Nhiều kẻ biết chữ nhưng lại ‘không có cái đầu’ – (Bài tái đăng)

Trí thức Miền Nam và Sinh viên học sinh Sài Gòn đã bị CS lợi dụng như thế nào!?

 David Thiên Ngọc (Danlambao) – Như trong bài “Trí thức Việt Nam trước nội tình đất nước” tôi đã viết thanh niên VN nói chung trong đó có hàng ngũ SVHS trong thời gian 1965-1975 đa số tương đối mơ hồ về chính trị, ý thức chính trị và lập trường tư tưởng không vững vàng và có thể nói là mất phương hướng. Nắm được lợi điểm này CS mà trực tiếp là thành đoànTNCSHCM, đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy dấy động phong trào SVHS yêu nước phản chiến, chống Mỹ ngụy đòi hòa bình cho VN. Từ đó phong trào được thổi bùng lên như một kho xăng khi “ngọn đuốc Lê Văn Tám” chạy vào và gió lớn Thành đoàn thổi mạnh từ phía sau.
Gói gọn trong bài này tôi chỉ nói lên cái âm mưu phá rối hậu phương của chế độ VNCH ngay tại thủ đô Sài Gòn để làm bận tay “Phủ Đầu Rồng” trong việc thực hiện sách lược lẫn chiến lược trên 4 vùng chiến thuật.
Trong tình hình như dầu sôi lửa bỏng, chính quyền VNCH phải đối phó với 2 cuộc chiến ngoài tiền tuyến và ở hậu phương. Ngoài tiền tuyến là một mặt trận bằng bom đạn, máy bay, xe tăng thiết giáp… và bằng những xác người trên khắp ruộng đồng rừng núi. Riêng trong mặt trận hậu phương là cuộc chiến thứ 2 bằng biểu tình, tuyệt thực, đả đảo… rồi cũng có kẽm gai, dùi cui, vòi rồng phun nước và có cả nước mắt của người già lẫn trẻ thơ. Cuộc chiến này tuy cân não nhưng nó không gây chú ý nhiều trong đại đa số nhân dân cả nước, nhất là ở các tỉnh lẻ vùng quê… bởi cuộc chiến này thiếu vắng xác người tuy cũng có những vụ ám sát xảy ra nhưng tiếng vang không rộng khắp. Tuy thế trong chừng mực nào đó nó cũng làm suy yếu tiềm lực, ý chí chiến đấu của QLVNCH và góp phần làm cho chế độ lung lay. Hơn nữa, trong cuộc chiến này nó có đặc thù là không có giới tuyến Quốc-Cộng rõ ràng.
  • Cuộc chiến tranh trên đường phố nội đô này cũng có 2 phần là mặt nổi và mặt chìm:
Về mặt nổi: Đó là lực lượng SVHS bị sự kích động và lôi kéo của các đảng viên thành đoàn bải khóa, xuống đường đấu tranh bài Mỹ chống ngụy, đòi hòa bình cho VN, đòi thả tự do cho một số cán bộ CS nằm vùng, SV Việt cộng (hợp pháp) như Vũ Hạnh, Huỳnh Tấn Mẫm (L71), Dương Văn Đầy (ba Đầy, bảy Không), Phùng Hữu Trân, Lê Thành Yến…
Trong bài “Rồi hòa bình sẽ đến” GS Lý Chánh Trung đã viết “Tôi đã đến đây tham dự buổi tuyệt thực của 20 giáo chức đại và trung tiểu học tại tòa viện trưởng đại học Sài Gòn để yêu cầu nhà cầm quyền trả lại tự do cho các SV trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm đã bị giam giữ trái phép đúng một tháng qua và đang tuyệt thực, tuyệt ẩm trong khám Chí Hòa. Trong lúc mấy em hát tôi cảm động không dám nhìn lên, chỉ nhìn xuống…” (trích trong Một Thời Bom Đạn, Một Thời Hòa Bình – Lý chánh Trung trang 62).
Cùng lúc này còn có lực lượng phụ nữ đòi quyền sống, các ông Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Cước, Thượng tọa Thích Nhật Thường, Thích Mãn Giác. Hòa trong cao trào đó cũng không thiếu mặt thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Lúc bấy giờ thủ đô Sài Gòn toát lên hình ảnh một thành phố chiến tranh có một gam màu, sắc thái thật lạ kỳ. Trên đường phố ngoài những cuộc biểu tình bừng bừng như bão lớn đối nghịch lại với dùi cui lá chắn, lựu đạn cay, vòi rồng phun nước còn có những nữ SVHS đầu tóc mặt mũi bèm hem, nước mắt lưng tròng… te tua tà áo trắng và trên tay là những bịch chanh để chống đỡ hơi cay và sẻ chia cho các bạn.
Rồi từng tốp thanh niên SVHS manh động hơn lật xe Mỹ lên đập phá và đốt cháy. Có đêm SVHS, TN Phật tử từng đoàn dài, rầm rộ xuất phát từ chùa Ấn Quang tiến về chùa VN Quốc Tự rồi bị bao vây giữa những vòng kẽm gai rộng lớn tạo thành đêm không ngủ đốt lửa sáng rực một góc trời… Họ hát vang những bài ca trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” với khí thế ngất trời, đầy vẻ tự hào. Có toán tiến thẳng về chiếm tòa đại sứ Campuchia ngay ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng mà Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963 phản đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Bên ngoài các vòng lửa đó là xe nhà binh, xe cảnh sát pha đèn chạy như bướm lượn, hòa với khói mù lẫn sương đêm cùng âm thanh còi hụ, lẫn tiếng đồng ca tưng bừng. Tất cả giống như cảnh chạy loạn thì không đúng mà trẩy hội lại càng không! Tôi chẳng biết phải dùng từ gì cho đúng nghĩa?
Lúc này chính quyền Sài Gòn mà trực tiếp là Giám đóc Nha Cảnh sát Đô thành, ông Trang Sĩ Tấn dùng lực lượng cảnh sát áo trắng và cảnh sát dã chiến để vãn hồi trật tự cũng không hiệu quả. Chỉ biết dùng dùi cui, lựu đạn cay, với kẽm gai phong tỏa đã gây ra phản tác dụng mà còn làm gia tăng thêm sự phản cảm của quần chúng nhân dân và nhất là trước ống kính của các phóng viên trong và ngoài nước trong đó có các nhà báo VC nằm vùng. Xa xa ở dưới những hàng hiên, bên những gốc cây ven vệ đường có những anh thợ sửa xe, phu xích lô ban đêm sụp nón hí hoáy chép ghi diễn biến sự việc báo cáo về cho “tổ chức”. Như vậy lúc này nước cờ của đảng đã triển khai đúng hướng và tiến thêm mấy bước.
Một hậu phương rối ren như vậy thì nơi tiền tuyến các chiến binh làm sao yên tâm cầm súng để chiến đấu bảo vệ tự do?
Về mặt nổi trong cuộc chiến ở nội Đô còn có sự góp mặt của các nhân vật chính khách, trí thức và giới báo chí đã bị CS lợi dụng và giựt dây nữa.
Trong những bài thơ của Thiền sư Nhất Hạnh có đoạn:
Làng tôi hôm qua vì có sáu người cộng sản về. 
Nên đã bị dội bom hoàn toàn tan nát. 
Cả làng tôi hoàn toàn chết sạch. 
Lũy tre ngơ ngác. 
Miếu thờ ngã gục. 
Trong đoạn thơ trên tác giả dùng đến 2 lần chữ “hoàn toàn” có nghĩa rằng làng mạc đã thành bình địa, người thì chết sạch không còn một bóng. Thế mà còn tồn tại một lũy tre sừng sững đứng giữa trời để có bóng hình “ngơ ngác” và còn sống sót thì chỉ có một thi nhân Nhất Hạnh tỉnh táo để sáng tác đoạn thơ này! Cũng nhờ thế mà CS đã tuyên dương cho ông. Ông đã bị CS lợi dụng và ông chỉ là một cá nhân không đại diện cho một đoàn thể tôn giáo nào vậy mà VC đã vô tình trong sự cố ý tuyên dương cho những “nhà sư chân chính” và Phật tử như sau:
“… Người Sài Gòn, tuổi trẻ SG biết ơn những bậc tu hành chân chính đã quên mình vì nghĩa lớn, những phật tử hy sinh trong bão lửa đấu tranh làm suy yếu kẻ thù, làm rối loạn hậu phương của chúng…” (trích Trui Rèn Trong Lửa Đỏ trang 349).
Hồ Ngọc Nhuận, một dân biểu hạ viện (VNCH) đối lập đã viết trong hồi ký của mình về việc giải cứu Huỳnh Tấn Mẫm khi người sinh viên VC này bị bao vây truy bắt như sau: “…Trung tâm SV phật tử một lần nữa dậy sóng. Một chiếc xe Jeep nhà binh… chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh quốc khách góc đường Công Lý-Hiền Vương… chiếc xe Jeep ập vào bốc Mẫm là của phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ”. Hồ Ngọc Nhuận còn viết tiếp “…Tiếp tay cho CS như vậy không chỉ có mình tôi mà lần này vai chánh không là tôi mà là tướng Nguyễn Cao Kỳ!” (trích hồi ký Đời, bản thảo, HNN trang 142) (Phần này tôi sẽ có một bài viết riêng tỉ mỉ về ” Huỳnh Tấn Mẫm tranh thủ PTT Nguyễn Cao Kỳ).
Lúc này trung tâm Quảng Đức, chùa Phổ Hiền, chùa Ấn Quang – do Thượng tọa Thích Thiện Hoa trụ trì – là những nơi đã giúp và che chở cho VC nằm vùng hoạt động làm sụp đổ chế độ miền Nam Việt Nam. Bởi một lẽ đơn giản là những nơi cơ sở tôn giáo thuần túy với sự bao dung và hướng thiện vô tình đã bị sập bẩy mưu gian của VC, với luận điệu tuyên truyền vô cùng xảo quyệt tạo nênhàng ngũ SVHS Phật tử với “hào khí non sông”, bừng bừng sức sống. Thêm vào đó VC đã cài người vào hàng ngũ tu sĩ làm nòng cốt, che mắt các vị chân tu mà thực hiện kế hiểm mưu gian. Ta thử nghĩ như ở “Phủ Đầu Rồng” mà còn bị gián điệp VC Phạm Ngọc Thảo chui vào ngồi bên cạnh anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và còn được trùm tình báo Trần Kim Tuyến, trùm an ninh quân đội tướng Đỗ Mậu tin dùng thì việc qua mắt, gạt lừa những vị chân tu thân phàm mắt thịt thì có gì là quá khó?
Ngoài lực lượng SVHS Sài Gòn bị CS lợi dụng, giựt dây đấu tranh sôi nổi ra còn có các chính khách, trí thức cũng bị CS lợi dụng tiếp tay cứu nguy cho những đảng viên, SVHS đã bị bắt được thoát tù gồm 16 người trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Võ Ba, Hồ Nghĩa (Hồ Tâm), Cao Thị Quế Hương, Võ Thị Thu Nga… Sau này còn có một cuộc giải thoát thêm 21 người nữa. Tiêu biểu có lãnh đạo thành đoàn như Phạm Chánh Tâm (ba Vạn) Phạm Chánh Trực (năm Nghị). Sau năm 1975 các ông này đều là các lãnh đạo chủ chốt ở Tp.HCM.
Quá trình giải thoát cho các đảng viên CS nằm vùng, SVHS VC nói trên làm cho các nhà trí thức, nhà văn và các tờ báo dưới hình thức này, hình thức nọ đã bị VC lừa mỵ và lợi dụng. Trong đó cụ thể CS đã tổ chức thành lập các tờ báo như tờ Tin Văn. Đầu xuân năm 1966 đặc khu ủy Sài Gòn-Gia Định giao cho Vũ Hạnh nhà văn CS nằm vùng đứng ra xin phép thành lập tờ báo Tin Văn với chiêu bài bảo vệ văn hóa, chống văn hóa ngoại lai, đồi trụy đầu độc thanh niên. Tờ báo được chỉ đạo trực tiếp bởi cán bộ CS kỳ cựu Trần Bạch Đằng, Chủ nhiệm Trần Mạnh Lương cùng các nhà văn và các cây bút như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh… Các cây bút này còn viết cho tờ Hồn Trẻ cùng với Anh Vũ, Trần Cảnh Thu, Lê Uyên Nguyên, Tuyết Hữu, Cao Hoài Hà, Trần Triệu Luật… Tờ Hồn Trẻ do Mười Hải – Bí thư khu ủy văn hóa làm chủ biên. Tòa soạn đặt ở ngôi chùa số 29 đường Trần quang Khải SG.
Một số chùa chiền đã thành cơ sở bí mật cho CS như đã nói ở trên còn có thêm Đại học Vạn Hạnh. Theo tài liệu của thành đoàn trong sách “Trui rèn trong lửa đỏ” đã viết về Đại học Vạn Hạnh như sau “…Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1964… trước năm 1968, tổ chức CM cũng có hoạt động ở đây… tháng 10/1968 tình hình tổ chức CM ở trường sau thời gian bị đánh phá coi như trắng. Thành đoàn chỉ đạo đ/c sáu Tỉnh tức Đỗ Quang Tỉnh nay là cán bộ hợp tác kinh tế UBND TP HCM về xây dựng lại bằng tổ chức liên đoàn SV Phật tử Vạn Hạnh và kể từ tháng 5/1972 một chi bộ chính thức của Vạn Hạnh được thành lập”. Đặc biệt trong đó có câu quan trọng ” Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở thành một pháo đài xuất quân đi đốt xe Mỹ và chống bầu cử…” (sđd trang 96).
Còn đối với chùa Ấn Quang thì ghi: “… Những ngọn lửa bùng lên tuyệt đẹp trên đường phố. Các báo gọi các chiến sĩ đốt xe Mỹ là du kích quân SVHS và chùa Ấn Quang trong những ngày ấy là một chiến lũy của họ. Những người mẹ, người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu đạn cay, vòi rồng phun nước… đến với những đứa con ngoan của thành phố… Tụi bay cứ đốt, đốt hết quân chó đó đi… các mẹ, chị căn dặn, nhắc nhủ với một lòng căm thù như vậy.”(sđd trang 110).
Cuốn theo vòng xoáy đó thì ở các phân khoa đại học cũng xuất hiện các báo như Hoa Súng của Dược khoa, Văn Khoa với Hạ Đình Nguyên, Đại học khoa học có tờ Lửa Hồng, tờ Dấn Thân được GS Trần Kim Thạch đỡ đầu. Luật khoa có tờ Đất Mới với Lê Hiếu Đằng, Nguyên Hạo. Tờ Học Sinh do Lê Văn Triều chủ nhiệm, Nguyễn Thị Liên Hoa quản lý. Nhưng quan trọng nhất là tờ Hồn Trẻ đã mượn danh của những cây bút nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ để gây thanh thế như GS Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Trụ Vũ v.v… Riêng sinh viên Phật tử có tờ Tin Tưởng năm 1968 do Phạm Phi Long làm chủ nhiệm, Đặng Minh Chi thư ký tòa soạn. Năm 1970 thì thay Nguyễn Xuân Lập chủ nhiệm, Trần Công Sơn chủ bút và Trịnh Thị Xuân Hồng thư ký tòa soạn. Tất cả các báo trên đều dưới sự chỉ đạo của CS thành đoàn, đặc khu ủy.
Đặc biệt trong thời gian này nhân vật quan trọng trong lĩnh vực báo chí là nhà văn Vũ Hạnh với bút hiệu cô Phương Thảo đã bị chính quyền SG bắt giữ ngày 02/6/1967 và cứ mỗi lần như vậy thì liên minh các nhà báo (VC), nhà văn, trí thức, SVHS lại đấu tranh quyết liệt bằng mọi cách lôi ông ra khỏi khám Chí Hòa.
Tất cả các mặt nổi tôi nêu ở trên chỉ là một trong những cánh bèo bồng bềnh trên sông nước Cửu Long Giang.
Phần chìm: Song song với những mặt nổi, thì mặt chìm của cuộc chiến nội đô tôi cũng xin vén một phần bức màn. Một phần thôi vì vũ đài chính trị Sài Gòn lúc này là một vở kịch trường thiên.
Ngoài mặt nổi là lợi dụng các lực lượng SVHS, lừa dối các tổ chức tôn giáo, các nhà trí thức, báo chí để thực hiện mưu gian ra thì về mặt chìm cũng vô cùng sôi động. Đó là những toán đặc công, biệt động thành do Thành đoàn, Đặc khu ủy tổ chức và đảm trách gài bom các công sở, cơ quan quân sự Mỹ, VNCH, các xe quân sự đồng thời ám toán các nhân vật quốc gia nào có thể và nhất là các đối tượng mà đã biết về họ mà từ chối không theo để giữ bí mật với nhiều lý do trong đó tiêu biểu có sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật, nhân vật chính khách quan trọng như GS Nguyễn Văn Bông cùng các SV, GS khác nữa và tôi cũng sẽ có một bài viết chi tiết về trường hợp của GS Nguyễn Văn Bông và SV Lê Khắc sinh Nhật trong thời gian gần. Trong giai đoạn thập niên 60s nữ tướng đốt xe Mỹ là Võ Thị Bạch Tuyết. Sau năm 1975 về làm giám đốc nông trường Đỗ Hòa, Duyên Hải và sau đó là làm giám đốc bù nhìn ở sở LĐTBXH Tp.HCM
Các tổ chức hoạt động về mặt chìm trong bài này có liên quan đến máu xương và chiều sâu của ý thức hệ. Do đó tôi cần phải viết rõ và phải có những tài liệu và luận chứng thật chính xác, thuyết phục, rõ ràng để cho những người trong cuộc còn hiện hữu không thể đưa ra lời phản biện cho những tội ác do họ gây ra. Trong đó những người đang vất vưởng bên lề xã hội, kẻ vẫn còn bám đuôi theo đảng mặc cho nước chảy xuôi dòng… mong được chút lợi danh an hưởng tuổi xế chiều và những người lương tâm có phần nào cắn rứt, trong lòng có chút hổ thẹn nhưng không đủ dũng khí để rũ áo sang ngang mà miễn cưởng phản biện ậm ờ như một ngọn đèn dầu leo lét trong căn chòi ở cuối bìa rừng.
Qua những gì tôi đã viết trong bài này chắc quí vị cũng đã phần nào nhận thấy giới trí thức MNVN, SVHS SG đã bị CS lợi dụng như thế nào.
20/10/2012

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s