầy dặn kinh nghiệm, ai cũng biết, thành ra đắc cử là đương nhiên. Vẫn là lưỡi không xương.

Các chính khách DC nhận định nghiêm chỉnh hơn.

Dân biểu Seth Moulton của Massachusettes “tweet” cho các đồng chí: “Đã tới lúc ngưng nhai lại cuộc thất cử 2016… Chúng ta cần một thông điệp mới, một kế hoạch tạo công ăn việc làm nghiêm chỉnh cho tất cả dân Mỹ… Chú tâm vào tương lai”.

Dân biểu Tim Ryan của Ohio nhận định “cái thương hiệu của ta tệ hơn của Trump nhiều, chẳng ai mua hết. Đảng ta đã trở thành độc tố -toxic- trong nhiều vùng ngoài vòng đai của thủ đô”.

Cụ xã nghĩa Bernie Sanders đồng ý, than phiền “thương hiệu Dân Chủ khá tồi tệ”. Cụ nói thêm “Mô hình DC không hiệu nghiệm khi DC mất thượng viện, hạ viện, toà Bạch Ốc, khi hai phần ba thống đốc là CH, khi DC mất cả ngàn chức vụ dân cử trên cả nước”.

Nhà đạo diễn thiên tả cực đoan Michael Moore nhận định “DC không có thông điệp gì, chẳng có kế hoạch nào, cũng chẳng có ai lãnh đạo”.

Những nhận định ngắn gọn nhưng không thể chính xác hơn.

Đảng DC nắm quyền quá lâu, 8 năm liền dưới TT Obama. Về chính sách, những gì muốn làm đều đã làm hết rồi. Rồi cảm thấy tự mãn, không thấy có nhu cầu thay đổi hay chế ra thêm chính sách mới lạ nào. Bà Hillary đã vất vả với chuyện này rất nhiều. Phân vân không biết phải ra tranh cử với chiêu bài đổi mới, là chiêu bài luôn luôn ăn tiền với dân Mỹ, hay là dưới cái dù Obama nhiệm kỳ ba. Nói đổi mới thì có thể ăn tiền với cử tri nói chung, nhưng như vậy là có ý chê bai chính sách và thành quả của TT Obama. Có sai mới cần đổi. Làm vậy là bảo đảm mất ngay phiếu của khối cử tri da đen vì dám chê thần tượng của họ. Mà mất phiếu da đen thì DC tiêu tùng ngay. Ngược lại, nói không đổi mới, tiếp tục chính sách của Obama thì sợ dân Mỹ coi là quá tầm thường, không sáng tạo, không viễn kiến. Mà lại có hại đối với cả triệu người thất nghiệp, gặp khó khăn kinh tế, không chấp nhận vẫn như cũ.

Bà Hillary loay hoay với thông điệp này, cuối cùng chẳng ai biết ý bà là gì. Đây là một lý do quan trọng giải thích việc bà thất cử: thiên hạ không nhìn thấy rõ đường đi của bà. Những sách viết về cuộc vận động tranh cử của bà có nêu ra nhiều chuyện trong hậu trường: ngay cả đám phụ tá của bà cũng chẳng biết rõ tại sao bà muốn ra làm tổng thống. Ngoài tham vọng cá nhân và ngoài chuyện có phụ nữ làm tổng thống thì bà ra ứng cử để làm gì? Để mang nước Mỹ đi về đâu?

Với Trump thì thông điệp quá rõ: bớt nạn di dân lậu, bớt sợ khủng bố Hồi giáo cuồng tín, bớt thuế, thêm công ăn việc làm. Với bà Hillary, dân Mỹ được hưởng lợi gì? Di dân lậu tha hồ tràn vào, khủng bố tha hồ len lỏi, trung lưu tiếp tục đóng thuế nuôi các bà hoàng oeo-phe, dân thất nghiệp tiếp tục lãnh trợ cấp, Qũy Clinton Foundation tiếp tục kiếm thêm vài tỷ, ông chồng đi đọc diễn văn kiếm thêm vài triệu,…?

Nhìn vào DC kể từ sau ngày bầu cử, ta thấy gì? Chỉ thấy một đảng gần như cuồng điên vì thua, cay cú, nhất tâm trả thù, nhất định phủ nhận bầu cử, coi đó là một tai nạn khổng lồ vì dân Mỹ giống như tài xế say rượu, lái xe bay vào lề, cần phải lay tỉnh. Nhắm mắt tìm đủ mọi cách đánh phá, chỉ trích, bôi bác TT Trump, từ cá nhân ông ta, đến gia đình, vợ con, dâu rể, rồi đến luôn cả nội các, cả đảng CH, tất cả chính sách, kế hoạch, chương trình của TT Trump và của đảng CH. Chống hết, chống vô điều kiện. Tất cả những chuyện gì có thể lôi ra làm đề tài để chống đều được khai thác tối đa. Nói như ông Thiệu ngày xưa, “chuyện bé xé ra to” để chống. Thậm chí, chuyện không có cũng chế ra cho có để đánh.

Trong khi đó thì lại tuyệt đối không đưa ra được giải pháp gì thay thế hết.

Lấy ví dụ Obamacare. Cả nước biết Obamacare đã thất bại. Cả chục hãng bảo hiểm nhỏ phá sản. Các hãng bảo hiểm lớn lỗ lã quá mức, rút ra khỏi hệ thống Obamacare hàng loạt. Tiền bảo phí tăng vùn vụt trên cả nước. 60% dân Mỹ -tức là toàn thể khối dân trung lưu- bất mãn chống Obamacare. TT Clinton gọi Obamacare là chuyện điên khùng nhất. Hiển nhiên có cái gì không ổn. Obamacare cần phải thu hồi, hay ít nhất thì cũng phải chỉnh sửa rất nhiều. CH và TT Trump muốn xé bỏ, làm lại. Không dễ vì đụng tới nhu cầu và quyền lợi sống chết của cả triệu người, nên vẫn còn loay hoay. Phe DC nhắm mắt bảo vệ dĩ nhiên. Họ đề nghị giải pháp gì để sửa chữa? Chẳng có gì hết, cứ giữ nguyên Obamacare như vậy. Bảo sao dân Mỹ không đồng ý?

Dân Mỹ muốn thấy giải pháp khác, hữu hiệu hơn, DC mù tịt.

Có nhiều vấn đề khác TT Trump thấy là sai lầm, cần phải thay đổi mạnh. Dân Mỹ có thể đã đồng ý với ông nên bầu cho ông. Nhưng DC không nhìn thấy cái “ý dân” đó, vẫn khư khư ôm cứng quan điểm cũ, có khi còn đi xa hơn nữa về cái hướng sai lầm.

Điển hình là vấn đề di dân bất hợp pháp. Tất cả các thăm dò dư luận từ mấy chục năm nay đều cho thấy đại đa số dân Mỹ không chấp di dân lậu. Họ không muốn ân xá vô điều kiện, cho dù rất nhiều người muốn tìm giải pháp không quá cực đoan để giải quyết vấn nạn này. Như TT Bush con của CH đã tìm đủ cách mà vẫn thất bại. TT Obama long trọng hứa sẽ giải quyết trong nhiệm kỳ đầu, dò dẫm với những bước chậm chạp trong cả hai nhiệm kỳ, rồi cũng chẳng làm được gì. Vì bất cứ biện pháp hơi cởi mở nào cũng bị dân chống, khiến các nghị sĩ, dân biểu cả hai đảng sợ vấn đề này hơn sợ cục than đỏ. TT Trump nhìn vào các biện pháp mạnh, hy vọng sẽ giải quyết được. Dĩ nhiên bị chống mạnh không kém. Dễ hiểu thôi.

Nhưng cái không hiểu nổi là thành phần quá khích trong đảng DC đã làm vấn đề khó khăn hơn, di hại cho toàn đảng. Bây giờ họ đòi mở toang cửa đón hết di dân bất hợp pháp, biến hàng loạt thành phố thành khu an toàn, bảo vệ di dân bất hợp pháp đến cùng. Điên khùng nhất là tiểu bang Cali dĩ nhiên khi quốc hội tiểu bang tuyên cáo cả tiểu bang là vùng an toàn cho di dân lậu, lại trích mấy chục triệu tiền thuế bỏ vào một qũy đặc biệt để bào chữa cho di dân lậu bị bắt ra tòa. Một loại biện pháp ăn tiền với cử tri New York và Cali, nhưng là tự sát chính trị tại tất cả những tiểu bang nằm giữa hai ven biển. Với kiểu biện pháp này, trong các cuộc bầu tổng thống tương lai, ứng viên DC có thể thắng ứng viên CH cả chục triệu phiếu, nhưng cuối cùng vẫn thua vì sẽ có 40 tiểu bang bầu cho CH.

Dân Mỹ muốn có giải pháp hữu hiệu hơn, DC cung cấp giải pháp ngược lại ý dân.

Đó là bàn về chính sách, còn nói về nhân sự lãnh đạo thì bức tranh không khá hơn. Trong đảng DC, ai cũng chấp nhận bà Hillary sẽ ra tranh cử tổng thống và không ai hạ nổi bà. Bức tranh nhân sự của DC tóm lại chỉ còn đúng một người. Có thể nói vai trò và chỗ đứng của bà Hillary quá cao, quá áp đảo, đã nhận chìm tất cả mọi nhân vật chính trị DC khác. Để rồi bây giờ, sau khi TT Obama mãn nhiệm và bà thất bại thì đã có một lỗ trống vĩ đại về nhân sự. Đảng DC chẳng còn ai là sao sáng hết, bây giờ giống như một đêm không trăng, cả ngàn ngôi sao nhỏ xíu lấp lánh, mà chẳng ai thấy được mặt trăng chứ đừng nói tới mặt trời.

Không có chính sách, không có lãnh đạo, đúng như Michael Moore nói, đảng DC thất bại đủ bốn lần. Chiến lược duy nhất mà DC còn có là… “đánh Trump”.

Ngay cả Washington Post cũng phải đặt câu hỏi “ngoài chuyện đánh Trump thì DC có thông điệp nào khác?”. Chừng nào thì DC học được bài học của bà Hillary, tranh cử chỉ dựa trên chương trình đánh Trump? Ngày xưa, nhà đại bác học Einstein đã định nghĩa “điên rồ tức là làm đi làm lại đúng một chuyện mà lại hy vọng có kết quả khác”.

Chẳng những toàn bộ chính sách tranh cử là đánh Trump không, mà lại còn đánh quá đáng, lôi TT Trump ra hành hạ với đủ thứ tội trạng, đặc biệt là tội “cấu kết với Nga”. Để rồi sách lược này gặp phản ứng ngược.

Trả lời phỏng vấn của báo, một cử tri tại Georgia nói “Đây đúng là lùng bắt phù thủy, họ đã không cho TT Trump một cơ hội”. Nhiều cử tri phẫn nộ cho rằng “không phải DC chỉ chống TT Trump không, mà rõ ràng họ tìm mọi cách để hạ bệ ông ta, bất kể kết quả bầu cử năm 2016”.

Thượng nghị sĩ Chris Murphy của Connecticut nói rõ ràng “việc chúng ta mất quá nhiều thời giờ nói về chuyện Nga can thiệp vào cuộc bầu cử đã là một thứ phân tâm, khiến chúng ta đánh sai đối tượng. Tôi đi xe buýt, nói chuyện với dân, chẳng có một ai nói gì về chuyện Nga hay những đề tài mà TV bàn mỗi tối”.

Dân biểu Tim Ryan nói thêm “dân Ohio không cần biết chuyện Nga hay tướng Flynn, hay Putin. Họ chỉ thắc mắc chuyện trả tiền nhà, tiền chợ thôi”.

Sự thật là dân Mỹ công bằng hơn TTDC nhiều. Họ muốn cho TT Trump một cơ hội.

Đã vậy, phe CH còn phản pháo bằng một sách lược mới mẻ mà lại có vẻ cực kỳ hữu hiệu. Tại Georgia, họ làm thăm dò thấy bà Nancy Pelosi bị tới 80% cử tri CH ghét. Thế là sách lược tranh cử xoáy vào quan hệ mật thiết giữa bà này với ông ứng viên DC.

Sách lược này chẳng những đủ hữu hiệu khiến ông ứng viên DC thua, mà còn có hậu quả xa hơn nữa. Bây giờ đang có một đợt sóng trong nội bộ đảng DC đòi truất phế bà Pelosi trong vai trò lãnh đạo khối DC trong Hạ Viện. Hiển nhiên, đã có vài chính khách DC đang muốn tìm dê tế thần cho những thất bại liên tục vừa qua.

Thật ra, đánh bà Pelosi như vậy cũng oan cho bà. DC thất bại vì những lý do lớn hơn cá nhân bà Pelosi rất nhiều. Dù vậy thì CH cũng đã tìm ra được một chiến thuật hạ DC: lôi bà Pelosi ra.

Có một chuyện rõ hơn ban ngày. Ngày nào đảng DC và TTDC còn cay cú nhắm mắt lo đánh cá nhân TT Trump để trả thù, mà không có chính sách gì cụ thể đáp ứng nhu cầu của người dân, ngày đó dân Mỹ sẽ còn đủ sáng suốt để quay lưng lại với họ, ủng hộ TT Trump để cho ông ta một cơ hội. Không nhận chân được sự thật này, đảng DC sẽ tự chui vào cái mà TT Reagan gọi là “thùng rác của lịch sử”.

Nói dễ làm khó. Không đánh Trump thì làm gì bây giờ khi chính sách không có, lãnh đạo cũng không luôn? (25-06-17)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

//