Lăng Hoàng Đế Quang Trung (?)- Cố GS Nguyễn-Thiệu-Lâu

LĂNG HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG [*]

Tượng vua Quang Trung trong chùa Bộc

Tượng vua Quang Trung trong chùa Bộc

  • Cố GS Nguyễn-Thiệu-Lâu

Ở cách Hà-nội 4 cây số, về phía Nam, đường đi Hà-đông, có một cái gò gọi là gò Đống-đa.

Gò này khiến ta nhớ một chiến công oanh liệt của một người trai đất Việt, ấy là Hoàng-đế Quang-Trung đã thắng quân Tàu xâm lăng, chỉ trong một trận, vào năm Kỷ-dậu (1789) đúng ngày mùng năm tháng Giêng.
Tháng sáu, năm Giáp-thìn 1784, Ngài đã thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm, ở phía Nam Mỹ-tho
. . . . . . . .

Công đánh Tàu.
Công đánh Xiêm.
Giữ vững giang-sơn.
Bảo vệ dân-tộc.

Vị quân-nhân và Hoàng-Đế nầy cũng đã lại là một nhà đại cách-mạng quốc-gia. .
Lăng Ngài ở đâu?
Vị nào có chí đi tìm hiểu thời sẽ có thể theo lời chỉ dẫn trong bài này mà đi tìm Lăng ngài Quang-Trung.
Lăng Ngài, hỏi dân ở mấy xóm gần đây, hỏi trẻ mục đồng thời, nôm na, gọi là mộ Ba Vòng.

*  *
*

Vào năm 1941, tôi ở Huế, sinh nhai bằng nghề gõ đầu trẻ. Nhưng cũng vì tôi giảng về môn sử-ký và địa-lý nên tôi phải khảo cứu và dẫn anh em học sinh đi học tại chỗ.

Có một vấn đề sử học đặt ra, ấy là Lăng Hoàng-Đế Quang-Trung ở đâu?
Sử ghi rằng Ngài an táng ở phía tây Kinh-Thành (Huế) ở trong miền núi.
Tôi đã đi tìm Lăng Ngài, bản đồ tỷ-lệ 1/100.000 ở tay, với viễn kính và địa bàn.
Sở dĩ tôi đi tìm Lăng Ngài Quang-Trung là do Cha Cadière, một nhà khảo cứu, đã bảo tôi, đại khái như sau này. Cha nói bằng tiếng Pháp:

Le tombeau de Nguyễn-Huê . est dans la région montagneuse, a l’Ouest de Huẹ Cherchez le et vous en ferez une étude“.

Dịch ra tiếng Việt như sau:

” Lăng Nguyễn-Huê . ở trong miền núi, phía Tây thành phố Huế. Ông hãy đi tìm Lăng ấy đi và ông sẽ khảo cứu”.

Sở dĩ Cha bảo tôi như thế là vì tôi là nhân-viên Đô-Thành Huế Cổ xã (Association des Amis du Vieux Hue) mà Cha thời là Chủ Bút tập kỷ-yếu của học hội này.
Vốn là người từng trèo núi, tôi ra đi, bị gậy và con chó lên đường.
Cả một cuộc hành trình!

* *
 *

Tôi từ dốc Bến Ngự đi lên đường nam-Giao, theo đường Lăng Khải-định.

Mặt đất dần dần caọ Miền núi trước mặt. Làng mạc lơ thơ.
Tới Lăng Khải-Định, tôi ngồi nghỉ. Tôi nhìn trên bản-đồ và đánh dấu địa điểm.
Trước mặt qua một cái khe là một dẫy đồi.
Tôi xuống khe và trèo lên đồi.
Đồi chất đá là thứ đất xét rắn (schisto-greseux) mà các đồi song song chạy với nhau (relief appalachien) .
Có một thứ cây mọc ấy là cây chổi sể (bruyère).
Đứng trên đồi cao, nhìn về phía Tây Bắc thấy một thung lũng. Rồi núi non trùng trùng điệp điệp.
Không có một làng xóm nào cả.
Viễn kính chiếu x
a
Tôi đã nản.
Vì đi từ sáng sớm, mười một mười hai giờ mới tới đỉnh đồi này.
Trèo đã mệt.
Con khuyển chạy cũng đã mệt.
Thầy trò ngồi ăn.

. . . . .

Rồi chúng tôi cứ theo đỉnh đồi mà đi, từ đồi này sang đồi khác. Cây chổi sể hồi đó ra hoa, không khí thơm phưng phức.
Cây chổi sể mọc cao đến bụng.
Viễn-kính ở tay, tôi nhìn tứ phía.
Dãy đồi này không khác gì dãy núi Tiên-du ở Bắc-ninh.
Ở trên dãy đồi này mà nhìn, vừa đi vừa nhìn qua viễn-kính.
Rồi tôi nhìn thấy, ở trong một thung lũng, một cái thành.

Tôi tự bảo: Xuống xem.
Hồi đó tôi còn trẻ và có sức.

Tính phỏng thời từ ngọn đồi mà xuống tới nơi, độ 3 cây số, nhưng mà phải lên lên xuống xuống, mà không có đường mòn.
Trời đã quá ngọ rồi.
Tôi và con khuyển lần mò tới cái thành đó. Nếu tôi không đem theo địa bàn thời nhất định là bị lạc.
Chúng tôi tới sát thành, sau khi đi qua một vùng toàn lau sậy.

* *
*

Thực là một sự lạ.
Trong đời tôi, tôi đi cũng đã nhiều nơi, bây giờ nhớ lại, tôi mới biết rằng hôm đó tôi đã làm một công việc theo bổn phận nhà nghề của mình… và có kết quả.
Tôi tin chắc đây là Lăng Hoàng-đế Quang-Trung.

Tôi loanh quanh luẩn quẩn, quan sát, suy nghĩ, trèo lên mấy ngọn đồi trên, lấy dây to đo, xụt xuống dưới, tới chỗ một cái khe cạn vì mùa mưa đã hết.
Trời tà, khí núi bốc, mây xám, mưa phùn, một làn gió nhẹ.
. . . . .
Tôi vỗ con khuyển ra về. Con khuyển nhớ đường đi nên nó dẫn tôi về tới nhà, quá tối mịt.
Miền này có hổ !

* *
*

Sau hôm đó đến quá nửa tháng vì phải để thời giờ suy nghĩ và tìm tài liệu, tôi rủ anh em học sinh lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất ở trường Khải-Định cùng đi học với tôi.
Tôi bảo là đi học địa lý thiên nhiên. Độ vài ba chục anh thích đ
i.

* *
*

Chúng tôi vừa đi vừa quan sát các đá, ở hai bên dọc đường. Đá mài (gres), đất sét rắn (schiste), đá vôi già (calcaire primaire phisse’). Quá Lăng Khải-Định, chỉ mấy ngọn đồi và tôi bảo anh em học trò trèo lên đấy, nghỉ, rồi về.
. . . . .
Trèo lên đồi, sau khi đi qua khe, chúng tôi ngồi nghỉ chia nhau thức ăn.
Tôi đã đánh dấu chỗ nhìn rồi.
Tôi đưa viễn kính cho các anh nhìn và tôi bảo :” Lạ thật, có cái gì đằng kia, ở giữa miền núi “.
Anh nói thế này, anh nói thế nọ.
 – Một cái thành?
 – Một cái mộ cổ?
 – Sao lại có thành ở đây được?
 – Sao lại có mộ ở đây được?
 – Chúng ta xuống xem !
. . . . .
Tôi vội can thiệp:
 – Các anh muốn xuống thời xuống, tôi chờ ở đỉnh đồi này. Nhưng nhìn kỹ phương hướng, kẻo mà lạc.
Các anh thanh niên chia nhau từng lớp mà đị
Tôi lấy viễn kính theo dõi họ.
Mục đích của tôi là để cho họ đi trước, để cho họ bàn với nhau, cùng họ được hưởng thú trèo núi.
Rồi tôi và vài anh em đi theo saụ
. . . . .
Tới nơi, tôi thấy các anh em, kẻ ở chỗ nầy người ở chỗ khác, kẻ ở dưới đất, người ngồi trên tường thành.
Lần trước tôi đi, có một mình, không leo được lên mặt thành. Lần nầy, nhờ hai anh em công kênh, tôi lên được mặt thành và ngồi, lấy viễn kính nhìn kỹ.
Để cho các anh em bàn tán lao xao, rồi tôi lại nhờ hai anh em cho tôi xuống đất.
Rồi chúng tôi nói chuyện.
Đại để câu chuyện như sau này:
Tôi : Lạ nhỉ, tại sao ở miền núi hoang vu như thế nầy lại là một cái thành?
Một anh : Thành này kiểu lạ, có ba thành hình tròn ôm lấy nhaụ Ba cửa mở theo một hướng.
Tôi : Sau cửa mở vào, có một cái bia tọ Bia nầy bằng đá dày, rắn lắm. Anh nào khá chữ Hán thử cố đọc mà xem.
Mấy anh xúm xít lại đọc. Họ lấy khăn tay chùi biạ Họ chẳng đọc được chữ gì cả.
Một anh : Bia này mòn.
Tôi : Anh nhìn kỹ đị Bia này không có thể mòn được một cách nhanh chóng vì chất đá rắn lắm. Anh nhìn kỹ xem. Các chữ khắc sâu ở trong bia đã bị các nhát búa rập đị
Vết các nhát búa đó hãy còn, tuy bia ở ngoái trời, chịu mưa, chịu nắng không biết đã từ bao nhiêu năm rồi.
Dựa vào bia, nhìn vào giữa thành thứ ba, anh thấy một cái mộ tọ
Mộ này xây bằng vôi mật, còn ba thành đều xây bằng đá ong.
Mộ này phải là mộ của ông quan to, thuộc triều đại nào không biết.
Các anh xem kỹ mộ đị
. . . . .
Tôi cầm búa đập chan chát vào mộ. Búa chỉ nẩy ra mà thôi. ( Nguyên là đi học địa lý, bao giờ chúng tôi cũng phải giắt`một cái búa dài để đập đá ).

Tôi chỉ một lỗ hổng trong mộ. Lỗ hổng này nhỏ. Vì bị đất chung quanh dần dần lấp đị Lỗ hổng này đã phải to, đủ cho người chui vào, và vào sâu, để đào, đào sâu.

Đào để làm gì ?

Phải chăng để lấy của trong áo quan ?

Phải chăng để lấy xương ?

Một anh : Chắc để lấy của.

Tôi : Các anh suy nghĩ đị

Đã phải có một sự liên lạc giữa cái bia bị búa rập chữ và cái hố đào nầy. Rập bia để khiến cho hậu thế không đọc được.

Một anh : Đây chắc là một ông quan khi sống độc ác, có kẻ thù: kẻ này chờ sau khi ông ấy chết bèn rập bia đào mộ.

Tôi : Gần Huế, ở các xã An-ninh, Nguyệt-biê ?u, Kim-long có biết bao nhiêu mộ tọ Có mộ mà bia bị chìm

xuống đất. Nhưng chỉ thuộc về 2 kiểu. Một thuộc về đời nhà Tây-Sơn. Một kiểu thuộc về đời nhà Nguyễn.

Đây là một mộ to, có ba thành bằng đá ong bao bọc. Chung quanh thành ngoài, như các anh đã đứng trên mặt thành mà nhìn, thời là các ngọn núi, chạy vòng quanh với nhau, ôm lấy ba cái thành, nghĩa là cái mộ ở giữa một cái vùng hình lòng chảo vì chất đá mềm đã bị suối đào (cuvette d’erosion).
Nói tóm lại, lối kiến-trúc hùng vĩ trong một khung cảnh đặc biệt của thiên nhiên, cái bia chữ thật to, bị rập và cái mộ bị đào, ba chi tiết nầy khiến tôi nghĩ rằng đây là một ông quan thường, dù là Nhất Phẩm, Văn hay Võ.
. . . . .
Các anh em suy nghĩ đi.
. . . . .
Một lúc lâu tôi mới trả lời : Đây là Lăng Hoàng-đế Quang-Trung !

Chúng ta hôm nay đến cung chiêm Lăng Ngài.

Bây giờ tôi nói các anh rõ. Tôi đã tới đây một lần. Hôm nay đến lượt tôi dẫn các anh lại đây…

1.- Bia của Ngài đã bị Hoàng-đế Gia-Long cho đập.

2.- Tẩm của Ngài đã bị đào. Hài cốt đem về cho vào một cái chum, có xích xiềng, để ở dưới khám đường ở Huế.

3.- Nhưng Ngọc-Hân Công-chúa, con gái vua Lê và là Hoàng-Hậu hay Quí-phi của Hoàng-đế Quang-Trung được tha tội chết và được tuyển vào hầu hạ Hoàng-đế Gia-Long ở trong cung…

Các anh muốn biết công của Hoàng-đế Quang-Trung với dân tộc như thế nào, sau này, các anh học sẽ biết…


* *

 *

Trời đã tà,
Anh em chúng tôi đi hàng một vạch lau mà về…
Thỉnh thoảng có anh quay lại, đứng nhìn lăng Ngài…
Chúng tôi im lặng mà về.
Sau cuộc cung chiêm lần thứ hai nầy, cùng với anh em, tôi không có dịp quay lại lăng Ngài nữa.

Các ảnh của tôi đã chụp, đã bị mất !

Vào năm 1952, tôi đã có dịp trở lại Huế, nhưng đã không có phương tiện để lại cung chiêm lăng Ngài.

Bây giờ, tôi chắc rằng lau mọc trên mặt thành vẫn nhiều, bông phất phơ trước gió. Đứng trên ngọn đồi dài mà lấy viễn kính nhìn thời thấy thực là đẹp.
Chung quanh lăng, chắc toàn là lau sậy, cỏ ranh hay nếu có cây dại mọc thời cũng chỉ là mới
đây.
Oái oăm thay, ở gần chỗ mà tẩm Ngài bị đào, tôi có thấy một cái mộ con, không có bi
a Mộ nầy, tôi đã hỏi ra, là một một thường dân ở gần đấy, đem an táng để mong được phước.

Trong mùa mưa, nước ở trên núi đổ về phía sau Lăng và chảy vòng quanh. Đến phía cửa Lăng thời tụ lại và chảy theo một cái khe.

Nhà Nguyễn đã thu thập để hủy tất cả sử liệu về nhà Tây-Sơn, cũng như đã rập bia, đào mả…

Bây giờ, chúng ta nhớ tới lăng Hoàng-Đế Quang-Trung.

– Hết –

* Bài trích đăng trong “Quốc-Sử Tạp Lục” mục Danh-Nhân Lịch-Sử của Cố G.S. Nguyễn-Thiệu-Lâu (1916-1967)

* Tài liệu do gia-đình cung cấp- Xin thành thật cám ơn –tunhan

 *  *  *

  • Tiểu Sử cố Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu.

Hình chụp cuối năm 1965 (Hình do gia đình cung cấp)

Hình chụp cuối năm 1965, 49 t.-(* Hình do gia đình cung cấp)

Hình chụp tại Paris, khoảng 1937-38

Chụp tại Paris, khoảng 1937- 38 (*)

+Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1916 tại làng Mọc Hạ-Đình, Tổng Khương-Đình, huyện Thanh-trì, tỉnh Hà-Đông.

Ông thân sinh tên Nguyễn Thiệu Khuê, Tham sự Lục lộ. Ông nội là cụ Nguyễn Khắc Chuẩn, Đốc học Phủ Kinh Môn, Tỉnh Hải Dương.

Là con thứ hai trong gia đình năm anh em. Người anh cả là Nguyễn Thiệu Giốc, hiện sống ở Vientiane Ai Lao; còn một người em trai và hai em gái thì thât lạc từ ngày Kháng chiến (1945).

Ra đời và lớn lên đi học, cảnh nhà thanh bần, được gửi ra trọ học tại Hà Nội, nhà cụ Cả Mọc, phố Hàng Gai vốn là em cụ Thượng bà Lê Trung Ngọc.

+ Ông học trường Bưởi nhưng thi đậu Tú Tài toàn phần Pháp năm 1935 (19 tuổi)

Thành lập gia đình năm 20 tuổi, vợ là con gái một thương gia ở phố hàng Đường. ông được gia đình nhà vợ cấp dưỡng cho sang Pháp ăn học.

Học tại Đại học đường Sorbonne, Paris năm 1936 tới 1939, thi đậu 5 Chứng chỉ Cử- nhân về:

1/- Histoire Moderne et Contemporaine                             22 Nov., 1937

2/- Géographie Economique                                               22 Juin, 1938

3/- Géographie                                                                     24 Juin, 1938

4/- Géographie Coloniale                                                     18 Nov., 1938

5/- Littérature Francaise                                                       27 Juin, 1939

Đáng lẽ còn ở lại tiếp tục học, nhưng vì bên Âu châu có chiến tranh, gia đình sợ bị kẹt nên thúc dục về.

+ Ông về nước, được bổ giáo sư trường Khải Định, Huế năm 1939; thường giao du thân mật với học giả Đào Duy Anh và tường tiếp xúc với Cha Cardière để tham khảo ý kiến về Sử Địa vùng cố đô Huế. Trong dịp này ông có được yết kiến các chí sĩ tiền bối Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng

Cũng thời khoảng ấy, ông Cardière, Giám đốc trường Viễn-Đông Bác-cổ Pháp mời ông làm phụ tá, khảo về sử địa. ông cộng tác với báo Thanh Nghị, viết những bài khảo cứu, cùng đi dạy học tại các tư thục Gia Long,Thăng Long và Louis Pasteur (cụ Nguyễn Văn Tố thiếu điều kiện bằng cấp nên không được chức phụ tá như ông, mà chỉ là Chủ-sự  văn-phòng thôi).

+ Khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, ông bị quân đội Nhật bắt cùng với rất đông các nhà trí thức khác và bị giam tại hầm Sở Dầu Shell ờ Hà Nội, đến ngày Cách mạng 19-8-1945 mới được giải phóng. Sự ăn uống thiếu thốn và bị ngược đãi, hành hạ [1] có lẽ đã hại đến thần kinh của ông, nên từ sau đó tuy thể xác hồi phục nhưng tinh thần (?) đã dần dần bị ảnh hưởng để đến những năm sau đó, từ 1951 trở đi, nhất là sau năm 1962 thì càng ngày trầm trọng.

*

+ Sau cách mạng 1945, chính quyền có việc gay go, giao thiệp với người Pháp muốn đặt chân đứng ở Việt nam. Ông được bổ chức Giám-đốc Ngoại-kiều-vụ, giúp việc thông dịch trong những cuộc tiếp xúc Việt-Pháp giữa cụ Huỳnh Thúc kháng và Tướng Molière.

+ Khi toàn quốc kháng chiến, xẩy ra ngày 19-12-1946, ông đem gia đình theo Chính phủ ra Khu giữ chức Giám Đốc Nha Thống kê, sưu tầm các tài liệu lên quan đến tài nguyên, nhân và vật lực quốc gia, cần yếu cho mọi cuộc đàm phán nếu có.

Ông được dịp đi các tỉnh miền trung và thượng du Bắc việt để quan sát tại chỗ về địa lý. Hồi này ông bị sốt rét ngã nước và tê thấp vì ăn uống thiếu thốn và nhiễm khí hậu độc. Nhưng đây lại là dịp may giúp ông viết được những bài khảo cứu về địa lý thiên nhiên và địa lý nhân văn miền Việt bắc rất giá trị.

+ Ngày 30-8-1950 ông đem gia đình về tới Hà nội, để thoát ly chính phủ Việt minh/CS. Sau khi nhận rõ được bộ mặt thật của tổ chức Việt Minh và người lãnh đạo chính phủ lúc bấy giờ.

+ Chính quyền Pháp sau khi giúp ông dưỡng bệnh một tháng tại nhà thương Cống Vọng ở Hà Nội và ba tháng tại nhà thương Đồn Đất (Grall), Sàigòn; đã mời ông làm Tổng thư ký trường Đại học Luật Khoa. Trong khoảng thời gian này, Cao ủy Pháp là Champy có đề nghị giúp ông sang Pháp để tiếp tục việc học, nhưng ông từ chối.

+ Năm 1952 ông ra Hà Nội. trông coi thư viện trường Đại học. Ông cũng dạy môn Sử Địa và Văn chương Pháp tại các tư thục Khai Thành, Hàn Thuyên và Louis Pasteur.

+ Năm 1954, cùng những người di cư khác, ông vào Sàigòn, tiếp tục trông coi thư-viện và  dạy sử địa ở trường Đại học Văn khoa, Sàigòn; nhưng vì bất đồng ý kiến với viện trưởng Viện Đại học Sàigòn, ông Lassus về việc sử dụng tiếng Việt để dạy học; ông xin thôi, không làm việc với chính quyền nữa.

Ông cộng tác với báo Công Lý (1955), Bông Lúa (1955), Văn Nghệ Tập san (1956) và Chỉ Đạo (1956).

+ Từ năm 1958-60 ông được mời làm chuyên viên Bộ Thông tin, đồng thời phụ trách việc dạy sừ-ký và địa-lý hàng tuần trên đài Phát thanh Quốc gia và cộng tác với báo Bách Khoa.

Sau khi nền Cộng Hòa Đệ Nhất của chính phủ Ngô Đình Diệm xụp đổ, ông làm việc tại Viện Khảo Cổ. Nhưng tới lúc này sức khỏe ông suy yếu nhiều rồi.

+ Cuối năm 1965 ông sang Lào, sống với người anh ruột ở Vientiane. Tới đầu năm 1967 ông trở về Sàigòn.

Từ lúc này trở về sau, ông trở nên yên lặng, ít nói, chỉ suy tư. Và cuối cùng sau những năm dài bất mãn, chán chường, ông dứt khoát từ bỏ cuộc sống. Ông nhịn ăn nhịn uống và chờ chết. Gia đình, vợ con không sao ngăn cản được.

+ Ông mất ngày 19-8-1967 tại Dưỡng đường Saint Paul, đường Phan Thanh Giản, Sàigòn, sau hơn một tháng nhịn ăn; để lại vợ và bốn con, một trai ba gái.

Ông đã chết trong cảnh nghèo nàn.

Ông Chu Văn Bình, tức nhà báo Chu Tử của Nhật báo Sống đã quyên tiền giúp gia đình lo việc ma chay, chôn cất ông tại Nghĩa trang thuộc Hội Tương Tế Bắc Việt, quận Gò Vấp tỉnh Gia Định.//

*  *  *

Ghi chú: Coi thêm tại đây: https://tunhan.wordpress.com/2012/10/06/1607/

*

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s