HHHG Phần 3 – Đoạn Kết — Người Lính Già 73 – LPN


From: ”LePhuNhuan@aol.com” <LePhuNhuan@aol.com>
.55c31-chongtaudietcong
PHẦN BA ( 3 ) và ĐOẠN KẾT
  • Có Nên Hợp Tác Với Việt Công Để Chống Tàu cộng ?
Chỉ cần nghe, thấy hai chữ “ Tàu cộng” và “ Việt cộng”  và có hiểu biết chút ít về cộng sản , ai cũng phải có ngay câu trả lời .  - Tàu cộng đươc  Hồ chí Minh và đảng Việt cộng xưng tụng “ là đàn anh thắm thiết , là bậc thầy vĩ đại, là ân nhân “ nhường cơm xẻ áo “ đời đời nhớ ơn , là đồng chí vĩ đại trong thế giới vô sản . . .” thì  sự gắn bó của họ quả thật đã ở mức “bền chặt ” .
 
Như đã nói ở các phần trên, sự lệ thuộc của Việt cộng vào Tàu cộng mỗi ngày càng sâu đậm, đến nỗi nhà cầm quyền Việt cộng thẳng tay đàn áp, bắt bớ, đánh đập tàn nhẫn bất cứ ai có lời nói nào chống lại sự hung hãn của Tàu cộng trong việc lấn chiếm lãnh hải và lãnh thổ Việt Nam.Chỉ cần nghe lại hai bản nhạc  “Anh Là Ai ? “ và “ Việt Nam Tôi Đâu “  của Việt Khang cũng đủ hình dung trọn vẹn sự lệ thuộc này. Lời nhạc rất ngắn, và ai cũng có thể nghe lại , xem lại, để tự hỏi : “ tại sao và do đâu mà một người trẻ như thế lại có thể viết lên hai bản nhạc, mà nghiệm ra như một bản án tố cáo tập đoàn tay sai bán nước Việt cộng, cam tâm làm tay sai cho Tầu ? “Phải chăng thực tế hàng ngày diễn ra trên mọi nẻo đường đất nước mà Việt Khang đã ghi nhận được khi anh đi lưu diễn văn nghệ đã giúp anh có một cái nhìn, một suy nghĩ, một nhận thức về thực trạng đất nước , để rồi biến nó thành lời ca, tiếng hát ?
Những lời tố cáo Việt gian cộng sản làm tay sai cho Tàu cộng mạnh mẽ nhất, xác thực nhất, đau đớn nhất lại xuất phát từ chính những con người đã lớn lên trong chế độ đó,  đã từng phục vụ cho chế độ đó , và hơn ai hết họ thấy rõ những cái khom lưng, cúi đầu của bọn Việt cộng trước quan thầy Tàu cộng ( như đã trình bày ở phần một )
Chưa vội nói đến những người hiện sống ở  nước ngoài như Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy . . . giới trẻ Việt Nam, tuổi không quá con số 38 năm sau chiến tranh, đã và đang lên tiếng báo động về đại họa mất nước về tay Tàu cộng , qua sự hợp tác của Việt cộng, với những bằng chứng không thể chối cãi.Bao nhiêu tài liệu lịch sử được giải mật từ thời Hồ chí Minh cho đến nay cũng không hiếm. Biên cương Quốc Gia đã bị cộng sản tìm mọi cách xóa nhòa bằng “ tính đảng” , bằng mỹ từ “ quốc tế vô sản “. Việt cộng đã liên tục và có hệ thống làm suy nhược , tiêu diệt tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc trước kẻ thù phuong bắc bằng cách tuyên truyền , nhồi nhét vào đầu dân hình ảnh“ vĩ đại”  của Tâu cộng , nào Mao lãnh tụ vĩ đại , nào Trung quốc vĩ đại , nhà máy vĩ đại, công trường vĩ đại , quân đội vĩ đại . . . cái gì cũng vĩ đại . . . cùng lúc xuống giọng, rỉ tai, nước ta nhỏ, dân ta nghèo , thế ta yếu . . . để tuần tự đưa tới 16 chữ vàng, hướng tới tương lai, hợp tác TOÀN DIỆN , sát nhập vào đàn anh cho khỏe ! ! ! Nhìn lá cờ  sáu (6) sao mà Việt cộng dâng cho Tập Cận Bình để biết sự thật vẫn là sự thật !
        Tinh thần Dân Tộc trong quân đội, cán bộ cũng bị bào mòn qua những cuộc “ rèn cán , chỉnh quân” , thanh trừng chỉnh huấn ”  để chỉ tuyệt đối trung thành với “ đảng “ chớ không phải với Tổ Quốc. Bản chất ấy của Việt cộng cũng vẫn đang hiện hữu , được qui định rất rõ trong cái gọi là “hiến pháp” , – cái mà giới trí thức, thanh niên, sinh viên , các tôn giáo đang đòi hủy bỏ.
 
        Bằng chứng rõ nhất và gần nhất là trường hợp của hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên  ( sinh năm 1992 ) và Đinh nguyên Kha ( sinh năm 1988 ) bị bắt giam và truy tố về tội “ chống phá Nhà Nước “ khi kêu gọi  chống quân Tàu xâm lược “ . Theo thông báo, hai sinh viên trẻ này sẽ bị đưa ra xét xử tại tòa án Long An vào ngày 16 tháng 5 này.Khi đưa hai sinh viên này ra tòa với tội danh như vậy, có phải Việt cộng đã xác nhận trước cả thế giới rằng “ chống Tàu cộng “ đồng nghĩa với “ chống Việt cộng”  ?Điều đó cũng có nghĩa là “ tiếp tay với Việt cộng” cũng là “ tiếp tay với Tàu cộng “ .
        Điều đó cũng lại có nghĩa là ; “ những ai kêu gọi tiếp tay với Việt cộng, thật ra cũng là kêu gọi tiếp tay với Tàu cộng.”
        Để nhìn thấy rõ vấn đề hơn, xin lùii lại một bước, hãy cố tìm hiểu xem Việt cộng có cách nào thoát khỏi gọng kiềm áp chế của Tàu cộng ? Quý vị hãy giúp nghĩ xem có cách nào ?
        Lực lượng đấu tranh ở trong nước đã trả lời :
 “ chỉ có một cách duy nhất là Việt cộng hãy hòa hợp, hòa giải với người dân, hãy trả lại Quyền Dân cho Dân Tộc Việt Nam,  bầu lại Quốc Hội  Lập Hiến, tôn trọng quyền Tự Do ứng củ và bầu cử cho mọi công dân Việt Nam, tôn trọng các điều khoản về nhân quyền như đã ghi trong bản tuyên ngôn và công ước quốc tế về nhân quyền . . .”
        
Chỉ có như thế mới có sự đoàn kết toàn dân, mới qui tụ được khối sức mạnh dân tộc , và từ đó mới có tiếng nói mạnh mẽ của một dân tộc độc lập. thoát ra khỏi ảnh hưởng của Tàu cộng .Nhưng rất tiếc, dù đã lùi lại để tìm hiểu vấn đề thì cũng thấy là bất khả thi, vẫn bế tắc , chừng nào còn đảng Việt cộng . Tại sao ?
- Bởi vì Việt cộng đã xin xỏ của Tàu cộng quá nhiều , đã nhận của nó quá nhiều, đã lệthuộc quá nhiều trong suốt gần thế kỷ ( từ 1930 với Hồ chí Minh ) , đã bị chi phối quá nhiều, đã bị gài quá nhiều Trọng Thủy – Mỵ Châu từ hạ tầng lên đến trung ương , từ cơ sở kinh tế , tài chánh , đến lịch sử, địa lý , từ quân đội đến ngoại giao , an ninh nội chính . . . Ai biết được ai là kẻ nội thù ?
Đối với người tị nạn cộng sản ở hải ngoại , chung ta đã và đang chống Tầu cộng  đã xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam bằng nhiều cách :  biểu tình, tố cáo trước Liên Hiệp Quốc, trước dư luận quốc tế, trước các tòa lãnh sự, đại sứ Tầu cộng  ở khắp nơi. Các học giả ,các sử gia … đã và đang tìm kiếm mọi tài liệu cần thiết để xác minh chủ quyền của Việt Nam.
Chúng ta đã và đang làm tất cả những gì chung ta có thể làm được, mà không cần chui vào rọ của Việt cộng . Tôi chỉ mới nói “ rọ “ , chứ thật ra còn là cái  “bẫy “, như Hồ chí Minh đã từng kêu gọi để rồi tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia,  các thành phần yêu nước không cộng sản, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Hãy nhìn lại THẾ và LỰC của người tị nạn . – Chúng ta không có chính phủ, không có quân lực, không có ngân sách quốc gia, không súng đạn . . .  thì chúng ta chống Tàu cộng bằng cách gì ngoại việc yểm trợ quốc nội bằng quốc tế vận và ngoại giao ?Việt cộng dùng ngáo ộp Tàu cộng để lôi kéo người hải ngoại về dưới trướng của họ chứ đâu phải thực tâm chống Tàu cộng xâm lăng .  Nếu thât tâm chống Tàu cộng xâm lăng thì điều cần hơn hết và trước hết là phải huy động khối đại dân tộc ở quê nhà, hòa giải và hòa hợp với chín mươi (90) triêu đồng bào ở trong nước, phải kêu gọi sự hợp tác của họ,chứ tại sao lại chỉ vọng ngoại , nhìn ra nước ngoài ?
 
Chính khối đại dân tộc đó mới thực sự đổ xương máu để bảo vệ Tổ Quốc khi cần. Không hòa giải, hòa hợp với đại khối dân tộc đó, mà chỉ tìm cách lôi kéo khối người gốc Việt ở nước ngoài , chỉ càng thêm lộ liễu sự gian dối bẩn thỉu của một tập đoàn cộng sản PHI DÂN TỘC .
        Những ai muốn tiếp tay với Việt cộng thì hãy xem lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp , để biết Việt công Hồ chí Minh đã thẳng tay tàn sát` người yêu nước như thế nào, trước khi về qui thuận với Việt cộng.
Chưa vội nói tới tương lai xa ( ngay cả khi chết ,muốn được chôn trên quê hương cũng không được ) , nhưng trước mắt sẽ là những ánh mắt của đồng hương, của những người quen biết . . . mà khi nhìn, người còn lương tri ắt phải biết xấu hổ , ngượng ngùng . . . .        
 
ĐOẠN KẾT
        Tóm lại, Việt   cộng không cần tốn công, tốn của, tốn thời giờ tìm những con cò mồi mê danh, hám lợi, mê sảng quyền lực để kêu gọi Hòa Giải – Hòa Hợp với khối người gốc Việt ở các nước ngoài  ( vì tị nạn cộng sản ) , vì cũng chẳng tới đâu. Những người gốc Việt này đang sống trong những nước Tự Do, Dân Chủ , nên ý thức chính trị của đa số không phải như dân Bắc Hàn. Họ đã có khá đầy đủ những gì mà họ đã bị cướp mất bởi Việt cộng.Họ liên tục lên tiếng, không vì danh, không vì lợi, không a dua theo kẻ cầm quyền để được hưởng một vài cái xoa đầu, vỗ vai, hay một vài quyền lợi nào đó . . . Họ lên tiếng, miệt mài và liên tục, chỉ để yểm trợ cho đại khối dân tộc tại quốc nội  được có những quyền căn bản của con người như nhiều dân tộc khác, như những gì mà họ đang được hưởng tại nước ngoài.
        Việt cộng hãy lo hòa hợp, hòa giải với khối đại dân tộc ở trong nước trước đã, rồi khối người gốc Việt ở nước ngoài sẽ  nhìn vào đó mà có thái độ cần thiết. Họ sẽ vẫn chỉ là lực đối trọng với mọi chính quyền ở trong nước , để yểm trợ , bảo vệ quyền sống của người dân trên Quê Mẹ của mình, chống lại mọi áp bức của kẻ cầm quyền .   Khủng bố không được nữa rồi . Mua chuộc liệu được mấy người ? Liệu có mấy người nghe theo ? Hãy mau mau tỉnh ngộ  !

( Người Lính Già 73 – LPN )
Đính kèm, mời nghe để chia xẻ :
- Bé Hugo và Papa hát bài : ANH LÀ AI ?
Mời thưởng thức nhạc, lắng nghe phần lời , để thấm thía, chia xẻ với đồng bào về tai họa mất nước về tay Tàu cộng :
  • Please note the attached files are not for advertising purpose/ -tunhan-
 Mời nghe : TrRIỆU CON TIM : bé Hiếu Hugo : dù chỉ mới 5 tuổi, vẫn cất cao lời kêu gọi các các ông bà, cô, chú, bác, anh chị : hãy biết yêu quê hương VN, hãy biết đau nỗi đau người dân, đừng lặng câm, đừng thờ ơ … chúng ta là giòng giống Lạc Hồng, là con cháu Rồng Tiên, đừng cam tâm làm nô lệ cho Tàu . . .
https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=PdkVyewpVGQ
 *
Bu`i Ba?o So+n CVA65
“When you cannot defend freedom through peaceful means, you have to use arms to fight…” Marek Edelman
 46d3d-a-c490e1bbabngnghehc3a3ynhc3acnxem
Don’t listen to the communists, but take a good look at what they have done.

tác giả Đặng Chí Hùng- VNCH là nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun Người” của VC!

From: buivthien chuyển – Cám ơn -tunhan-

bugle2

Bài viết của 1 người trẻ đang sống ở Viet Nam.

Bài chuyển giới trẻ cần đọc để biết THG vừa đọc xong và chuyển cho quí vị ưu tư đến vận mệnh đất nước để dọc một bài viết thật chính xác cùa một người mang tên ĐẶNG CHÍ HÙNG (ĐCH)với tựa đề Những sự thật cần phải biết: Mất“.

THG thắc mắc không biêt ĐCH là người của VNCH chứ làm sao mà biết được quá nhiều sự kiên chính trị của VNCH khá chính xác. THG bỏ công đi tìm xem ĐCH là ai mà viết như một học giả có tuổi đời cao với nhiều năm “lăn lộn” trong rừng sách vở kể cả ngoại ngữ thì tinh cờ đọc dược bài viết này trên mạng internet và biết được điều mình muốn tìm kiêm do chính tac giả tự giới thiệu về mình là một người trẻ chưa hề sống dưới chế dộ VNCH một ngày nào cà, có nghĩa sinh trưởng và lớn lên ở Miền Bắc XHCN. Vì lẽ đó THG mới cho rằng CÔNG BẰNG,TRUNG THỰC và CHÍNH XAC với dẫn chứng cụ thể bằng hình ảnh, tài liệu trên internet, khó lòng đánh đổ lập luận vững chắc của tác giả. THG có copy lại để quí vị làm tài liệu, nhưng mất rất nhiều thì giờ để làm việc này vì copy có chữ không có hình. Nhưng cuối cùng THG tìm ra được cách copy lại từng tấm hình riêng phải qua nhiều giai doạn mới được.
THG sẽ cố găng tìm hết tất cả những bài viết của ĐCH về đề tài “Những Sự Thật Cần Phải Biết về Lịch Sử cuộc chiến Nam Bắc VN một cách trung thực để chia sẻ với quí vị quan tâm đến tình hình đất nước Việt Nam. – 
THG –

A-chiensivnch-1

Những sự thật cần phải biết: – Việt Nam Cộng Hòa – Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun Người”

Đặng Chí Hùng(Danlambao)

Thưa các bạn, là một người trẻ tuổi, chưa một lần được biết đến ngôi trường của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cũng chưa từng được sống dưới chế độ tự do non trẻ đó, tuy nhiên qua nhiều sách báo, tài liệu và nhân chứng sống, cộng với những suy nghĩ của mình, tôi nhận thấy một điều đó là một chế độ, một nhà nước khác hẳn với những lời tuyên truyền của cộng sản.

Có một câu hỏi làm tôi day dứt gần 10 năm trời khiến tôi phải tự mình đi tìm câu trả lời cho nó đó là: “Tại sao một chế độ thối nát, được quy chụp là Ngụy quân, ngụy quyền lại được người dân thương nhớ, tiếc nuối?”.

Và cuối cùng tôi cũng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó trong bài này đó là “Việt Nam Cộng Hòa chỉ là nạn nhân của một chính sách ngậm máu phun người của đảng cộng sản Việt Nam”. Vì sao tôi nói vậy?

Vì không có một chế độ xấu xa nào mà hàng triệu công dân của nó ở Hải ngoại lẫn những người vẫn còn ở lại trong nước đã từng sống trong chế độ đó và thân nhân họ, thậm chí những người miền Bắc có tư duy đều thương tiếc. Con người ta có một tâm lý chung đó là luôn muốn quên đi cái dĩ vãng xấu xa, không tốt đẹp. Vậy khi hàng triệu người dù cho phải ly tán vẫn nhớ về nó thì đó không thể là điều xấu xa. Đó chính là câu trả lời chính xác nhất.

Thật ra bất cứ một xã hội nào cũng có mặt hạn chế, ngay cả nước Mỹ nhân bản và dân chủ hiện nay cũng còn nhiều mặt cần sửa đổi. Việt Nam Cộng Hòa không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định thì những hạn chế đó sẽ dần khắc phục theo thời gian và trong cùng một thời điểm lịch sử hay thậm chí ngay cả với xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện tại thì VNCH xứng đáng dân chủ gấp vạn lần thật sự chứ không nói dối trơ trẻn của bà Đoan. Đó là lý do tôi viết bài này để chứng minh cho bạn đọc những sự thật về một nhà nước dân chủ non trẻ nhưng đã phải chịu chính sách ngậm máu phun người của đảng cộng sản Việt Nam.

Tôi viết bài này xin giành tặng cho tất cả bạn đọc với mong muốn:

Với những người yêu VNCH dù đã từng sống hay chỉ biết đến qua sách vở thì như một lời khẳng định chắc chắn rằng những gì họ đã yêu mến không hề nhầm lẫn.

Với những người bị lừa dối hi sinh cho đảng cộng sản như thế hệ cha ông tôi thì như một lời chân tình để giúp họ thật sự nhận ra bản chất của đảng cộng sản VN và ông Hồ đã lừa dối họ bao lâu này.

Với những người còn vì miếng ăn mà cố gắng lừa bịp dân tộc hãy tỉnh lại đi, sự thật không thể bị bưng bít được mãi. Đừng tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân nữa, hãy để cho lương tâm con người lên tiếng trong tâm hồn mình.

Phần 1: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa

tôi đã chứng minh thất bại của VNCH không phải do hèn kém như cộng sản bịa đặt. Họ bị đồng minh bỏ rơi và bị ép phải chết yểu trong bàn cờ chính trị Mỹ-Trung cộng-Liên Xô. Mỹ cũng có lỗi của mình trong việc bỏ rơi đồng minh nhưng cũng nên biết rằng nước Mỹ cần phải tự cứu mình trong lĩnh vực kinh tế và cũng do chính sách nhân bản, không muốn lún sâu chiến tranh, đồng thời phần nào đấy là việc họ để cho chính bản thân những người dân Việt Nam nhận ra sự thật về cộng sản.

Tuy nhiên có một điều rất quan trọng mà tôi phải khẳng định đó là Mỹ không hề xâm lược Việt Nam như cách đảng cộng sản Việt Nam vẫn tuyên truyền để lừa bịp lòng yêu nước của nhân dân ta. Tại sao tôi có thể khẳng định điều này? Xin được trình bày như sau.

Thứ nhất, cho đến giờ phút này dù bất cứ ai cũng có thể thấy người Mỹ đến Việt Nam không lấy của người Việt Nam dù chỉ là một mảnh đất đai, hải đảo. Thậm chí họ còn giúp chúng ta xây dựng một Sài Gòn tự do và phồn vinh mà ở thời điểm trước năm 1975 là Hòn Ngọc Viễn Đông, ngay cả Singapore hay HongKong lúc ấy còn phải xếp hàng từ xa. Vậy thì người Mỹ xâm lược gì ở Việt Nam? Đất không lấy, một giọt dầu cũng không? Trung cộng trong khi đó thì sao? Trung cộng đã lấy Hoàng Sa – Trường Sa “nhờ” công hàm bán nước 1958 của ông Chủ tịch nước Hồ Chí Minh và ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng

“Những sự thật cần phải biết – Sự thật về Đại thắng mùa xuân 1975” (xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 2 – Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm1958” http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-2-ho.html -). Và còn hàng trăm km biên giới ở Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, hay Boxit Tây Nguyên. Ai xâm lược đây? Người Mỹ không hề xâm lược Việt Nam như cách đảng cộng sản vẫn rêu rao, mà kẻ xâm lược nước ta chính là “Đồng chí 16 chữ vàng, 4 tốt, tri ân sâu nặng” của đảng cộng sản Việt Nam. Đây cũng là điều cho thấy đảng cộng sản ngậm máu phun người đối với người Mỹ.

Thứ hai, nếu nói người Mỹ xâm lược Việt Nam thì có nghĩa là họ phải đổ quân đội vào Việt Nam trước khi đảng cộng sản để lại quân du kích và cán bộ tại VNCH để nằm vùng và khủng bố nhân dân miền Nam. Nhưng thực tế lại trái ngược lại. Xin quay lại “Những sự thật không thể chối – phần 13 – Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!”http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-13_9.html – ) bạn đọc sẽ thấy rõ.

Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền:

Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Nhưng thực chất thì sao? Năm 1961 khi ông Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc đó chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường sá…

Mỹ chỉ bắt đầu đưa quân vào miền Nam từ năm 1965, sau khi ông Ngô Đình Diệm qua đời do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Điều này ai cũng biết cả. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964 và để giúp VNCH chống lại cuộc chiến đang ngày càng leo thang của cộng sản ở miền Nam. Cho đến năm 1964 cả về quân số và trang bị quân sự của VNCH không thể bằng VNDCCH (đã chứng minh trong “Những sự thật không thể chối – phần 3 – Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?” -http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-3-bac.html -).

Vậy thì vào thời điểm 20.12.1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống? Đảng cộng sản phải chống ai, chống cái gì vào năm 1960? Chính sự mâu thuẫn trong lời nói của cộng sản cũng cho ta thấy bản chất nói dối, lật lọng trong việc kích động chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam và cho thấy việc vu khống cho người Mỹ xâm lược Việt Nam là vô lý.

Thứ ba, hãy nghe người Liên Xô nói về việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam để thấy người anh cả của đảng cộng sản Việt Nam biết rõ người Mỹ không phải vào Việt Nam “xâm lược” như cách tuyên truyền của đảng cộng sản Việt Nam. Tài liệu của Liên Xô đăng trong cuốn sách có tên “Một bước đi lớn” – bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động tại KGB và do NXB Quân đội Liên bang Nga xuất bản năm 1999 nói về hoạt động tình báo của Liên Xô (đã giới thiệu ở bài Những sự thật không thể chối bỏ – phần 13 -Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!”http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-13_9.html – có đoạn ở 128:
Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945 nhưng Việt Nam phải là một trong những tiền đồn ngăn cản chủ nghĩa tư bản ở Á Châu bao gồm Bắc Triều Tiên, Trung Hoa, Afghanistan…” Thì ra người Liên Xô với những con mắt lão luyện của tình báo KGB đâu có cho rằng người Mỹ xâm lược và đô hộ Việt Nam như cách người Pháp thực dân. Người Liên Xô chỉ lo ngại cho chủ nghĩa cộng sản của họ bị người Mỹ đánh bại chứ họ không nói là người Mỹ xâm lược và đô hộ Việt Nam như cách cộng sản tuyên truyền. Đó là do chính sách ngậm máu phun người của cộng sản nhằm lừa gạt hàng triệu thanh niên bỏ xác vì quyền lợi của chóp bu cộng sản mà thôi. Đó chính là một trong những chiêu bài núp bóng “Giải phóng dân tộc” mà ông Hồ cùng đảng cộng sản thực hiện để nhuộm đỏ Việt Nam cho âm mưu của Trung cộng.

Thứ tư, thật ra mong muốn người Mỹ vào Việt Nam đổ quân để tạo cớ người Mỹ xâm lược Việt Nam cũng nằm trong âm mưu của Trung cộng chỉ đạo cho ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam thực hiện. Trong cuốn sách “MAO: The Unknown Story” của tác giảJung ChangJon Halliday được phát hành năm 2005 do hai nhà xuất bản Anchor Books và Random House xuất bản, ở trang 470 có đoạn:

Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đã có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15,000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo tình huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam…”

Thế là đúng ra năm 1963, Trung cộng cũng nhận thấy người Mỹ chỉ có 15000 cố vấn mà thôi. Và chính Mao muốn ông Hồ phải “tạo tình huống” để người Mỹ phải đổ quân vào Việt Nam. Đó chính là việc cố tình tạo ra “kẻ thù” xâm lược để có cớ đánh VNCH và đổ tội cho người Mỹ xâm lược Việt Nam của Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.

Thứ năm, thêm một đồng minh của VNDCCH khẳng định người Mỹ không hề xâm lược Việt Nam như cách đảng cộng sản tuyên truyền cho thấy những gì chúng ta đã và đang được nghe đảng cộng sản chỉ là lừa bịp. Trong cuốn sách có tên “Đối nghịch” của tác giả J. Leroy – một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp (giới thiệu ở bài “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 14 – Ai làm cho Huế đau thương?”“Những sự thật không thể chối bỏ – phần 14 – Ai làm cho Huế đau thương?” -http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-14-ai.html – ). Cuốn sách của ông đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng cộng sản và các đảng phái khác và dẫn chứng về cuộc chiến Việt nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 187 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung trích như sau:

Một cuộc chiến tại Việt Nam là điều mà Hoa Kỳ không mong muốn, họ đến với Việt Nam khác hẳn lũ người độc ác của chúng ta trước đây. Nhưng họ phải đổ quân vào vì họ không muốn Liên Xô bành trướng tư tưởng của Mác, Lê Nin…”

Tác giả cộng sản Pháp này rất trung thực trong việc đánh giá người Mỹ không xâm lược Việt Nam như chính thực dân Pháp trước năm 45 mà họ chỉ vào Việt Nam trong tình thế bắt buộc chống lại sự bành trướng tư tưởng đỏ của Liên Xô.

Kết luận: Một kẻ đi xâm lược không thể là kẻ đổ quân vào sau khi đồng minh của họ bị khủng bố. Người Mỹ chỉ đổ quân vào để giúp đồng minh chống lại chủ nghĩa cộng sản bạo tàn và độc tài. Người Mỹ chỉ là một “kẻ thù” được dựng lên với mục đích lừa dối dân tộc trong chiêu bài“Chống Mỹ cứu nước” của đảng cộng sản. Việc tạo ra một kẻ “xâm lược” giả tưởng này không khác gì việc người ta cố tình dựng lên một hình ảnh “thế lực thù địch” để nói về đội ngũ đấu tranh dân chủ hiện nay ở Việt Nam hay bóng ma “thế lực thù địch” đang làm đảng “tự diễn biến”. Một kẻ đi xâm lược không thể không áp bức, bóc lột và lấy đất đai, tài nguyên của chúng ta. Người Mỹ thì không làm điều đó, vậy họ không thể là kẻ xâm lược.

Người Mỹ đến Việt Nam với mục đích chống lại sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên thế giới và giúp VNCH chống lại làn sóng khủng bố của đảng cộng sản gieo rắc tại Miền Nam. Họ không hề xâm lược Việt Nam như cách đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền, họ cũng là nạn nhân của một chính sách ngậm máu phun người của đảng cộng sản Việt Nam.

B. Việt Nam Cộng Hòa không phải là chế độ Ngụy Quân, Ngụy Quyền:

Nếu không có kẻ xâm lược thì làm gì có kẻ làm tay sai “ngụy quân, ngụy quyền”? Như phần A tôi đã chứng minh những tác giả trung lập và ngay cả những người cộng sản Pháp, Liên Xô trong những nghiên cứu nghiêm túc của mình đã công nhận người Mỹ không hề xâm lược Việt Nam đúng nghĩa. Vậy thì những người đồng minh của họ là VNCH có phải là tay sai bán nước như cộng sản nhồi nhét vào đầu chúng ta hay không? Không. Hoàn toàn không phải. Đó là một chế độ dân chủ non trẻ nhưng mang trong mình những tư tưởng và ý niệm tốt đẹp cho nhân dân. Tôi xin khẳng định thông qua phần B này.

Nói như bà Dương Thu Hương một nữ văn sĩ miền Bắc theo đoàn quân của CS Bắc Việt vào Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975 thì “Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt nam phạm phải…” Và chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng của CHXHCNVN cũng phải thốt lên cái ngày 30/4 là ngày mà VNCH chính thức mất đi trên danh nghĩa nhưng còn mãi tồn tại trong lòng người yêu dân chủ, tự do“Ngày của triệu người buồn.”

1. VNCH có nền kinh tế phát triển hơn hẳn VNDCCH:

Tại miền Nam dưới sự lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, cùng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm khôi phục kinh tế và nâng cao dân trí, trong thời điểm miền Bắc có cải cách ruộng đất gây tai họa thì miền Nam cũng có Cải cách điền địa và “Người cày có ruộng” mang lại niềm vui cho nhân dân. Chính vì có những chính sách hợp lý, chế độ dân chủ nên nửa trong của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Bằng chứng là Sài Gòn được coi là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

Ngay sau khi ông Diệm bị giết hại thì nền Đệ nhị Cộng hòa cũng đã có những nối tiếp nền Đệ nhất Cộng hòa để đem lại đời sống no ấm cho nhân dân miền Nam. Dù có khó khăn do chiến tranh liên miên, đảng cộng sản cho quân du kích nằm vùng đặt bom, phá đường, tài sát dân lành thì nền kinh tế vẫn được duy trì một đời sống hơn hẳn so với VNDCCH. Bạn đọc hãy cùng tôi điểm lại những tài liệu để thấy sự thật này.

- Giai đoạn 1954-1956: Công nghiệp khá nghèo nàn với số lượng nhà máy ít ỏi có từ thời Pháp thuộc.

- Giai đoạn 1957-1967: là giai đoạn bùng nổ của công nghiệp nhờ chính sách công nghiệp tích cực của chính quyền và nhờ các biện pháp bảo hộ nền công nghiệp trong nước.

- Giai đoạn 1967-1972: có sự phân hóa rõ rệt giữa các phân ngành. Những phân ngành như sản xuất đường và dệt không được bảo vệ nữa nên bị hàng ngoại tràn ngập bóp chết. Trong khi đó, những ngành như chế biến thực phẩm phục vụ quân nhu, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng lại phát triển mạnh. Đặc biệt, ngành luyện kim phát triển rất nhanh mặc dù miền Nam Việt Nam không có những mỏ kim loại. Chính phế thải kim loại của chiến tranh mới là nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ cho ngành luyện kim. Trên cơ sở sự phát triển của ngành luyện kim, ngành gia công kim loại cũng phát triển vượt bậc.

- Giai đoạn sau 1972: Các ngành luyện kim và điện vẫn phát triển với nhiều nhà máy mới được xây dựng. Còn các ngành sản xuất vật liệu xây dựng là những ngành suy giảm mạnh. Cơ cấu công nghiệp của Việt Nam Cộng Hòa tại thời điểm 1973 cho thấy công nghiệp của Việt Nam Cộng Hòa chủ yếu là công nghiệp nhẹ. Công nghiệp nặng và hóa chất mới ở trình độ sơ khai. Nguyên liệu cho ngành chế tạo chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài.

- Năm 1973, chính phủ đã tổ chức 2 vòng đấu thầu khai thác dầu lửa ngoài khơi thềm lục địa. Nhiều công ty khai thác dầu lửa nước ngoài đã tham gia, bất chấp là tình hình an ninh chưa ổn định. Chính phủ cấp giấy phép cho sáu tổ hợp công ty dầu lửa được khai thác 13 địa điểm trong một khu vực 82.000 km² mới chỉ là 16% của thềm lục địa. Tới tháng 10, 1974 hãng Mobil khoan mỏ Bạch Hổ, tại lô 04-TLD, tìm được dầu dưới độ sâu trên 2,7 km. Ước tính là vào cuối 1975, sẽ có ít nhất 20 giàn khoan. Sản xuất một lượng dầu khả quan sắp được bắt đầu muộn lắm là vào cuối năm 1977. Các Công ty dầu đề nghị Chính phủ hai điểm: thứ nhất, cho công ty đào ngay mà không phải qua thủ tục đấu thầu, hành chánh; thứ hai, khi khai thác được dầu sẽ chia đôi, một nửa cho công ty, một nửa cho Chính phủ. Sau 1975, các mỏ dầu này do Liên doanh Vietsopetro của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quản lý và khai thác.

Thứ nhất, số liệu và nhận xét trên wiki có links sau:http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

“Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước [4]; hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm; nhà máy thủy tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy xi măng, một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm; và đập thủy điện Đa Nhim, hoàn thành năm 1961 [5]. Đồng thời, các loại máy móc, kim loại – những đầu vào cho các ngành được bảo hộ – được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm).

Ở nông thôn thì Cải cách ruộng đất (lúc đó gọi là “Cải cách điền địa”) được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Những ruộng đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không được phép sở hữu quá 100 hecta đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha vẫn được phép). Số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền để bán lại cho tá điền. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng.”

Về thu nhập bình quân, theo “số liệu kinh tế – GDP” bình quân, ở miền Nam vào thời trước 1975 là 190USD. Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan. Trong khi đó 36 năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).


Như vậy rõ ràng sau khi nắm đất nước thì nền kinh tế VNCH đã có những bước phát triển vượt bậc và bước đầu tạo ra dấu ấn cho nhân dân Việt Nam.

Một thời Hòn ngọc Viễn Đông (Hình)

Thứ hai, năm 1950 nền kinh tế của Đài Loan gần như không có gì đáng kể.

Năm 1960 lợi tức đầu người USD170 thua miền Nam lúc đó (190 USD). Năm 2010 Đài Loan có GDP khoảng US$37.000/năm. Dự trữ ngoại tệ 400 tỉ USD. Năm 1954 kinh tế Hàn quốc thua xa miền Nam lúc đó. Năm 2010 Hàn quốc có GDP khoảng US$20.757/năm. Dự trữ ngoại tệ 311 tỉ USD. Năm 1959 Singapore được tự trị, một quốc gia nghèo, nhỏ bé, thiếu tài nguyên, lúc đó thua miền Nam mọi lĩnh vực. Năm 2010 Singapore có GDP US$43.000/năm. Dự trữ ngoại tệ 300 tỉ USD.

Những con số mà tôi lấy thống kê trích từ “Tạp chí kinh tế Châu Á” năm 2010 bạn đọc có thể kiểm chứng.

Qua những con số biết nói đó chúng ta thấy được gì? Đó là những nước có nền kinh tế vượt xa cả trăm lần CHXHCN Việt Nam hiện nay thì trước năm 1975 họ thua kém VNCH rất nhiều. Vậy mà sau khi “thống nhất” đất nước thì chúng ta có gì? Có chăng chỉ là sự lạc hậu và thua kém. Vậy thì VNCH đâu phải là một chế độ bù nhìn? Họ bù nhìn tại sao lại làm cho thu nhập bình quân của nhân dân cao hơn cả những nước kể trên. Và quan trọng nếu với đà phát triển như con số đã nêu thì nếu còn tồn tại VNCH sẽ là con rồng Châu Á thật sự chứ không phải kiểu rồng đất, rồng tre như CHXHCN Việt Nam ngày nay.

Thứ ba, nhìn chung đa phần dân chúng thời đó vẫn sống ở nông thôn, làm nghề nông là chính.

Với chương trình “Người Cày Có Ruộng” đầu thập niên 1970, chính phủ đã chia hằng triệu mẫu ruộng cho nông phu. Đời sống dân chúng cải thiện đáng kể.

Mặc dù miền Nam hiếm có những ngành công nghiệp nặng, nhưng tiểu thủ công nghệ phát triển mạnh. Các ngành dệt vải, kim khí điện máy khá xôm tụ. Thương mại và các hoạt động tiểu thương cũng sầm uất. Cần kể thêm thái độ của người dân. Nhiều sản phẩm nội địa được ưa chuộng, chiếm nhiều cảm tình như: kem đánh răng “Hynos”, xà bông “Cô Ba”, bột giặt “Viso”… Điều này cho thấy người tiêu thụ miền Nam thời đó có tinh thần yểm trợ hàng nội hóa khá cao.

Một thế mạnh nữa của VNCH là thế hệ trí thức, kỹ sư, cán sự được huấn luyện kỹ lưỡng, làm việc tận tâm. Về mặt này, VNCH hoàn toàn vượt xa các lân bang cùng thời như Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore… Có thống kê cho thấy 3 trong số 4 kỹ sư trong toàn vùng khi đó là công dân Nam Việt nam. Năm 1961, kỹ sư miền Nam tiếp tục đón nhận nhà máy thủy điện Đa Nhim từ Nhật. Từ thời này, các chuyên gia Nam Việt Nam cũng đã manh nha dự án khu chế biến lọc dầu Dung Quất ngày nay.

Nguồn chuyên viên lành nghề, mẫn cán còn giúp thực thi các kế hoạch, khai triển nhiều khu kỹ nghệ: Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, Khu Kỹ Nghệ Phong Dinh… Ngay khi tin vui về mỏ dầu hỏa ở Vũng Tàu loan ra, VNCH cũng có đủ chuyên viên để thiết lập ngay Tổng Cục Dầu Hỏa.

Trung tâm nguyên tử năng Đà Lạt, hoạt động từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa,

do kiến trúc sư tài danh Ngô Viết Thụ vẽ mẫu thiết kế.

Thứ tư, theo sách “Lịch sử Kinh tế Việt Nam” 1945-2000, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội năm 2004 (tài liệu mới của nhà nước cộng sản Việt Nam) cho biết:

Năm 1973 nông dân thu hoạch gần 5 triệu tấn gạo, gần đủ cho nhu cầu quốc nội. Ước lượng sang 1976 có thặng dư để xuất cảng. Cũng có kế hoạch xuất cảng tôm lên đến 30 triệu Usd năm 1975. Về hạ tầng cơ sở, đến đầu 1970, Việt Nam Cộng Hòa có trên 1,200 cây số đường xe lửa, khoảng 20,000 điện thoại, 50 đài phát thanh và 4 đài truyền hình lớn (ở Sài Gòn, Huế, Quy Nhơn và Cần Thơ. Cuối thập niên 1950, VNCH xây xa lộ Biên Hòa ở phía Bắc Sài Gòn, là công trình giao thông công cộng có thể nói tân tiến nhất toàn vùng Đông Nam Á khi đó… Có thể kể thêm nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961, Biên Hòa) có lúc sản xuất giấy đủ đến 40% nhu cầu nội địa. Hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex trình làng hơn 13 triệu mét vải hằng năm. Hai nhà máy xi măng, một ở Hà Tiên và một ở Thủ Đức cho ra lò hơn 540,000 tấn mỗi năm…”

Chính những con số mà chính đảng cộng sản công nhận cũng đã đủ nói lên thực tế không thể chối bỏ đó là VNCH có một nền kinh tế tự do và phát triển ổn định. Ngoài những con số trên chúng ta còn thấy được gì? Đó là: Nhiều người từng sống ở miền Nam trước đây có lẽ vẫn còn nhớ chiếc xe La Dalat, biểu tượng của công nghệ xe hơi non trẻ. Vào thời điểm này, sáng lập viên của hãng xe Hyundai mới chỉ là tiểu thương tại Hàn Quốc. Dù lắp ráp với nhiều phụ tùng ngoại quốc, La Dalat vẫn là chiếc xe hơi đầu tiên mang nhãn “Made in Vietnam”, mẫu mã của riêng Việt Nam.

Xe hơi La DaLat trước khách sạn Continetal


Trước 1975, có 11 dàn máy tính IBM 360 hiện đại đã được đưa về Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Giáo Dục. Lúc đó, toàn vùng Đông Nam Á chỉ có Singapore sắm được vỏn vẹn… 1 chiếc máy tương tự.

Máy tính IBM thời VNCH (Hình)

Thứ năm, Trung cộng trong nỗ lực phát triển kinh tế và cạnh tranh với Mỹ và âm mưu triệt tiêu nội lực của Việt Nam đã phải thừa nhận.

Hãy nghe tác giả Hà Cẩn mà tôi nhiều lần giới thiệu cuốn sách “Mao chủ tịch của tôi” trong loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ”. Tác giả thuộc Viện văn học Trung quốc, cho in cuốn sách năm 1997 và tái bản năm 2000, tại trang 222 có đoạn: “Miền Nam Việt Nam có nền kinh tế phát triển, đó là điều bất lợi cho chúng ta…” Tác giả Trung cộng này cũng công nhận sự phát triển của miền Nam về kinh tế và khẳng định đó là bất lợi cho âm mưu Hán hóa mà ông Hồ đang thực hiện theo lệnh Mao. Đây là một điểm khẳng định cho sự thật về nền kinh tế phát triển của VNCH và cũng thêm minh chứng cho âm mưu của Trung cộng và ông Hồ Chí Minh.

Trong khi các con số và tài liệu cho thấy VNCH là nước có nền kinh tế phát triển trong đa số các lĩnh vực thì VNDCCH được cai trị bởi những kẻ độc tài và bạo tàn thì sao?

Thứ nhất, đó là những con số người chết khủng khiếp trong chiến dịch CCRĐ man rợ do ông Hồ Chí Minh chỉ đạo mà tôi đã đề cập trong bài Những sự thật không thể chối bỏ – phần 5 – Nỗi đau Cải Cách. Bên cạnh đó là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu mà nhân dân là những người hứng chịu trực tiếp.

Trên Wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_c%C3%A1ch_ru%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BA%A5t_t%E1%BA%A1i_mi%E1%BB%81n_B%E1%BA%AFc_Vi%E1%BB%87t_Nam ) có viết:

Tổng cộng chiến dịch Giảm tô tịch thu của địa chủ, phú nông 31.110 tấn thóc tô, 15.475 ha ruộng, 8.246 trâu bò. Tổng cộng chiến dịch Cải cách Ruộng đất tịch thu của địa chủ 810.000 ha ruộng, 106.448 trâu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà. Số tài sản này được phân chia cho 2.104.138 hộ bần nông, trung bình mỗi hộ được 0,38 ha, 0,87 nông cụ, 0,071 ngôi nhà.”

Thu nhập bình quân đầu người ở các hộ xã viên hợp tác xã nông nghiệp có sự bất bình thường về cơ cấu. Trong tổng thu nhập của họ thì khoản thu nhập trong hợp tác xã nhỏ hơn thu nhập ngoài hợp tác xã, trong khi 95% ruộng đất và toàn bộ công cụ sản xuất (trâu, bò, cày, bừa…) đều nhập vào tập thể. Phần 5% ruộng đất chia về các hộ chỉ nhằm tạo thêm thu nhập phụ, mà thường là những thửa ruộng đầu thừa đuôi thẹo. Trong cuốn “Những điều cần nhìn lại sau CCRĐ” – NXB Văn hóa của ĐCSVN có đoạn: “Năm 1961: Tổng thu nhập bình quân đầu người là 11,50 đồng/tháng, trong đó thu nhập trong hợp tác xã là 4,5 đồng, cònthu nhập ngoài hợp tác xã là 7,0 đồng.”

Ngoài ra, theo tác giả Bernard Fall, một gia đình nông dân bốn người cần có ít nhất 1,5 mẫu tây để bảo đảm đời sống, đó là chưa kể đến thuế nông nghiệp phải đóng hằng năm.(Bernard Fall, sđd. tt. 271, 282).

Thứ hai, kể cả sau khi kết thúc CCRĐ thì nền kinh tế của VNDCCH không sáng sủa và kém xa so với VNCH. Trong cuốn sách được nhà xuất bản Lịch sử của Liên Bang Nga xuất bản năm 1995 có tên gọi tạm dịch ra tiếng Việt “Liên Xô- Trung Quốc và Việt Nam, vấn đề chưa được biết” của tác giả người Nga, Ruslan Kobachenko, một đảng viên đảng cộng sản Liên Xô và cũng là nhà giáo kiêm nhà nghiên cứu lịch sử Châu Á từng giảng dạy tại đại học Minsk-Nga, có đoạn trong trang 197 như sau:

So với Miền Nam thì người đồng chí Miền Bắc của chúng ta chịu thua kém nhiều về kinh tế. Chúng ta đã nhận ra điều này như là một yếu điểm cần phải được sửa chữa của lãnh đạo Miền Bắc mà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng thật khó làm điều này vì kinh tế Miền Bắc rất lạc hậu và theo mô hình của Trung Hoa…”

Đoạn trích cho thấy tác giả người Nga chê nền Kinh tế VNDCCH không bằng VNCH do lạc hậu và theo mô hình Trung cộng. Vậy thì những gì tuyên truyền của đảng cộng sản về một nền kinh tế bị “kìm kẹp” chỉ là một sự bịa đặt nhằm ngậm máu phun người đối với VNCH.

Đường phố VNDCCH (Hình)

Thứ ba, theo sách “Lịch sử Kinh tế Việt Nam” 1945-2000, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội năm 2004 thì:“Cho đến 1973 nông dân miền Bắc sản xuất gần 4 triệu tấn gạo, chưa đủ chi dùng cho nhân dân và vẫn phải nhận viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô bột mì, bobo… Về hạ tầng cơ sở, đến đầu 1972, VNDCCH chỉ có trên 500 cây số đường xe lửa, điện thoại chỉ có trong cơ quan nhà nước, 2 đài phát thanh, chưa có máy điện toán…” Chỉ cần bạn đọc điểm lại những con số trên và xem những con số cùng loại và cũng thời điểm đó đã nêu trên thì VNCH rõ ràng có nền kinh tế, hạ tầng phát triển hơn hẳn VNDCCH.

Kết luận: Một nền kinh tế VNCH phát triển bền vững và có chiều sâu, chiều rộng cho thấy VNCH đã nỗ lực phát triển để đem lại đời sống tốt đẹp cho nhân dân. Như vậy đây là kết luận đầu tiên cho thấy chính sách ngậm máu phun người của đảng cộng sản về một miền Nam khốn khó, chịu kìm kẹp là điều không tưởng.

2. Việt Nam Cộng Hòa – Một đất nước tự do, dân chủ thật sự:

Như ở mục 1 tôi đã chứng minh so với VNDCCH thì VNCH hơn hẳn về mặt kinh tế, đời sống nhân dân. Vậy còn các mặt khác về đời sống, văn hóa, giáo dục và chính trị thì ra sao? Tôi xin trình bày ở mục 2 này.

Thứ nhất, để nói về tự do dân chủ chúng ta có thể thấy rõ nét nhất là văn hóa và biểu tình, tự do lập đoàn thể, hội họp và thậm chí cả chống chính phủ khác hẳn so với VNDCCH và CHXHCNVN hiện nay là độc tài toàn trị.

Minh chứng rõ nét cho việc này đó là xuất hiện những thành phần cộng sản nằm vùng trong lòng VNCH như ông Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… Chính quyền VNCH biết rõ họ là cộng sản và biết những hành động của họ làm chống chính quyền. Nhưng họ vẫn được biểu tình, kích động dân chúng theo cộng sản. Điều này trái ngược hẳn với quyền tự do bị chà đạp của nhân dân yêu nước khi tham gia biểu tình chống Trung cộng xâm lược…

Biểu tình tại VNCH (Hình)

Biểu tình tại CHXHCNVN (Hình)

Ngoài ra, chúng ta có thể thấy tại VNCH, các bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn được phép tồn tại. Hay thậm chí các bài hát có nội dung lãng mạn bị đảng cộng sản triệt để cấm đoán vì lo ngại sẽ hỏng mất chính sách tuyên truyền hận thù của cộng sản thì tại VNCH vẫn được tự do ca hát. Đó chính là do chính quyền VNCH tôn trọng quyền tự do tư tưởng và thưởng thức âm nhạc của nhân dân. Xin lấy một ví dụ. Bài hát “Những đồi hoa sim” thực chất là bắt nguồn từ một nhà thơ Miền Bắc và trước khi về quê ở ẩn do không chấp nhận sự thối nát của cộng sản cũng là người theo đảng cộng sản, ông là Hữu Loan nhưng vẫn được các nhạc sỹ của VNCH phổ biến và tự do ca hát. Ngược lại VNDCCH thì tuyên truyền “Không nghe, không dùng văn hóa của Ngụy” Mặc dù những bài hát, bài thơ đó hoàn toàn không có mưu đồ chính trị và giàu tính nhân văn.

Nạn nhân của những nghệ sỹ trong chế độ độc tài nhiều vô kể như nhạc sỹ Tô Hải hay nạn nhân của cái gọi là “Phản cách mạng” Nhân văn Giai Phẩm. Trong khi đó VNCH không có một cuộc thanh trừ nào kiểu như vậy, và quan trọng hơn cả VNCH không hề có một cuộc cách mạng thực chất là CẮT MẠNG người như “Cải cách ruộng đất – long trời lở đất”.

Thứ hai, trong cuốn sách nghiên cứu khá sâu sắc về quốc tế cộng sản “Chủ thuyết của chúng ta” của học giả A.Schenalder – một đảng viên đảng cộng sản CHDC Đức – được ấn hành tại Đông Đức năm 1981 có viết tại trang 189:

Nếu cứ tự do như VNCH thì VNDCCH sẽ bị đánh mất chủ thuyết của mình…”

Tác giả này đã công nhận VNCH có tự do về tư tưởng và VNDCCH thì ngược lại rất độc tài và quân phiệt chỉ nhằm giữ cho được “Chủ thuyết “ cộng sản sai lầm cho mình nhằm cai trị nhân dân ta, đấy nhân dân ta đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 13 – Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!”).

Chỉ cần thấy câu: Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm (1954-1967) (Fatherland – Honour – Duty) và Tổ quốc – Công minh – Liêm chính (1967-1975) (Fatherland – Justice – Integrity) của VNCH đặt Tổ quốc lên trên hết cũng đã thấy khác hẳn với “Trung với đảng, hiếu với dân” của CHXHCNVN vì đảng cộng sản đặt lợi ích của mình trên cả nhân dân và chẳng thấy bóng dáng Tổ Quốc đâu cả.

Thứ ba, Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa mang triết lý giáo dục nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”. Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Điều này đã được minh chứng bằng việc học sinh đi học dưới chế độ VNCH không hề mất học phí. Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Quốc gia Hành chính và ở các trường đại học cộng đồng). Những con số nêu trên được lấy từ cuốn “Giáo dục Việt Nam” – NXB Giáo dục năm 2001 – cuốn sách của đảng cộng sản Việt Nam.

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ở hội nghị này. Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bảndo Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967). Theo văn bản phụ lục của hiến pháp VNCH ghi rõ:

Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này, lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản, xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.


Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới
.”

Trong khi đó thì ở VNDCCH, học sinh bị nhồi nhét tư tưởng Mỹ “xâm lược” mà thực chất không phải vậy, “bác Hồ yêu nước, cả đời vì nước vì non” mà thực tế ngược lại khi bạn đọc 15 bài “Những sự thật không thể chối bỏ” và hàng trăm ngàn tư liệu, bằng chứng sống lại chứng minh được điều ngược lại. Hay là “yêu nước là phải yêu đảng cộng sản “ – một định nghĩa dốt nát và ấu trĩ.

Những bài thơ như của ông Tố Hữu với những câu như “Giết, giết nữa…” lại được nhà trường VNDCCH gieo vào đầu con trẻ ý tưởng giết người ngược hẳn với xu thế nhân bản của thế giới nói chung và VNCH nói riêng.

Trên Website của Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Hà Nam có bài viết (http://phuly.edu.vn/bacho/chuyen83.htm ) nói về việc ông Hồ gửi thư cho học sinh nhân ngày 1-6. Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1-6-1950, đăng bức thư gửi thiếu nhi toàn quốc nhân ngày 1-6. Ông Hồ có viết: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Điều này cho thấy đảng cộng sản và ông Hồ chủ trương tuyền truyền bịa đặt ngậm máu phun người về cuộc sống của trẻ em ở những nước dân chủ trong đó có Mỹ và VNCH là bị “bóc lột”. Nhìn lại những người lính trẻ bị bắt buộc phải cầm súng khi chưa đủ tuổi thành niên thời trước hay nhìn cảnh tượng của trẻ em đang làm nô lệ tình dục, nô lệ lao động… ở Việt Nam hiện nay mới thấy được tuyên truyền của cộng sản chỉ là bịa đặt nhằm đưa đến một ý thức lệch lạc cho nhân dân.

Thứ tư, từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 (tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì:

Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.”

Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).

Như vậy cho thấy ngay cả đảng cộng sản cũng phải thừa nhận nền giáo dục của VNCH chính là cái gương cho họ tự soi vào. Nhưng thực chất họ nói như vậy nhưng lại không làm như vậy chủ yếu chỉ để ngu dân, cai trị độc tài.

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:

Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc. Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”

Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dạy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản.”

Thứ tư, ngay từ thời điểm 1960-70 thì cấu trúc của chính phủ VNCH đã đầy đủ chuẩn mực, khuôn mẫu, của một đất nước văn minh ngày hôm nay – Tổng Thống và Lưỡng viện Quốc Hội (Thượng và Hạ Viện). Tự do báo chí thật sự với hơn 50 tờ báo tư nhân các loại tại Sài Gòn so với không có tờ báo tư nhân nào dưới chế độ CSVN ngày nay, sau gần 70 năm trời chứ chưa nói đến VNDCCH cùng thời điểm với VNCH. Vậy thì tự do dân chủ ở đâu?

Quốc hội VNCH họp (Hình)

Nghị gật CHXHCNVN (Hình)

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền đi theo chủ nghĩa Cần lao Nhân vị. Trong khoảng 5 năm, Việt Nam Cộng Hòa đã có một số thành tựu: xã hội ổn định, kinh tế phát triển, định cư gần 1 triệu dân di cư từ miền Bắc, thành lập Viện Đại học Huế…

Hiến pháp 1967 xác lập cơ cấu tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất hoàn chỉnh, theo mô hình của nhà nước Hoa Kỳ. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa đã thể hiện khá đầy đủ tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến. Quốc hội có những quyền hạn sau: Biểu quyết các đạo luật; Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế; Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chính sách quốc gia; Hợp thức hóa sự đắc cử của dân biểu hoặc nghị sĩ quốc hội; Quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể. Chính phủ với đa số 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ. Nếu Tổng thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực. Trong trường hợp Tổng thống khước từ, Quốc hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số 3/4 tổng số dân biểu và nghị sĩ.

Tính đến năm 1975 thì Việt Nam Cộng Hòa đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia ở cấp bán chính thức.

(Bạn đọc có thể tham khảo ở links sau:

>http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a )

Chúng ta có thể thấy gì khi VNCH có hàng chục đảng phái, tổ chức hoạt động chính trị còn ngược lại VNDCCH và CHXHCNVN hiện nay chỉ có 1 đảng độc tài duy nhất hoạt động với tiêu chỉ “Bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát”.

Ngoài ra ta phải thấy rõ ràng sự tự do trong bầu cử của VNCH khác hẳn với bầu cử theo sự sắp đặt của VNDCCH hay CHXHCNVN. Đó chính là sự tự do và dân chủ thật sự khác với tuyên truyền giả hiệu, ngậm máu phun người.

Thứ năm, một tác giả của Trung cộng khác là Vương Văn khi viết cuốn sách “Tư bản hay dân chủ“ xuất bản tại Trung cộng năm 2002 cũng nói về VNCH như sau tại trang 92:

Dân chủ trong chủ nghĩa tư bản cho nhân dân hưởng nhiều cái lợi nhưng lại là sự bất lợi cho chính quyền vì chính quyền không thể kiểm soát nổi nhân dân tự do. Hãy nhìn Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam làm tấm gương…”

Tác giả Trung cộng này cho rằng VNCH chính là một chính quyền tự do, dân chủ nên đã bị thất bại. Điều này không sai nhưng chưa đủ. Vì sao? Vì thực chất cái đúng là tác giả công nhận sự tự do dân chủ thật sự của VNCH. Tuy nhiên tác giả nên nhớ một điều rằng chính đảng cộng sản Việt Nam đã lợi dụng sự tự do và dân chủ này để gây chia rẽ, dẫn đến sự sụp đổ của một nền dân chủ non trẻ nhưng đã làm được những điều tốt đẹp lớn lao cho nhân dân miền Nam.

Thứ sáu, một khi để nói là VNCH là tay sai của Mỹ, là bán nước, là Ngụy quân, ngụy quyền thì phải có bằng chứng rõ ràng. Nhưng như phần A tôi đã chứng minh Mỹ không hề xâm lược Việt nam, không lấy đất, biển đảo, tài nguyên của Việt Nam, cũng không sưu cao thuế nặng như Thực dân Pháp trước 1945 thì VNCH đâu có bán nước, đâu có là “tay sai” như đảng cộng sản tuyên truyền?.

Quan trọng hơn, tại sao một chế độ bị vu cáo là “ngụy” lại anh dũng chống trả quân thù Trung cộng cướp nước còn CHXHCNVN lại “tri ân” giặc Tầu? Để mặc ngư dân bị đánh đập ngay trên biển đảo quê hương mình? Ai là Ngụy thì thực chất bạn đọc cũng tự tìm cho mình câu trả lời rồi.

VNCH và Hoàng Sa (Hình)

CHXHCNVN và Hoàng Sa (Hình)

Thứ bảy, Tự do tôn giáo cũng là vấn đề được đề cập tại VNCH. Chúng ta có thể thấy các cuộc biểu tình rầm rộ của giới tăng ni, cái chết của vị sư theo cộng sản Thích Quảng Đức… cho thấy chính quyền VNCH không hề đối xử phân biệt với các tôn giáo, không có hiện tượng đập phá nhà thờ như ở Thái Hà… hiện nay.

Để khẳng định điều này, xin trích lời của tác giả người Đông Đức đã giới thiệu ở trên “Chủ thuyết của chúng ta” của học giả A.Schenalder – một đảng viên đảng cộng sản CHDC Đức – được ấn hành tại Đông Đức năm 1981 có viết tại trang 193:

Tự do tôn giáo ở Miền Nam là sự tổng hòa cân bằng giữa các tôn giáo nhưng lại là điểm tựa cho đảng cộng sản ở Việt Nam lợi dụng để chiến thắng chính quyền ông Diệm, ông Thiệu…”

Thứ tám, một nét tiêu biểu đó là lĩnh vực y tế của VNCH tại thời điểm trước năm 1975 đã hơn hẳn CHXHCNVN hiện nay chứ đừng nói đến VNDCCH trước kia sau mấy chục năm “thống nhất, giải phóng “ ảo tưởng. Cụ thể VNCH vào thời điểm đó xây dựng được nhiều bệnh viện hiện đại của Đông Nam Á và không có cảnh 2-3 người nằm 1 giường như thiên đường XHCN.

Mời bạn đọc tham khảo links sau nói về y tế VNCH

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Y_t%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a ):

Dịch vụ y tế bắt đầu ở cấp xã. Mỗi xã có một ủy viên y tế và một nữ hộ sinh, thường gọi là “cô đỡ” trông coi và giúp đỡ sản phụ ở thôn quê. Ủy viên y tế làm việc dưới sự giám sát của Hội đồng xã.

Ở cấp quận thì có Chi y tế dưới sự điều hành của cán sự y tế. Mỗi tỉnh thì có một bệnh việnthuộc Ty y tế. Trưởng ty y tế là một bác sĩ phụ trách chương trình y tế trong tỉnh. Giám đốc bệnh viện cũng là một bác sĩ y khoa. Bệnh nhân nhập viện vào các bệnh viện công cộng không phải trả tiền. Những bệnh viện công cộng lớn gồm có Bệnh viện Chợ Rẫy, Vì Dân, Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn, và Từ Dũ.

Tổng số bệnh viện dân sự toàn quốc vào năm 1965 là 101 cơ sở với 25.000 giường. Riêng thủ đô Sài Gòn có 11 bệnh viện công cộng cung cấp gần 5.000 giường. Tính vào năm 1970 thì trên toàn quốc có hơn 570.000 ca nhập viện.

Một số chuyên khoa có bệnh viện riêng như Bệnh viện Nhi đồng Sài Gòn (220 giường). Khoa tâm thần có ba cơ sở chính: Bệnh viện Chợ Quán ở Sài Gòn, Bệnh viện Huế, và Bệnh viện Nguyễn Văn Hoài ở Biên Hòa.

Nằm ngoài hệ thống của chính phủ là các phòng mạch, dưỡng đường và bệnh viện tư nhân (bốn bệnh viện ở Sài Gòn với hơn 800 giường). Vào giữa thập niên 1960 Việt Nam Cộng hòa có khoảng 800 bác sĩ y khoa. Bệnh viện tư lớn phải kể Bệnh viện Grall và Bệnh viện Saint Paul ở Sài Gòn, Bệnh viện Sùng Chính (200 giường) ở Chợ Lớn

Còn “thiên đường” bánh vẽ của chúng ta thì sao? Hãy đọc một bài viết từ trang Baomoi.com trích bài trên báo Tuoitre Online của đảng cộng sản Việt Nam (http://www.baomoi.com/Thieu-benh-vien-tai-sao-khong-xay-them/82/7484744.epi )

Chuyện 3, 4 bệnh nhân nằm chung một giường đã có từ lâu lắm rồi, nhưng thật đáng tiếc khi gần đây bộ trưởng Bộ Y tế mới biết và thấy nỗi khổ nhục của người bệnh. Người dân luôn đặt ra câu hỏi rằng tại sao khi xây các dự án nhà ở, các khách sạn, sân golf… mọc lên nhanh thế nhưng các bệnh viện xây mới lại không có hoặc rất ít (với tiến độ con rùa). Vậy mong các vị đứng đầu hãy quan tâm và trả lời cho cử tri biết… Rất nhiều bệnh viện quá tải, nhất là Bệnh viện Nhi Đồng, Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Từ Dũ… người ta dễ “phát sợ hơn cả là bệnh” khi nhìn thấy cảnh đông đúc. Quá tải… chắc khoảng… 300% chứ không phải là vừa.”

Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM thường xuyên bị quá tải (Hình)

.

Hè về lại nghe tiếng Ve kêu rộn rã!

From: tuan nguyen – Cám ơn -tunhan
 

Ve sầu 17 năm sắp trở lại dọc duyên hải miền đông nước Mỹ

Cứ 17 năm 1 lần, vài tuần lễ trước khi xuất hiện, những con ve đào các đường hầm để thoát lên mặt đất.

Cứ 17 năm 1 lần, vài tuần lễ trước khi

xuất hiện, những con ve đào các đường hầm để thoát lên mặt đất.

Hằng hà sa số ve sầu lớn lên một cách từ từ dưới mặt đất từ năm 1996, sắp xuất hiện trở lại dọc theo phần lớn vùng duyên hải phía đông Hoa Kỳ để bắt đầu say sưa ca hát và giao phối vào lúc tái tục chu kỳ đời sống lạ lùng của chúng.

Năm nay báo hiệu sự trở lại vào mùa xuân của hàng tỷ con ve sầu cứ 17 năm lại quay trở lại, với thân hình màu đen nổi bật, và cặp mắt đỏ hoe, những cái cánh có gân mầu da cam, dọc theo khoảng 900 dặm bờ biển từ miền bắc bang Georgia cho đến phía bắc bang New York.

Khúc nhạc inh ỏi đinh tai nhức óc chúng tạo ra trong khi giao phối, cùng với sự xuất hiện cùng lúc hàng loạt một cách bát thường và các chu kỳ phát triển kéo dài đã làm gây kinh ngạc trong giới khoa học cũng như người thường từ nhiều thế kỷ nay.

Tại miền trung bang Connecticut, các ổ đặc biệt dầy đặc của những con ve sầu được gọi là Brood 2, có tên khoa học là Magicicada septendecim sẽ xuất hiện vào cuối tháng 5 hay tháng 6, theo ông Chris Maier, chuyên gia nghiên cứu về các loài côn trùng của Trạm Thí nghiệm Nông nghiệp Connecticut ở thành phố New Haven.

Ðây sẽ là lần thứ ba ông Maier nghiên cứu về sự xuất hiện của những con ve sầu này – ông đã theo dõi chúng vào năm 1979, và một lần nữa vào năm 1996. Ông nói lần tới chúng quay trở lại vào năm 2030 thì ông sẽ 81 tuổi.

Ông Maier nói lần đầu tiên các chủng loài ve sầu Brood II được khoa học ghi nhận là vào năm 1843.

Sự xuất hiện rất đúng thời điểm đã định của các con ve sầu trưởng thành đo được 1,5 inch hay 38 millimet, hút nhựa cậy, và có cánh bay diễn ra sau một thời gian dài phát triển dưới lòng đất như những con ve non.

Sau khi trưởng thành, con ve đực bắt đầu cái mà loài ve đặc biệt được biết tới: đó là những tín hiệu bằng âm thanh rõ nét, hay những “ca khúc” để thu hút đám ve sầu cái.

Ông Chris Simon, giáo sư về côn-trùng học và sinh học tiến hóa tại trường Ðại học Connecticut nói: “Khi rất nhiều con ve tụ tập lại, thì chúng tạo ra tiếng động giống như tiếng máy bay ì ầm. Giống y như những đĩa bay trong một cuốn phim thời thập niên 1950.

Theo ông Simom, khi bất chợt xuất hiện, những chú ve sầu này sẽ thấy rõ “ở các thân cây, các sườn nhà, trên những bụi cây – và thậm chí trên các vỏ xe hơi nữa.

Ðộ tập trung của các con Magicicada – từ hàng chục ngàn cho tới 1 triệu rưởi con con mỗi mẫu, cao hơn nhiều so với các loài ve sầu khác.

Một lý thuyết đằng sau chu kỳ đời sống bền bỉ của chúng là việc chúng xuất hiện thường đưa tới cùng một lúc những con số khủng khiếp tới độ các loài ăn thịt khác, như chim, nhện, rắn và thậm chí cả chó nữa cũng không ăn hết nổi.

Ðể tạo ra những bản hợp ca độc đáo, các con ve đực dùng các bộ phận tạo âm trong bụng để gây ra những âm thanh, trong khi những con ve cái – không có những bộ phận ấy thì rung cánh. Tất cả những tiếng động này đều hết đi vào tháng 7.

Mặc dầu ầm ĩ, những con ve không đốt hay cắn ai, và không có hại cho hoa mầu. Nhưng chúng có thể phá hỏng những cây hay những lùm cây nhỏ, nếu như có quá nhiều con ăn cây hay đẻ trứng trên những nhánh cây, theo một cuộc khảo cứu được đăng trên trang mạng www.magicicada.org

Sau quá trình giao phối, các con ve cái đẻ trứng trên những nhánh cây; trứng nở sau đó trong mùa và những ấu trùng rơi xuống đất và vùi trong đất để lại bắt đầu chu kỳ 17 năm.

Những con ve nhỏ sống bằng chất lỏng trong rễ cây gọi là xylem. Nhưng xylem có rất ít giá trị dinh dưỡng đối với những ấu trùng, và đó là 1 lý do khiến nhiều nhà khoa học nêu ra giả thuyết là những con ve sầu nhỏ định kỳ phát triển chậm như vậy.

Cứ 17 năm 1 lần, vài tuần lễ trước khi xuất hiện, những con ve đào các đường hầm để thoát lên mặt đất. Khi nhiệt độ lên đến trên 64 độ F hay 18 độ bách phân, những những con ấu trùng rời khỏi các đường hầm của chúng thường là sau hoàng hôn, trụ trên một cái cây hay lùm cây nào gần đó, và bắt đầu giai đoạn chót để tiến vào đời sống trưởng thành.//

.

Blg Nhữ Đình Hùng – Ngoại trưởng HK, John Kerry hoạt động ra sao (?)

From: Kiren Tran – Cám ơn (tunhan)

Một hội nghị quốc tế về Syrie tại Genève vào đầu tháng sáu.

  • Nhữ Đình Hùng

T.T Nga Poutine – Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry

Xem chừng thái-độ của Mỹ về việc giải-quyết cuộc khủng-hoảng ở Syrie đang có thay đổi.Cách đây vài tháng, ngoại trưởng Mỹ John F. Kerry còn nói đến việc cần thiết thay đổi tương-quan lực-lượng trên diện địa nhằm lật đổ tổng thống Syrie, Bachar Al Assad, mà ngay cả cách đây vài tuần, Hoa-Kỳ còn nói đến việc có thể cung cấp võ khí cho quân nổi dậy.

Nhưng bây giờ, xem chừng Hoa Kỳ đang cài số de!
Chẳng những không đưa ra áp-lực nào nhằm buộc ông Assad phải rời bỏ chánh-quyền, ông Kerry đang tổ chức một hội nghị về Syrie với sự tham dự của Nga vào đầu tháng sáu. Điều đáng nói là chế độ của ông Bachar Al Assad được mời tham dự.Trong tuyên bố ngày 14.05, ông Kerry cho biết từ chối cung cấp vũ khí cho quân nổi dậy, nhưng Hoa Kỳ sẽ đem đến một sự hỗ trợ nhiều hơn cho đối lập nếu như tổng thống Al Assad lại phạm sai lầm một lần nữa bằng cách từ chối tham dự hội nghị. Phe đối lập Syrie cho tới nay từ chối việc nói chuyện với chế độ Damas trừ khi ông Bachar Al Assad ra đi!

Theo các tin tức, chế độ của ông Assad đang có nhiều thắng lợi trên diện địa nhờ có sự trợ giúp đến từ Liban. Phe đối lập bị vướng mắc vào các tin tức cho thấy đã xử dụng vũ khí hoá học trong đó có hơi ‘sarin’, vừa qua, vào ngày thứ ba 14.05 còn bị dư luận quốc tế lên án khi một vidéo cho thấy cảnh một quân nổi dậy đã mổ bụng một lính của chế độ Damas (thuộc hệ-giáo alouite của ông Al Assad), và moi gan, tim ra ngoài trước khi cắn những cơ quan này.


Khalid Al-Hamad đang ăn gan, tim của một binh sĩ của chánh quyền Syrie

Người nổi dậy này, được nhận diện là Khalid al-Hamad ( còn được biết dưới tên Abu Sakkar, chỉ huy trưởng một lực lượng nổi dậy), đã trả lời cho báo Times trong một cuộc phỏng vấn bằng Skype là anh ta đã làm việc này này vì tìm thấy trong diện thoại di động của người lính chết cảnh người lính này làm nhục một phụ nữ khoả thân và hai con gái của người này! Hành vi của anh được coi như sự trả thù trước các bạo hành của quân đội chánh quyền Damas.Vidéo này đã được phổ biến từ nhiều tuần qua nhưng kể từ ngày thứ ba 14.05,công luận đã lên án mạnh mẽ việc này. Thực sự , đã có nhiều vidéo cho thấy các sự dã man của quân nổi dậy như việc chặt đầu các tù binh, nhưng lần này, cách ‘trả thù’ của quân nổi dậy đã đi đến chỗ không chấp nhận được.

Lúc đầu,người ta nghĩ vidéo này là do chế độ Damas ngụy tạo nên không có phản ứng mạnh, nhưng phản ứng trở nên dữ dội sau khi báo Times phỏng vấn al-Hamad và được người này xác nhận. Quân đội Syrie tự do (ASL) đã lên án hành động này nhưng trên thực tế, không có khả năng ngăn chặn các hành vi dã man và bạo ngược như thế, bởi vì quân nổi dậy vũ trang ước lượng lên tới 200.000 thuộc về nhiều binh đoàn (brigade) địa phương không thuộc vào một tổ chức có phân cấp nào cả. ASL là một tổ chức ‘hữu danh vô thực’,chỉ có một bộ tham mưu ở Thổ Nhĩ Kỳ với khoảng trên dưới 50 sĩ quan cao cấp, thường xuyên tham dự các hội nghị quốc tế nhưng không trực tiếp chỉ huy trên chiến trường. Ngay trong một binh đoàn cũng không có một hệ thống chỉ huy đúng nghĩa, một đôi khi còn có cả những chống đối ngay trong cùng một binh đoàn!

Một vidéo khác trong ngày 16.05 cũng cho thấy cảnh quân nổi dậy hành quyết mười một binh sĩ của chế độ Damas.Quân nổi dậy, thuộc lực lượng Front Al Nosra, có dính líu với Al Qaïda, che mặt, đã bắn vào những tù binh bị bịt mắt, thuộc quân chính phủ và bị quỳ gối, một viên đạn vào sau gáy. Sau mỗi tù binh bị bắn chết, quân nổi dậy giơ cao lá cờ đen và hô to “Allah vĩ đại”
Quân nổi dậy nói trong vidéo là họ thi hành lệnh của một toà án hồi giáo thuộc tỉnh Daïr Az Zour. Vào ngày thứ tư,một vidéo khác cho thấy cảnh ba tù binh bị giết, cũng bằng cách bị bắn một viên đạn vào sau gáy và trước đó nhiều vidéo cho thấy các thi thể bị làm tàn phế!

Giải thích về những sự việc dã man của quân nổi dậy,nhiều bình luận gia cho rằng đó là sự phẫn nộ của quân nổi dậy vì đã không thành công trong việc lật đổ chế độ Damas, chẳng những thế, chế độ này đã gây nhiều thiệt hại cho quân nổi dậy và xem chừng hiện nay đang ở thế mạnh trên chiến-địa.

Mặc dù có những vidéo chứng tỏ sự dã man của quân nổi dậy, ngày thứ tư 15.05, ĐHĐ LHQ đã phê chuẩn một quyết nghị lên án các lực lượng Trung thành với tổng thống Bachar Al Assad và xác nhận sự ủng hộ với liên minh đối lập, coi liên minh quốc gia Syrie (CNS) là người đối thoại thực sự và đại biểu cần thiết cho việc chuyển quyền chánh trị, với 107 phiếu thuận, 12 phiếu chống và 59 nước không bỏ phiếu. ( một quyết nghị tương tự vào tháng 08.2012 đã có được 133 phiếu thuận, như thế đã có 26 nước ngưng ủng hộ quân nổi dậy).

Poutine – Netanyahu
Ngành ngoại giao Hoa Kỳ đang có những nỗ lực nhằm có thể đưa đến một hội nghị quốc tế về tranh chấp ở Syrie vào đầu tháng sáu tại Genève, đương nhiên là có sự đồng ý của Nga. Nhưng trong ngày 14.05, trong cuộc gặp gỡ với thủ tướng Do Thái Benjamin Netanyahu tại Sotchi, tổng thống Nga Vladimir Poutine đã đưa ra lời kêu gọi cần thiết phải tránh những hành động có nguy cơ gây hỗn loạn hơn nữa trong nước Syrie.

Vào đầu tháng năm, Do Thái đã tấn công bằng không quân vào một điểm gần Damas nhằm ngăn chặn việc chuyển giao vũ khí cho Hezbollah ở Liban,đồng minh của chế độ Damas. Và cuộc viếng thăm Nga của thủ tướng Do Thái Netanyahu đã được loan báo ngày thứ ba ngay sau khi có tin Nga có ý định chuyển giao cho Syrie các hoả tiễn S-300 có khả năng ngăn chận các phi cơ hay hoả tiễn được điều khiển. Điều này sẽ gây khó khăn cho Do Thái trong các nỗ lực tấn công mới vào Syrie cũng như gây khó khăn cho việc lập vùng cấm bay ở Syrie!
Sergueï Lavrov – John Kerry

Trong chuyến công du ở Stockholm, ngoại trưởng Mỹ Kerry đã nói đến việc thực hiện một hội nghị quốc tế về Syrie vào đầu tháng sáu, trong tuần lễ đầu tiên hay tuần lễ thứ hai, có lẽ tại Genève. Ngoại trưởng Mỹ cũng tiết lộ là ngoại trưởng Nga Sergueï Lavrov đã có trong tay danh sách những người có thể thương thuyết do chánh quyền Damas cung cấp. Ngoại trưởng Mỹ cũng đã kêu gọi tổng thống Assad nắm lấy cơ hội để ngồi vào bàn hội nghị với quân phiến loạn.

Ngoài Mỹ, các nước khác cũng có những vận động tích cực. Các nước ‘bạn của Syrie’ (đúng hơn bạn của quân nổi dậy) cũng sẽ có phiên họp cấp tổng trưởng vào giữa tuần tới tại Jordanie. Mười một nước bạn của Syrie gồm Mỹ, Anh,Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ,Qatar, Arabie Saoudite,Emirats arabes unis,Ai Cập, Jordanie, Đức và Ý đại lợi.

Trong ngày thứ ba 14.05, tại Washington đã có cuộc họp giữa tổng thống Mỹ Obama và thủ tướng Anh Cameron. Trong cuộc họp báo sau đó, ông Obama đã nói đến việc “sẽ tiếp tục có nỗ lực chung để gia tăng áp lực với chế độ Assad, để cung cấp viện trợ nhân đạo cho nhân dân Syrie đã chịu thống khổ từ lâu, để tăng cường phe đối lập ôn hoà và để chuẩn bị một nước Syrie dân chủ”.

Về việc gia tăng áp lực,người ta có thể nghĩ đến những đề nghị trong các tuần lễ vừa qua về việc thiết lập ‘vùng cấm bay’ cũng như việc tăng cường lực lượng quân sự Mỹ ở Jordanie,láng giềng của Syrie.

Trong khi đó, Do Thái đã có những vận động với Nga để nước này bỏ ý định Cung cấp hoả tiễn S-300 cho Syrie trong chuyến công du Nga của thủ tướng Netanyahou. Nhưng, nếu Nga loan báo ý định Cung cấp S-300 cho Syrie chính vì việc lập vùng cấm bay ở Syrie.

Obama cũng đề nghị dến việc tập hợp ‘trong những tuần lễ sắp tới, tại Genève, các đại diện cho chế độ và đối lập để thoả thuận về một tổ chức chuyển tiếp cho phép chuyển quyền từ Assad cho tổ chức quản trị này. Cùng lúc,chúng ta tiếp tục thực hiện việc thiết lập các sự kiện về việc xử dụng vũ khí hoá học ở Syrie và những sự kiện này sẽ chuẩn bị những giai đọan kế tiếp của chúng ta”. Trong khi đó, Cameron đã ca ngợi các thảo luận với Poutine vào ngày thứ sáu 10.05 tại Sotchi ‘chúng tôi cùng nhau làm một nỗ lực ngoại giao quan trọng nhằm đưa các phe đến bàn và thành công trong việc thay đổi trên trên đầu nước Syrie, bằng cách có thể thực hiện sự thay đổi mà nước này cần đến’.

Dẫu sao người ta cũng ghi nhận có sự thay đổi trong cách nói. Khi nói đến những đại diện của chế độ, điều này hàm ý không đòi ông Bachar al Assad phải ra đi tức khắc. Khi nói đến thiết lập các sự kiện về việc dùng vũ khí hoá học, đã có việc ngưng xác nhận việc chánh quyền Syrie xử dụng vũ khí hoá học như đã tố cáo trước đây.

Dư luận Mỹ cũng bắt đầu có sự thay đổi thái độ với tình hình Syrie. bình luận gia của báo Financial Times, Gideaon Rachman đã viết ” nếu chúng ta sẽ tiếp tục giao vũ khí cho quân phiến loạn, làm thế nào có thể biết điều này không giản dị đưa đến một cuộc đổ máu lớn hơn..”. Tham dự chương trình truyền hình ‘Face the Nation’ vào ngày chủ nhật, Robert Gates, cựu bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ dưới thời Georges W. Bush và nhiệm kỳ đầu của Obama, nói rằng một hành động quân sự Mỹ ở Syrie là một ‘sai lầm ‘ và coi việc can thiệp Mỹ vào Libye cũng đã là một sai lầm. Ông nói thêm là theo ông, cần phải thận trọng về việc giao vũ khí cho những nhóm này và về việc dính líu quân sự Mỹ.


Nhữ Đình Hùng
16.05.2013
.
Nguồn:
.

“Cha truyền, Con nối” thời XHCN CS Hà Nội!

—– Forwarded Message —–
From: Tran Ho – Cám ơn -tunhan-
 THÂM CUNG BÍ SỬ
A-Thâm Cung
 
  • Con của nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh (1992-1997)

Lê Đức Anh hiện là «bố già» trong đảng cộng sản mafia, là người lãnh đạo quân sự và chính trị cộng sản từ hơn nửa thế kỷ qua, cực kỳ thân Trung Quốc. Cả 2 ông đại tướng tên Anh (Lê đức Anh và Lê hồng Anh) đều là hai cây dù của Nguyễn Tấn Dũng (Đức Anh là dù to, Hồng Anh là dù bọc hậu) và cả hai đều xuất thân là phu cạo mủ cao su ở Hớn Quản.

Con trai của Lê Đức Anh là Lê Mạnh Hà hiện là Phó Chủ Tịch Ùy Ban Nhân dân TP HCM. Ông Hà được học bổng Fulbright du học ở Harvard từ 1998 đến 2000. Con dâu là Nguyễn thị Đoan là Phó Chủ tịch nước (thay Trương Mỹ Hoa) từ 2007. Bà Đoan có tiến sĩ ở Bulgarie và có tu nghiệp ở Pháp.

  • Những tân ủy viên Trung ương đảng trong kỳ đại hội đảng lần thứ XI (2010)

Được vào ủy viên Trung ương đảng là bảo đảm một chức vụ cao cấp, béo bở trong chánh phủ nên cuộc chạy đua vào chức vụ nầy thường diễn ra trong hậu trường với nhiều cuộc liên kết phe nhóm, tranh chấp ác liệt và đòn phép bẩn thỉu. Ngoài các nhân vật vừa kể, trong đại hội đảng lần thứ XI còn có các tân ủy viên sau đây :

- Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976 là con của Nguyễn Văn Chi, Ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Kiểm Tra trung ương. Nguyễn Xuân Anh nhảy vọt từ Bí thư huyện Liên Châu (Đà Nẳng) đi thẳng vào Trung ương đảng. Tháng 7/2011, Anh được bổ nhiệm Phó chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẳng và chắc chẳng bao lâu sẽ là chủ tịch, nắm giữ thành trì của miền Trung

- Trần Sĩ Thanh, sinh năm 1972. Phó bí thư tỉnh ủy Darlac là cháu của Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ Tướng (Nguyễn Sinh Hùng là cháu của Hồ Chí Minh). Darlac hiện nay là một vùng béo bở, có nhiều tài nguyên và nhiều cơ sở kỹ nghệ của ngoại quốc đã và sẽ thành lập tại đây.

- Trần Bình Minh : Phó Tổng giám đốc đài truyền hình VN là con trai của Trần Lâm, nguyên Tổng giám đốc đài Tiếng nói VN.

- Nguyễn thị Kim Tuyến, Thứ trưởng Bộ Y tế là cháu ngoại của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập.

Điểm đáng lưu ý là Cộng Sản đặt chỗ cho con cháu trước tiên vào ghế số 2 ở mỗi cơ quan bằng các chức vụ như phó (Phó Tổng Cục, Phó Cục, Cu Phó Giám đốc, Phó ban..), hay thứ (Thứ Trưởng) để chờ khi các ông số 1, vốn đang có những dù lộng cũng to để chiếm chỗ khi các ông số 1 về hưu, được điều động đi nơi khác để nhường chỗ, hay bị hất chân khi cái gốc không còn đứng vững.

Những hình thức «truyền ngôi» cho con cháu, hàng họ trong chế độ Cộng Sản

Không thể nào kể hết chi tiết các tên họ những 4C, bởi lẽ chế độ con ông cháu cha cộng sản chằng chịt ngang dọc từ trung ương đến địa phương như những dây leo, hay đúng ra như những tế bào độc hại của bịnh ung thư tràn lan khắp cơ thể, chúng tôi xin tóm tắt tổng quát cách truyền ngôi, tập quyền và tản quyền của hệ thống 4C theo như tổ chức mafia dưới 3 hình thức chính yếu là: tham chính, lập công ty kinh doanh, kết thông gia và bè đảng.

*Tham chính

Thông thường, những người có học, có khả năng thường được đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy trong các cơ quan của đảng hay chính phủ. Ngoài những nhân vật kể trên, cần kể thêm một số nhân vật đang tại chức hay vừa rời chức vụ gần đây.

- Nguyễn Thiện Nhân: Phó thủ tướng là con của y sĩ Đông Dương Nguyễn Thiện Thành, gốc người tỉnh Trà Vinh (có tài liệu ghi là Biên Hòa) một cán bộ cao cấp cộng sản đã tham gia từ phong trào Việt Minh. Mặc dù Nguyễn Thiện Nhân đậu tiến sĩ ở Đông Đức và có tu nghiệp ở Harvard, đã bị mất chức Bộ Trưởng bộ Giáo Dục vì bất tài nhưng lại thích phô trương, đã đưa nền giáo dục VN đến chỗ lạc hậu, nhưng vẫn được tiếp tục lưu nhiệm chức vụ Phó thủ tướng, đúng như lời mỉa mai của giáo sư Hoàng Tụy, một nhà giáo dục được trong nước và ngoại quốc nể trọng : Bộ giáo dục (ý nói ông Nhân) trơ như đá, vững như đồng.

- Phạm Bình Minh: hiện là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao, con của Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn Cương), phụ tá cho Lê Đức Thọ trong hội nghị hòa đàm Paris và là Bộ Trưởng bộ ngoại giao sau đó (1980-1991). Có tin là con của Phạm Bình Minh cũng đang du học ngành ngoại giao hi vọng nối nghiệp cha ông.

- Trần Tuấn Anh: nguyên lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kỳ (San Francisco) là con của chủ tịch Trần Đức Lương.*

* Lập công ty

Những con cháu cán bộ cao cấp không có khả năng học vấn hay thiếu đạo đức (thực ra ông cha cũng đã thiếu đạo đức, nhưng thành phần các ông con nầy trác táng, lêu lỏng, không thể đảm nhiệm vai trò chỉ huy) thì quay ra kinh doanh, lập công ty. Thực ra những công ty nầy chỉ là bình phong để lợi dụng danh nghĩa của ông cha mà làm giàu phi pháp. Số 4C loại nầy thì kể sao cho hết bởi tràn lan khắp nơi ăn chịu với khắp các cơ quan. Chỉ đan kể vài tên con cháu của các cấp lãnh đạo ở Trung ương đảng.

  • Con rể của Võ Nguyên Giáp 

Tên là Trương Gia Bình, là một tỷ phú, giám đốc công ty FPT, là một trong những công ty lớn nhất nước cung cấp dịch vụ internet, truyền thông.

  • Con rơi của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt

Võ văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, người được xem là cấp tiến, mở đầu cho phong trào đổi mới kinh tế. Nhân nói đến đứa con rơi của Võ văn Kiệt tên Phan Thành Nam, tưởng cần nói qua về đạo đức tồi tệ của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản.

Ông Hoàng Dũng, Thư ký Văn phòng Trung Ương đảng đã viết về lai lịch của Phan Thành Nam như sau: Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ biết rằng cụ Hồ gặp những khó khăn và thiếu thốn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình với người vợ cũ ở Trung Quốc nhưng bị phản đối, do vậy bộ Chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt từ thuở còn thanh niên, cụ Hồ đã có một mối tình rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật nầy đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết «Đi tìm Út Huệ»). Biết thế nên lúc nầy Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục miền Nam phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một số cô gái còn trẻ đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong bộ Chính trị (đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ). Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt nầy. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc có một cô còn trẻ và sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lỡ thì cô gái đã có thai mấy tháng, thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là Phan Thành Nam.

Phan Thanh Nam hiện nay là một tỷ phú đỏ, Tổng Giám Đốc Công Ty quốc doanh Tracodi, chuyên về «xuất khẩu lao động», xuất cảng hàng hóa, xây cất và du lịch.

Điều cần nói thêm là ông Kiệt cũng có chính thức 2 vợ: bà vợ cả tên là Trần Kim Anh và 3 đứa con đã chết trong chiến tranh, chỉ còn lại đứa con gái tên là Võ Hiền Dư. Ông lấy vợ kế là Phan Lương Cầm nổi tiếng tham nhũng được các công ty đặt tên là Bà Mười Cầm vì tất cả các dự án đầu tư đều phải đóng «hụi chết » cho bà ít nhứt 10%.

  • Con của nguyên thủ tướng Phan Văn Khải

Tên là Phan văn Tỵ tục danh là Hoàng Tỵ là một tay du đảng chọc trời khuấy nước, có lần vì tranh giành địa bàn buôn lậu đã bắn chết Phạm Văn Hưng là sĩ quan công an, con của Phạm Thế Duyệt cũng là đảng viên trong Trung ương đảng, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Về kinh doanh, Hoàng Tỵ lợi dụng thế lực của cha và của các đồng chí của cha, nhập cảng lậu xe hơi cũ rồi tân trang lại bán sang Trung Đông, nhập cảng xe đạp mới nguyên chiếc từ Thái Lan, Singapore đem tháo ra từng bộ phận rồi lắp ráp lại (bởi luật VN lúc ấy chỉ cho phép bán xe đạp lắp ráp ở VN), bán với giá gấp đôi gấp ba. Hoàng Tỵ cũng là chủ nhân của hai đại khách sạn Hoàng Gia và Planet ở Saigon và HàNội, cho du khách ở tại hai khách sạn nầy được ưu tiên khỏi bị xét hỏi khi đến và khi rời phi trường. Nhờ tất cả mánh khoé và thế lực, Hoàng Tỵ cũng là một tỷ phú.

  • Con của Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng bộ Quốc Phòng

Phùng Quang Thanh xuất thân là một bộ đội không có học thức nhưng nhờ phe cánh thân Trung Cộng trong đảng nên được phong quân hàm đại tướng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng từ nhiều năm nay. Con trai của Phùng Quang Thanh là Phùng Quang Hải, lý lịch cũng không ghi học lực và trường đào tạo, nhưng mang cấp bậc Thượng tá, là Tổng giám đốc Công ty xây dựng 319 là một công ty quốc doanh bao gồm hơn mươi công ty hoạt động trong lãnh vực xây cất, cung cấp vật dụng cho quân đội và các cơ quan chính phủ trên địa bàn khắp nước. Đây là một nguồn lợi khổng lồ cho gia đình họ Phùng và các phe cánh trong đảng để tham nhũng và độc quyền các lãnh vực béo bở.

Nếu cần phải kể thêm thành tích của những 4C vì ăn chia không đồng đều bị tố cáo hay bị ra tòa, hay bị làm vật tế thần thì có mấy vụ gần đây như Mai Văn Dậu, Thứ trưởng Bộ Thương Mại bị ra tòa cùng với con là Mai Thanh Hải vì tham nhũng trong việc xuất nhập cảng, Đoàn Văn Kiểm, chủ tịch Hội đồng Quản Trị Tập đoàn Than – Khoáng sản bị bãi chức vì cho phép em là Đoàn Duy Thức khai thác quặng mỏ trái phép, Phạm Thanh Bình, chủ tịch Hội Đồng Quản trị Tổng đoàn Công nghiệp Tàu Thủy VN bị bắt giam vì bổ nhiệm con trai là Phạm Bình Minh (một Bình Minh khác, không phải là Bình Minh con Nguyễn cơ Thạch) vào công ty Vinashin, Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng bộ Bưu Chính Viễn Thông, bị cảnh cáo vì cho con rể là Hoàng Minh gian lận trong việc trúng thầu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị bằng bạo lực và áp dụng luật mafia ngay trong hàng ngũ đảng viên cao cấp của họ theo kiểu mạnh được yếu thua. Trong sự phá sản hàng tỷ mỹ kim của công ty Vinashin, người chịu trách nhiệm là Nguyễn Tấn Dũng thì không hề hấn gì trong khi bộ trưởng Phạm Thanh Bình bị bắt giam vì một sự bổ nhiệm. Vụ ăn hoa hồng trong việc in giấy bạc polymer ở Úc (12 triệu Úc kim) liên hệ đến nguyên Thống đốc ngân hàng Lê đức Thúy đã có bằng chứng rõ ràng thì chẳng ai bị tù tội.

Lãnh đạo Việt Nam hôm nay làm trò hề và gây ô nhục cho đất nước mà không biết nhục. Vũ Văn Hiến, Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc Truyền hình VN gởi con gái tên Kiều Trinh sang Thụy Điển tu nghiệp bị cảnh sát Thụy Điển bắt vì ăn cắp trong siêu thị, bị báo chí trong nước phanh phui nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Văn hóa – Du Lịch của đài truyền hình, chưa kể Hiến đưa bè đảng vào cơ quan để tham nhũng, bị nhân viên các cấp tố cáo nhưng vẫn bình chân như vại.

*Kết thông gia và bè đảng

Người Việt Nam ta có câu Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những cán bộ cao cấp gian manh thường tìm gần nhau để hợp quần gây sức mạnh trong công cuộc trấn áp, bóc lộ lương dân. Những cuộc liên kết giữa các cán bộ qua các cuộc hôn nhân là một hình thức lưu chuyển quyền hành và tham nhũng theo hàng ngang và hàng chéo đến độ hệ thống tham nhũng Việt Nam hôm nay là những loại ung thư đang tàn phá một cơ thể chỉ chờ ngày bị tiêu hủy toàn diện. Dĩ nhiên không sao kể hết loại liên kết nầy, chỉ cần đan kể vài thông gia gần đây tạo nhiều tai tiếng to lớn.

Tại Việt Nam, nhắc đến tướng công an Nguyễn Đức Nhanh là người dân kinh sợ và khinh bỉ vì chánh sách đàn áp lương dân và tham nhũng của tên trùm công an nầy (đàn áp giáo dân Thái Hà). Nhanh đảm nhiệm 2 chức vụ: Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (tổng cục 1: lo về tình báo hải ngoại, tổng cục 2: lo về an ninh quốc nội) kiêm Giám Đốc Công An TP HàNội. Nguyễn Đức Nhanh kết thông gia với Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng bộ ngoại giao, Chủ tịch Ủy Ban nhà nước về người VN ở nước ngoài. Như vậy hai gia đình thông gia nầy đảm nhiệm vai trò chiến lược của đảng Cộng Sản và chánh phủ Việt Nam.

Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch Quốc hội (2002-2007) là con của Trương Văn Đẩu, Tỉnh ủy viên Gò Công (cũng gốc là phu cạo mủ cao su) có em là Trương thị Hiền, Hiệu trưởng trường Cán bộ TPHCM, kết hôn với Lê Thanh Hải, Ủy Viên Trung ương đảng, Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Lê Thanh Hải làm sui với Huỳnh Ngọc Sỹ nổi tiếng trong vụ tham nhũng xây xa lộ Đông Tây nối liền từ Bình Chánh đến Saigon, qua Thủ Thiêm chạy đến Cát Lái trên đường về miền Tây. Xa lộ nầy do Nhật viện trợ và giao cho công ty Nhật PCI xây cất, Huỳnh Ngọc Sỹ làm quản lý. Lúc đầu, Sỹ đòi hối lộ 15%, sau sụt xuống 10% và đã nhận 2.6 triệu MK thì bị báo chí Nhật phanh phui, 4 người đại diện công ty Nhật bị Nhật bắt giữ vì đưa hối lộ. Chánh phủ Nhật đòi Việt Nam phải có biện pháp chế tài với người nhận hối lộ là Huỳnh ngọc Sỹ nhưng VN vẫn binh vực Sỹ khiến Nhật trả đủa bằng cách ngưng tất cả tiền cho vay ODA và đòi lại 30 triệu tiền viện trợ, điều hiếm có trong lịch sử bang giao quốc tế. Trước áp lực của các quốc gia viện trợ cho VN và Mỹ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đành phải miễn cưởng đưa Sỹ ra tòa với án chung than khổ sai, sau giảm xuống 20 năm tù. Thì ra Sỹ chỉ là vật tế thần của một tập đoàn tham nhũng, mà những án vụ tham nhũng như thế chỉ là hãn hữu trong số ngàn ngàn vụ tham nhũng chẳng bao giờ bị phanh phui bởi được bao che từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và 700 cơ quan truyền thông trong nước chỉ là bầy két lập lại luận điệu của nhà cầm quyền. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có một vài ngoại lệ khi báo chí đăng tin tham nhũng liên quan đến 4C, hoặc vì nhà báo có lương tâm, hoặc vì thanh toán nội bộ bởi chia phần không sòng phẳng. Thí dụ như trường hợp khi báo chí đăng tin tiền in của công ty TechBank của Lê Đức Minh là con của nguyên thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy không có phẩm chất thì hai tờ báo Thời Đại và Công Lý bị đình bản, và 6 tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, An Ninh Thủ Đô, Công Luận…bị cảnh cáo.

Về chuyện nhà báo bị khủng bố vì dám đá động đến việc tham nhũng của các 4C, tưởng cũng nên nhắc lại một vụ tham nhũng lớn bị phanh phui cách đây 5 năm, nhưng vụ án đã bị ém nhẹm vì liên quan đến các thủ phạm ở chóp bu, nhưng hai phó tổng biên tập của báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt giam và 5 phóng viên bị thu hồi thẻ hành nghề vì tội phá hoại an ninh quốc gia. Vụ tham nhũng bị vở lở khi công an bắt được 2 cầu thủ cá độ ngày 13/12/2005 và cuộc điều tra cho biết Bùi Tiến Dũng, Tổng Giám Đốc Đơn vị Quản Lý các dự án PMU-18 đã chi tiêu 2.6 triệu trong trò chơi cờ bạc nầy. PMU-18 (Project Management Unit) trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) là cơ quan phụ trách thực hiện xây cất các dự án cầu đường với số vốn 20 tỷ gồm ngân sách quốc gia và quỹ tài trợ ODA của Nhật, Tây Âu và Ngân hàng Quốc Tế (World Bank). Bùi Tiến Dũng là con trai của Bùi Thiện Ngộ, Bộ trưởng Bộ Công An, cấu kết với Nguyễn Việt Tiến (Thứ trưởng Bộ GTVT), Phạm Tiến Dũng (Trưởng phòng tài chánh), rể của Nguyễn Việt Tiến cùng với Phạm Hoàng Hải, rể của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Việt Bắc, rể của Đào Đình Binh (Bộ trưởng Bộ GTVT) cùng với nhiều bạn bè hàng họ lập ra hàng chục công ty để trúng thầu dù các công ty nầy không khả năng và không vốn. Tài sản tham nhũng của Nguyễn Việt Tiến, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Việt Bắc, mỗi người trên trăm triệu MK. Báo Thanh Niên tiết lộ là có ít nhất 40 quan chức cao cấp liên quan đến vụ tham những khổng lồ nầy. Bị gọi ra thẩm vấn trước tòa án, Bộ trưởng Đặng Đình Binh tuyên bố «Tôi thuộc diện Trung ương quản lý» có nghĩa là chỉ trả lời với trung ương đảng mà thôi. Ngoài ra, 2 đảng viên cao cấp là tướng Cao ngọc Oánh, Cục trưởng Cục điều tra C15, Phạm Xuân Quấc, Cục trưởng Cục điều tra C14 cũng bị dính líu, nhưng được miễn truy tố, rốt cuộc chỉ có Bùi Tiến Dũng và các « tép riu» bị lãnh án.

Một vụ tham nhũng khác gần đây còn to tát hơn là vụ Vinashin liên quan đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm thất thoát 5 tỷ mỹ kim, nhưng rút kinh nghiệm đau thương vụ PMU-18, không một tờ báo nào dám hé môi. Trên thế giới, có quốc gia nào tham nhũng và ngang ngược như Việt Nam cộng sản hay không ?

Ngoài việc cấu kết quyền lực bằng kết thông gia, các cán bộ cộng sản các cấp đều kết nạp đàn em hàng họ làm vây cánh để chia chác lợi nhuận tham nhũng và bao che lẫn nhau. Điển hình như khi Nguyễn Tấn Dũng về trung ương thì kéo theo Lê Hồng Anh vào bộ Công An, Huỳnh Vĩnh Ái vào chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Thể Thao quốc gia (như Thứ trưởng), Trần Chí Liêm, Thứ trưởng Bộ Y Tế. Đọc lý lịch các cán bộ trong các cơ quan nhà nước và công ty quốc doanh, từ trung ương đến làng xã đều thấy bóng dáng của nguời chỉ huy. Một người bạn của người viết khi về thăm quê hương ở một quận lỵ thuộc tỉnh Long An gặp rất nhiều nhân viên trong quận, thậm chí đến người phu quét chợ, nói tiếng giọng «trọ trẹ» như ông huyện ủy. Trong khi đó, đồng chí Giải phóng miền Nam thì phải trở về cái chòi lá xiêu vẹo bên bờ kinh để chờ chết trong nghèo đói, và bà mẹ chiến sĩ răng rụng quần áo tả tơi đứng trước cơ quan xỉa xói «phải chi hồi đó tao kêu lính Quốc Gia bắt nhốt hết cái bọn khốn nạn nầy !».

Cái «bọn khốn nạn» nầy đã dùng mọi mưu chước xão quyệt để cai trị với chánh sách bạo ngược miền Bắc trong 66 năm và cả nước trong 36 năm qua và hôm nay run sợ phủ phục trước bọn đàn anh láng giềng để «dựa hơi» tiếp tục kềm kẹp 90 triệu dân Việt Nam hầu tiếp tục vơ vét bóc lột mà viễn ảnh cuộc cách mạng mùa xuân Á Rập làm chúng vừa hoảng hốt, vừa càng hung hản hơn.

  • Thay lời kết

Khi Việt Nam bắt đầu mở cửa với chánh sách gọi là «đổi mới» vào cuối thập niên 80, khi sinh viên Việt Nam lũ lượt ra nước ngoài du học hay tu nghiệp, nhiều người Việt Nam trong nước và nhất là ở hải ngoại hi vọng nước Việt Nam sẽ lần lần thoát khỏi được chế độ độc tài, nghèo đói và chậm tiến. Họ hi vọng với sự tiếp cận tinh thần tự do và kỹ thuật Tây phương, đất nước Việt Nam sẽ được khai phóng hơn. Nhưng đó chỉ là ảo vọng. Trong 20 năm qua, hàng ngàn sinh viên Việt Nam du học và tu nghiệp ở các nước dân chủ và kỹ nghệ đã trở về nước, chẳng những không giúp gì cho đất nước khả quan hơn mà còn đồng lỏa với những người lãnh đạo bất tài, vô lương để gia tăng thêm guồng máy tham nhũng, đưa đất nước mỗi ngày mỗi tồi tệ hơn. Hãy nhìn vài ủy viên trung ương đảng như Nguyễn Thiện Nhân, Cao Đức Phát, Lê Mạnh Hà, Lê Đức Thúy, Nguyễn Thị Đoan, Phạm Bình Minh, Nguyễn Thanh Nghị …và biết bao Bộ trưởng, Tổng giám đốc, Giám đốc cơ quan là những sinh viên tốt nghiệp từ Mỹ, Canada, Úc, Anh, Đức, Pháp, họ chỉ lợi dụng cái nhãn hiệu du học ngoại quốc để vinh thân phì gia, làm tay sai hay tác nhân trong hàng ngũ quỷ đỏ. Họ chỉ là những cái lọ bằng đất sét được tráng men và một đất nước bị cai trị bằng những cái đầu nhồi nhét đất sét thì làm sao khá lên được.

Khi cuộc «cách mạng mùa xuân» lần lượt bùng nổ tại các quốc gia Á Rập, nhiều người Việt Nam ở hải ngoại và một ít người Việt Nam trong nước hớn hở. Họ hớn hở bởi họ hi vọng khi thấy những chế độ độc tài đã thống trị ngót mấy mươi năm tại những vùng đất mà không ai nghĩ dân chúng có thể nổi dậy thì bỗng chốc lại bốc lên khói lửa, dân chúng đồng loạt xuống đường để lật đổ chế độ độc tài, thanh toán bè lũ ác ôn. Người Việt hải ngoại hi vọng những biến cố nầy sẽ lan tràn đến Việt Nam. Nhưng hi vọng ấy chóng đi qua để trở về với nỗi thất vọng bởi lẽ Việt Nam hôm nay chưa hội tụ đủ những yếu tố của một cuộc «cách mạng mùa xuân Á Rập ».

Trước tiên phải kể đến chế độ kiểm soát, kềm kẹp người dân VN quá tinh vi và nghiệt ngã. Tuy những thống kê của nhà nước mang bản chất phô trương, khoác lác, với con số 3 triệu đảng viên, 2 triệu cảnh sát công an và nửa triệu quân nhân, tuy vẫn biết có nhiều đảng viên bất mãn vì bị lừa dối hay bị bạc đãi, và không phải cảnh sát công an nào cũng có được chức vụ để có thể tham nhũng trong một xã hội có nền văn hóa phong bì, nhưng phải hiểu là thành phần trung kiên, cúc cung tận tụy cho chế độ, chiến đấu cho chế độ đến giọt máu cuối cùng để cùng chia sẻ và bảo vệ quyền lợi cũng rất đông đảo. Bị nhuộm đỏ khối óc và đánh mất lương tri, nhóm đảng viên lớn nhỏ nầy đang chia chác các đặc quyền đặc lợi trong một hệ thống quyền lực mafia, dùng mọi biện pháp sắt máu để cai trị và bóc lột người dân còn thậm tệ hơn thời Pháp thuộc.

Trong lịch sử, cuộc cách mạng nào cũng bắt đầu bằng sự nổi dậy của khối người bị áp bức. Nhưng muốn cảm nhận được sự áp bức, người dân cần được thông tin những quyền lợi căn bản của con người, những cảnh sống tự do, no ấm để từ đó cảm nhận thân phận mà đòi hỏi. Dưới chế độ độc tài, công an trị của cộng sản Việt Nam, mọi thông tin từ bên ngoài, bên trong có mảy may bất lợi cho chế độ đều bị kiểm duyệt và ngăn chận, mọi hành động đối kháng đều bị tiêu diệt từ trong trứng nước. Người dân chỉ được quyền nghe biết những gì chánh phủ nói. Từ khi có truyền thông qua trang mạng, thông tin tuy có lưu hành nhiều hơn, nhưng luôn bị bức tường lửa ngăn chận. Internet vẫn còn là phương tiện truyền thông của lớp thị dân trung lưu hay giàu có, vốn là thành phần bằng lòng với cuộc sống, với chế độ, trong khi 80% dân số là những nông dân, thợ thuyền nghèo khổ, ít học, phải vật vã với bữa no bữa đói thì thời giờ tim óc đâu mà nghe tin tức, mà nghĩ đến đấu tranh trong cảnh giành giựt giữa những người đồng cảnh ngộ và trạng thái kềm kẹp thường xuyên của hệ thống cán bộ, công an .

Ngoài chuyện thông tin từ thế giới bên ngoài và trong nước bị bưng bít, bị kiểm duyệt, cơ cấu dân số VN hiện nay còn là một yếu tố giải thích phần nào lý do cuộc «cách mạng mùa xuân» chưa đến VN. Nếu tính với người dân VN sinh ra sau 1975 thì thành phần nầy nay đã 35 tuổi và nếu phải kể thêm những đứa trẻ khoảng 5 tuổi vào năm 1975 thì đến nay họ cũng đã đến tuổi 40. Đó là thế hệ người Việt chẳng biết gì về chiến tranh Việt Nam, chẳng có ý niệm gì về chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2008, số người VN đưới 40 tuổi chiếm đến 66% dân số. Ngoài ra, lớp trẻ sinh ra sau 1986 là năm cộng sản bắt đầu chánh sách đổi mới kinh tế thì đến nay lớp người nầy đã hơn 20 tuổi. Như vậy, trên đất nước VN hiện nay có hơn phân nửa dân số chưa biết thế nào là kinh tế «xếp hàng cả ngày» và chế độ «Mỹ Ngụy» để họ có thể xác định một lập trường chính trị rõ rệt chống Cộng hay theo Cộng. Dĩ nhiên, sanh ra và lớn lên trong nền giáo dục bác đảng và văn hóa phong bì, đa số người Việt Nam trong nước hiện nay không có chọn lựa nào khác là phải sống theo những bản chất của người cộng sản. Tuy nhiên, đó cũng là một sức mạnh vô song để hi vọng lật đổ chế độ bạo tàn cộng sản nếu khát vọng tìm tự do và no ấm được huy động.

Khi 36 người tự xưng là trí thức gởi thư ngỏ cho chánh phủ bạo quyền, nhiều chống đối và mỉa mai vì «quá khứ» của người chủ xướng và cung cách, ngôn từ sử dụng trong thư ngỏ đã khiến một số người có thành tín, ưu tư với đất nước đồng ký tên bị vạ lây. Phải hiểu rằng những người bỏ xứ ra đi là những người không chấp nhận sống với chế độ Cộng Sản và sự trở về, thỏa hiệp với chế độ là hành động thiếu lương tri. Vã chăng, với 66 năm cầm quyền bằng phản bội, dối trá và bạo lực của chế độ cộng sản đã quá đủ để cho người có chút suy nghĩ hiểu rằng thỏa hiệp với cộng sản đồng nghĩa với khuất phục hay đầu hàng. Với cộng sản, biên giới bạn và thù họ đã vạch rõ. Trừ một thiểu số người, chỉ vì ham danh ham lợi, ngụy trang dưới lớp son phấn thương nước thương dân, đã ra đi trong nhục nhã năm xưa rồi hôm nay quay về hợp tác với bạo quyền, cộng đồng 3 triệu người Việt tỵ nạn trên thế giới tự do trong 36 năm qua, mỗi người, mỗi cách đã kiên quyết chống chế độ cộng sản. Những cuộc biểu tình, tuyên ngôn, bài viết, bài nói chuyện của cộng đồng người Việt tỵ nạn qua các phương tiện truyền thông phổ biến khắp năm châu là một sức mạnh mà cộng sản khiếp sợ bởi lẽ đó là tiếng nói của người Việt tự do nói cho Thế giới tự do biết được những xấu xa của chế độ cộng sản Việt Nam, và do đó chánh quyền cộng sản tìm mọi cách ngăn chận tiếng nói nầy vang dội trong nước làm thức tỉnh 90 triệu người dân đang bị họ bịt mắt bịt tai.

Hàng năm, vào dịp Tết, dịp hè, hàng triệu người Việt, trước đây đã bị bạo quyền đày ải trong các trại tù, trại cải tạo, hay nín thở trong các đám lau sậy chờ giờ lên ghe, đi tìm cái sống trong cái chết, thì nay họ đã sớm quên những ngày ngục tù, nhục nhã khi xưa, nhởn nhơ trở về du hí trên cái đất nước mà đồng bào họ không có cơ may vượt thoát được. Sự có mặt của những du khách Việt kiều nầy cũng là một nguyên nhân khiến cho «cuộc cách mạng mùa xuân» chậm đến. Họ hằn sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo và niềm cay đắng giữa những người đồng cảnh ngộ khi xưa, và dưới mắt của người bất hạnh, có gì khác biệt trong sự phản bội giữa người bạn cũ và người thù mới. Người bạn cũ phải ngoảnh mặt để khỏi bị tủi nhục mà kẻ thù mới còn khinh rẻ họ nhiều. Tuy nhiên, không phải ai trở về cũng là những du khách bị «mất trí». Có những người, phải nói là hiếm hoi, trở về quê để xây lại mồ mả tổ tiên đã bị cộng sản đào xới vì hận thù, vì chiếm đất, hay mang về những món quà mà họ đã chắt chiu dành dụm trong những ngày lao tâm lao lực ở xứ người để tiếp sức cầm hơi cho thân nhân đói khổ, thông tin cho người bị bịt tai biết được những quyền tự do, bình đẳng ở thế giới bên ngoài để như vết dầu thắp sáng ngọn nến cách mạng. Nếu cứ mỗi năm, hai triệu du khách Việt kiều trên các nẽo đường du hí, thay vì nhi nhô tiếng Tây tiếng Mỹ, khoe khoang nhà cao cửa rộng, thực hay láo, làm cho đồng bào nghèo khổ càng thêm bi phẩn, thì hãy mang về cho đồng bào những bản tin, những tấm ảnh, đại loại như cha Lý bị bịt miệng trước tòa án, công an đánh đập giáo dân Thái Hà, công ty Vinashin bị tập đoàn lãnh đạo tham nhũng hàng tỷ mỹ kim, để cho người dân biết được sự thật bị bít kín, khơi động mối hận thù cộng sản, thì cuộc cách mạng mùa xuân Việt Nam có cơ may sẽ đến nhanh hơn.

Nghĩ cho cùng, lịch sử chỉ là sự lập lại những biến cố giống nhau trong những thời điểm và địa điểm khác nhau. Mọi chế độ độc tài rồi cũng bị tiêu diệt. Hình ảnh cha con Kadhafi phơi thây sình thúi trong cái nhà kho, Moubarak nằm im bất động trên cái «băng ca» trước tòa án, phải chăng đó cũng là hình ảnh ngày n của những bạo chúa cộng sản Việt Nam một ngày nào, xa hay gần.//

A-giaiphongdantoc (2)
.

Mafia bây giờ có khác bọn cướp cầm quyền (?)

KHI NHỮNG KẺ CẮP CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC

-Lão Móc -    Mafia VC

“Đảng ta là đảng ‘thần tiên’
“‘Đa… lô’ thì được, đa nguyên thì đừng!”

Câu thơ theo trường phái Bút Tre  diễn tả y chang cái tình cảnh của Đảng CSVN hiện nay trước đòi hỏi tự do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng của toàn dân.

Câu trả lời dứt khoát của những lãnh đạo đảng CSVN là: Không! Không bao giờ có đa nguyên, đa đảng gì sốt cả!   

Trần Văn Giàu, lý thuyết gia Mác-xít thời Hồ Chí Minh, đã nói lên điều này trong cuộc hội thảo “Về công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em và ở Việt Nam” vào ngày 7 tháng 1 năm 1990, tại nhà văn hóa Lao Động thành Hồ, nhân dịp phong trào đòi Tự Do Dân Chủ ở Ba Lan, Tiệp Khắc bùng nổ; và người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại đò đa nguyên, đa đảng. Trần Văn Giàu nói như sau:
“Chúng ta tự giải phóng chúng ta, Đảng ta lãnh đạo không có ai chối cãi, mà cái thời đại đó cũng không ai tranh giành từ 1930 đến 1945, cho đến năm 1975, không ai đứng ra tranh giành, không có ai tuyên truyền cho đa đảng để mà chống Pháp, chống Mỹ cả, bởi vì chống Pháp, chống Mỹ là chết, có gan chịu chết mới tìm ra sự sống, mà trong sự chết đó, chỉ có một mình anh Cộng Sản là có gan, và có tài đứng ra tổ chức cách mạng bằng kháng chiến mà thôi… Bây giờ Âu Châu rục rịch, Pháp Mỹ tuyên truyền to, họ đăt vấn đề đa đảng nghĩa là họ muốn giành cái gì đó, mà giành cái quyền hồi trước 75, trước 45 nghĩa là giành cái quyền chế cho dân tộc! Còn bây giờ là giành cái quyền… hưởng lợi trong hòa bình, trong sự xây dựng, họ không thành công đâu. Tuy vậy, tuy rằng ở Việt Nam sẽ không có cái chuyện như Thiên An Môn đâu, không có đâu, sẽ không có một trăm máy ưoi đảng như Hungary đâu, sẽ chỉ có mình đảng Cộng Sản mà thôi, nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam biết cái tình hình, biết cái khó khăn, sửa đổi, đổi mới, phải đổi mới…”
Đó, mọi sự đã rõ như ban ngày: Đòi đa nguyên, đa đảng là “giành cái quyền hưởng lơi trong hòa bình”.

Thì ra sự cai trị độc đảng như hiện nay là vì cái ăn, cái lợi. Những người chủ trương hoà giải , hoà hợp nên đọc kỹ đoạn này. Chính những người Cộng Sản khi chiến tranh còn là đồng chí với nhau, nay hòa bình họ ngồi lại với nhau để hưởng lợi. Khi chia lợi không đồng đều, họ còn chắng tiếc tay hạ sát nhau. Huống chi là quý vị chưa nếm mùi nguy hiểm như họ, nay tiệc dọn ra, muốn đập đuôi nhảy vào… chia bớt phần của họ, nếu quý vị bị họ “thịt” ra để khẩu phần của họ không giảm sút thì việc ấy xét ra cũng chẳng có gì bất công cho lắm đâu. Bởi vì, chẳng những họ phải bảo vệ món ăn của người Cộng Sản không nhỏ bớt, và họ còn dùng “thịt” của quý vị để là khẩu phần họ to lên. Rốt cuộc, “thịt” mà quý vị muốn hiến dâng cho dân tộc, chỉ rơi vào thứ miệng hùm mà quý vị tưởng là đang ngủ, thấy nó đẹp và hiền như loại mèo nhà, nên âu yếm vuốt râu, dẫn chúng cùng đi, mong làm vui mắt thiên hạ; không dè, đó chỉ là con hù vờ ngủ… có tim!
(Trích “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ, trang 266).

*

Thực ra không cần phải nhân dân đòi hỏi phải đa nguyên, đa đảng mà chính là đảng CSVN đã cho “ra đời” và đã “xoá sổ” hai đảng Xã Hội (do Nghiêm Xuân Yêm làm Chủ tịch) và đảng Dân Chủ (do Nguyễn Xiển làm Chủ tịch, Hoàng Minh Chính làm Tổng Thư ký) sau khi xét thấy bất lợi cho đảng.

Xin mời độc giả nghe Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường giả thích về chuyện ra đời và dẹp bỏ 2 đảng này như sau:
“… Như đồng chí đã biết, Đảng ta đã lập ra đảng Xã Hội và đảng Dân Chủ. Đảng Xã Hội dành cho bọn trí thức và đảng Dân Chủ dành cho bọn tư sản. Đồng chí cũng biết rằng Đảng không làm điều gì mà không cân nhắc kỹ. Những người mác-xít cố chấp có thể trách ta đã xây dựng những đảng phái sai trật hẳn với quan niệm mác-xít của một đảng chính trị.
 
Rằng hai đảng này không đáp ứng đúng đòi hỏi mác-xít, chúng ta xin lỗi, nhưng ta có cái lý của ta. Trước Cách mạng, trường Pháp đào tạo ra nhiều thế hệ trí thức đã theo ta trong kháng chiến. Nhưng trong 10 năm kháng chiến, trường Pháp còn đào tạo thêm những thế hệ trí thức khác. Khi trở về Hà Nội, một số đã bỏ ta, đi làm, đi học ở nước ngoài. Đối với những kẻ ở lại, ta không thể bỏ rơi họ. Trước hết, vì lợi ích của chính họ, giúp họ theo kịp những tiến bộ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của ta. Sau nữa, khi trở về Hà Nội sau mười năm kháng chiến, ta vấp phải một tầng lớp dân chúng quá quen nghe nói đến tự do và nhân quyền; vì không muốn lộ bộ mặt chậm tiến, nên ta phải nói cùng thứ ngôn ngữ với bọn thực dân Pháp cũ. Ta phải giả đò tôn trọng quyền của người dân được xây dựng những đảng phái chính trị để bảo vệ quyền lợi của họ. Sau cùng, về mặt đối ngoại, chúng ta phải bảo đảm với dư luận thế giới, về những tự do chính trị mà chúng ta sẽ cho dân hưởng sau khi người Pháp đi khỏi. Nhưng dĩ nhiên là dưới cái bề mặt phỉnh gạt ấy, chúng ta không thể mất cảnh giác, mà phải tiếp tục điều khiển hai cái đảng mà chúng ta gọi là “anh em” từ lúc chúng ta mới dựng chúng nên và trong suốt thời gian chúng còn hoạt động.”…
(Trích “Tiếng vọng trong đêm”, bản dịch của Thụy Khuê).    

Và, như đã biết, đảng CSVN đã khai tử hai đảng Dân Chủ và Xã Hội. Xin mời nghe hai nhân vật trong truyện “Tiếng Vọng Trong Đêm” của Tiến sĩ Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nói về chuyện này:

“-Anh nghĩ sao về việc kết án tử hình hai đảng anh em mà đảng cộng sản là cha đẻ và cha nuôi?

-Thực ra thì tôi thấy không cần phải bóp cổ hai đứa con mà đảng cộng sản đã cho ra đời. Đó là những hài nhi ngoan ngoãn khó bì, giữ trò con rối tuyệt vời.
Những máy người này được vo dầu mỡ tốt đến độ chúng chạy hay như những người máy. Đó là những máy hát thời xưa chỉ biết đọc những đĩa cũ.

Mặc dù hai đảng anh em biểu thị rõ đặc điểm câm và ỳ, nhưng chúng vẫn là những đảng chính trị có thể làm lợi cho phong trào đa nguyên đa đảng. Vì vậy đảng Cộng Sản thấy cần phải khẳng định sự độc quyền lãnh đạo.

-Đi từ thực tế Việt Nam, chúng ta thử trình bầy sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản:

Một cái đảng giữ độc quyền lãnh đạo khai trừ tất cả những đảng khác, là hình ảnh một kỵ sĩ phi ngựa một mình. Quyền lực của nó là tuyệt đối, nó không lệ thuộc vào bất kỳ điều kiện nào. Nó không cần ai làm cố vấn, không cần hỏi ý kiến người khác. Không thể làm gì nếu không có lệnh của nó và tất cả mọi lệnh mà nó ban ra phải được thi hành. Nó không chịu bất cứ sự kiểm soát nào. Nó cho phép, thậm chí khuyến khích tung hô những cái hay mà nó làm, nhưng cấm phán đoán và phê bình những cái dở do nó gây ra. Luật pháp diễn tả ý nguyên của dân, nhưng cái đảng này nó ở trên luật pháp và ở trên dân. Không một thẩm quyền nào có thể xử án cái đảng, bởi vì nó không thể tạo ra một tòa án để xử chính nó. Nó có thể ra lệnh cho thuộc dân của nó phải tự kiểm thảo, nhưng bản thân nó không làm. Không có con đường kháng cáo nào chống lại một trong những quyết định bị dân kêu ca của nó. Chỉ có nước chờ sự phán xét của Thuợng Đế! Nhưng cái đảng còn ở trên Thượng Đế!

BuaLiem-1

Khuyết tật cơ bản của chế độ này là kẻ cầm quyền, khi cần quyết định, không thể lựa trong một số biện pháp khác nhau đã được tuyển chọn, mà hắn chỉ có một biện pháp duy nhất là của chính hắn, mà chưa chắc đã hay.

Người ta có thể phản bác rằng Lãnh tụ thế nào cũng chả hỏi ý kiến những nhân vật trong Bộ Chính trị, trong Ban Bí Thư, trong Ủy Ban Trung Ương Đảng. Nhưng đừng nên quên rằng, trong Đảng bao trùm một không khí kỷ luật sắt và sự lo sợ bị trừng phạt và tham vọng được thăng quan tiến chức và được hưởng đủ loại ân huệ bổng lộc, từ nhà ở, lương bổng, đến những công vụ béo bở ở nước ngoài, rồi những lợi lộc mà con cái được hưởng, và sự sợ hãi cũng như tham vọng làm tê liệt cái lưỡi của hơn một người cộng sản và giải thích tại sao tất cả các thuộc hạ khi được Lãnh Tụ hỏi ý kiến luôn luôn nghiêng mình với nụ cười và tuyên bố kinh ngạc trước trước thiên tài và sự thông bác của LãnhTụ!
 
Người dân cũng vậy, không thể nào khác, một khi có vinh hạnh được Đảng hỏi đến! 
 
Lãnh Tụ có thể than thở như Moise: “Tôi đầy quyền lực nhưng cô đơn”, nhưng hắn không thể chờ đợi một sự cứu trợ nào của Thượng đế bởi vì chính hắn là Thượng đế trong xứ sở của hắn. Hắn bị cấm cố chung thân trong cô đơn!”

Và nhân vật tiểu thuyết “Tiếng vọng trong đêm” của Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường nhận xét như sau:

“Hai cuộc Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản dẫn tới sự tịch thu đơn thuần ruộng đất trong tay địa chủ ở thôn quê và nhà cửa trong tay gia chủ ở thị thành. Cuộc cách mạng hoàn tất năm 1945 tự nhận là vô sản. Những người cách mạng vô sản không những thiếu văn hoá trí thức, lại cũng không có động sản và bất động sản nữa, có nghĩa là họ không thể cai trị một xứ sở, điều khiển một dân tộc. Không thể đòi hỏi gì ở những người bụng rỗng, quần áo rách, không có cơm ăn, không có nhà trú qua đêm. Khi người ta thiếu tiền, người ta lấy ở chỗ có. Đó là ăn cắp và trong một xã hội có luật, có cảnh sát, thì sẽ bị bắt, bị tù. Nhưng những người cách mạng vô sản nào có coi luật lệ ra gì: họ chỉ cần tuyên bố trắng rằng sở hữu là ăn cắp! Rằng những người có đất có nhà đồng lõa với phản động, rằng tất cả phải biết câu: lấy của kẻ cắp không phải là ăn cắp! Về phương diện kỹ thuật thì chỉ cần ban sắc lệnh bãi bỏ sở hữu cá nhân. Là xong trò!”

(“Tiếng vọng trong đêm, bản dịch của Thụy Khuê, trang 96-97)

*

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, con trăn miền Bắc đã nuốt trộng con nai miền Nam. Chế độ man rợ đã chiến thắng nền văn minh – nói theo cách nói của nhà văn Dương Thu Hương và miền Bắc đã cai trị miền Nam như một đoàn quân ngoại nhập trong 37 năm qua.

Nói theo cách nói của “người trí thức lầm đường” Nguyễn Mạnh Tường được cất lên từ “tiếng vọng trong đêm”: Chính những người cách mạng vô sản - những kẻ cắp – đã cai trị đất nước VN trong 37 năm qua! 
LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com   

nhà báo Bùi Bảo Trúc – *(13-5-2013)

buibaotruc“Thư Gửi BẠN TA” là một trang nhà gồm các bài viết của nhà báo Bùi Bảo Trúc dành riêng cho các độc giả trên mang lưới toàn cầu, xuất hiện đều đặn trên các báo Việt tại hải ngoại trong nhiều năm qua. Các báo Việt ngữ khác muốn phổ biến xin liên lạc trực tiếp với tác giả qua địa chỉ “tgbt@yahoo.com“.

Ngày 13 tháng 5 năm 2013
Bạn ta,
Nếu còn ở miền đông, tôi nghĩ cuối tuần này tôi sẽ lái xe chạy đến đền kỷ niệm Thomas Jefferson bên bờ sông Potomac thăm ông tổng thống thứ 3 của nước Mỹ và cám ơn ông một cái.
Thomas Jefferson là một người tuyệt vời. Ở tuổi 30, ông viết bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, rồi bản Hiến Pháp Mỹ, những văn kiện đến ngày hôm nay vẫn còn là những bản văn hết sức giá trị. Ngay từ thế kỷ 18, Thomas Jefferson đã tiên liệu được cả những điều phụ nữ của thế kỷ thứ 21 muốn làm và ghi sẵn những điều đó trong Hiến Pháp.
Tuần qua, một số phụ nữ ở Florida đã ra tòa đòi được tự do phục sức như đã được qui định bởi bản Hiến Pháp Mỹ. Các phụ nữ nay đòi tiểu bang Florida thu hồi những bộ luật buộc họ phải che phần trên của cơ thể khi ra đường. Họ nói rõ rằng Hiến Pháp Hoa kỳ đảm bảo quyền cởi trần của phụ nữ ở các nơi công cộng. Hiến Pháp bảo đảm tất cả mọi người sống ở Hoa kỳ đều được luật pháp bảo vệ ngang nhau. Các phụ nữ này muốn nhà cầm quyền tiểu bang và địa phương khẳng định rằng các bộ luật đòi phụ nữ phải che ngực lại khi ra đường là vi hiến. Những luật lệ đó hạn chế và vi phạm quyền tự do hiến định của họ. Các phụ nữ này cho biết khi nộp đơn kiện, họ không đòi được bồi thường tiền bạc, mà chỉ muốn không bị bắt vì họ hành sử quyền của họ được Hiến Pháp qui định.
Ðiều đáng nói ở đây là các phụ nữ nộp đơn kiện không phải là những người làm nghề vũ khỏa thân hay nghệ sĩ trình diễn. Họ là những phụ nữ bình thường, có công ăn việc làm lương hảo hệt như chúng ta.
Các phụ nữ này nói rằng họ rất ghét chữ topless vì chữ này có ngụ ý dục tính ở trong. Họ nghĩ ra một chữ mới: topfree. Chữ topfree chính là điều họ muốn được tự do làm, đó là nếu họ muốn đi bơi, hay tắm nắng hay làm việc trong vườn, leo núi mà không mặc áo, thì đó là quyền tự do của họ.
Tất cả cho biết đã từng bị làm phiền vì không mặc áo khi ra đường. Một trong những nguyên đơn bị giam 16 ngày sau khi bị bắt tại một công viên quốc gia về tội ở trần leo núi cùng với một toán leo núi đàn ông cũng cởi trần.
Một nguyên đơn khác nói với phái viên hệ thống truyền hình tin tức MSNBC rằng, nguyên văn, “tôi không tin rằng vú của tôi có thể làm hại, hay là những thứ vô luân, nguy hiểm, dâm đãng hay làm cho người khác phải khiếp sợ” (I don’t believe that my breasts are harmful, immoral, dangerous, lewd or frightening).
Phải công nhận rằng họ nói đúng.
Hãy hỏi người dân Mỹ xem có ai bị những cái vú làm cho khiếp sợ không? Hay có ai thấy chúng là những thứ nguy hiểm cho môi sinh, cho kinh tế, cho hòa bình, hạnh phúc không?
Tuyệt đối là không. Vậy thì tại sao những người đàn ông không mặc áo, bầy ra những cái bụng to như những cái tủ lạnh thì được, trong khi luật lại buộc những người phụ nữ không có những nét thô bỉ như vậy phải che lại?
Florida là tiểu bang có một dân số cao niên đáng kể. Hay tại vậy mà tiểu bang này có những luật lệ cấm đoán những thứ tự do như thế?
Nếu thế thì ông Thomas Jefferson lại là người không nhìn xa thấy rộng hay sao?
Hay là đổi lại một vài chi tiết trong bộ luật, thí dụ cấm những người không thách thức được sức hút của trái đất cởi trần ra đường. Muốn cởi trần, phải bất tuân hay thách thức được sức hút của trái đất.
Ðể thiên nhiên quyết định hộ có phải đỡ rắc rối không nào?

Ngày 14 tháng 5 năm 2013
Bạn ta,
Ðàn ông Ý, đúng như một cuộc thăm dò cách đây mấy tháng, không còn là những Romeo đa tình mà người ta vẫn có trong đầu từ bao lâu nay nữa.
Ðó là nhận định của các phụ nữ Ý khi trả lời cuộc thăm dò của tờ Corriera Della Sero hồi tháng 2 năm nay. Theo cuộc thăm dò này, thì đàn ông Ý đã mất chức người tình lãng mạn romantica, không còn xứng đáng là hậu duệ của Romeo hay Cassanova nữa. Chỉ cần động nhẹ một chút, là chạy bay về nhà với mama mia. Hèn không thể tả được.
Ngày nay, chỉ còn các du khách mới đi La Mã để chờ được đàn ông Ý lợi dụng những chỗ đông người cấu đít cho mấy cái để về nước còn vui được vài ba tháng, bõ những ngày cơ cực. Ở Ý, không còn những thứ đàn ông như Vittorio De Sica, Marcello Mastroiani… nữa.
Một câu chuyện mới đây ở Sicily, hòn đảo từng có những người như Don Coleone trong The Godfather, lại càng làm cho hình ảnh đàn ông Ý bi thảm hơn(*).
Tin Reuters cho biết một người đàn ông 27 tuổi, sau khi bị bạn gái nghỉ chơi, đã phải lôi khổ nhục kế ra để tìm cách trở lại với Sorrento (?).
Khổ nhục kế của chàng là nhờ người bắn cho một phát để tạo tình thương nơi người bạn gái, kích động lòng thương cảm và tội nghiệp của nàng, hy vọng nhờ đó, nàng cho chàng trở về.
Nhưng tin Reuters cho biết nàng đã nhất định không chịu.
Có thể không phải vì người phụ nữ Ý này quá cứng rắn, chai đá không biết thương người nữa, mà vì chính người đàn ông và những việc mà chàng làm để tìm cách có nàng trở lại.
Thứ nhất, không bao giờ nên xây dựng tình yêu trên cái nền tội nghiệp. Chàng làm như vậy là sai lầm từ căn bản. Nàng từ chối là đúng.
Gây thương tích cho mình để mong được thương hại là sai bét.
Dở thêm một khúc thứ hai nữa là chàng không dám tự bắn vào mình mà phải nhờ một người bạn lấy súng bắn hộ.
Ðàn ông, đàn ang gì mà sợ đau thì có chán không cơ chứ.
Thứ ba là nơi chàng nhờ bắn lại là nơi không nên nhờ bắn chút nào. Bắn vào tim hay bắn vào đầu thì cũng còn tạm được, may ra được thương hại cho về.
Chàng không bắn mấy chỗ đó, chắc sợ không đau, cũng từ chết đến trọng thương, nên chàng nhờ người bạn hạ thấp mũi súng xuống dưới thắt lưng. Súng nổ cái đùng. Chàng ôm biểu tượng của phong trào phản chiến chạy vào nhà thương nhờ khâu vá lại, mong được về nguyên quán. Nàng càng không chịu.
Nàng không ngó lại cũng lại rất đúng.
Mang cái xe máy đã cháy hết về nhà mà làm gì? Dở ơi là dở.
Bắn… chín nơi cũng chừa một nơi để mà sống và cho nàng sống với chứ! Bắn rồi còn đòi về làm gì nữa?
(*) Man arranges shooting to woo woman / Reuters

Ngày 15 tháng 5 năm 2013
Bạn ta,
Tổng thống Ðức, trong một cuộc tiếp xúc với Hội Nhà Báo Ngoại Quốc, đã lên tiếng than phiền là các đồng bào của ông mặt mũi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn nhăn, nhó nhó như người Mỹ (?) vẫn ví von: “like a monkey eating ginger roots.” (*)
Ông nói thêm rằng người Ðức ra đường, nếu chỉ nhìn mặt, ai cũng phải nghĩ là cả nước Ðức đang đau dạ dầy vì ruột nhiều cường toan quá (Germans walk around looking as if they have too much gastric acid).
Ông nhận thấy người Ðức lúc nào cũng bi quan, lúc nào cũng phóng đại những bất hạnh của nước Ðức mặc dù quốc gia của họ có một nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới.
Ông không nên nói như thế.
Thử tưởng tượng người dân nghe những lời khuyên của ông và làm ngược lại những điều họ đang làm bây giờ thì tình hình sẽ như thế nào?
Chúng tôi đã có kinh nghiệm xương máu như thế rồi. Ở Việt Nam cách đây mấy chục năm, cụ Nguyễn Văn Vĩnh một hôm ra đường thấy đồng bào của cụ vui vẻ, tươi tắn với nụ cười trên môi mà cụ nhìn quanh không thấy có bất cứ một lý do nào để khuôn mặt rạng rỡ như thế, lại cũng không có một tin vui, tin mừng nào để biện minh cho những tiếng cười, cụ bèn về nhà, viết một bài đăng trên tờ Ðông Dương Tạp Chí nhan đề là Gì Cũng Cười, trách cứ người An Nam ta chuyện quái gì cũng cười, hay dở đều cười hết, cứ hì một tiếng là hết nghiêm túc…
Ðồng bào của cụ đọc xong ghim vào bụng, bảo nhau nhất định không thèm cười nữa. Chỉ nghiêm và buồn thôi. Vui cách mấy cũng nhất định không “ngạo với nhân gian một tiếng cười”.
Từ đó đến nay, đã bẩy tám chục năm, hễ cứ định cười một cái, người Việt lại nhớ đến những điều làm phiền cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và nhiều người lại nghiêm mặt lại, không cười nữa mặc dù quạu mệt hơn tươi cười nhiều. Quạu phải huy động nhiều bắp thịt hơn là cười, nhưng vì có lời của cụ Vĩnh, chúng ta không cười nữa.
Trong tiệm ăn, nơi đáng lẽ phải vui, chúng tôi cũng quạu. Ra đường, lái xe đi chơi, lại đi cái Lếch Xịt láng ơi là láng, chúng tôi cũng quạu. Thấy ai ngó cái xe đẹp của mình, là chúng tôi tưởng người ta tán mình đến nơi, chúng tôi liền quạu đeo lại cho nó hết hồn chơi. Ði trong mấy cái mall, chúng tôi thủ sẵn vài củ gừng, thỉnh thoảng lôi ra ăn nửa củ cho mặt mũi không muốn quạu cũng phải quạu cho bõ ghét.
Quạu đã đời đến một bữa ngó mình trong gương mới giật mình thấy sáng sớm đã được mời ăn bánh bao chiều lại đắp thêm cái mền rách, bèn chạy đôn chạy đáo đi kiếm mấy “ma đam” nhờ mượn cái bàn ủi vặn tuốt lên mức LINEN để lấy đi cảnh người cầy có ruộng vừa mới “tháng tư cầy vỡ ruộng ra”.
Ðó, chỉ một bài báo của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều người chúng tôi biến thành Tí Quạu hết. Bây giờ cũng vẫn còn nghiêm và buồn.
Còn nước Ðức, ông nói thế, lỡ dân của ông bỏ trò nghiêm và buồn, quay sang làm phiền vong linh cụ Vĩnh của chúng tôi thì nước các ông sẽ ra sao?
Thà cứ làm “týp si tư “ coi lại được hơn. Không tin qua đây tôi chỉ cho mà coi.
Như người phụ nữ trẻ lái cái Lếch Xịt suýt cán vào chân người đàn ông Á châu cao niên bữa nọ, chỉ quay ra bĩu môi khinh bỉ, lại còn xì một tiếng nữa cho vui đời di tản của người đàn ông mới là vui chứ!
(*) Germans Are Too Grumpy / Reuters

Ngày 16 tháng 5 năm 2013
Bạn ta,
Hai tuần trước, Hoa kỳ lên tiếng bầy tỏ lo ngại là Trung quốc đang tiến vào thị trường quần áo lót của Hoa kỳ và những người thợ may được trả lương rất thấp trong một xưởng may cách Thượng Hải không xa lắm có thể lấy đi những công việc của người Mỹ.
Nước Mỹ có lý do để lo ngại. Áo lót thì người Hoa may rất giỏi. Trương Tịch đời Ðường cũng có nhắc chi tiết này trong bài Tiết Phụ Ngâm của ông. Bài thơ đại khái kể là chàng biết nàng có chồng vậy mà vẫn còn yêu mà tặng nàng hai viên ngọc sáng (quân tri thiếp hữu phu / tặng thiếp song minh châu). Nàng cảm động về tình ý của chàng (cảm quân triền miên ý) nên đeo quà chàng tặng trong áo lót mình mầu sen…
Ðeo trong áo lót mầu hồng (hệ tại hồng la nhu) may rất khéo nên chồng cầm kích gác trong Quang Minh Ðiện cũng không biết trong áo lót của vợ có hai viên ngọc của trai cho (ngọc trai?). Mãi sau lương tâm cắn lung tung, nàng mới tháo ngọc (trai) đem trả chàng. Trả mà lệ chứa chan (hoàn quân minh châu song lệ thùy) tiếc quá là tiếc ngày xưa sao không gặp nhau sớm …
Áo lót đời Ðường còn may giỏi như thế nữa là ngày nay. Hoa kỳ lo là phải.
Nhưng ông quản lý xưởng may Tân Hoa đã vội vã đứng ra bênh xưởng của ông liền. Ông nói với tuần báo Time một câu nguyên văn bằng tiếng Anh mà tờ Time số mới nhất in lại nguyên văn như thế này: “For little things like bras, nobody can compete with China.”
Ông nói bằng tiếng Anh với ký giả của tờ Time nên không thể nói là có thất thoát khi được dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Anh. Câu ông nói có thể hiểu là với những thứ nhỏ như những cái nịt vú, thì không ai có thể cạnh tranh với Trung quốc được.
Bênh vực cho công ty thì bênh vực chứ tại sao lại ăn nói hố như thế? Khi không tại sao lại vạch áo cho người xem … lưng (?) vậy?
Khoe to, khoe lớn, khoe giầu, khoe mạnh chứ sao lại khoe … nhỏ?
Khoe nhỏ đã là thất sách rồi, lại còn nói rõ rằng không ai có thể cạnh tranh lại được với Trung quốc. Tức là những cái nịt vú của Trung quốc là những cái nhỏ nhất. Không ai có thể nhỏ hơn được.
Có phải khi nói thế, là ông muốn độc chiếm thị trường chuyên bán những cái nịt vú nhỏ không?
Nếu như thế thật thì làm sao nước Mỹ cạnh tranh lại được với Hoa lục về cỡ nhỏ của những cái nịt vú.
Và như vậy thì từ những năm Gia Tĩnh triều Minh, phụ nữ Trung quốc vẫn giậm chân tại chỗ ư?
Này nhé, vẻ đẹp của các nàng vẫn hệt như trong những câu thơ cổ, hết “mai cốt cách,” lại “ tuyết tinh thần” mà cụ Nguyễn của chúng ta lôi ra diễn lại.
Mai cốt cách là cốt cách thanh thanh như cành mai, mà cành mai thì gầy guộc, xương xẩu thì lấy đâu mà đeo những cái … lớn?
Mà không chỉ ở Thúy Vân và Thúy Kiều, ở những chỗ khác, phụ nữ Trung quốc cũng toàn những vóc hạc, mình mai hay vóc liễu, mình mai thì làm sao thợ may của Tân Hoa may được những cái lớn?
Thế nên ông quản lý bênh tiệm nhà mà lại hóa ra làm hại tiệm nhà. Ông nói không ai cạnh tranh được những cái nịt vú nhỏ do nhà may Tân Hoa may thì người ta còn chiếu cố sản phẩm của tiệm ông làm gì nữa?
Phải hung lên chứ.
Nước Mỹ có lẽ không nên lo lắm. Mấy cái thứ ấy mua về chỉ để giữ cho những quả trứng luộc khỏi nguội khi vớt trong nồi ra để vào những cái egg cups trên bàn ăn sáng chứ làm được quái gì ở cái nước Mỹ bao la rộng lớn này.

Ngày 17 tháng 5 năm 2013
Bạn ta,
Kenya, một quốc gia ở đông Phi châu thuộc khối Liên Hiệp Anh có một đạo luật rất lạ kỳ, theo đó, tự tử là một tội hình sự có thể bị truy tố ra tòa. (*)
Chỉ cần nghĩ một chút, người ta cũng thấy ngay sự vô lý của đạo luật này. Thí dụ nếu người tự tử thành công thì tòa sẽ truy tố ai? Và nếu người tự tử không thành công, nghĩa là người ấy không chết, thì hình phạt sẽ như thế nào? Tử hình chăng?
Chi tiết về thứ luật kỳ lạ này được đọc thấy trong một bản tin của Reuters sáng hôm nay. Bản tin từ Nairobi gửi đi cho biết một người đàn ông 26 tuổi tên là Stephen Ongala ở thị trấn Busia thuộc phía tây Kenya đang bị điều tra xem ông có định tự tử không, nếu có, ông có thể bị truy tố ra tòa.
Không rõ bộ luật này có từ lúc nào, từ khi Kenya còn là thuộc địa của Anh hay sau khi đã được trao trả độc lập. Chính quyền thuộc địa Anh tại sao lại ấm ớ như thế?
Nguyên do là người đàn ông này cãi nhau với vợ, và để trừng phạt vợ, ông lấy dao chặt và quăng đi một trái dịch hoàn. Rồi ông cứ thế, trong khi trên người không một mảnh vải che thân, đi thẳng đến quận cảnh sát để trình báo. Cảnh sát đưa ông vào bệnh viện băng bó và giữ ông lại để điều tra.
Tôi mong cuộc điều tra của cảnh sát sẽ sớm hoàn tất và ông sẽ không bị truy tố về bất cứ một tội gì.
Tội của ông, nếu có, thì cũng không thể là tội tự hủy hoại cơ thể. Tự hủy hoại cơ thể chỉ là tội nếu làm như thế để khỏi phải đi quân dịch trong thời chiến ở một quốc gia Ðông Nam Á, khi bộ phận cơ thể như ngón tay trỏ, ngón chân cái bị chặt đi khiến cho người ta không thể cầm súng tác chiến được, và bị đưa bổ sung cho Sư Ðoàn 9 (ngón), như một đơn vị ở Trung Tâm 3 thời trước.
Trường hợp của ông, mất một phần cơ thể như thế, ông vẫn có thể cầm súng ra trận được, thì không có lý do gì để đưa ông ra tòa. Ông nên được cho về nhà để suy gẫm về việc làm của mình.
Người đàn ông Kenya 26 tuổi này thực ra là một người can đảm, nhưng lại không dứt khoát. Ông muốn trừng phạt người đàn bà đối xử tàn ác với ông thì thiếu gì cách. Tại sao phải hủy hoại một phần thân xác như thế? Không sợ trái lời dậy của Khổng tử sao?
Ông giận vợ. Ông nghĩ phải phạt người phụ nữ ấy bằng cách không cho nàng một đời sống hạnh phúc nữa. Nếu vậy thì sao không cắt cả hai? Tại sao chỉ cắt và quăng đi có một? Cắt bỏ một tức là thiếu dứt khoát. Mà cũng sai lầm nữa. Sai lầm là vì ông nghĩ bỏ đi một nửa nhân lực (?), ông sẽ làm cho phía bên kia đau khổ vì công tác sẽ chỉ hoàn thành có một nửa. Bên kia sẽ đau khổ, héo hắt đi mà thân tàn ma dại, đêm đêm khóc thầm thù đời đen bạc, hận kẻ bạc tình … Trong khi đó, ông nằm bên cạnh sẽ cười thầm trong bóng đêm, sướng khoái vì làm cho người đàn bà trẻ phải đau khổ vì đòn trừng phạt của ông.
Ông đúng là một người thiếu hiểu biết về cơ thể con người.
Muốn thực sự trừng phạt người phụ nữ đối xử tàn tệ với ông, ông phải dứt khoát hẳn. Không thể nửa chừng xuân như vậy được. Phải “cưa đứt, đục khoét”, không thể để cho phía bên kia được hưởng bất cứ một cái gì mới được.
Bởi lẽ nửa cái bánh vẫn hơn là không có một cái bánh nào.
Ngài Trần Thủ Ðộ của nước tôi đã nói nhổ cỏ phải nhổ cả rễ.
Ông quăng đi có một nửa, ông có thể bị lệch (?) người, nhưng việc đó không hề ảnh hưởng bao nhiêu tới khả năng ra trận (?) của ông.
Chỉ khi ông dứt khoát hẳn, thì hai bên mới nhìn nhau mà lệ ứa, một ngày một cách xa… được.
(*) Man chops off testicle after row with wife / Reuters

ANH NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

(Bài số 170)
WHAT A …!
Bản ghi chép do Lãm Thúy thực hiện. Bài học số 170 sẽ được phát trên Hồn Việt Television trong tháng 7 năm 2013.
QUỲNH ANH:
Đây là chương trình Anh Ngữ Trong Đời Sống Hàng Ngày do Bùi Bảo Trúc phụ trách. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh xin kính chào quí vị.
Chương trình Anh Ngữ Trong Đời Sống Hàng Ngày đến với quí vị hàng tuần để ôn lại một số điều liên quan đến Anh ngữ mà quí vị gặp trong đời sống. Quí vị có thắc mắc xin liên lạc với Hồn Việt TV nhờ chuyển lại.
LÃM THÚY
Hôm nay, Thúy nhờ anh nói rõ hơn về mấy cách nói mà Thúy nghe khá nhiều lần, đó là những câu đại khái như câu này: “WHAT A DAY”. Đây có phải là câu hỏi không thưa anh?
BBT
Câu mà Thúy vừa nói không phải là một câu hỏi mặc dù nó cũng bắt đầu bằng chữ “WHAT”. Nếu là câu hỏi, nó phải như thế này: WHAT DAY IS IT? Hay WHAT IS A DAY IN THE DESERT LIKE?
Rõ nhất là nó phải có dấu hỏi ở cuối thì mới là câu nghi vấn. Còn câu mà Thúy thắc mắc, câu WHAT A DAY thì không có cái dấu hỏi đó. Thay vào đó, nó có cái DẤU THAN (!), hay cũng gọi là cái CHẤM THAN (EXCLAMATION MARK) ở cuối. Đây là một câu HÔ THÁN, một mệnh đề dùng để diễn tả một tình cảm mạnh như kinh ngạc, giận dữ, bực bội, vui mừng, thán phục, khinh bỉ … vân vân. Khi nói, người ta không bao giờ nói rõ thành WHAT A DAY EXCLAMATION MARK, cũng như chúng ta không nói WHERE ARE YOU GOING QUESTION MARK bao giờ cả.
Chính cách nói, lên hay xuống giọng, nhấn mạnh vào chữ này hay chữ kia (INTONATION) sẽ cho người nghe biết đó là một câu hô thán, một EXCLAMATION SENTENCE.
Câu Thúy hỏi là hình thức giản dị nhất của loại cấu trúc này: WHAT A DAY! Câu WHAT A DAY! này nghĩa là gì QA biết không?
QA
Thưa anh, QA hiểu câu ấy cũng có nghĩa như khi QA nói bằng tiếng Việt câu UI CHA, THIỆT LÀ MỘT NGÀY!
BBT
Đúng vậy. WHAT A DAY! Có thể là một ngày tốt, và cũng có thể là một ngày xấu, cũng có thể một ngày quá nhiều chuyện, quá nhiều việc, thân thể rã rời, mệt mỏi, một ngày quá lạnh, một ngày quá nóng, một ngày quá dài, một ngày quá vui vẻ… trường hợp nào cũng có thể dùng câu đó.
LÃM THÚY
Nhưng nếu muốn nói rõ đó là một ngày như thế nào thì phải nói sao thưa anh?
BBT
Chúng ta thêm một ADJECTIVE phía trước: GOOD, BAD, LONG, WONDERFUL, TERRIBLE … để thành WHAT A WONDERFUL DAY! Hay WHAT A LONG DAY!
QA
QA còn có lần nghe con gái lớn than thở sau những lần có bài thi ở trường như thế này: WHAT A TERRIBLE DAY I HAD!
BBT
Đúng, muốn nói rõ hơn thì thêm vào những chữ như thế. Thúy nói thử bằng tiếng Anh câu: đó là một năm khủng khiếp của cả nước Mỹ …
LÃM THÚY
WHAT A HORRIBLE YEAR THE U.S. WENT THROUGH!
BBT
Cám ơn cô. Thúy cho nghe thêm hai thí dụ nữa coi.
LÃM THÚY
WHAT A NICE HOUSE THEY HAVE!
WHAT A BIG FISH HE CAUGHT!
BBT
Còn QA?
QA
WHAT A BEAUTIFUL VOICE SHE HAS!
WHAT A BAD WINTER IT WAS !
WHAT A LOVELY DINNER YOU MADE!
BBT
Một điều hai cô nên nhớ là trong những câu hô thán mà chúng ta vừa nghe, bao giờ danh từ đi theo sau WHAT cũng có một MẠO TỪ BẤT ĐỊNH là A hay AN (INDEFINITE ARTICLES).
QA
Thưa anh, anh vừa nhắc đến INDEFINITE ARTICLES là A và AN, QA muốn anh nói về MẠO TỪ, nói chung trong tiếng Anh, làm sao dùng cho đúng.
LÃM THÚY
Thúy nhớ là có HAI loại mạo từ, INDEFINITE ARTICLES như QA vừa nhắc ở trên và DEFINITE ARTICLE.
BBT
Tôi thấy cô dùng SỐ NHIỀU khi nói INDEFINITE ARTICLES nhưng lại dùng SỐ ÍT khi nói DEFINITE ARTICLE là tại sao?
LÃM THÚY
Vì có HAI INDEFINITE ARTICLES là A và AN trong khi chỉ có MỘT DEFINITE ARTICLE.
BBT
Cám ơn cô lần nữa. Chúng ta dùng A với các danh từ bắt đầu bằng PHỤ ÂM (CONSONANTS) như B,C, D, F, J, K, L, M, N… và dùng AN trước các danh từ bắt đầu bằng các NGUYÊN ÂM (VOWELS) như A (AN APPLE); E (AN EGG) ;I (AN INKPOT); O (AN OWL) và U (AN UMBRELLA)…
Bây giờ chúng ta nói qua cách dùng các mạo từ bất định A và AN. Thế nào là bất định (INDEFINITE)? Bất định là không được xác định rõ là danh từ ấy, món đồ vật ấy ở đâu, của ai, có những đặc điểm gì, tức là bất cứ một người hay một vật nào. Thí dụ nói tôi cần cái ly thì danh từ “ly” đó đã được xác định chưa QA?
QA
Chưa. Anh cần một cái ly để uống nước thì bất cứ cái ly nào cũng được.
LÃM THÚY
Do đó chỉ cần nói I NEED A GLASS là đủ phải không anh?
BBT
Đúng. Nhưng khi nói là tôi cần cái ly tôi mua sáng nay thì sao?
LÃM THÚY
Khi nói như thế là anh đã xác định nó là cái ly mới mua, không phải bất cứ cái ly nào trong nhà anh cũng …chịu. Vậy thì không thể dùng mạo từ bất định được, không thể nói I NEED A GLASS như hồi nẫy được.
BBT
Thế không thể dùng mạo từ bất định A hay AN được thì dùng mạo từ gì đây QA?
QA
Người ta dùng mạo từ xác định (DEFINITE ARTICLE) và phải phải nói là I NEED THE GLASS phải không thưa anh? Muốn cho rõ hơn nữa thì nói I NEED THE GLASS I BOUGHT THIS MORNING.
BBT
Đúng là học một, biết cũng … một luôn.
Nhưng không phải cứ danh từ là đem mạo từ ra dùng mà được đâu. Chúng ta chỉ dùng INDEFINITE ARTICLES A và AN với các danh từ khi chúng là SỐ ÍT (SINGULAR NOUNS) mà thôi. Chúng ta KHÔNG DÙNG A và AN với các danh từ SỐ NHIỀU (PLURAL NOUNS).
LÃM THÚY
Thúy nhớ một lần mấy … quả trứng ở nhà dậy vịt mẹ rằng có những danh từ KHÔNG đếm được (UNCOUNTABLE NOUNS) . Với những danh từ đó thì chúng ta dùng mạo từ gì đây thưa anh?
BBT
Chúng ta KHÔNG DÙNG INDEFINTE ARTICLES. Hai cô thử kể ra vài danh từ không đếm được coi.
QA
Đây là mấy danh từ QA thấy ngay trong đầu: AIR, WATER, EXPERIENCE, HEALTH…
LÃM THÚY
Còn danh sách của Thúy gồm COFFEE, FOOD, INTELLIGENCE, TIME…
BBT
Hai cô chắc cũng thấy những danh từ không đếm được phần lớn là những thứ hoặc không nhìn thấy bằng mắt được, hoặc không cầm lấy được… Trong Anh ngữ, các danh từ không đếm được này KHÔNG đi cùng với mạo từ bất định. QA và Thúy mỗi cô cho nghe thử ba thí dụ mà chúng ta không dùng với INDEFINITE ARTICLES coi.
QA
WATER COVERS MUCH OF OUR PLANET.
AIR DOES NOT COST ANYTHING BUT IT IS NOT ALWAYS GOOD.
EXPERIENCE IS VERY IMPORTANT FOR THIS JOB.
LÃM THÚY
WE CANNOT BUY INTELLIGENCE.
I CANNOT WORK WITHOUT COFFEE IN THE MORNING.
TIME PASSES VERY FAST WHEN WE FORGET ABOUT IT.
BBT
Nhưng nếu đó là danh từ có thể đếm được, lại là số ít và chưa được xác định, chưa được nói rõ là của ai, ở đâu… vân vân thì chúng ta phải dùng mạo từ bất định ở trước.
QA
Thưa anh, QA nhớ cũng có một số danh từ có thể trông thấy, sờ thấy được nhưng người Anh và người Mỹ lại cho chúng là không đếm được có đúng không?
BBT
Đúng. Có khoảng 250 danh từ như thế. Chúng ta không thể kể hết ra ở đây. Tôi sẽ chỉ kể một số … kỳ cục nhất vì người ta không thể giải thích tại sao chúng lại không đếm được. Thí dụ đồ đạc thì nhất định phải đếm được, vậy mà FURNITURE thì lại được xếp vào loại UNCOUNTABLE NOUN chẳng hạn. Một số danh từ kỳ cục khác là MONEY, CASH, NEWS, ADVICE, FRUIT, SHEEP, FISH, FICTION, LUGGAGE, TRAFFIC, UNDERWEAR toàn những thứ chúng ta nghĩ là đếm được.
QA cho nghe thử hai thí dụ về UNCOUNTABLE NOUNS không có ARTICLES ở trước coi.
QA
MONEY IS NOT EVERYTHING.
THEY DO NOT WANT ADVICE FROM HER.
LÃM THÚY
TRAFFIC IN LOS ANGELES IS ALWAYS BAD.
FICTION ALWAYS SELLS WELL TO VIETNAMESE READERS.
BBT
Bây giờ chúng ta nói qua DEFINITE ARTICLE “THE”. Chúng ta phải dùng THE trước các danh từ đã được xác định, đã được nói rõ, phân biệt với các vật hay người khác. Hỏi hai cô thế này nhé… khi tôi nói rằng ông ấy cần cái xe thì như thế cái xe đã được xác định chưa?
QA
Thưa chưa. Có thể ông ấy bị hư xe, phải đi thuê cái xe để đi làm. QA nghĩ là khi kiếm cái xe để đi tạm vài hôm thì xe nào cũng được, xe Mỹ, xe Nhật, xe Đức đều OK, miễn là giá thuê phải chăng, không uống xăng nhiều quá. QA sẽ nói HE NEEDS A CAR.
LÃM THÚY
Nếu nhà có ba cái xe, ông ấy cần một cái, nhưng ông ấy muốn phải là cái xe mới để đi một chuyến hơi xa một chút. Như thế, ông ấy đã chọn ra một chiếc để đi. Hai chiếc kia đã cũ, có thể hư dọc đường. Thúy sẽ nói HE NEEDS THE NEW CAR.
BBT
Chúng ta dùng mạo từ THE với danh từ chỉ có một, là vật , hay người duy nhất, cứ nói ra là biết, là như được xác định rồi. Thí dụ nói THE PRESIDENT WILL LEAVE POLITICS IN 2016. QA cho biết tại sao lại dùng THE ở trước PRESIDENT?
QA
Lý do là vì nước Mỹ chỉ có một tổng thống mà thôi. Ông Obama là người duy nhất, nói đến là biết ngay, danh từ PRESIDENT như vậy đã được xác định rồi, không phải tổng thống Pháp hay tổng thống Ý, Ấn Độ hay Israel. Vì thế chúng ta dùng mạo từ xác định THE.
BBT
Thế những vật chỉ có một không hai trên thế giới thì sao? Chúng ta sẽ dùng DEFINITE hay INDEFINITE ARTICLES?
LÃM THÚY
Thúy chắc phải dùng THE.
BBT
QA nói câu này bằng tiếng Anh coi: Chúng ta có thể làm ra điện từ mặt trời.
QA
WE CAN PRODUCE ELETRICITY FROM THE SUN. Lý do là vì chỉ có một mặt trời mà thôi.
BBT
Thúy cho luôn một thí dụ dùng mạo từ THE với một danh từ chỉ có một, không hai trên thế giới này coi.
LÃM THÚY
HE IS ASKING FOR THE MOON. Nó muốn đòi ông trăng trên trời chắc. Trăng thì chỉ có một ông duy nhất mà thôi nên Thúy dùng DEFINITE ARTICLE “THE”.
Thưa anh, Thúy xin đổi đề tài một chút. Thúy có thắc mắc liên quan đến một cách dùng của động từ TO BE muốn nhờ thầy giảng cho rõ hơn.
Đó là động từ TO BE ở thì PRESENT PERFECT hình như không còn nghĩa nguyên thủy của TO BE nữa thì phải. Thí dụ như trong câu WHERE HAVE YOU BEEN? chẳng hạn. Câu đó hình như lại có nghĩa là ông ấy đi đâu phải không thưa anh?
BBT
Đúng vậy. Thực ra, nếu hiểu cho sát nghĩa thì nó phải có nghĩa là anh đã có mặt ở đâu thì đúng hơn. Không có động từ TO GO mà nghĩa lại là “đi” thì cô thắc mắc là phải. TO HAVE BEEN TO là tới một nơi nào đó. Nhưng phải nhớ có cả chữ TO (PREPOSITION) mới được. Thí dụ nói tôi đã tới Hawaii rồi thì nói là I HAVE BEEN TO HAWAII.
Nhưng TO HAVE BEEN UP (TO) thì lại có nghĩa khác nữa, đó là làm gì, chuyện gì đã xẩy ra thí dụ: WHAT HAVE YOU BEEN UP TO? là anh đã làm gì mấy tháng, mấy tuần nay? Câu trả lời có thể là: NOTHING! nghĩa là không làm gì hết… Hay I HAVE BEEN READING A BOOK / TRAVELLING AROUND / PLANTING A JAPANESE GARDEN…
QUỲNH ANH
Chương trình Anh Ngữ Trong Đời Sống Hàng Ngày đến đây xin tạm chấm dứt. Chương trình sẽ trở lại vào tuần tới trên đài Hồn Việt Television. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh xin chào tạm biệt quí vị và hẹn gặp lại trong chương trình tới.
Bùi Bảo Trúc
46d3d-a-c490e1bbabngnghehc3a3ynhc3acnxem
.