Bài thơ Màu Tím Hoa Sim – (tái đăng)

 

Sự tàn ác của ĐCSVN qua lời tự thuật của HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”

Đăng lúc: Thứ tư – 13/08/2014 05:54 – Người đăng bài viết: nguoivietdiendan

Nhà thơ Hữu Loan và vợ - bà Phạm Thị Nhu. Ảnh: st.Nhà thơ Hữu Loan và vợ – bà Phạm Thị Nhu. Ảnh: st.

(nguoivietdiendan.com) Câu chuyện cuộc đời và 2 mối tình của Nhà thơ Nguyễn Hữu Loan là một minh chứng rõ ràng về mức độ dã man, tàn ác nhất của ĐCSVN đối với dân chúng cũng như đối với những người có chí khí, giầu tình cảm và lòng nhân ái như ông. Chỉ vì ông đau lòng khóc người vợ mới cưới xấu số bằng bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc “Mầu tím hoa sim” mà ông bị “chê là ủy mị” và “hoạnh họe đủ điều”, cho ông là “phản động”. Sau này qua cuộc cải cách ruộng đất, được biết về gia đình một địa chủ trước đó luôn ủng hộ gạo nuôi bộ đội tiểu đoàn 304 của ông bị đấu tố, bị chôn sống tới cổ rồi cho trâu kéo bừa qua đầu tới chết, toàn bộ gia đình này đều bị giết, chỉ còn xót lại 1 cô con gái 17 tuổi bị bỏ đói. Ông đã thương tình lấy làm vợ và bỏ kháng chiến về cầy ruộng kiếm sống nuôi gia đình, nhưng họ cũng không để ông yên. Ông cũng xém bị giết chết, nếu không có 1 bài thơ của ông đã cứu sống ông. Nguyễn Hữu Loan là một Nhà thơ, một trí sĩ yêu nước đáng để cho giới văn nghệ sĩ thời nay học tập mà đứng vững trước bạo quyền bảo vệ chân lý. Hai mối tình của ông đều làm rung động lòng người, tự nó đã trở thành bất hủ.

Lời tự thuật của HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”

Thi sĩ Hữu Loan

Thi sĩ Hữu Loan

Nguyễn Hữu Loan - Tác giả bài thơ “Mầu tím hoa sim” bất hủ

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

© Hữu Loan

MÀU TÍM HOA SIM
(Nguyên văn của tác giả)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

Hữu Loan


Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ vẽ ký hoạ Nhà thơ Hữu Loan


Hình ảnh đưa đám nhà thơ Hữu Loan tới nơi an nghỉ cuối cùng

Nguyễn Mạnh Trinh – cũng có một giấc mơ (!)

Giấc mơ? Hòa giải hòa hợp dân tộc?

Posted: 07/11/2014 in Nguyễn Mạnh Trinh,

Nguyễn Mạnh Trinh

hoa_hop

Có nhiều người, cả những nhà văn, có nhận xét rằng ở trong nước đã thay đổi rất nhiều và đó là một chủ trương của những người cầm quyền muốn thoát ra khỏi những trì trệ cho đất nước. Ngay cả trong văn nghệ học thuật cũng có chủ trương như vậy. Và họ dẫn chứng là có những hội nghị Lý Luận Phê Bình văn học đã công nhận một thực tế của văn học Việt Nam và thúc đẩy sự thay đổi: “một số quan niệm cũ không còn phù hợp”, “những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua”, “một số nhà phê bình chỉ quen với những môtíp, mô hình cũ và dị ứng với những biểu hiện mới và lạ. Ðộ bao quát quá hẹp, nhiều ẩn số văn nghệ đứng ngoài tầm với của giới phê bình”. Và với nghị quyết “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cũng như việc “đối với nhà văn Việt Nam, trước hết và quan trọng nhất trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là giao lưu với các nhà văn, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ người Việt đang sinh sống và hành nghề ở các nước trên thế giới. ” Muốn như vậy, phải rời bỏ cái suy nghĩ tư duy địch bạn của thời còn chiến tranh…

Thế mà từ tháng tư năm 1975, một thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ đến bây giờ chừng như vẫn chưa đổi. . Ðã mấy chục năm trôi qua cuộc chiến vẫn còn những dư âm đau xót. Bao nhiêu là hồi ức, bao nhiêu là những vết thương đau. Không phải với riêng cá nhân một người, mà còn với nhiều người và nói rộng ra, cả dân tộc nữa. Những vết chém của hận thù tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm. Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Nhất là đối với những người Cộng sản mà câu nói của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày nào vẫn còn chính xác “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.

Tôi nhớ có lần đã phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sỹ với câu hỏi “Trong văn chương anh nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và hải ngoại? Hoặc giữa người miền Nam và người miền Bắc?” Và nhà văn nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam, người đã bị cầm tù và biệt giam nhiều năm vì can tội làm “nhà văn” đã trả lời “Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam. Ðơn thuần chỉ có vậy! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ánh những gì xẩy ra qua lăng kính cá tính văn chương từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung limh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy…” Với những người mà đảng Cộng sản đã muốn tiêu diệt mà nói như vậy thì không thể kết luận đó là một biểu hiện của hận thù…

Ở trong nước thì Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Cộng sản đã chết, cũng phát biểu “Ba mươi năm qua, có những bà mẹ ngày thắp hương cho những người con của mình, người là chiến sĩ giải phóng đã hy sinh, người là lính của chế độ Sài Gòn đã tử trận. Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thấu hiểu tâm tình của người mẹ Việt nam, cùng thắp nén nhang cầu cho linh hồn của những người con của mẹ được siêu thoát… ”

Tưởng như thế, nhưng khi đọc trong những tác phẩm mới xuất bản gần đây ở trong nước tôi mới thấy rằng ngay cả những người cầm bút cũng vẫn còn ảnh hưởng cái tư tưởng “địch –ta” khá nặng nề và cái hội chứng thời chiến tranh vẫn còn tồn tại. Mà tư tưởng ấy lại là sản phẩm còn sót lại của một nền văn học cổ võ hận thù tán dương chém giết, sản phẩm của tuyên truyền. Dù có đổi mới tư duy, có nhìn ngắm lại, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong văn chương.

Với những người Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp dể cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng định sẵn. Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:

“… Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên: bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với dông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng nhũng ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.

Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự vào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…”

Trở lại với hiện tình Việt nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, thì đôi khi những nhà văn đã nhìn lại quá khứ chiến tranh và để tự hào vì những kinh nghiệm sống đã có.

Viết về chiến tranh của một thời đã qua đi, những nhà văn trong nước vẫn không qua được cái tâm lý hận thù của một hệ thống tuyên truyền sắt máu đã có sẵn từ một thời gian dài. Những điều được tuyên truyền như ngụy ăn gan uống máu như những loài thú mất nhân tính tới giờ vẫn còn được viết với tâm tư của thời chiến tranh. Nếu đã đọc những tác phẩm đại loại như của Tạ Duy Anh hoặc Hồ Anh Thái và quả tình người đọc đã cảm thấy thật xấu hổ khi có những nhà văn được tạm gọi là tiêu biểu cho văn học trong nước mà lại có giọng văn như thế. Như đoạn trích dẫn từ truyện dài: “Ði Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh:

“…quân ta ào lên, bắt giết, đâm, dẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa hết hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe “thụt “một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giẫy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ… ”

và một đoạn khác cũng … kinh dị không kém:

“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận…”

Thế mà, sách của Tạ Duy Anh đã được in ở hải ngoại và có nhiều người cho rằng ông là người có tâm tư “thông thoáng” nhất và tác phẩm được coi là có “vấn đề” ở trong nước???

Và trong “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái (hình như là chủ tịch hội nhà văn Hà Nội) cũng ghê gớm tàn bạo không kém:

“Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm dập đẫm máu. Chúng đấm đá anh túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng . Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.

Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…”

Tôi tưởng những danh từ như “mụ ngụy cái”, “lũ thám báo”… hoặc những chuyện moi tim gan người để ăn nhậu, có lẽ đã mất biệt rồi chứ? Cái văn chương sặc mùi căm thù ấy vẫn còn tồn tại sao? Mà cả với những người cầm bút luôn luôn kêu gọi hòa giải!!!

Nhà văn Dương Thu Hương trong “Tiểu Thuyết Vô Ðề” củng biểu lộ sự căm thù đúng y như những nhà văn Cộng sản trung kiên khác. Kể lại những cái chết của những bộ đội nữ bị lính thám báo hãm hiếp hay thái độ hèn nhát của những người lính VNCH khi bị bắt, giọng văn ấy không thể là của một người đã thấy cái phi lý của chiến tranh và cái huyền thoại “chống Mỹ cứu nước” vẫn còn vương vấn. Dù rằng bà cũng hiểu một điều là miền Bắc đã gây ra chiến tranh theo lệnh của Cộng sản quốc tế.

“Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực Cô Hồn gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những cô chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đây là những người con gái miền bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết Những cái xác bầm dập méo mó. Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phong lở hay một con cóc chết. Ðám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc mắt, hốc miệng. Những von dòi trắng nhờ béo tròn. Chúng trị trên các tử thi ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn của loài dòi bọ. ”

Ðọc những đoạn trên, đâu có ai tránh khỏi cảm giác lợm giọng. Và, tác giả Tiểu Thuyết Vô Ðề có quá tay để tạo thành những hận thù khi nói về những người thua trận. Như vậy, có thể nói chuyện bình thường hòa giải với nhau không? Thời chiến tranh đã qua, những người ở phe chiến thắng có còn bị khích động của cả một chính sách gây căm thì để dồn toàn lực vào công cuộc chém giết thúc đẩy chiến tranh…

Nhà văn mà còn viết với giọng như thế thì những từ ngữ như “hòa giải, hòa hợp ‘, hay “hợp lưu, giao lưu”. liệu còn ý nghĩa không? Tôi đọc những hàng chữ ấy và thấy hệ thống tuyên truyền quả đã có tác dụng, không phải với giới bình dân mà cả trong văn chương.

Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, Bảo Ninh cũng mô tả một cảnh tượng ghê rợn không kém:

“Kiên hờ hững ngó ra sau. À. Một cái xác. Một cái xác đàn bà trắng hếu, ngưc ưỡn dựng lên, chân dang ra như hai lưỡi léo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng hải quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy vũng máu…

Chợt có tiếng xe đỗ, tiếng kéo lê rồi tiếng chân huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp. Ðội mũ sắt, có lẽ là lính cao xạ từ trong phòng hải quan đi ra khệ nệ khuân trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa mắt nghếch lên, gã vấp phải cái xác bị xô chúi tới, ngã sấp. Cả đống bia giáng xuống loảng choảng chai vỡ tan, bia óng vàng tuôn lênh láng. Ðám lính tăng cười ro. Kiên nhếch mép.

Sượng sùng gã sục “đồ cổ” nhỏm dậy tức tối vò hai nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá tới tấp vào cái vật vừa ngáng chân hắn Vừa đá vừa rống lên:

“Ð mẹ mầy, con đĩ! Mày ưỡn của nợ ra đây cho chúng nó ngắm à! Mày gài mìn bố mày! Tổ sư mày, cười cái cắc củ! Ðứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố mày! Bố mày cứ dọn phắt mày đi!

Chửi đoạn, thằng cha “Chí Phèo” túm lấy một chân người chết xềnh xệch kéo lết đi.

Thằng chó má dã man léo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, rồi hự, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng người ta lên.

Xoay lộn mấy vòng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch rồi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu xuống Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi tay khuỳnh khuỳnh ra dáng người hùng…”

Ði xa hơn nữa, Bảo Ninh, người viết truyện ngắn “305” in trong tập “Lan man khi kẹt xe” đã đổ tội cho cả toàn dân miền Nam cái tội vong bản chạy theo đế quốc mà bỏ lại người thân một cách lãnh đạm vô nhân. Truyện ngắn này kể lại chuyện những người lính lái xe tăng mang số 305 trên đường hành quân đã ghé vào một thị trấn nhỏ vào tháng tư năm 1975. Và nhờ cung cách hiền hòa họ đã làm cho người thiếu phụ ở đó cảm mến. Sau đó cả xa đoàn chết hết chỉ còn sót lại một người trở về thị trấn xưa ghé thăm người thiếu phụ ấy. Giây phút gặp lại anh ta mới biết cả gia đình đã bỏ rơi chị để di tản ra nước ngoài. So sánh gia đình chị và anh bộ đội kia chị thấy cảm mến anh bộ đội ấy hơn…

Ở thời điểm bây giờ, mà còn viết với luận điệu như thế, nào ta anh hùng, địch dã man, ăn tim gan người sống. Cái nếp nghĩ, nếp viết ấy đã ăn sâu vào tâm thức người viết và bao nhiêu năm sau chiến tranh mà vẫn chưa hề thay đổi. Nhà văn Phùng Nguyễn nhận xét khá xác đáng:

“…Có qúa nhiều điều luôn rắp tâm kéo nhà văn xuống thấp có khi thấp hơn cả mức độ cho phép. Ðó là khi họ, vì một hay nhiều lý do, phải nín thở qua sông, phải viết điều không muốn viết, phải ca tụng những điều không xứng đáng, phải báng bổ điều họ thực sự quý trọng. Họ buộc phải đứng về phía của kẻ mạnh. Nhưng cũng có khi, không phải là luôn luôn vô tình, họ chọn đứng cùng phía với những thế lực đen tối một cách tự nguyện, gieo rắc mầm độc hại xuyên qua việc xiển dương điều trá ngụy. Chính là ở đây, nhà văn trở thành không chỉ là kẻ đồng lõa. ”

Câu hỏi là bây giờ, các người cầm bút sẽ phải làm gì để hố ngăn cách nhau được lấp dần đi? cả người cầm bút ở trong nước và hải ngoại? Nhưng xem ra câu hỏi chỉ để mà hỏi. Khi văn học ở trong nước còn là một công cụ để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của chế độ hiện hữu thì còn rất lâu sự phân hóa tạo thành chiến tuyến của thời chiến tranh.

NguyenManhTrinh 2Nguyễn Mạnh Trinh

Đọc Báo Vẹm! – Số lần: 403

Đọc Báo Vẹm số 403

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/  

Chân Dung Bác Ho, HC Minh!

Thứ Bảy, ngày 28 tháng 1 năm 2012

CHÂN DUNG HỒ CHÍ MINH ( Những sự thật bị che đậy )

Tác giả MrLecongnhan .

Bac HoKính mời Đồng bào và quý bạn xem những điều chưa biết đầy bí ẩn về Hồ Chí Minh. Quý bạn không nhất thiết phải đồng ý với tôi. Bằng sự hiểu biết của mình, quý bạn vẫn có thể phản biện lại những luận cứ mà tôi sẽ nêu ra sau đây, với một điều kiện: Quý bạn phải đọc và nghiên cứu thật kỹ trước lúc phản biện .

Chân dung Bác Hồ .


Cuối tháng 1/1950 Hồ Chí Minh  bí mật trốn sang TQ để cầu viện cố vấn và vũ khí

Hồ Chí Minh nói rằng các cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh thất bại vì đã không biết dựa vào Trung quốcLiên Xô  như HCM. Thực ra thì HCM đã dẫn  Dân Tộc ta đi hết cuộc chiến này đến cuộc chiến đẫm máu khác.  Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi một thực tế là sau đại chiến Thế giới lần thứ 2, kỷ nguyên Đế quốc đã cáo chung để nhường chỗ cho kỷ nguyên Liên hiệp, khuynh hướng “giải thực” đã mang tính toàn cầu. Các nước Đế quốc trao trả độc lập cho các nước bị trị để hình thành các khối liên hiệp kinh tế, chính trị, văn hóa. Tại châu Á nhiều nước thuộc địa, do không có Cộng sản nhúng tay vào, nên đã không tốn xương máu mà vẫn được trao trả độc lập từ 1 đến 4 năm sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2 như : Indonesia độc lập năm 1945; Philippines độc lập vào năm 1946; Syrie và Liban thuộc Pháp độc lập năm 1946; Ấn Độ thuộc Anh độc lập năm 1947; Miến Điện, Tích Lan thuộc Anh độc lập năm 1948… Malaysia độc lập năm 1957…(*) Trong khi đó, các nước  Đức ,Triều Tiên , Việt Nam và Trung Quốc do có mặt của Cộng Sản nên đều bị chia cắt thành 2 miền, hai phe . Riêng Việt Nam, Căm Pu Chia và Lào do HCM dẫn dắt theo CS , phát động chiến tranh Ý thức hệ, nên mãi mấy chục năm sau mới hòa bình thống nhất  và độc lập .


 Trong ngôi nhà này tại Liễu Châu Quảng Tây Trung Quốc ,Ngày 3 đến5-7-1954  Chu Ân Lai  và Hồ Chí Minh  bàn tính chuẩn bị cho Hội nghị Giơ – ne- vơ ký 20/7/1954 đã chia cắt đất nước ta làm 2 Miền .

Tuy vậy, không ai phủ nhận hoàn toàn công lao của HCM trong kháng chiến chống Pháp. Nhưng việc đưa CNCS vào VN đồng nghĩa với HCM là tội đồ. Không có HCM thì không có “đấu tranh giai cấp một mất một còn “, không có 172.008 người bị đem ra đấu tố (**),bị cướp bóc tài sản , nhiều ngàn người bị giết hại oan khuất trong CCRĐ. Như đã nói ở trên nếu không có phe Cộng Sản thì sau đại chiến thế giới lần thứ II Việt Nam không bị chia cắt thành 2 miền và không có cuộc chiến “Ý thức hệ Cộng Sản và Tư Bản” huynh đệ tương tàn suốt 21 năm, làm gần 4 triệu đồng bào chết oan . Vì Cộng Sản và HCM mà sau 1975 gần 3 triệu người phải bỏ nước ra đi , nhiều ngàn người trong họ đã chết chìm trên biển cả …


Hình ảnh Hồ Chí Minh và Trường Chinh với bọn Trần Canh và La Quý Ba trong Đoàn cố vấn Trung Quốc . Họp bàn chuấn bị đấu tố và sát hại hàng trăm ngàn nông dân Miền Bắc trong cuộc CCRĐ tắm máu.

Trong cuộc chiến Việt nam 1954-1975. Người Mỹ chỉ tham chiến 6 năm (66-72). Đảng Cộng sản VN dưới sự lãnh đạo của Hồ Chi Minh lấy cớ chống ngoại xâm, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN .Với trang bị vũ khí tối tân của Liên xô Trung Quốc và phe XHCN, họ đã phát động cuộc chiến “Ý thức hệ Cộng Sản một mất một còn” suốt 21 năm đẫm máu . Phe VNCH có 250 ngàn ,Hoa Kỳ 58 ngàn binh sỹ thiệt mạng. Trong khi phe CS  đã hy sinh tới 1 triệu 100 ngàn sinh mạng Bộ đội ( Tổng số chết: ~1.101.000   gấp 4 lần phe Miền Nam ). Một cái giá quá đắt của chiến thuật lấy thị đè người của Trung Quốc .Có thể nói rằng HCM đã xài máu đồng bào mình không tiếc thương như xài bạc giả .

Chiến tranh VN là Cuộc chiến Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN MỘT MẤT MỘT CÒN do Hồ Chí Minh phát động, không chỉ lấy đi mạng sống của 1 triệu 100 ngàn Bộ đội nói riêng, mà do tính chất đẫm máu đã làm chết oan gần 4 triệu đồng bào và thanh niên nam nữ hai miền Nam Bắc nói chung. Tại sao Nước Đức thống nhất không mất một giọt máu? Điên rồ như cha con Kim Nhật Thành cũng không đem quân giải phóng Nam Hàn? Mao Trạch Đông luôn nói rằng ” Đế quốc Mỹ là con hổ giấy” Mao khen “các  đ/c Việt Nam đánh Mỹ rất giỏi ” (!) Nhưng tại sao TQ không giải phóng Đài Loan? Mao Trạch Đông biết chờ đợi để lấy lại Hồng Công, Ma Cao  không mất 1 viên đạn? Có phải là HCM đã giúpTrung Quốc đã đánh Mỹ đến người VN cuối cùng không ?  xem (( Lê Duẩn nói : VN đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc , cho LX ))
Hy sinh lớn lao như vậy, tưởng  để đào mồ chôn Tư Bản ? để tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH ? Ngờ đâu, sau 15 năm say sưa chiến thắng , khi tỉnh giấc thì bo bo không có đủ ăn ! cuối cùng phải quay lại  cơ chế thị trường ( cơ chể Tư Bản ) mà VNCH  và Ngô Đình Diệm đã chọn 60 năm về trước , ngửa tay ăn mày,  nhận viện trợ của Tư Bản , mời gọi Đế quốc Tư sản Mại Bản quay lại đầu tư “bóc lột” nhân dân ! Quốc hữu hóa ,tập thể hóa đổi chiều 180 độ thành Cổ phần hóa ,tư nhân hóa , Tư bản Đỏ mọc lên như nấm .CNXH chỉ còn lại cái đuôi  ” định hướng ” mỉa mai đáng nguyền rủa ! Thế nhưng , Đảng vẫn  lừa dân đến cùng  rằng : ” đổi mới  ” (!)
Hãy so sánh VN với Hàn Quốc ( Nam Triều Tiên mà VN gọi là Thuộc địa mới của Mỹ !) ,để thấy ngày hôm nay của VN nhờ bác mà có :Năm 1962, Nam Hàn nghèo nhất khu vực Châu Á với lợi tức bình quân 87 USD đã tăng lên 15,830 vào năm 2005. Với dân số 48.3 triệu vào năm 2005, Nam Hàn tạo ra tổng sản phẩm nội địa (GDP) 787.6 tỉ USD so với Việt Nam sau 65 năm xây dựng XHCN và 24 năm” đổi mới “1986-2010 , lợi tức bình quân của người Việt Nam mới vào khoảng 1,200 USD.!!! Với 82.9 triệu dân GDP 52.4 tỉ. Xem :  Đảng viên trí thức bác bỏ dự thảo VK Đại hội Đảng XI
s
Tương quan GDP giữa Việt Nam với các nước khu vực giai đoạn 1960-2010.  

Chế độ xã hội CN ,và đảng CS hiện nay, là do Hồ Chí Minh để lại. Nó sai lầm từ lý luận đến thực tiễn. Hay nói cách khác là lỗi Hệ Thống . Về mặt đạo đức, nó không tạo dựng mà chỉ phá hủy nền tảng của tất cả các giá trị đạo đức văn hóa cổ truyền :”Truyền thống hiếu hoà, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn Việt Nam được dân tộc ta xây dựng hàng nghìn năm đã bị ĐCS phá vỡ trong vòng ba-bốn năm CCRĐ. Nếu ai đã từng sống ở nông thôn Việt Nam trước “cách mạng”, trước CCRĐ đều cảm nhận cái tinh thần “đùm bọc nhau”, “lá lành đùm lá rách” còn khá đậm đà trong mối quan hệ giữa người với người. Trong CCRĐ: ĐCS họ ép buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu “đấu tố” bố mẹ chồng, con rể “đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn nhau, trò “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn “đấu tố” người đã làm ơn, láng giềng hàng xóm “đấu tố” lẫn nhau!” ( Nguyễn Minh Cần _ Nguyên phó CT thành Phố Hà Nội ) . Về kinh tế, nó thủ tiêu tính cạnh tranh và sáng tạo trong sản xuất, (PMU18, Vinashin, Vinalines…) là nguyên nhân dẫn đến quốc nạn tham nhũng, đói nghèo tụt hậu .Về chính trị, nó là chính thể độc tài toàn trị, đang thối nát. Ý thức hệ đấu tranh giai cấp một mất một còn , là nguyên nhân gây ra nội chiến , chia rẽ sâu sắc li tán lòng người, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu đất nước, dẫn đến nguy cơ mất nước ..Xem : Nguy cơ mất nước là có thật

Về đạo đức HCM hãy nghe lời tâm sự của một người dân xứ Nghệ : “Từ ngày làm chủ tịch nước mà về thăm quê chỉ có 2 lần. Vịn cớ là bận việc nước tôi thấy là không thoả đáng lắm. Thứ nữa là tự viết sách ca ngợi mình thì khác nào trò bịp. Mà bác là tay đại bịp có đẳng cấp thượng thừa. Có vợ con hẳn họi mà lại bảo là không. Giết vợ không cho con nhận cha thì còn gì thất đức hơn. Người thường chưa đến nỗi thế, đàng này Bác là thánh nên không thể tha thứ được. Mới 51 tuổi đã bắt mọi người gọi là “Cha già dân tộc”. Lừa cả dân tộc này vào chốn binh đao máu lửa. Chết đi còn để lại một đám học trò tham lam tàn bạo, đưa đất nước đến chỗ tăm tối nhất. Di chúc của bác chúng cũng sửa. Chúng dựng cho Bác cái nhà mồ ngoài Hà Nội. Bắt cụ nằm phơi thây dưới bóng điện, rõ tội. Dân Á Đông là kiêng cái chuyện này lắm. Vậy mà lũ học trò khốn nạn cuả cụ vẫn cứ làm. Có lẽ là quả báo đấy các vị ạ .” ( Trích : Nhà Bác Hồ bị cháy điềm dữ hay lành?) . Sự thật thì “Unesco đã vô hiệu hóa việc vinh danh ông Hồ “ trong khi còn rất nhiều người dân VN vẫn tin rằng “Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hóa của Thế giới” (!) Không ai có thể tìm thấy Kỷ niệm chương UNESCO vinh danh Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ của UNESCO;  ĐCSVN không bao giờ có thể trưng ra cái mà họ gọi là Giấy Chứng Nhận của UNESCO vinh danh cho Hồ chí Minh
Sau khi xem xong clip Unesco đã vô hiệu hóa việc vinh danh ông Hồ của tôi . Rất nhiều người lý luận rằng “Trên cái mạng Internet bao la này, người ta nói gì chẳng được “. Vậy tốt nhất là đừng vội tin ai . Hãy tin vào chính mình. Tất cả các bạn đều có thể tự viết thư trực tiếp hỏi UNESCO như một Nữ Sinh Viên có tên Nguyễn Hồng Thanh Trúc đã làm dưới đây. Và bạn đó đã nhận được điện thư trả lời trực tiếp từ Roni Amelan /English Edito/ UNESCO Press Service: “không thể tìm thấy bất cứ thông tin gì về việc Hồ Chí Minh nhận được giải thưởng của UNESCO “.

Nếu HCM có vợ thì đó là việc hết sức bình thường của 1con người ,lấy vợ sinh con để duy trì giống nòi .Điều đáng vạch trần là Đảng đã che đây sự thối tha về đạọ đức của HCM . Sự thật HCM có rất nhiều “vợ” nhưng không công khai công khai nhận ; HCM đã hủ hóa với nhiều Phụ nữ . Điều đáng lên án là HCM dã man đối với phụ nữ . HCM đã để đàn em giết hại Nông Thị Xuân người đàn bà đã ăn nằm với mình và bỏ rơi đứa con .NGUYỄN TẤT TRUNG LÀ BẰNG CHỨNG SỐNG VĐỨA CON RƠI VẪN CÒN SỜ SỜ RA ĐÓ .

Bac Ho 2

Bà Nông Thị Xuân mẹ Nguyễn Tất Trung , sau đổi là Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1932, mất năm 1957. Chụp cuối năm 1956 tại Hà Nội sau khi đẻ Nguyễn Tất Trung

Hình ảnh  vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên cùng con là Nguyễn Thanh Trung (bên phải) tại gia đình ông Vũ Kỳ vào năm 1998; người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ (giữa)

Bac Ho 3

Nếu quý  bạn là Nguyễn tất Trung đứa con vô thừa nhận của HCM , mẹ quý bạn là bà Nông Thị Xuân thì quý bạn nghĩ sao ? . Nguyễn Tất Trung sau này được ông Vũ Kỳ ( người giúp việc cho HCM ) đem về nuôi đã đổi tên thành VŨ TRUNG . Xem  :  Hồ Chí Minh và đứa con rơi Nguyễn Tất Trung .

Hình ảnh vợ chồng Trung và Duyên bên dòng suối ở Hang Pắc Bó – Cao Bằng (suối Lê Nin)

Nói về Hồ Chí Minh : không có nghĩa là thọc mạch mà là một sự vạch trần ,những giả dối, để trả lại sự thật cho lịch sử. Nếu sự thật về đạo đức của HCM được phơi bày trước ánh sáng thì đó là một sự kinh tởm đáng nguyền rủa chứ không phải là một thứ để học tập. Nhân chứng Vật chứng vẫn còn đấy. Nếu ĐCSVN cho là bịa đặt thì hãy thử ADN cho Nguyễn Tất Trung và công khai trước toàn dân. Tại sao CS không dám làm điều đó? Xem :  Không thể bất công kéo dài đến như vậy ( Bùi Tín )

Trong suốt lộ trình đẫm máu , CNCS từ Lê nin, Xtalin, Mao , Hồ Chí Minh ,…đến Pôn Pốt đã sát hại gần 100 triệu sinh mạng . Stalin và Mao Trạch Đông của Liên Xô và Trung Quốc là 2 kẻ phạm tội ác diệt chủng thì được Hồ Chí Minh xưng tụng là “không bao giờ sai lầm”: (( Các cô các chú nên biết rằng ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được! … Nghe Bác nói như vậy, cả hội trường vỗ tay vang rầm nhất trí với Bác. )) ( Trích quyển Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế, trang 62 – Nguyễn Minh Cần kể lại)
Hãy  xem  Vì sao chủ nghĩa công sản bị cáo buộc chống nhân loại? phần 1  , bộ phim Câu Chuyện Xô Viết  .

Nói đến đạo đức của Bác ,không thể quên bút danh nổi tiếng nhất của Bác là Trần Dân Tiên: Dùng viết sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch năm 1948.


 胡志明传(1949年初版)》图片一 
图书《胡志明传(1949年初版)》》 细描述暂无   

 Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chú Tịch
 Bản tiếng Hoa năm 1949  “Hồ Chí Minh truyện”

Trần Dân Tiên viết về Bác : (( Nhân dân Việt Nam muôn người như một, nghe theo lời Hồ Chủ Tịch vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ Chủ Tịch, họ hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ Tịch. Không có gì so sánh được với lòng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh…Nhiều nhà báo và người ngoại quốc rất ngạc nhiên trước lòng kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị Cha già Hồ Chí Minh… Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng yêu nước, yêu nhân dân của Hồ Chủ Tịch … Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng hy sinh và lòng nhân từ của Người… CHỦ TỊCH KHÔNG BAO GIỜ NGHĨ ĐẾN MÌNH . Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân…)) ( Trích Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch _ tác giả Trần Dân Tiên trang 62.)
((Mọi người kính mến Hồ chủ tịch, nhất là thanh niên và nhi đồng. Ở ngoài mặt trận khi xung phong các chiến sĩ hô lớn: Vì tổ quốc, vì Bác Hồ tiến lên! Vì Bác Hồ mà những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng tăng thêm năng suất. Đối với nhi đồng tên bác Hồ như là một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoãn… Nhân dân gọi chủ tịch là Cha Già của dân tộc, vì Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ Quốc Việt Nam”.)) (Trích Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch _ tác giả Trần Dân Tiên, trang 165/166.) .

Trong (( 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng )) có 1 điều nói rằng :
(( Khiêm tốn, thật thà ,dũng cảm )) .
Chúng ta hãy xem Trần Dân Tiên (BÁC) khiêm tốn như thế nào ?
“Nhiều nhà văn, nhà báo Việt nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn : chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình. ” ( Trích Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch _ tác giả Trần Dân Tiên ) . (( chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình )) . Có Nghĩa là Bác rất (( khiêm tốn )) ,Bác không muốn nói về mình , Bác không muốn tự ca ngợi mình . Bác bảo (( Một người khiêm tốn ,là một người không tự nói về mình )) Nếu đúng là như vậy ! thì tại sao Bác phải giả danh (( Trần Dân Tiên )) để tự khen, tự bốc thơm mình ? Như vậy , cái Khiêm tốn của Bác là gì ? khi Trần Dân Tiên khen Bác thì chính là Bác đã tự SUY TÔN mình ? cái đức thật thà của Bác để đâu ? Khi Bác đã giả danh Trần Dân Tiên ?
Cuốn sách ((Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch )) nấp dưới bút danh Trần Dân Tiên này được Bác viết trong năm 1947, hoàn tất vào đầu năm 1948.Nghĩa là vào giai đoạn toàn quân đang hy sinh ngoài mặt trận cho cuộc kháng chiến 9 năm chống Thực dân Pháp _ thì Bác ngồi trong hầm để viết sách tự bốc thơm mình , tự phong cho mình là (( Cha già Dân tộc )) . Liền sau đó nó được dịch ra tiếng Pháp mang sang Ngưỡng Quảng, thủ đô Miến điện dịch ra tiếng Anh và nhiều tiếng khác để tung ra khắp nơi. Nó có trước bất cứ cuốn tiểu sử nào của Hồ Chí Minh. Cũng trong sách này ,Bác đã lặp đi lặp lại nhiều lần cụm từ vị “Cha già dân tộc”.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao Bác lại dám làm một việc mà những người có thực tài và chút liêm sĩ không ai dám làm ?

Với tư cách thông minh dẫn tới điếm đàng, nên “vĩ nhân” Trần Dân Tiên mới tự viết sách ca tụng mình. Người có thực tài và có chút liêm sĩ không ai làm điều đó. Và đó cũng là lý do mà rất đông nhân loại đã bị lừa bởi Cộng sản, vì không ai tưởng tượng nổi có những con người vô liêm sĩ đến như vậy, do đó mới xẩy ra tiếp vụ “Nhân văn giai phẫm”. Sự trí trá của người Cộng sản không có giới hạn! Sau khi đấu tố 172,008 nông dân có 5 sào ruộng trở lên ,và hành quyết mấy chục ngàn người trong một lúc trong CCRĐ , Hồ Chí Minh đóng kịch ,chỉ nhỏ vài giọt ngước mắt cá sấu . Ngay sau đó Hồ chí Minh hớn hở báo cáo với Moscow là “đấu tranh giai cấp đại thành công!” . Giết 1 người ,thì tội cũng đáng phạt tử hình . Nhưng khi sát hại hàng bao nhiêu ngàn người một lúc , thì HCM chỉ nhận “sai lầm ” (!) . Tìm xem (( Hồ Chí Minh khóc nhận sai lầm ))

Hãy xem  Lê nin sắp được chôn  để thấy người Nga đã phanh thây ,mổ bụng mọi gan Lê nin như thế nào? trước khi ướp muối đưa vào lăng .Người Nga cũng đã làm như vậy đối với HCM . Bởi vì HCM trước khi chết thay vì đi theo ông bà tổ tiên ,thì HCM đã đòi “đi gặp cụ các Mác ,Cụ Lê nin (!) ” nên đã chấp nhận ướp muối nằm trong lăng như Lê nin vậy .

(( Đất nước này bị tan tành thê thảm, đám cầm quyền liếm gót giầy Tầu cộng. Họ Hồ đúng là “bậc thầy” của Lê chiêu Thống và Trần Ích Tắc ngày nay. Làm sao tin nổi những gì người cộng sản nói vì lúa giống đã không còn một hạt. Nên dù có được bôi son trát phấn bao nhiêu, chân dung của tên đồ tể và bán nước họ Hồ vẫn là chân dung của phường trộm cướp. Cứ nhìn sự cai trị của đảng Cộng sản VN hiện tại thì thấy rõ, và hiểu tại sao bọn chúng lại giàu đến như thế. Chẳng cần nhìn đâu xa, con cháu bọn chúng xài Dollar như rác ngay trước mắt dân nghèo không đủ ngày 3 bửa, thì cứ biết rằng đó là hậu duệ , học trò của Hồ chí Minh.)) ( hết trích )
Xem  Mọi bí mật về Hồ Chí Minh tại ĐÂY
______________________________________________

Giặc đã chiếm trọn HS ,một phần TS , Ải Nam quan , một phần thác Bản Giốc, núi Lão Sơn …và đang dùng bản đồ “Lưỡi bò” để liếm sạch Biển Đông. Chế độ XHCN sai lầm từ lý luận đến thực tiễn; ĐCSVN hèn với giặc ác với dân đã đi vào giai đoạn suy tàn phản động, tham nhũng thối nát từ trên xuống . 
Để CỨU NƯỚC CỨU NHÀ: nhân dân VN chỉ còn một con đường đấu tranh đòi TRƯNG CẦU DÂN Ý PHÚC QUYẾT ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP quyết định Đảng độc quyền lãnh đạo, hay dân chủ hóa đất nước, đa nguyên đa đảng để tạo điều kiện cho những tổ chức, cá nhân có đủ tài đức tham gia vào sự nghiệp lãnh đạo ĐẤT NƯỚC .


Kính mời đồng bào và các bạn xem loạt video này để thấy tội ác của HCM đối với đồng bào Miền Nam trong Chiến dịch Mậu thân 1968 :
 Hồ Chí Minh “VÌ MIỀN NAM”Phần 5 Tổng tấn công và thảm sát Mậu thân 1968 .flv
Hồ Chí Minh Vì Miền Nam ( P6) Huế Mậu thân 1968 .wmv
Hồ Chí Minh VÌ MIỀN NAM Phần 2 Tổng tấn công và thảm sát Mậu thân 1968.flv 
Hồ Chí Minh VÌ MIỀN NAM Phần 3 Tổng tấn công và thảm sát Mậu thân 1968 .flv 
Hồ Chí Minh VÌ MIỀN NAM Phần 4 Tổng tấn công và thảm sát Mậu thân 1968.avi  

Các bài liên quan

Ai đã ngầm thỏa thuận ? bán Biển Đông choTrung quốc.   

VIỆT NAM phải làm gì để tránh chiến tranh ? Tránh chiến tranh tránh đổ máu ? 

Vì sao chủ nghĩa công sản bị cáo buộc chống nhân loại Phần 1.

 Trừng trị tên Công an Ác ôn đạp mặt người biểu tình .wmv  

GHI CHÚ:
(*) “Năm 1941 khi Thế Chiến II còn đáng tiếp diễn, các quốc gia Đồng Minh
Tây Phương ký Hiến Chương Đại Tây Dương cam kết sẽ trả độc lập cho các thuộc
địa Á Phi khi chiến tranh kết thúc. Và mùa Xuân 1945, 50 quốc gia Đồng Minh
lại họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và ban hành quyền
dân tộc tự quyết trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

(**) Cụm từ “Thống kê chính thức của nhà nước được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam tập hai cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam.” trên WIKIPEDIA Không hiểu vì lý do gì đã bị xóa . Nhưng vẫn theo WIKIPEDIA “148.565 ngôi nhà bị tịch thu” – ( tức là 148.565 gia đình nông dân bị đấu tố , mỗi gia đình bao gồm ít nhất 2 vợ chồng thì số người bị đấu tố tương đương 148.565 x 2 = 279,130 ); và chủ trương ở một số địa phương phải tìm cho ra tỷ lệ 5% địa chủ, “Việt gian” để mang ra đấu tố, thì con số sẽ không ít .
Như vậy con số 172,008 nạn nhân bị đấu tố vẫn còn là ít .

Tài liệu tham  khảo : Trung Quốc -Việt Nam中越关系大型图片集(Láng giềng 16 chữ vàng của ĐCSVN )

 

(posted by tunhan)

(posted by tunhan)

 

có khác gì VC là thuộc địa của Tàu khựa!

  •  VN Cộng sản = VC

Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung cộng

image

Tổng giám đốc người Nhật: Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Cộng

Đây là câu nói của một ông giám đốc người Nhật, nói trước hàng chục quan khách Việt Nam trong một phòng hội thảo của một khách sạn 5 sao.

Câu nói này làm hết thảy các vị doanh nhân, nhà khoa học, thậm chí là cả những viên chức nhà nước trong khán phòng sững sờ.

Câu nói ấy không khác việc ông giám đốc người Nhật kia đã vả một cái tát vào mặt tất cả những con người Việt Nam ưu tú trong khán phòng. Họ đều là những người Việt Nam thành đạt, là những người yêu nước, làm sao có thể chịu đựng được sự sỉ nhục ấy.

Thế nhưng, những lời nói tiếp theo đó của vị giám đốc kia đã phải khiến khán phòng gật đầu thừa nhận, thậm chí là vỗ tay. Ông chỉ vào chiếc màn máy chiếu, chỉ vào cặp đèn trên trần nhà, chỉ vào bộ quần áo mà mọi người đang mặc, thậm chí là cây bút và tờ giấy mà họ cầm trên tay, ông nói: “Made inChina”.

Ông nói rằng, người Việt Nam giỏi lắm, thông minh lắm, kiên cường lắm. Lúc ấy người Nhật thua trận trước người Mỹ, cả nước Nhật thấy sỉ nhục, còn người Việt Nam thì lại thắng nước Mỹ. Nhưng 20 năm qua đi, Nhật Bạn có Toyota, có Honda, có Mitsubishi, Việt Nam có gì? 

Người Hàn Quốc chịu sỉ nhục trước người Nhật, họ có Huyndai, có Samsung, có LG, Việt Nam có gì?

image

Tổng giám đốc người Nhật: Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Cộng. Nhất là khi tiếp đón lãnh đạo TC với lá cờ TC 6 sao.

Hàn Quốc có những bối cảnh lịch sử rất giống Việt Nam, đặc biệt khi phải chịu sự chia cắt giữa hai miền đất nước. Cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều chịu sự chèn ép, cạnh tranh to lớn từ người láng giếng Trung Quốc. Trung Quốc luôn tham vọng trở thành một cường quốc biển, những vụ đụng độ trên biển với Hàn Quốc hay tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku với Nhật Bản vẫn luôn không ngừng. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng không thể dùng sự ngụy biện ấy mà phủ nhận đi một sự thật là Việt Nam đang biện hộ quá nhiều cho sự yếu kém của mình.

Đừng nói nước ta có quá nhiều thế lực thù địch

Đừng nói chúng ta phải chịu nhiều mất mát do chiến tranh

Đừng nói chúng ta gặp phải quá nhiều thiên tai bão lũ

image

Nếu đã yếu, đã nghèo, ắt phải học khiêm tốn. Hào quang lịch sử, vinh quang quá khứ, dân tộc anh hùng, một vài nghìn năm văn hiến sẽ chỉ là thứ huy hoàng cũ kỹ treo trên tường một căn nhà đã dột nát.

image

Cảm ơn cái dàn khoan TC

Có lẽ, nhiều người phải cảm ơn cái dàn khoan HD-981 của công ty CNOOC.

Nhờ có cái dàn khoan ấy, nhiều thanh niên mới bắt đầu tìm hiểu xem luật biển là gì, COC với DOC là gì, nhiều thanh niên khác lần đầu tiên nhìn lên bản đồ và ngó xem xem, Hoàng Sa gần đảo Hải Nam đến thế nào còn Trường Sa gần Philippines ra sao. Riêng đảng ta vẩn như con đả điểu chỉ biết vùi đẩu trong cát TC, cát này nóng có thể làm chín đầu các ủy viên Thường Trực Trung Ương

Nhờ có cái dàn khoan, người Việt hiểu được sức mạnh của dân tộc, sức mạnh ấy thể hiện qua hàng chục nhà máy của cả Việt Nam, Đài Loan lẫn Hàn Quốc, Nhật Bản bị đập, đốt tan tành, qua hàng chục nghìn chữ ký trên mạng hay hàng tỷ đồng tiền quyên góp cho Trường Sa.

Nhờ có cái dàn khoan ấy mới có lần đầu tiên một cuộc biểu tình mà những đoàn viên thanh niên giơ cao biểu ngữ ủng hộ nhà nước đi cùng các biểu ngữ đòi tự do cho nhiều tù nhân chính trị.

image

Kể từ ngày hôm ấy, cái ngày mà khói lửa bốc lên ở Bình Dương, có một điều gì đó lớn lao đã thay đổi ở đất nước này. Tôi không nói cụ thể được nó là gì, nhưng rõ ràng là mọi thứ không còn như trước nữa, một cỗ máy nào đó đã được vận hành.

Nhưng, có lẽ có nhiều thứ rồi cũng sẽ đi vào quên lãng. Có một mùa hè, người ta nói về sự gian trá trong những mùa thi, để rồi một mùa hè khác món chè khúc bạch lên ngôi thay thế cho những sự um xùm về nạn hôi của. Mùa hè năm nay, cái dàn khoan đè xuống cái bản đề xuất cải cách giáo dục 36000 tỷ của bộ giáo dục cũng như cái án dành cho ông Dương Chí Dũng.

Có thể, ngày mai, báo sẽ lại đưa tin, có một dàn khoan lạ xâm nhập vào vùng biển nước ta, hoặc là có tàu lạ đến cắt cáp dưới đáy biển.

Có thể lắm chứ, chủ trương mà.

Trần Đại Quang

image https://www.youtube.com/watch?v=uPBq_6bJ3MY&feature=youtu.be&app=desktop

https://www.youtube.com/watch?v=uPBq_6bJ3MY&feature=youtu.be&app=desktop

Hồi ký của Khôi An – Tình Nghĩa, Nghĩa Tình !

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình

Khôi An

 khoi-an
Khôi An và Phương Hoa, hai giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2014 và 2013.

Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân cuả Bắc California.  Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử tại Intel Cooperation. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của cô là “Vui Buồn Thuở Ấy”. Bài mới viết cho biết thêm cô là thuyền nhân và kể lại câu chuyện xúc động:  Một chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi và vào lúc tả tơi cùng quẫn hết chạy nổi thì thấy lá cờ Mỹ…

***

Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hoà. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho ngươì đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm ngươì bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng”

. . .

Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín ngươì đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an. Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi ngươì chìm vào giấc ngủ mệt mỏi…

Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình choàng dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy ngươì lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:

- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!

Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi…

Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc…  Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đuợm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:

- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây”

Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.

Bỗng bác tài công và những nguơì trong phòng máy trên cao vụt la lớn:

- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!

- Tàu gì vậy” Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!

Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi…  mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.

Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút ngươì đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:

- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!

Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!

Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những ngươì lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những ngươì yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi ngươì được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm ngươì Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi ngươì đã lên tàu lớn, những nguơì lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi…

Tổng cộng thuyền nhân đuợc cứu từ hai chiếc ghe vuợt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyêt định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.

Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi đuợc phép lựa những thứ tạm mặc đuợc để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.

Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.

Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm ngươì chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ đuợc rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy ngươì ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám ngươì đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!

Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.

Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã đuợc xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng đuợc thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng đuợc cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước…

Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần, vui vẻ. Họ đuà giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề “For Your Eyes Only”. Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưỏng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.

. . .

Như thế đó, tôi đã may mắn gặp đuợc cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình ngươì, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.

Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng “xuất khẩu” mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.

Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo” đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưởng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như…  có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.

Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị “đồng minh Mỹ bỏ rơi”. Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi ngươì, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những nguơì dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những ngươì Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng – hay mong rằng – nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.

Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra đi không có ngày về”. Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết – hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết – cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.

. . .

Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển ! Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.

Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã duỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã…  Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại ? Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.

Khôi An.

Muà Giáng Sinh 2008

Aboat2

Tôn Nữ Hoàng Hoa – bài viết đề cập tới “điếu cày”!

Cái Chết Của Những Con Đom Đóm 

Tôn Nữ Hoàng Hoa 


Khi ánh nắng hoàng hôn không còn tần ngần trên những ô cửa kính, bầu trời sậm xuống và bóng tối từ từ đi lên là khoảng thời gian mà những người tha hương thường hay nhớ về quê nhà.
Tôi nhớ về Huế vào khoảng thời gian của thập niên 50 nơi căn nhà hương hỏa của bà nối ở Bầu Vá. Cứ mỗi lần nghĩ đến là mỗi lần khao khát trở lại tuổi thơ không muộn phiền và cuộc đời như một cánh đồng hoa thơm ngát .Tôi nghe trong tôi nhiều cảm xúc khi nhớ về quê nhà nơi căn nhà tuổi thơ tôi đã sống, và thích nhất là nhìn cảnh những con đom đóm bay từng đàn trong đêm với từng chùm ánh sáng lập lòe .

Có lan Tôi đọc câu chuyện The Knight and The Firefly mà trong đó nhân vật chính là cậu bé Oliver. Oliver rất dũng cảm về ban ngày nhưng khi màn đêm buông xuống Oliver lại cảm thấy sợ hãi. Nỗi bí ẩn lo sợ bóng tối trong tận cùng vực thẵm của tâm can đã làm Oliver khát khao khắc phục.

Cho đến một đêm kia với sự giúp đở của đom đóm Phineas, Oliver nghe tiếng gọi mơ hồ như bừng lên quyết tâm khắc phục sự sợ hãi bóng đêm của mình . Sau khi vội vả ăn xong bửa cơm tối Oliver cầm nhanh cái lọ chạy vào bóng đêm và đuổi theo đàn đom đóm đang nhảy múa trong vườn

Đom đóm thuộc loại côn trùng có cánh sản xuất một thứ ánh sáng lạnh không có hồng ngoại hoặc tia cực tím, từ dưới bụng.

Sự sản xuất ánh sáng của những con đom đóm là do một loại phản ứng hóa học được gọi là quang sinh học. Phát quang sinh học của đom đóm dường như là một tín hiệu cảnh cáo cho những kẽ săn mồi muốn xâm nhập vào vùng lãnh thổ của chúng

Thường thường thì những con đom đóm nam giới bay còn đom đóm nữ giới thì nằm trên cây

Oliver nghĩ rằng khi cậu ta tóm hết những con đom đóm bỏ vào cái lọ thì với ánh sáng của đom đóm cậu ta sẽ trở thành lãnh tụ của bóng đêm và thu gọn tất cả ánh trăng của bầu trời .

Khi cái lọ đầy ắp những con đom đóm cùng với ánh sáng lập lòa Oliver vội vả trở về nhà để cái lọ đom đóm trên bàn ngủ của mình xử dụng ánh sáng của loài đom đóm như cây đèn trên bàn ngủ. Nhưng khi ánh sáng của loài đom đóm mờ dần, mờ dần đã làm Oliver nhận ra rằng không có một thứ ánh sáng nào vĩnh cửu như ánh sáng của Thượng Đế

“Ánh sáng của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải ” cũng là một thứ ánh sáng mà quí vị đang bỏ vào lọ hy vọng cũng sẽ lập lòe mãi trong đêm

Quí vị cho rằng những ai lên tiếng phản đối về thái độ chính trị không chấp nhận cờ Vàng của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải là đã đẩy Điếu Cày ra khỏi Tập Thể Người Việt Ty Nạn cs tại hải ngoại?

Nói một cách thật thà thì không ai đánh phá Điếu Cày cả. Bằng chứng là khi tập thể người ty nạn cs tại HN đón rước Điếu Cày tại Los Angeles Chúng ta thấy họ đã dâng hiến cho cho ĐC với những tấm lòng ngưỡng mộ. Họ nhiệt tình dâng hiến sự ngưỡng mộ đó đối với Điếu Cày bằng cách đó nắm tay thân mật cùng với tấm lòng chân chất mộc mạc đưa lá cờ Vàng là một biểu tượng thân thương tôn thờ của họ cho Điếu Cày trong một tấm lòng hân hoan khúc nhạc “Anh Đã Về Đây”

Nhưng cái khoát tay từ chối cầm lá cờ Vàng của Điếu Cày một cách phủ phàng đã làm họ ngỡ ngàng tê tái. Phản ứng từ chối nắm lấy lá Cờ Vàng của Điếu Cày như một cái tát tai nẫy lửa vào mặt họ làm lòng họ chùng xuống như một nốt nhạc buồn rơi lạc điệu. Cái âm thanh lạc điệu đó đã làm lòng họ nặng nề thêm trên nỗi hân hoan chào mừng vừa mới nhóm

Sự từ chối cầm lá cờ Vàng cùng với lời tuyên bố của Điếu Cày “Việc tôi không nhận lá cờ thì sự thật đã rõ… nhiều người đã thấy khi xem clip.

Và Điếu Cày khẳng định thái độ chính trị rõ ràng là nếu muốn Điếu Cày chấp nhận lá Cờ Vàng thì phải có điều kiện ắt có và đủ là :”Nếu 90 triệu người dân đồng ý về biểu tượng chung đó thì tất cả cùng đứng chung dưới biểu tượng chung ấy…”

Với thái độ chính trị dứt khoát không chấp nhận lá Cờ Vàng của Điếu Cày là CHÍNH ĐIẾU CÀY TỰ ĐÁNH MÌNH RA KHỎI HÀNG NGŨ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CS. KHẲNG ĐỊNH RÕ RÀNG MINH BẠCH LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ LÀ KHÔNG ĐỨNG VÀ CŨNG KHÔNG NÚP DƯỚI LÁ CỜ VÀNG.

Như vậy cái hành động của quí vị khi quàng cái khăn quàng bằng hình ảnh lá cờ Vàng vào cổ của Điếu Cày là có phải quí vị đã áp đặt tư tưởng chính trị vào Điếu Cày phải không?

Ờ xứ tự do dân chủ không ai có quyền áp đặt tư tưởng chính trị của mình vào người khác

Ở đây không có chuyện Ai Chiến Thắng Ai và cũng không có chuyện Ai ĐÁNH phá Ai mà ở đây tập thể Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại chỉ khẳng định một thái độ chính trị rõ ràng và một lập trường minh bạch trên tôn chỉ LẰN RANH QUÔC/CỘNG . THẾ THÔI

Quí vị ủng hộ Điếu Cày vẫn tiếp tục thóa mạ những ai không nhìn thấy”Ánh Sáng Đom Đóm của Điếu Cày” nhất là khi Ban Đại Diện của Cộng Đồng Việt Nam vùng D.C., Maryland, và Virginia ra thông cáo không Tổ chức gặp gỡ Điếu Cày,cũng không liên quan đến việc tổ chức gặp gỡ Điếu Cày của đài SBTN Vào chiều Chúa Nhật 23/11/2014 cũng như không tham dự .

Vì thế những ban đại diện của các tổ chức cộng đồng nào tổ chức tiếp đón Điếu Cày tức là họ đang dùng môi trường chính trị của Cộng Đồng để hoạt động cho đảng phái chính trị của họ trên mục tiêu hòa hợp hòa giãi trong ngoài

Thảm hại hơn nữa quí vị lại biến “anh hùng dân tộc Điếu Cày” trở thành món hàng trả giá trong việc tiếp nhận Điếu Cày vào Tập Thể Người Việt QG bằng cách quàng lá Cờ Vàng vào cổ Điếu Cày để make a deal “Này quí ông bà đòi hỏi phải có Cờ Vàng thì bây giờ chúng tôi đã quàng cờ Vàng vào cổ Điếu Cày đấy, có thấy không? Hay còn thắc mắc gì nữa ?

Thê thảm hơn cho Điếu Cày khi không trở thành con rối nhảy múa trong những màn xiếc do các nhà điều khiển điều hành trên sân khâu để mua vui cho thiên hạ. Có đúng không quí vị ?

Năm 1960 khi thực hiện âm mưu xâm lấn miền Nam, đảng csVN đã dấu mặt để cho các văn nô bồi bút tập kết ra Bắc được hồi cư vào Nam để thực hiện mục tiêu biến họ thành những người dân tự phát thi hành những công tác chỉ đạo để phá rối sự ổn định của xã hội miền Nam lúc bấy giờ .

Đến thời điễm hôm nay VC lại xào nấu chiêu bài cũ cứ lâu lâu “xuất cảng” một con chốt sang sông để gây phân hóa trong tập thể Ngưới Việt TỴ nạn CS qua Ý kiến tung hứng ĐỒNG VÀ DỊ

Nhưng VC đã thất bại vì gần một thế kỶ qua, sự tiến hóa của thế giới như bão táp. Những Ý thức Duy Vật đã suy tàn và những quan niệm mới đã nẩy sinh do đó sự hiểu biết của Người Việt TỴ nạn CS đã trưởng thành , đã chửng chạc hơn trên sự lừa bịp lịch sử của VC

Vì thế khi Điếu Cày đến Vùng đất hải ngoại đã không update vẫn xài bản chất “đỉnh cao trí tuệ” cũ là cái gì của ta cũng tốt cũng nhất (như bộ đội VC đã thắng Pháp và đã đánh cho MỸ cút Ngụy nhào) Và cái gì của “địch” đếu là đồ dỏm.

Như vậy làm sao mà Điếu Cày phải chấp nhận lá Cờ Vàng trong khi trên vùng ky ức quá khứ của Điếu Cày đang chập chùng những hình ảnh tấn công cướp đồn và mau chóng treo lá Cờ Máu .

Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần phải đặt lại vấn đề có nên tranh luận về Điếu Cày nữa hay không? một khi cái quan hệ chủ nghĩa Mảc Lenine và công tác tiến tới Xã Hội Chủ Nghĩa của Điếu Cày vẫn còn đó . Vì thế Điếu Cày đã thi hành công tác chỉ đạo là đang đặt lại cái giá trị của những nguyên lÝ Về HAI LÁ CỜ

Điều quan trọng trong cuộc tranh luận này không phải NHÂN VẬT ĐIẾU CÀY mà là một chiến thuật có kế hoạch tạo hoang mang trong Tập Thể Người Việt tỴ nạn CS tại hải ngoại trên công tác lÝ luận của VC trong âm mưu xóa bỏ Lá cờ Vàng.

Chính vì cái công tác ly luận KHÔNG CHẤP NHẬN LÁ CỜ VÀNG của Điếu Cày đã giúp cho Tập Thể Người Việt TỴ Nạn CS tại hải ngoại đã sớm nhận ra
cái cốt lỏi bên trong của cả một công cuộc vận động hiện thực của đảng csVN trong mục tiêu xóa bỏ lá Cờ Vàng.

Từ đó dưới cái vỏ bọc bên ngoài là tranh đấu để LIÊN KẾT TRUYỀN THÔNG TRONG VÀ NGOÀI NƯƠC đã làm họ nhìn ra được mục tiêu qui luật của vấn đề. Do đó họ không hời hợt , không bối rối trước những hiện tượng ngụy trang ngụy biện lừa bịp của VC .

Riêng về sự phẫn nộ của quí vị về việc Tập Thể Người Việt TỴ Nạn CS tại hải ngoại không công kênh Điếu Cày, không tung hô Điếu Cày là anh hùng dân tộc , chúng tôi hoàn toàn thông cảm. Nhưng thưa quí vị cái ánh sáng mà quí vị đang trùm cho Điếu Cày tỏa sáng chỉ là thứ ánh sáng của loài đom đóm trong đêm đương nhiên sẽ mờ dần trong lọ.

Quí vị hãy như Oliver nên quyết định gấp khi thứ ánh sáng ấy đang mờ dần trong lọ, là nên thả những con đom đóm ấy ra để chúng bay về trong đêm làm hoạt cảnh nhảy múa cho nhi đồng hay quí vị ngồi chờ cái chết của những con đom đóm đang gần kề .

Tôn Nữ Hoàng Hoa
15/12/2043
Posted by
Posted by tunhan

Posted by tunhan