“Tiền sư” Nhứt Hạnh! [tn]

Thiền sư Thích Nhất Hạnh


Người ngọai quốc và không biết gì về đạo Phật có thể hiểu lầm mà suy tôn ông này, nhưng chúng ta trong đạo Phật và là người VN thì biết “Phật giáo” của ông này chỉ là một lọai “tâm lý học đời thường mạo danh nhà Phật” và cuốn Hoa Sen Trên Biển Lửa (Vietnam: Lotus in a Sea of Fire) trong đó đề cao “Mặt Trận Giải Phóng” là nhân dân Miền Nam nổi dậy, (thực chất là “tay sai Bắc Việt, bị xóa sổ ngay sau 75) đã lừa dối cả thế giới ra sao.

Ông ta tự nhận là người đuổi Mỹ, ngang với Võ Nguyên Giáp đuổi Pháp hình in trên trang bìa báo Làng Mai song song với Võ Nguyên Gíap:

*
Hình VÕ NGUYÊN GIÁP và THÍCH NHẤT HẠNH
in trong báo Xuân 2007 của LÀNG MAI

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân chụp ảnh lưu niệm
cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh và các tăng thân làng Mai.
Ảnh: Lan Anh


Nhờ “công đuổi Mỹ” của ông ta mà nước Việt Nam ngày nay sắp rơi vào tay Trung Cộng!!!

Trong lúc quân dân Miền Nam liều chết chống Cộng Sản Bắc Việt để bảo vệ Tự Do thì ông ta làm dấy lên phong trào phản chiến tại Mỹ bằng những hành động vu cáo bịa đặt khiến cho Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, hàng triệu người sau 75 bị giết, chết tức tủi, oán hận từ những oan hồn chết trên biển, vùng kinh tế mới, trại tù cải tạo ngút lên tận mây xanh, làm sao có thể cổ động cho ông ta được giải Nobel Hòa Bình!!!

Ông Shakya Nhật Định không nên dùng câu “Nam Mô Phật Pháp Tăng” để đánh lừa người hiền lành nghe theo lời sói già nữa, chẳng Phật Pháp Tăng nào làm chuyện lường gạt đâu.

Nhìn bức hình đại tướng ngồi chình ình ngay chính giữa, một bên là “đại sư Phật giáo”, một bên là vợ đại tướng, cạnh vợ đại tướng, ké né ngay góc bàn là sư ni nhà Phật, sau lưng đại tướng là một đám tăng ni nhà Phật đứng xúm xít sao mà thấy thảm quá, cứ y như quang cảnh ông tướng ngồi chơi có đám tiểu tướng và quân hầu vây quanh.

Nhà Phật có câu “Sa môn bất kính vương giả”:

Tài liệu dẫn chứng:

“Hoàn Huyền cho rằng sự hóa đạo của đức Phật thì bao la, rộng lớn, nhưng đều lấy kính làm gốc. Lão Tử xếp bậc Vương hầu đồng hàng với Tam đại (Đất, Trời, và Đạo), cốt nêu lên phẩm vị cao thượng của hàng vua chúa. Bậc quân vương thuận theo lẽ tự nhiên của Đạo, nương theo đức lớn của đất trời mà cai trị muôn dân, mang lại hòa khí cho đất nước. Hàng sa môn thọ nhiều ân huệ của nhà vua mà không theo lễ nghi bái kính quân vương là điều thiếu xót, xét cả lý lẫn sự đều không dung thông, trọn vẹn. Vì lẽ đó, hàng sa môn phải lễ bái quân vương. Sau khi trao đổi với tám bộ trên và đặc biệt với Vương Mật (360-407), Hoàn Huyền vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn. Vì thế ông bèn gởi tất cả các văn thư trao đổi trên cùng một bức thư riêng cho ngài Huệ Viễn, mong nhận được ý kiến của ngài về vấn đề này.

Xuất tam tạng ký tập cho biết rằng khi nhận được thư của Hoàn Huyền, ngài Huệ Viễn vô cùng lo lắng cho sự suy vong của chánh pháp nên vội viết thư hồi âm với một phong cách vô cùng cẩn trọng và khẩn thiết[41]. Theo Hoằng minh tập, trong thư phúc đáp, ngài Huệ Viễn trả lời rằng những điều mà kinh điển nhà Phật nói có thể phân làm hai khoa: thứ nhất, ở trong thế tục mà hoằng giáo; thứ hai, xuất gia tu đạo. Hàng cư sĩ sống trong thế gian luôn lễ bái bề trên, quý kính tôn thân, biết trung hiếu tiết nghĩa, tôn trọng luật pháp ở đời.

Người xuất gia như khách du phương, xa lánh vật chất phù phiếm, sống ẩn cư nơi xa vắng, cốt để đạt được cứu cánh thoát tục của đạo. Dù cách biệt với trần đời, nhưng họ vẫn luôn tạo dựng lợi ích cho đời, hằng sống đời mô phạm và làm những điều phù hợp với lý tưởng của các bậc minh quân[42]. Vì lý do đó, hàng sa môn không thể lễ bái quân vương.

Thể theo ý nguyện của ngài Huệ Viễn và yêu cầu của Vương Mật, ngay sau khi lên ngôi, Hoàn Huyền liền ban sắc lệnh cho phép các nhà sư Phật giáo không phải lễ bái vua chúa. Chính trong thời gian khoảng ba tháng khi Hoàn Huyền đăng ngôi vua nước Sở, ngài Huệ Viễn đã biên soạn tiểu luận nổi tiếng của mình: Sa môn bất kính vương giả luận. Tác phẩm này bao gồm năm thiên. Hai thiên đầu có nội dung giống với bức thư hồi âm của ngài cho Hoàn Huyền, tức là nói về nếp sống, hạnh nguyện, và địa vị xã hội của hàng xuất gia và tại gia. Ba thiên còn lại được viết theo dạng hội luận để bàn về những khái niệm mang tính lý thuyết như thần thức, vọng tình, tái sanh và sự giải thoát. Sự ra đời của tác phẩm này đánh dấu một bước ngoặc mới trong quá trình tương tác giữa hệ thống đạo đức Phật giáo được thiết lập trên nền tảng giới luật tự viện và nền luân lý của xã hội Trung Hoa được hình thành trên các nguyên tắc đạo đức của Khổng giáo, qua đó khẳng định quan điểm của các nhà sư Phật giáo đối với nhà cầm quyền về vị thế của mình trong xã hội Trung Hoa.

Ảnh hưởng của ngài Huệ Viễn trong cộng đồng Tăng già đương thời có được là nhờ vào chí nguyện tu tập và phẩm hạnh thanh khiết của ngài. Trong hơn ba mươi năm cuối của đời mình, ngài không ra khỏi Lô sơn, chân không bước vào nhà thế tục, lấy suối Hổ Khê trên núi làm ranh giới.”

Chú thích:
[41] Xuất tam tạng ký tập, tr. 110b.

***
… đâu có thể cả đám “sa môn” tăng ni xúm xít đứng vây quanh vợ chồng đại tướng ngồi bệ vệ chững chạc ngay giữa bàn như thế, chẳng còn ra oai nghi tế hạnh gì, thê thảm cho bộ áo nhà Phật quá !!!

 

Vũ Hoành

Last edited by khieman; 12-09-2015 at 05:51 PM.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: