Tên Đường Nguyễn Thiệu Lâu [*]

Đường Nguyễn Thiệu Lâu!

  • Nguyn Tùng – Thiu Quang*

Nguyen Thieu Lau; Q. Tân Phú

Tôi nhận được điện thư từ Nam Cali, do môt thân nhân trong gia đình chuyển gửi.

Đính kèm theo thư là bức hình chụp một bảng tên đường, gồm ba chữ Nguyễn Thiệu Lâu; tức “tên” thân phụ (nhạc phụ); ông (nội/ngoại); cụ (nội/ngoại)…của đại gia đình chúng tôi, hiện nay hầu hết đang sống tại hải ngoại, Hoa Kỳ và Gia Nã Đại.

Thoạt tiên tôi hơi ngạc nhiên khi nhận được thư, nhưng cũng có ngay ý định truy tìm nguồn gốc để biết hình chụp là thật hay giả. Cái “giả” ở đây có nghĩa là đã được trải qua kỹ thuật photoshop !? Sau lúc đắn đo suy nghĩ, tôi bèn đưa câu chuyện lên facebook , nhờ các bạn fb giúp đỡ.

Đáp lại sự nôn nóng trông đợi, chỉ vài phút sau, có lẽ thời gian trùng hợp giữa hai vùng, miền (trong quốc nội và Hoa Kỳ); tôi nhận được một “còm to reply”, từ thành phố Hồ Chí Minh, như sau:

–“ Đường Nguyễn Thiệu Lâu, P. Hiệp Tân, Q. Tân Phú, TP HCM. Có lẽ ….”

Xin cám ơn bạn!

Duong Nguyễn Th. Lâu- Q. Tân Bình

[Hình trên Internet]

 Theo dõi một khúc bản đồ khu vực, do một bạn fb, hiện cư ngụ tại tp HCM (Sài Gòn) chuyển gửi trả lời, chứng tỏ tên đường là có thật! Và hình chụp chúng tôi nhận được cũng là thật (chứ không phải là giả, do photoshop)!

Sau khi quan sát tấm bảng ghi mấy chữ “ĐƯỜNG NGUYỄN THIỆU LÂU”, rồi ngẫm nhìn thêm vài lần nữa, “cá nhân tôi” không cảm thấy vui! ngược lại, chỉ thấy ngậm ngùi cho cuộc đời! cho đất nước! Đặc biệt riêng cho gia đình chúng tôi. họ Nguyễn thuộc ngành (Nguyễn) ‘Thiệu’; vốn nguyên quán làng Mọc, tỉnh Hà Đông, vào thời kỳ cận đại!

Trước nỗi thống khổ của cả một dân tộc như hiện tại đã thấy rõ, kết cuộc vì bị một kẻ bất lương, du nhập chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai vào đất nước. Cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài gần nửa thế kỷ cũng do bởi nguyên nhân đó gây ra. Tiếp theo sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Hòa Đàm Ba-Lê 1973, phe CS Hà Nội thực hiện cuộc xâm lược VNCH, một quốc gia Tự do, Dân chủ được thế giới công nhận (HĐ Genève 54), tọa lạc tại Bán đảo Đông Dương.

Khoảng hơn bốn mươi năm trước, Lê Duẩn, TBT Bắc cộng (hậu duệ tâm đắc của Hồ Chí Minh) sau khi cưỡng chiếm được Sài Gòn, đã thú nhận: “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc và cho các nước Xã hội Chủ nghĩa CS anh em …”. Sau này, căn cứ vào lời “xác minh” của Ba Duẩn, cả nước mới phát giác ra rằng Bộ đội CS miền Bắc rút cuộc cũng chỉ là lực lượng “đánh thuê” cho tổ chức CS Quốc tế Nga-Hoa.

Cuộc chiến tranh xâm lược miền nam do ĐCS Hà Nội chủ động gây nên, tất nhiên đã tiêu hao mất một lượng tài nguyên đáng kể. Chính xác là nguồn nhân lực cần thiết, đáng nhẽ phải được dùng cho kế hoạch phát triễn quốc gia, đất nước. Hàng triệu sinh linh của cả hai miền Nam Bắc, bao gồm lực lượng chiến đấu lẫn thường dân vô tội, đã phải hy sinh oan uổng vì một bọn “cuồng cộng”, muốn chủ nghĩa CS làm bá chủ toàn cõi Đông nam Á!

Trước thảm họa chiến tranh, gia đình nào cũng phải gánh chịu ngần đó những mất mát, hy sinh, của cải lẫn xương máu. Một cuộc chém giết, theo dư luận từ nhiều phía, nhiều phe, đều công nhận rằng “không cần thiết” để đưa tới ‘Thống nhất” cho một đất nước vốn đang bị chia đôi !!

Gia đình tôi cũng có thân nhân bỏ mình vì chiến trận; cũng có người bị “giam giữ, tù đày”! Một hình thức “trả thù” nhỏ nhen, đê tiện nhất, khiến ĐCS Hà Nội vội phải che giấu dưới từ ngữ ‘mị dân’: “Tập trung, Học tập Cải tao”!

Riêng tôi có một người em trai, tên Nguyễn Thiệu Quang (*), sau khóa “đi học tập” được sống sót trở về với thành tích 7 năm  giam giữ, ‘lao động vinh quang’; bị hành hạ về cả thể sác lẫn tinh thần. Nhưng không may, vài năm sau được thả về, cậu ta đã vĩnh viễn ra đi. do kết quả của vô số bệnh tật tích tụ trong cơ thể suốt thời gian ‘học tập cải tạo’ trên tận miền Việt Bắc. Chắc hẳn em muốn thực hiện một cuộc “đào thoát” mới, để khỏi phải sống với “thiên đàng CS”; một chế độ được coi như là loại “nhà tù lớn” hiện nay mọi người ở trong nước đang sống! Em đã ra đi vĩnh viễn với một cái chết tương đối quá sớm đối với những người còn đang ở độ tuổi năm mươi; .

Hiện tại, đất nước còn dưới quyền cai trị của ĐCS VN, một Nhà nước “Hèn với Giặc, Ác với Dân”, cho dù một cá nhân, vì có chút tiếng tăm (?), được đặt tên cho một con đường, một chiếc cầu, một giòng sông, hay con lạch; thiết tưởng (riêng cá nhân người viết) cũng chẳng phải là điều vinh hạnh gì cho gia đình!

Thật thế, cá nhân chúng tôi không muốn nhận lãnh cái ‘vinh dự’ hiếm có này (!). Lý do tên tuổi của Cha, Ông chúng tôi, đã được (bị) xuất hiện ngang hàng những tay cán ngố Việt Gian/ CS. Các báo đảng (Lề phải) đã thú nhận và “khẳng định” chúng đã xuất hiện với cả tên “giã” lẫn “thật”; thí dụ như  ‘anh hùng VC’ tên Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, nguyễn Văn Trỗi và Bảy Lóp .v..v.. Một loại ‘cỏ dại’, ‘rác rưởi’, do chế độ CS Hà Nội ‘sản sinh, giàn dựng, mục đích đánh bóng cho một chế độ lỗi thời “Búa & Liềm”, đã từ lâu bị thế giới rục bỏ vào thùng rác! Mọi người hãy nhớ, bản thân vốn là Cộng Sản, đặc biệt ngày nay Vẹm cộng vẫn còn tồn tại được là nhờ vào lối tuyên truyền ‘Dối trá, Bịp bợm’!

May mắn thay (!) những trò “Dối trá, Bịp bợm” vừa kể, của Bắc cộng Hà Nội, đã bị vạch trần trước dư luận từ mọi phía, mọi phe nhóm;  trong nước lẫn hải ngoại. Người Việt Nam ngày nay tại khắp chốn dều đã hiểu rõ!

bugle2 

“B tôi trốn thoát ‘bn án t hình ca Vm cộng!”

  • Viết theo ký ức của gia đình.

Lúc cả nhà ăn gần xong bữa cơm tối thì anh Thành, liên lạc viên của Ủy ban, đột ngột xuất hiện. Tôi cho là đột ngột, vì mới buổi trưa có thấy anh mang công văn của Trung ương xuống Sở cho bố tôi.

Ủy ban Hành chính cách Sở thống kê khoảng hai chục cây số đường tỉnh lộ. Phương tiện di chuyển của một liên lạc viên thông thường là đi bộ. Đi nhanh cũng phải mất hàng vài giờ đồng hồ cho cả bận đi, lẫn về. Họa hoằn anh Thành dùng đến xe đạp, trường hợp phải đưa những loại công văn Hỏa tốc/Khẩn!

Đặc biệt buổi tối hôm đó, đồng chí liên lạc viên, Việt Minh, đến gặp bố tôi mà không đi bộ!

Anh hấp tấp dựng chiếc xe đạp cũ cạnh hàng rào cổng trước; thận trọng đảo mắt nhìn quanh, đoạn nhanh nhẹn bước gọn vào trong nhà. Ngắm khoảng lưng áo ướt đẫm mồ hôi; chứng tỏ anh ta đã phóng xe đi trong tình huống gấp gáp. Điều này hầu như chưa bao giờ xẩy ra.

Bố tôi linh cảm có chuyện không bình thường sắp đến, nên vội đứng lên, kéo người liên lạc viên trở ra phía trước cho dễ bề nói chuyện. Tôi tò mò nhìn theo; thấy hai người vừa ra đến cổng, anh Thành đã cầm ngay lấy tay lái (ghi-đông) chiếc xe vội vã nhẩy lên, cúi rạp mình phóng xe khuất dạng trong bóng tối.

Hiển nhiên hai người đã kịp trao đổi xong câu chuyện, trước khi bước ra tới cổng.

Nhờ được người liên lạc, chẳng quản ngại nguy hiểm, bí mật đến tận nhà tiết lộ cho bố tôi những điều tình cờ vừa mới nghe lóm (!), cũng nhờ vậy ông mới đủ thời gian đối phó trước khi tình huống không hay sắp xẩy đến. -“Ủy ban sắp ra lệnh bắt khẩn cấp, rồi gán cho Giáo sư một “tội”, để lãnh cái án ‘tữ hình’! Thày nên đi ngay đêm nay cho thoát! Thôi em xin chào thày” (!)

Lúc quay trở vào nhà, không ai nghe rõ ông thì thầm chuyện gì với vợ. Mọi người chỉ thấy bà, đợi ông nói dứt lời, khẽ khàng buông đũa bát đứng dậy. Bà nhanh nhẹn thu dọn vật dụng, mặc thêm áo ấm, đi giầy, dép cho hai chị em tôi. Đặc biệt chăm sóc cho đứa em nhỏ mới sinh được năm tháng; bọc thêm nó trong tấm chăn ấm rồi cẩn thận trao cho chị Nụ ẵm. Chị vú em, tứ lúc đó sẽ chỉ làm mỗi việc là bồng đứa bé và đi theo sát với bà.

Trong chớp mắt, ông đã gọi được anh K., người dẫn đường với cây đèn bão trong tay, như một vật bất ly thân của anh. Ông thuê thêm được ba người khác, ôm vác theo một số vật dụng, sách vở cần thiết. Họ đều là những người hàng xóm, dân thượng du, được bố tôi tin cẩn từ khi Sở Thống kê của ông dọn lên đây. Trong nhóm có một phụ nữ thượng khỏe mạnh, sẽ quẩy đôi quang gánh trên vai. Chị gánh đứa em trai tôi ngồi trong cái thúng phía trước, còn lại thúng đằng sau chất đầy quần áo, để giữ cân bằng.

Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa rõ chuyện gì sẽ xẩy ra, chỉ biết là bố tôi bảo mọi người tuyệt đối giữ khẽ khàng, cùng nhau bí mật lên đường ngay lập tức; cơm nước, thức ăn còn dư thì gói đem đi theo. Chắc chắn phải là người từng có kinh nghiệm trong các chuyến du khảo trước đây, bố tôi xử sự thật nhanh nhẹn; thoáng chốc cả nhóm gồm bẩy người lớn và ba trẻ em đã yên ắng khởi hành lên đường; trong lúc xóm nhà chung quanh không ai hay biết

Trời đã tối hẳn.

Cảnh vật yên tĩnh đến độ không nghe thấy một tiếng động; kể cả tiếng chó sủa quanh đó.

Riệng tôi, nhờ bố cầm tay dắt đi, đã phải sải những bước ngắn, nhanh tựa như chạy bộ theo người lớn.

Anh K. cầm trong tay chiếc gậy tre, tay kia sách ngọn đèn, lầm lũi đi trước dẫn đường. Hai bố con tôi đi sát theo sau. Mẹ tôi, chị Nụ bế em bé và người phụ nữ gánh đứa em trai đi giữa. Ai nấy tất tưởi cùng rảo bước nối đuôi nhau, len lỏi theo con đường mòn; chỗ thì quang đãng, có chỗ kẻ bộ hành phải dùng tay gạt các thứ cành, lá để bước tới.

Tai tôi không còn nghe rõ để phân biệt mọi thứ âm thanh trong đêm tối, trừ tiếng chân bước xột soạt trên lối mòn, dẵm trên đám cỏ dại, trên những phiến lá khô nằm ém dọc theo lộ trình.

Tôi cảm thấy đuối sức dần, vì quá buồn ngủ, nên không còn thiết quan sát những con đom đóm chập chờn và tiếng côn trùng rỉ rả vây quanh như lúc mới rời khỏi khu xóm bản cư ngụ.

Đầu óc tôi mơ màng, nửa thức nửa ngủ. Tôi còn nhớ đã thốt lời nhiều lần với ông: “Bố ơi!.. con.. buồn ngủ.. quá!” Tiếng bố tôi đáp lại lần nào cũng thế, bên tai vẫn tiếp tục nghe được lời ông âu yếm, khuyến khích tôi: ”Cố lên! Cố lên đi con! Sắp tới chỗ nghỉ. Nắm chặt tay…bố dắt con đi đây!…Sắp về đến nhà rồi!”.

Sau này lớn lên tôi biết rõ hơn, chữ “nhà” ông nhấn mạnh lúc đó với đứa con gái lớn, tức là Hà Nội! Căn nhà số 1 Phố Hàng Đường (góc Phố Hàng Chiếu), nơi gia đình chúng tôi, trước “Cách mạng” đã từng sinh sống cùng với ông bà Ngoại và các dì, trước khi bố tôi bỏ nhà cửa, đem gia đình “đi theo kháng chiến!”

Nhóm người âm thầm ‘tẩu thoát’ (the fugitive!), cứ thế tiếp tục, lúc đi, lúc nghỉ; hầu như suốt cả một đêm.

Trời vừa hừng sáng, ‘bọn lánh nạn’ gồm bẩy người lớn và ba trẻ em, bắt đầu tẽ ra đường cái để di chuyển cho thuận tiện.

Tôi vẫn còn nhớ, đứa em gái mới hơn năm tháng tuổi, tối hôm trước được mẹ tôi quấn thêm cho một cái chăn do chị Nụ bế, tới lúc nghỉ chân, lớp vải bọc ngoài của chiếc chăn lúc đó đã bị ướt đẫm sương đêm. Cậu em kế tôi, kém hai tuổi, ngồi thu lu trong cái thúng, cũng choàng mở mắt, ở tình trạng nửa ngủ nửa thức.

*Trích đoạn  “Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản,” [Wiki tiếng Việt] Hết trích

Khởi đầu từ sự kiện xẩy ra gọi là Cách Mạng Tháng Tám (1945).

Chính phủ Liên hiệp Việt Minh, sau khi tuyên bố kháng chiến chống Pháp, lúc đó đã đề cử bố tôi làm Giám đốc  phụ trách Ngoại Kiều vụ và Sở Thống kê. Khoảng đầu năm 1946 (?), theo lệnh của Trung ương, cơ sở phải di chuyển toàn bộ, gồm tài liệu và nhân viên lên Tuyên Quang. Tôi còn nhớ địa điểm sinh hoạt của Sở lúc đó trong một vùng dân cư, tọa lạc gần bờ sông có bến đò; gồm dân thượng du (Mán và Thổ) và một số đông gia đình người Việt đã sinh sống lâu đời tại đây. Nghe lóm được các câu chuyện do bố tôi nói với nhân viên, thì lúc đó cơ sở nằm trong vùng  Bắc Quang, Bắc Mục (?).

Ông viết trong bài Hồi ký có tựa đề: “Ký  Ức Về  Cụ  Nguyễn Văn Tố”

_ Đi thuyền ngược con sông Lô qua Bắc-mục, độ nửa ngày đến một cái bến, ở bên tay phải (tức tả ngạn sông, nếu là thuyền xuôi) tên Nôm là Thụt, thuộc xã Phù-loan. Có hai dẫy nhà sát vách nhau, chạy song song với sông. Ở hai bên một cái sân đất rộng đến hai mươi mét. Sân này dùng làm chợ, không có quán. Mỗi ngôi nhà lá chỉ có một hay hai gian bề mặt nhưng dài chia làm hai hay ba lớp. Có một hiệu tạp hóa của người Tàu và một của người Kinh. Một dẫy toàn người Kinh, một dẫy toàn người Tàu.
Nguyên trước khi kháng chiến phố Thụt buôn bán sầm uất.
Các lái gỗ từ vùng xuôi đến đây đặt hàng. Gỗ đóng bè rồi thả xuống Tuyên-Quang về Hà-nội và có khi về mãi Nam-Định.
Người Kinh ở đây phần nhiều là dân Công giáo Thái-Bình, Nam-Định Họ có làm một nhà thờ bằng lá, một cái trường học. Cha xứ ở Tuyên-Quang thỉnh thoảng mới lên làm lễ vì xa quá.
Tôi tản cư đến Thụt. Những ngày tốt trời, tôi đi vào các làng người Thổ, người Mán chơi, nhân thể khảo cứu về nhân sinh địa-lý….”

Trước tình trạng loan lạc của đất nước vào lúc đó;  chị em tôi ban đầu cũng không tránh khỏi xa lạ với cảnh vật núi rừng Việt Bắc; nhưng chỉ it lâu sau rồi cũng thấy quen đi. Hàng ngày chúng tôi có thêm một số bạn mới; con cái thuộc gia đình các nhân viên của sở đang lục tục dọn ra từ thành phố.

bat co bac muc

Dần dần đám trẻ chúng tôi cũng quen tai vì được nghe hàng ngày tiếng chim hót mang âm thanh từa tựa như “Bắt Cô Trói Cột! Bắt Cô Trói Cột!”.…Tiếng hót của một loài chim, mà đặc biệt chỉ có ở địa phương này.

Anh K. là một thợ săn giỏi trong làng (bản). Vốn là người Mán, anh biết rành rẽ khắp nơi chốn trong vùng Việt Bắc, đặc biệt như Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên  ..v..v.. Bố tôi gặp anh K. lúc thoạt đầu đặt chân tới miền thượng du. Vì thấy người này có thể tin cẩn được nên đã thuê anh làm hướng đạo, dẵn đường cho ông trong những chuyến đi công tác của Ủy ban.

Nhưng lần này, sau bữa cơm tối hôm trước, anh K. bị gọi đi theo bất thình lình, chỉ kịp quơ vội cây gậy tre thường dùng để đi rừng và chiếc đèn bão (đốt bằng dầu lạc) dùng soi đường ban đêm!

Là kẻ từng làm hướng đạo viên, khởi hành từ tối hôm trước, anh K. dẫn mọi người cứ nhắm các đường mòn mà đi. Tương tự các chuyến du khảo lúc trước, bố tôi đồng ý chọn cách này; giúp lộ trình vừa ngắn hơn lại khó bị phát hiện, tránh không bị bại lộ. Cẩn thận hơn nữa, hễ cứ mỗi lần dừng lại để nghỉ chân, ông đều nhắc anh K. tắt ngọn đèn dầu, giúp tiết kiệm nhiên liệu và tránh khỏi lộ diện trong đêm tối.

Rút kinh nghiệm từ những chuyển công tác trước kia của Sở, ông được ‘trên’ khuyến cáo phải tránh không để bọn Việt gian và lính Tây bắt giữ. Oái oăm thay, trong thời khắc này, do tình thế phải ‘bỏ trốn’, bố tôi bắt buộc chấp nhận cà hai; tránh né lính Pháp càn quét, lẫn tránh gặp các “đồng chí” Vẹm. Vì thế, mọi người phải rảo bước đi càng nhanh càng tốt trong đêm, để tiếp tục suôi nam về hướng Thái Nguyên.

Đợi lúc trời chạng vạng sáng, bố tôi mới quyết định để đoàn người rẽ ra đường cái quan, nhân tiện cũng giúp ông dễ bề quan sát địa thế.

Khi đó tuy vẫn còn nằm trong địa phận thượng du, nhưng nhờ vội vàng rảo bước, sau gần một đêm đoàn người cũng đã dời khá xa địa điểm Sở Thống kê, thuộc Chính phủ Kháng chiến (VM).

Đặt gót giầy trên đường tỉnh lộ trải nhựa, có chiều rộng vừa phải.

[Hình trích đăng trong Wiki tiếng Việt]

[Hình trích đăng trong Wiki tiếng Việt]

Bố tôi biết rõ, nơi ông đang đứng là một địa điểm trên đường Tỉnh Lộ dẫn về miền suôi. Nếu từ chỗ này vẫn đi một mạch tiếp tục về hướng nam, sẽ đưa gia đình ông về tới Hà Nội.

Bố tôi ra hiệu cho mọi người dừng lại để cùng ngồi nghỉ trên bờ cỏ ven đường.

Nhóm phụ nữ và trẻ em như chúng tôi, lúc đó cũng mệt lả. Mặc dù dọc đường đi vẫn có những chặng dừng chân để lấy sức trong đêm. Tất nhiên trong cuộc ‘tháo chạy’, ông phải là người lo lắng nhất. Nếu không có một nhân viên trung thành, tiết lộ nguồn tin bí mật! bố tôi sẽ bị Ủy ban bắt đi vào giữa đêm hôm trước! Dĩ nhiên, chính cá nhân bố tôi, kẻ tự dưng phải nhận lãnh cái bản án (?) mà ông chưa hề  nghĩ tới bao giờ !

*

Trong thời khắc dừng chân bên quốc lộ, bỗng từ xa thấy xuất hiện một thổ dân địa phương, vai đeo gùi, đang từ từ đi tới. Bố tôi liền tiến lại hỏi thăm ông ta, do đó mới biết, nếu cứ đi xuống mạn dưới khoảng hơn cây số nữa, sẽ thấy một đồn lính đóng cạnh lùm cây gần đường cái.

Như vậy cả nhóm đã đi càng lúc càng xa vùng có Ủy Ban trú đóng; Vì trên trục lộ đã thấy xuất hiện rải rác đồn bót quân sự do lính Lê dương (Pháp) lẫn Việt trú đóng, nhắm giữ an ninh trục  giao thông.

Lần này được ngồi nghỉ hơi lâu, nên mọi người ai cũng cảm thấy thoải mái.

Riêng phần bố tôi, ông cũng bớt lo ngại, khỏi sợ bị tay chân của Cách mạng đuổi kịp.

Sau giây phút tản bộ chậm giãi để có đủ thì giờ suy nghĩ, lúc quay trở lại, ông nói riêng cho mẹ tôi nghe về ý định của mình. Xong câu chuyện, bà mở nắp chiếc thúng đựng quần áo, phía đằng sau đôi quang gánh, lục tìm bộ com-lê đưa cho bố tôi mặc.

[Tôi vẫn nhớ như in, trong cặp quang gánh do một chị người thượng quẫy trên vai, cái thúng phía trước đựng đứa em trai tôi (lúc đó chưa tới 6 tuổi), vì nó không có đủ sức đi một mình, mặc dù được mẹ tôi nắm tay dắt đi cạnh bà.]

Sau khi trút bỏ bộ đồng phục bốn túi, loại vải kha-ki Nam Định màu xám tro, bố tôi lúc đó trông hoàn toàn là một người khác. Ông mang dáng dấp là người của tỉnh thành với bộ âu phục mầu xám nhạt.

Tới gần đồn lính, ông bảo mọi người ngồi đợi, rồi một mình lững thững tiến lại nói chuyện với toán lính gác tại cổng đồn, gồm Tây trắng, Tây đen lẫn lính Việt. Chúng tôi thấy ông đứng chờ khoảng mươi, mười lăm phút, sau đó xuất hiện lố nhố thêm vài người nữa; rồi tiếp theo tất cã mất hút sau cánh cồng.

Mối lo lắng của mẹ tôi và mọi người ngồi ở bên ngoài không phải đợi lâu, vì bấy giờ đã có hai người lính, một Pháp một Việt, tiến đến hỏi gặp mẹ tôi; “Où est Madame Lâu ? Ai là bà Lâu?”. Sau mấy câu chào hỏi và nói chuyện với bà, cả nhóm người ‘hồi cư’ được mời vào hết bên trong đồn.

Tôi nhớ đã được ăn một bữa sáng rất ngon miệng, gồm bánh mì pa-tê, xúc-xích. Người lớn thì thưởng thức với cá-phê, con nít chúng tôi, được uống thêm sữa nóng với sô-cô-la. Trong lúc đó bố tôi ngồi riêng, dùng điểm tâm với vị trưởng đồn, Thiếu Úy người Pháp. Cả hai nói chuyện vui vẻ, tự nhiên tưởng như họ đã từng quen nhau từ trước. Có thể do bố tôi nói tiếng Pháp lưu loát, đặc giọng bản xứ, như thuở ông còn du học tại Paris; khiến viên sĩ quan Chỉ huy rất có cảm tình.

Nhóm người thượng do gia đình tôi thuê, cũng được toán lính trong đồn đãi ngộ một bữa ăn tươm tất.

Tiếp theo cuộc điện đàm của Sĩ quan Trưởng đồn,  trình bầy rõ với cấp trên lý do “bố tôi hiện diện tại đồn sáng nay”. Chừng khoảng nửa giờ đồng hồ sau đó. họ quyết định đưa gia đình chúng tôi ngay tức khắc đi Tuyên Quang, rồi từ đó tiếp tục lên đường về Hà Nội trong ngày.

Nhằm tránh tất cả những phiền phức có thể xảy ra, ông đồng ý với vị sĩ quan Pháp, chỉ trả tiền cho nhóm người được thuê mướn để họ trở về nhà (địa phương), cùng với lúc chiếc xe Dodge 4×4 lăn bánh, khởi hành đưa gia đình chúng tôi đi về suôi.

Vốn bản tính khoan dung, tử tế, bố tôi hành xử trước sau như một đối với tất cả mọi người. Đúng thế, dù cho thời buổi thái bình hay trong cảnh nhiễu nhương vì loạn lạc, ông lúc nào cũng quan tâm, lo lắng cho nhân viên thuộc cấp, và những người đồng sự, cộng sự. Vì thế tôi chẳng thấy ngạc nhiên, trước khi trao trả tiền thuê cho nhóm người thượng du, ông nhắc mẹ tôi gom hết những ngân phiếu, các loại tem phiếu thực phẩm do Chính phủ Kháng chiến Việt Minh cấp phát thời đó, đem trao tặng hết cho những người đã giúp đỡ gia đình ông trong cuộc hành trình vất vả vừa qua.

// Hết Phần Một//

 

Ghi chú: [*] Bài được cập nhật

  • Trích đoạn: Ký  Ức Về Cụ Nguyễn Văn Tố..

Đi thuyền ngược con sông Lô qua Bắc-mục, độ nửa ngày đến một cái bến, ở bên tay phải (tức tả ngạn sông, nếu là thuyền xuôi) tên Nôm là Thụt, thuộc xã Phù-loan. Có hai dẫy nhà sát vách nhau, chạy song song với sông. Ở hai bên một cái sân đất rộng đến hai mươi mét. Sân này dùng làm chợ, không có quán. Mỗi ngôi nhà lá chỉ có một hay hai gian bề mặt nhưng dài chia làm hai hay ba lớp. Có một hiệu tạp hóa của người Tàu và một của người Kinh. Một dẫy toàn người Kinh, một dẫy toàn người Tàu.
Nguyên trước khi kháng chiến phố Thụt buôn bán sầm uất.
Các lái gỗ từ vùng xuôi đến đây đặt hàng. Gỗ đóng bè rồi thả xuống Tuyên-Quang về Hà-nội và có khi về mãi Nam-Định. Người Kinh ở đây phần nhiều là dân Công giáo Thái-Bình, Nam-Định Họ có làm một nhà thờ bằng lá, một cái trường học. Cha xứ ở Tuyên-Quang thỉnh thoảng mới lên làm lễ vì xa quá.
 Tôi tản cư đến Thụt. Những ngày tốt trời, tôi đi vào các làng người Thổ, người Mán chơi, nhân thể khảo cứu về nhân sinh địa-lý….” [Hết trích]

//

  • Theo dõi tiếp tục các bài viết thuộc phần tham khảo liên quan đến:
  1. Tại sao Vẹm muốn tròng vào cổ bố tôi một ‘bản án’ (?) Có liên quan gì tới vụ Hồ Chí Minh bán đứng Phan Bội  Châu cho thực dân Pháp (?)
  2.  Pháp Nhãy dù Bắc Cạn (1949) và cái chết mờ ám của cụ Nguyễn Văn Tố!
  3. Bố tôi bị Vẹm chích thuốc đầu độc (?) thay vì chịu lãnh án!

*

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s