truyện ngắn Phạm Lưu Vũ _ Chị cả Bống

Chị cả Bống

Email In
http://4.bp.blogspot.com/-8Sal9yoxi0A/TjcMcgdMT-I/AAAAAAAAAm8/8Zle-mW4kBg/s1600/ganh-hang-rong.jpg

Chị Cả Bống

Lời Giới Thiệu: Truyện ngắn Chị Cả Bống xuất hiện đầu tiên trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 8/6/05. Lập tức toàn bộ số báo bị tịch thu. Ông phó tổng biên tập cho in bài “nổi loạn“ này bị mất chức. Tác giả đang bị công an hù dọa liên tục.Số báo ngày 8/6 này đang được photocopy truyền tay nhanh chóng tại Hà Nội, vượt xa cả số phát hành chính thức là 2000 tờ. Những số báo đã lỡ gởi ra trước khi có lệnh tịch thu mà các đại lý nhanh tay giấu được ngay lập tức được bán với giá gấp 10 lần ( 20. 000 đồng một tờ). Tại Sài Gòn nơi tác giả lấy bối cảnh để viết, giá lên gấp hai mươi, ba mươi lần.
http://1.bp.blogspot.com/-PbEqibfui0k/UDRw5mtu7JI/AAAAAAAAAGU/qzs421apdfo/s400/boy_reading_book.jpg
 
Chiều tà, một người đàn ông phóng như ngựa phi nước đại về phía tây thành phố, nơi ấy có nhà tù với cái tên rất đẹp là “Hòa khí“. Tới cổng gác, ông ta trình thẻ căn cước cho lính canh. Sau khi xem chứng minh thư, lính canh dẫn ông vào văn phòng nộp hồ sơ. Một người đứng tuổi đeo kính trắng nhận hồ sơ rồi bảo:
-Dẫn tới khu nhà chờ, đợi thẩm tra hồ sơ, ba tuần sau có kết quả.
Lính canh lại dẫn ông ta đi, khu nhà chờ gồm vài dãy nhà cấp 4 sập xệ và rêu mốc, rất đông người ở kín các gian phòng, đàn ông, đàn bà, lớn bé, già trẻ, đủ cả… Điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ song không ai ta thán, đơn giản họ chỉ ở lại đây có vài tuần. Từ khi lập ra khu nhà chờ này không lúc nào vơi người. Ngày nào cũng có người đi lại, ngày nào cũng có người đến. Giống như người đàn ông kia, mọi người chờ thẩm tra hồ sơ, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được vào tù. Tiêu chuẩn đơn giản nhưng không phải không kỹ càng, chỉ những người lương thiện không dính tý lưu manh nào mới được vào tù. Tất nhiên lũ bất lương đừng hòng bén mảng tới.
Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, ở xứ xở này, không có chuyện gì là không xảy ra kể cả những chuyện ngược đời, đơn giản mọi người không những thích đùa mà còn đùa rất dai; 5 giờ rưỡi sáng, kỹ sư Hoàng thức dậy, vợ và đứa con trai mười tuổi của anh đang ngủ say. Đứa con gái 17 tuổi của anh đêm qua không về, chị giúp việc cũng đã dậy từ lúc nào, đèn dưới bếp hắt lên mấy vệt sáng le lói qua khe cửa. Mười phút cho việc vệ sinh cá nhân, 25 phút cho việc mở các loại cửa. Như mọi nhà trong thành phố, từ lâu anh đã biến căn hộ của mình thành một pháo đài. Các cửa sổ ngoài việc lắp chấn song bằng thép dày, còn được giằng ngang ba ống thép to bằng cổ tay, chia đều từ trên xuống dưới. Cửa đi cũng bằng thép đúc, bên ngoài dán một lớp gỗ mỏng. Tính từ trong ra đến cửa, còn năm lớp cửa như thế, tất cả đều có khóa đặc biệt, mỗi cửa gồm ba chiếc khác loại nhau. Mở đến lần cửa cuối cùng thì vợ con anh cũng vừa trở dậy. Những việc chuẩn bị cho một ngày mới diễn ra đã thành nếp. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng chị giúp việc hai vợ chồng dắt xe đi làm. Chị kiêm thêm nhiệm vụ đưa con tới trường, chiều về ghé qua chợ mua thức ăn cho ngày hôm sau. Trước khi ra cổng, anh một lần nữa kiểm tra trên người vợ con xem có đeo bất cứ loại trang sức nào không, nhắc vợ cẩn thận kẻo bị cướp… Anh lại lần lượt khóa tất cả các cửa từ trong ra ngoài, trong lúc vợ đứng giữ xe. Đứng bên ngoài thò tay qua các lỗ cửa thực hiện những thao tác của người mù, mười phút nữa cho công việc ấy, xong xuôi vợ chồng con cái chia thành hai ngả phóng xe đi.
Kỹ sư Hoàng làm việc tại một cơ quan thiết kế gần trung tâm thành phố. Mới ngoài 40 mà tóc anh đã gần như bạc trắng, thằng con trai lớn 19 tuổi đang ở trung tâm cai nghiện, đứa con gái thứ hai 17 tuổi đua đòi chúng bạn bỏ cả học đi vũ trường thâu đêm, suốt sáng. Không phải vợ chồng anh không biết dạy con mà là bất lực. Con đường đời biết bao nhiêu cạm bẫy, nó gài khắp mọi nơi, mọi chốn, gài trên mỗi bước chân. Già đời chững chạc như vợ chồng anh, ngày nào cũng phải nhắc nhau từng tí một mà vẫn ngay ngáy lo rằng không biết lúc nào, cái bẫy nào sẽ ụp xuống mình đây ?
Kỹ sư Hoàng chợt lạnh người. Có tiếng còi nghe rợn tai, một cảnh sát giao thông bước quả quyết từ trên vỉa hè xuống đường vừa tuýt còi, vừa chỉ thẳng cái dùi cui vằn vện vào mặt anh, một cảnh sát khác ngồi vắt vẻo trên yên xe máy phân khối lớn sơn màu trắng. Chưa kịp hiểu mình có sai luật hay không anh vội đạp phanh, chiếc xe dừng tắp lại.
-Kiểm tra giấy tờ! Người cảnh sát vừa rút chiếc còi ra khỏi miệng vừa giơ tay lên mũ chào như một cái máy, vừa ra lệnh cho anh. Cầm giấy tờ của anh đưa cho anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, anh cảnh sát ấy lại tiếp tục đút còi vào miệng cầm gậy trỏ xuống đường chọn bắt xe khác. Anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, lướt qua đống giấy tờ của một anh khác. Không nói năng anh ta đưa mắt ngó lơ đi chỗ khác như thể chờ ai đến đọc giùm. Cũng như một cái máy, kỹ sư Hoàng dựng xe, móc bóp, rút ra một tờ đẹp đẽ vuông vắn có in hình lãnh tụ, bước tới chỗ anh ta.
Đến cơ quan, vừa kịp giờ làm việc, chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là một thẩm phán toà án, người đang xử lý vụ kiện đòi nợ của cơ quan anh. Bằng một giọng rất lễ phép anh thẩm phán nhắc khéo anh rằng vụ kiện của cơ quan anh sẽ có thể bị đình chỉ vì phía anh chưa nộp chi phí cho việc thẩm tra. Nhân tiện anh ta nhắn rằng bữa nhậu chiều qua vì điện thoại cho anh không được mà anh ta và đám chiến hữu bên viện kiểm soát phải ký nợ nhà hàng một khoản kha khá, lúc nào anh ghé qua thanh toán giùm…
Chiều hôm đó về nhà, kỹ sư Hoàng chưa kịp mừng vì tin cô con gái đã trở về đang nằm bẹp trên gác thì đã nghe vợ mếu máo báo tin chiếc xe máy của chị bị cướp, mẹ con phải đi bộ về. Thực ra chị đã dối anh, chiếc xe máy đó chị đã buộc phải thế chấp để chuộc cô con gái từ cái động của một mụ tú bà, vì cô còn nợ mụ một khoản tiền vay mua son phấn với mức lãi 40 % một ngày. Thế coi như của đi thay người. Kỹ sư Hoàng chưa kịp phát điên lên vì giận dữ thì may quá nhà có khách. Ông trưởng khu phố và mấy cán bộ của Uỷ ban lừng lững bước vào:
-Chúng tôi đến nhắc anh về khoản đóng góp xây nhà tù -Ông trưởng khu vào đề ngay, nhân tiện báo để anh biết tháng trước có xe chở vật liệu đến đây, anh đã thuê thợ sửa nhà mà không xin phép. Uỷ ban đã nắm được việc này, nếu anh không thu xếp ngay thì sẽ bị lập biên bản thu giữ giấy tờ nhà, giấy tờ đất.
Kỹ sư Hoàng ngớ ra, quả thật tháng trước anh có thuê thợ lắp thêm một lần cổng nữa, phải xây mấy mét vuông tường, tưởng việc nhỏ, không phải xin phép, ai ngờ… Thôi đành “thu xếp“ cho mấy vị trong Uỷ ban, nhưng còn khoản đóng góp xây nhà tù ?
-Can phạm bây giờ nhiều quá ông trưởng khu phố giải thích. Đấy anh xem, trong nhà gặp lưu manh, ra đường đụng kẻ cướp, đủ các kiểu ăn cướp; rồi còn lũ ăn trộm, lừa đảo cho vay nặng lãi, nhà tù nào cũng chật ních, phải xây thêm. Ngân sách không kham nổi phải áp dụng phương pháp “Nhà nước và nhân dân cùng làm“. Phố ta được giao chỉ tiêu góp vốn xây 500 mét vuông nhà tù, thế mà ngẫm lại vẫn chưa đủ cho số tội phạm của chính phố ta đang nằm trong đó, chưa kể số sắp phải vào tù nay mai…
Đoàn cán bộ khu phố về được một lúc thì lão Tiến cụt giò đến, đó là một lão già vô tích sự nhà kế bên. Lão bị cụt một bên giò từ hồi chiến tranh, giờ sống bằng số tiền thương tật, thỉnh thoảng con cháu dấm dúi gặp chăng hay chớ cho thêm. Suốt ngày chẳng làm trò gì, chỉ hay la cà hết nhà này đến nhà khác kiếm câu chuyện làm quà. Nhà kỹ sư Hoàng là một trong những nơi lão hay mò đến. Lão dở hơi ấy liến thoắng như thể đã tỏ tường mọi chuyện:
-Họ đến đòi tiền đóng góp xây nhà tù phải không? Anh kỹ sư này tôi nói anh xem có đúng không nhé: -Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá, phải góp tiền xây nhà tù cho bọn bất lương ở, lại còn phải nai lưng nuôi chúng nữa, trong khi bọn lưu manh ngày càng chiếm đa số, người lương thiện ngày càng giảm đi. Biết đâu đến một lúc nào đó, những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. Khi ấy tất nhiên bọn lưu manh tha hồ ở ngoài, vì lương thiện bây giờ đâu có nhiều nhặn gì, vừa bắt chính bọn chúng phải nai lưng ra làm đề nuôi người lương thiện, như thế có phải là công bằng không ?
Kỹ sư Hoàng phì cười vì cái lý sự ấy của lão Tiến cụt, vừa lúc ấy, chuông điện thoại trong nhà đổ dồn, vợ anh nghe xong, mặt tái mét ra báo tin dữ:
-Anh tới ngay bệnh viện Chúng Sinh. Thằng Phúc con chị cả bị cướp giật té xe, chấn thương sọ não đang nằm cấp cứu trong ấy.
Chị Cả Bống là chị gái kỹ sư Hoàng ở dưới quê, anh chị có ba thằng con trai thì hai thằng lớn theo bố làm nghề xin đểu kiêm trấn lột ở bến đò Đuôi Cáo bị đâm lòi ruột, chết cả ba bố con từ năm kia. Cũng là cái số thôi. Làng khối người làm nghề ấy hoặc hao hao nghề ấy mà có sao đâu, chỉ thỉnh thoảng lại thấy đi ở tù, vài năm về còn lưu manh hơn trước. May còn lại một mình thằng út tên Phúc ngoan, hiền, học giỏi. Năm ngoái đỗ đại học lên ở ký túc xá. Nó thương cậu mợ Hoàng nghèo nên không muốn nhờ vả. Chị Cả bán hết mảnh vườn còn lại sắm cho nó cái xe máy cũ làm phương tiện đi lại. Hôm ấy đang làm cỏ ngoài đồng có người gọi về cái trạm điện thoại công cộng ở đầu làng báo tin nó bị nạn. Chị nghe nhắn lại mà muốn quỵ luôn xuống ruộng. Vội vã chạy về nhà, chị vét vội mấy bơ lạc, bơ gạo nếp cho vào mấy cái bao ruột tượng tất tả chạy ra bến đò Đuôi Cáo. Vừa mới mon men gạ bán ở các hàng quán quanh đó, bất ngờ gặp mấy anh quản lý thị trường, chị bị bắt vào trụ sở. Lạy van thế nào họ cũng không nghe, còn dẫn hết “nghị định 01“ đến “thông tư 04“ gì đó ra đọc sang sảng vào hai cái tai đã chỉ còn nghe thấy tiếng lùng bùng của chị. Kết quả mấy bơ lạc ấy bị tịch thu vì lý do bao bì không có nhãn hiệu hàng hóa !
Thật khốn khổ cho chị, chỉ do cuống lên vì đứa con cuối cùng còn sót lại đang gặp nạn, muốn bán tống bán tháo mấy món tài sản ít ỏi ấy cho thật nhanh để lấy tiền đi xe lên thành phố. Chứ có phải chị buôn gian bán lận gì đâu ? Còn tiền thuốc thang, nói dại, nếu nó bị nặng chị chưa biết sẽ trông vào đâu, một viên thuốc cảm bằng cái cúc áo bây giờ giá bằng ba bốn cân thóc. Giờ thì ngay đến việc lên nhìn mặt con cũng bị chặn đứng lại rồi. Không có tiền ai người ta cho chị đi xe hàng trăm cây số? Càng nghĩ chị càng quýnh quáng chân tay, cuống cuồng, đứng chôn chân một chỗ, đầu óc mụ đi, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn phía trước như một bức màn sương… bỗng từ trong cái màn đục lờ ấy, một bóng trắng hiện ra quằn quại, máu bê bết hiện ra chập chờn lúc xa xa, lúc ập ngay trước mặt, gió lạnh quất gai người. Phảng phất màu tanh của máu tươi. Tai chị nghe rõ ràng tiếng kêu cứu của đứa con trai. Chị bàng hoàng nhận ra đó là tiếng rên từ địa ngục, tiếng của một âm hồn không còn ở cõi nhân gian này nữa:
-Mẹ ơi, con chết rồi. Họ đang mổ bụng con. Mẹ ơi…
Chị cả Bống hốt hoảng lao tới, giơ hai tay túm lấy bóng con, chợt cái bóng như có người giằng lấy, chập chờn quăng qua quăng lại trước mặt chị rồi mờ dần mờ dần, vẫn còn ri rỉ tiếng kêu cứu của oan hồn, rồi tất cả lịm đi. Cả tiếng kêu cứu lẫn cái bóng máu me chợt tắt ngấm bởi một tràng cười ré lên sằng sặc như của lũ ma quỷ nhưng không phải vọng lên từ địa ngục, tiếng cười ấy rõ ràng đang ở cõi nhân gian hiện hữu này…
Chị cả Bống sau này phát điên không về làng nữa, cứ lê la liếm láp ở quanh cái bến đò có cái tên rất ấn tượng là bến đò Đuôi Cáo ấy. Nhưng chị không điên ngay lúc đó, có người chứng minh là sau khi ra khỏi trụ sở ban quản lý thị trường chị vẫn còn tỉnh táo nhớ ra trong người còn sót mấy đồng tiền lẻ. Chị lần vào trạm điện thoại công cộng gọi điện báo cho cậu em trai. Đó là tất cả những gì chị làm được cho đứa con. Sau đó chị mới phát điên.
Kỹ sư Hoàng đến bệnh viện Chúng Sinh thì trời đã tối. Tìm tới phòng cấp cứu, anh hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, cô hộ lý mặc blu trắng bảo:
-Biết ai là phúc với họa gì ở đây. Đi mà hỏi trực ban.
Phòng cấp cứu rộng mênh mông, đầy những giường là giường, giường nào cũng ít nhất hai người nằm trở đầu đuôi. Đủ các kiểu tai nạn, vỡ đầu, gãy chân, lòi ruột, lòi xương. Ánh đèn nê ông trắng bệch soi loang lổ những máu me bông gạc. Nồng nặc một thứ mùi vừa tanh tanh máu, vừa ngầy ngậy thuốc tây. Bóng những blu trắng đi qua lại giữa các giường như ma trơi. Làm sao nhận ra đứa cháu bây giờ ?
Kỹ sư Hoàng vội vã đến phòng trực ban. Phòng trực ban cấp cứu nằm cuối dãy hành lang đầy những kẻ nằm người ngồi vạ vật rất chi là bệ rạc. Trong phòng có mấy người cũng mặc blu trắng đang chụm đầu bàn bạc nhỏ to:
-Cái mật hôm trước bán vội quá. Ngay hôm sau có người tới trả cao hơn cả chục triệu, tiếc đứt ruột -một người nói
-Cái này đếch bán nữa, đem ngâm rượu. Hũ rượu trước hết con mẹ nó rồi. Mấy lão hen suyễn kinh niên uống vào là khỏi, để giành bán cho các lão ấy. Gớm họ vừa chi tiền vừa cám ơn rối rít ấy chứ -một người khác nói
-Thôi được rồi! Người thứ ba nói -các ông xuống làm ngay đi, thằng này căn cước ghi rõ ràng: -19 tuổi. Đã kiểm tra, đảm bảo còn nguyên dương ( đàn ông chưa xuất tinh lần nào) chết do chấn thương sọ não vừa được mấy phút. Cái mật này mới tuyệt hảo, để quá hai tiếng có mà hỏng mẹ nó cả chì lẫn chài. Đã điện thoại cho bên công an rồi, họ bảo cứ mổ đi, có gì đừng “quên“ họ là được.
Hai người kia vội vã đứng dậy lao nhanh ra khỏi phòng, vừa lúc ấy kỹ sư Hoàng bước vào:
-Bác sĩ làm ơn cho hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, 19 tuổi, sinh viên năm thứ hai, nghe nói bị chấn thương sọ não có cấp cứu ở đây không, nằm giường số mấy? Tôi là cậu ruột cháu -kỹ sư Hoàng vừa hỏi vừa tự giới thiệu
Anh bác sĩ còn lại trong phòng thoáng một chút giật mình. Anh ta làm như nghĩ ngợi điều gì rồi ngập ngừng:
-Tên Phúc, sinh viên, 19 tuổi.. A… anh… à bác ngồi chờ cháu một lát.
Linh cảm thấy có gì nghiêm trọng xảy đến với đứa cháu, lại cứ tưởng anh bác sĩ kia vì thông cảm với nỗi đau của mình mà chưa nỡ nói ngay. Kỹ sư Hoàng vừa lo sợ vừa cảm động nhìn anh bác sĩ đang cúi gằm mặt, tay lần giở một cuốn sổ to tướng chậm rãi lần một hồi. Mồ hôi đã toát ra lấm tấm trên khuôn mặt đỏ như gà chọi, anh bác sĩ chợt ngẩng lên bảo:
-Trong sổ này không thấy có tên Phúc. Bác ngồi đây chờ cháu đi lấy sổ khác. Nhớ là đừng đi đâu đấy.
Nói xong anh ta gập sổ rồi vội vã ra khỏi phòng, không quên đóng sập cửa lại, còn một mình trong phòng, kỹ sư Hoàng lòng như lửa đốt. Bỗng chuông điện thoại reo vang, một hồi, hai hồi… chừng như người đầu dây bên kia có việc cần gọi cho bằng được. Kỹ sư Hoàng do dự giây lát rồi nhoài người với lấy cái ống nghe, định nói cho bên kia chờ lát nữa gọi lại. Vừa áp ống nghe lên tai, kỹ sư Hoàng chợt nghe ngay một giọng nói dằn từng tiếng:
-Trực ban cấp cứu phải không ? Bảo với pháp y rằng cái mật lần này tuyệt đối không được bán nghe chưa! Chú Sáu bên Uỷ ban đăng ký rồi đấy.
Kỹ sư Hoàng chưa kịp hiểu mô tê ra sao thì người đầu dây bên kia đã dập máy. Sau khi định thần suy nghĩ kết hợp với mấy câu cuối nghe được loáng thoáng lúc mới bước vào phòng, kỹ sư Hoàng chợt lạnh người với một nỗi nghi ngờ. Anh với cuốn sổ lúc nãy mở ra. Ngay giữa trang cuối cùng, rõ ràng có tên nạn nhân Nguyễn Hồng Phúc, 19 tuổi, sinh viên, té xe, nhập viện lúc… giờ… ngày – Người đưa đến: Phạm văn A -bạn cùng lớp. Bỗng cánh cửa sịch mở, anh bác sĩ khi nãy ùa vào. Nhìn thấy cuốn sổ trên tay kỹ sư Hoàng, anh ta thoáng một giây bối rối rồi lập tức liến thoắng:
-Cháu quên không đọc trang cuối, đúng là có…
Anh ta chưa kịp nói hết câu kỹ sư Hoàng đã ngắt lời:
-Tôi biết hết rồi, anh không phải giải thích
Rồi chẳng muốn nói gì thêm, nữa kỹ sư Hoàng ném trả cuốn sổ, hấp tấp lao nhanh ra khỏi phòng, anh bác sĩ hé cửa ngó theo, hơi lắc đầu, mỉm một nụ cười ý nhị rồi đóng cửa lại, ung dung quay vào. Chuông điện thoại lại reo, anh ta cầm lấy ống nghe:
-Dạ… dạ… à thế ạ… Báo cáo, xong xuôi cả rồi ạ. Thế thì chú nói chú Sáu chuẩn bị rượu tốt để ngâm, cháu sẽ bảo anh em mang sang ngay bây giờ ạ.
Kỹ sư Hoàng xuống đến nhà xác thì Phúc đã nằm trong ngăn lạnh. Một không khí thê lương sặc mùi tử khí. Nền nhà vương đầy những bó nhang cụt, những cục nến gãy, những mẩu giấy tiền vàng mã… làm quang cảnh nơi đây giống như vừa xảy ra một vụ cướp. Viên quản lý nhà xác nghe trình bày, quan sát anh từ đầu đến chân bằng cặp mắt âm u như cặp mắt quỷ rồi chẳng nói chẳng rằng, ông ta lừ lừ tiến đến kéo một ngăn tủ ra. Kỹ sư Hoàng lạnh toát người nhìn trân trân cái xác… “Đúng thằng Phúc rồi, chị Cả ơi, khổ thân chị quá“. .. Không giữ nổi bình tĩnh, anh khuỵu xuống gục đầu vào ngăn tủ. Mùi máu tanh tưởi ập vào giác quan. Anh chợt tỉnh, ngẩng phắt lên, lấy tay lật manh áo trước bụng đứa cháu… một vết mổ cẩu thả còn chưa khít miệng với mấy mũi khâu vội vàng, dúm dó :
-Các người đã mổ cháu tôi… các người đã… Tôi sẽ kiện, kỹ sư Hoàng gào lên trong nước mắt
-Híc… viên quản lý nhà xác cất tiếng, giọng cũng âm u như phát ra từ bụng gã –
Tha hồ cho ông kiện, tất cả những cái chết bất đắc kỳ tử thế này đều phải mổ hết, luật pháp quy định như vậy. Hừ có mà điên mới đi kiện luật pháp. À mà tôi đã vi phạm nội quy khi cho ông xem xác, lấy gì chứng minh ông là người nhà bây giờ? Mời ông đi khỏi đây. Nói xong gã đưa tay đóng sập ngăn tủ lại
-Nhưng tôi… kỹ sư Hoàng chưng hửng… vậy còn cháu tôi?
-Trước hết phải có giấy tờ chứng minh ông là người nhà của nạn nhân đã, rồi sau đó phải làm đầy đủ thủ tục mới mang được lấy xác ra khỏi đây. Mà ông định cõng xác trên lưng mang về hay sao? Viên quản lý lạnh lùng phán.
Kỹ sư Hoàng có vẻ hiểu ra những việc cần làm, anh thất thểu bước ra khỏi nhà xác gọi điện về nhà bảo vợ chuẩn bị căn cước, sổ hộ khẩu lên phường xin giấy chứng nhận rồi tìm đến một tiệm bán quan tài. Ông chủ tiệm quan tài có tên “Nhân nghiã đường“ hăng hái đón khách. Chỉ vào đống quan tài đủ các kiểu loè loẹt đang bày la liệt, bảo kỹ sư Hoàng:
-Tùy bác chọn cái nào thì chọn. Bác cho biết địa chỉ, số nhà, giờ khâm liệm… chúng tôi sẽ cho người đến lo liệu.
-Không phải liệm ở nhà mà là ở nhà xác bệnh viện chúng sinh. Kỹ sư Hoàng ngắt lời
-Thế thì không được rồi. Ông chủ Nhân nghiã đường lắc đầu -tôi không bán được cho bác đâu, cũng không làm gì được hết.
-Tại sao lại như thế ? Kỹ sư Hoàng kinh ngạc thốt lên ?
-Chắc đây là lần đầu tiên nhà bác có người chết ở bệnh viện -ông chủ Nhân nghiã đường giải thích -bệnh viên có luật của họ, muốn lấy được xác ra phải có cửa. Quan tài mua tiệm nào do họ chỉ, khâm liệm, ma chay… tất tần tật do người của họ làm hết. Có thế họ mới ăn chứ, độc quyền mà.
-Té ra phải như vậy. Kỹ sư Hoàng cay đắng nghĩ rồi rời khỏi tiệm “Nhân nghiã đường“. Quay lại chỗ nhà xác chờ một lúc lâu thì vợ anh mang giấy tờ tới. Mấy đứa bạn học của Phúc biết tin cũng đã tìm đến, mang theo nhang hoa và trái cây. Lúc này đêm đã gần khuya, mắt đỏ hoe vợ anh mếu máo:
-Ối anh ơi, vẫn chưa thấy tăm hơi chị cả đâu, em đến nhà ông chủ tịch nói mãi ông ấy mới ký cho cái giấy chứng nhận, lại vừa đóng lệ phí, vừa bồi dưỡng hết mấy trăm. Cháu nó nằm đâu để em vào thắp nén nhang cho cháu.
Kỹ sư Hoàng dẫn vợ và đám bạn của Phúc vào, trình mớ giấy tờ cho viên quản lý.
Gã này săm soi một lát rồi lắc đầu:
-Không được, trường hợp này công an còn phải điều tra, vả lại khi nãy ông còn định kiện tụng gì nữa cơ mà? Sáng mai đến giải quyết
-Chẳng lẽ để đứa cháu lạnh lẽo qua đêm không một chút khói nhang an ủi linh hồn ? kỹ sư Hoàng lúc này đã mụ mẫm hết tinh thần, cụt què cả ý chí, anh chỉ còn biết vớt vát như một cái máy:
-Tôi xin ông, ấy là tôi chót nhỡ mồm. Tôi không kiện tụng gì đâu. Mọi việc giao cho các ông “lo“ hết. Chỉ mong sao mang cháu về nhà…
-Vậy thì về viết cam đoan đi, viên quản lý hạ giọng -nhưng cứ phải sáng mai mới giải quyết. Không có giấy của công an thì bố tôi cũng không dám giao xác cho các người.
Sáng sớm hôm sau. vừa thò mặt đến cổng nhà xác bệnh viện Chúng Sinh đã có mấy kẻ mặt mũi rất chi là khả nghi túm lấy kỹ sư Hoàng.
-Xác của bác là xác tai nạn giao thông phải không ? Giá chót tám triệu, chúng em lo mọi thủ tục chiều lấy xác ra… quan tài khâm niệm 12 triệu nữa bao trọn gói -một người trong bọn bảo
-Tại sao lại phải đến chiều ? Làm ngay trong sáng nay không được sao ? kỹ sư Hoàng hỏi lại
-Hì các bác này đúng là chưa “chết“ lần nào. Phải đợi công an người ta hoàn tất hồ sơ chứ… một người khác giải thích -mà chúng em phải đưa bác đến làm tờ khai, chiều lấy được là con nhanh, với điều kiện phải có bồi dưỡng… không thì cứ đợi đấy.
Đám người ấy quả là thạo việc, rốt cục chiều hôm ấy kỹ sư Hoàng cũng đưa được xác đứa cháu về nhà sau khi đã được khâm liệm cẩn thận. Vẫn không thấy bóng dáng chị cả đâu, linh tính xảy ra chuyện chẳng lành, kỹ sư Hoàng bàn với vợ cùng mấy đứa bạn của Phúc trông nom nhang khói, để anh về làng đón chị Cả lên:
-Có mấy kẻ lạ mặt lảng vảng ngoài cổng nghiêng ngó hỏi thăm, mấy đứa bạn của Phúc chạy ra nghe ngóng rồi vào bảo:
-Mấy thằng cò nghiã địa bác ạ. Nó bảo đất chôn mặt tiền lối đi là 12 triệu, phía trong tám triệu, chưa kể tiền lo giấy phép chôn và công đào huyệt lấp đất xây mộ, tùy theo to nhỏ tính riêng. Nếu túng tiền thì chôn đứng. Chôn đứng rẻ hơn một nửa, tất nhiên đất rộng chỉ bằng 1/3. Nghiã địa bây giờ khối người phải chôn như thế, thành ra đầy những ma đứng, linh hồn đứng, đứng vĩnh hằng.
Vội vã phóng về quê, kỹ sư Hoàng hoảng hốt lạnh người khi hàng xóm bảo chị Cả Bống đã lên thành phố từ chiều hôm qua, mấy nhà khác thấy anh về đổ đến hỏi thăm. Có người chợt nhớ ra bảo:
-Sáng nay đi chợ thấy ở bến đò Đuôi Cáo có ai nhang nhác bác Cả Bống ấy. Hay là bác sang tìm thử xem.
Không kịp suy tính, kỹ sư Hoàng vội vã lao sang bến đò, tìm khắp các hàng quán hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Chợt anh nhìn thấy dưới bờ sông sát mép nước, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi đang ngồi ném những nắm cát xuống dòng sông… kỹ sư Hoàng vừa nghi hoặc, vừa thận trọng tiến lại gần… “Ai như chị Cả? Anh cất tiếng gọi… một tiếng, hai tiếng… Người đàn bà chợt quay phắt lại… Đúng là chị, chị nhìn anh với đôi mắt thất thần, khuôn mặt răn reo, lem luốc cát. Bỗng chị lảo đảo lao đến, ôm chầm lấy anh, gào lên nức nở:
-Ối! Con ơi, con về với mẹ đây rồi, người ta cướp cái gì của con, con chết có đau không? Con về đây báo oán mẹ… mẹ không đến được với con… con ơi
Cứ thế chị gào mãi, gào mãi, tiếng gào rợn cả một khúc sông. Kỹ sư Hoàng hai tay nâng khuôn mặt chị, miệng hoảng hốt nhắc đi nhắc lại: -Em đây mà, Hoàng đây mà!
Song chị đâu có nghe, đâu có thấy, chỉ một mực gào tên con… dần dần tiếng chị khản đặc chỉ còn như tiếng thở lào phào… Người chị bỗng lả đi, từ từ khuỵ xuống. Kỹ sư Hoàng quỳ xuống theo, hai chị em ôm nhau quỳ trên bãi cát, hoàng hôn bắt đầu buông, trăng chiều rực lên đỏ thẫm. Qua màn nước mắt, anh cảm thấy tất cả không gian như chìm trong biển máu, bên tai anh chợt vọng lên văng vẳng giọng nói của lão Tiến cụt hôm trước:

br />

-Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá… biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình.
 
Phạm Lưu Vũ
*
 

nạn nhân phải đến gặp kẻ cướp để xin “hòa hoãn !”

Thứ Ba, ngày 26 tháng 8 năm 2014

Mục đích chuyến thăm của Đặc phái viên Tổng Bí thư

Bách Việthttp://trankinhnghi.blogspot.ca/2014/08/muc-ich-chuyen-tham-cua-ac-phai-vien.html

 

Phải tranh thủ ghi lại tin này (nguyên văn không sai sót chữ nào), vì thấy nó có cái gì rất không ổn, nếu không nói là quá ư lạ lẫm: Kẻ cướp bỗng chốc biến thành nạn nhân và nạn nhân phải sang nhà kẻ cướp để xin chia buồn và bồi thường thiệt hại! 
 
Hay là Vietnamnet đưa tin có gì nhầm lẫn? Hy vọng thế!- Bách Việt
 
MỤC ĐÍCH CHUYẾN THĂM TQ CỦA ĐẶC PHÁI VIÊN TỔNG BÍ THƯ
 
- Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư Lê Hồng Anh sẽ sang thăm TQ với danh nghĩa là đặc phái viên của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 26-27/8.
 
Thông cáo của Bộ Ngoại giao hôm nay cho hay, chuyến thăm được thực hiện theo lời mời của Trung ương đảng Cộng sản TQ.
Thường trực Ban bí thư Lê Hồng Anh. Ảnh: TTXVN
 .
“Mục đích chuyến đi là nhằm trao đổi với lãnh đạo TQ về các biện pháp làm dịu tình hình, không để tái diễn các vụ việc căng thẳng như vừa qua, đồng thời thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước Việt – Trung ”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình thông báo.
 .
Về việc xử lý ảnh hưởng của vụ gây rối, mất trật tự tại một số địa phương trung tuần tháng 5 vừa qua đối với doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có TQ, ông Bình cho biết: “Phía Việt Nam lấy làm tiếc về vụ việc xảy ra đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp và công nhân TQ trong tháng 5 vừa qua, đồng thời lấy làm buồn về việc một số công nhân TQ bị thiệt mạng, bị thương trong vụ việc này”.
 .
Phía Việt Nam sẽ có hình thức hỗ trợ nhân đạo đối với công nhân TQ bị nạn. Hội hữu nghị Việt – Trung sẽ cử đoàn sang TQ thăm hỏi một số gia đình đại diện cho những người bị nạn.
 .
Đồng thời, phía Việt Nam đã và sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách, biện pháp hỗ trợ mà Chính phủ đã công bố đối với các doanh nghiệp để doanh nghiệp khắc phục khó khăn, giảm bớt thiệt hại và triển khai hoạt động bình thường.
 .
“Việt Nam đã và đang tiếp tục điều tra vụ việc một cách nghiêm túc và xử lý nghiêm những người gây rối vi phạm pháp luật; đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo an ninh, an toàn cho công nhân, doanh nghiệp TQ và các nước tại Việt Nam”, ông Bình cho biết thêm.
 .
H.Nhì
 .

bài viết được đọc lại nhiều lần !

HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

Với bút hiệu tựdo ‒ chữ thường, viết liền ‒ ông Nguyễn Văn Luận là tác giả bài “Người tìm tự do và tượng thần tự do” đã được bình chọn trúng giải chính thức trong giải sơ kết 3 tháng Giải Thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. Tác giả sinh năm 1937, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

*  *  *

tự do

Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.

Một lần tới thăm, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi, “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à…?” Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười, “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi, …nữa là bác!”

Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần “vượt biển”, vẫn không thoát. Chịu đủ các “nạn” của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không tị nạn, mà đi tìm Tự Do, trở thành thuyền nhân, đến nước Mỹ năm 1982.

Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt . Thời gian rồi cũng hiểu nhau.

Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hà Nội di cư.

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội, thời người cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài.

Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là …Vẹm!

Khi họ tiếp quản Hà Nội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ tầu há mồm để di cư.

Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại. Hiệp định Geneva ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “Tổng tuyển cử” thống nhất. Ai ngờ cộng sản miền Bắc “tổng tấn công” miền Nam!

Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hà Nội học.

Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hà Nội là con buôn, mang xăng về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn …

Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi, “Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng!” Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm, “ngoại ngữ cộng sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và … tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép.)

Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau, vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hãn hữu, như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng.

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số “lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu đoàn”, nhận “chỉ thị của Thành đoàn” rồi “phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!” Họ truy lùng… đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn “kiểm tra”, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang “tập trung” tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm “phấn khởi”, lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và “phát biểu của bí thư Thành đoàn”: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là … “cực kỳ phản động!” Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo…cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, “tự nguyện “ mang ra “đồn công an”, thế là hết, gia tài của tôi!

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem, phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường”, miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hà Nội được 2 năm là bị “cắt hộ khẩu”, …đi tù!

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư. Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam”, để rồi bị đấu tố là phong cách tiểu tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua”, bị kết tội thành “tề ngụy”, hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán”, chẳng ai còn dám gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

“Chỉ thị Ðảng và Ủy ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó”, từ thành thị đến “nông thôn”. Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”. Lý do giết chó, nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là “chủ trương”, chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo dõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa.

Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động “ thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là “tư sản bóc lột”? nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”.

Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là “địa chủ bóc lột, cường hào ác bá ”! Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập”, đã nhẩy lầu, tự tử.

“Tư sản Hà Nội” di cư vào Nam hết , chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng!”

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng, “bắt rễ” “bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu …! Một vài vụ, do “Ðảng lãnh đạo”, “vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực” “tố cáo tội ác” của cha mẹ. Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm: “Trung với Ðảng, hiếu với dân …” là vậy!

“Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì phải “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”.

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã hội chủ nghĩa là… nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nói. Nói dối để sống còn, tránh bị “đàn áp”, lâu rồi thành “nếp sống”, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an” làm “nòng cốt” chế độ.

Ở Mỹ, ai hỏi bạn: “How are you?”, bạn trả lời: “I’m fine, thank you.” Ở miền Bắc, thời đại Hồ chí Minh, “cán bộ” hỏi: “Công tác” thế nào?” Dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời, “…rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng… các nước anh em!”

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị “bộ đội biên phòng”giong về Lệ Thủy, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp, xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”.

Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiến kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “luôn luôn cảnh giác”. Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy xụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”!

Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán “tình hình”. Ánh điện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, “liên lạc” được với Thụy An ở xà lim phía trước.

Thụy An là người Hà Nội ở lại, “tham gia hoạt động “Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà phẩn uất, đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng:

“Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!”

Người du lịch Việt Nam, ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung lũng sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột”, nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm.

Phố Hàng Ðào Hà Nội, vốn là “con đường tư sản”, có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut. Học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau này. Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn” trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết.

Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hà Nội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn tiểu tư sản”. Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản”, không “tiến bộ”, không có ngày về…! Ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ!

Người già Hà Nội chết dần, thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung” xa rời Hà Nội. Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động”, nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng … nói dối!

Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, 10 năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. “Kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt qua bao khó khăn, gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải phòng, vùng biển.

Hải phòng là cơ hội “ngàn năm một thuở” cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tầu, xua đuổi “người Hoa” ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân” tị nạn.

Năm 1980, tôi vào Sài Gòn, thành phố đã mất tên sau “ngày giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị.

Dân chúng miền Nam “vượt biển” ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sài Gòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh, anh Ngọc, đường Trần Quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Ðường ra biển tính theo “cây”, bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn “nón cối” “ngụy trang” của tôi, mỉm cười: “Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!”

“Hà Nội, trí thức thời Tây, chứ bộ…!. Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!”

Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở giao thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Saigòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng “Nếu cái cột điện mà biết đi….”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút “ngoại ngữ Việt cộng” năm xưa.

Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang “đầu đường xó chợ” thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng “đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hòa bình”. Chế độ Việt cộng “nhất định phải đổ”, đó là “quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại”.

Ôi! “đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ…!

Kỷ niệm với “bên thắng cuộc” – sự thật phũ phàng!

Kỷ niệm với “bên thắng cuộc”

KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG
MUON CHONG TRUNG CONG PHAI DIET VIET CONG
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN

Cám ơn tác gỉa ,
Một bài không chống Việt Cộng nhưng bằng chửi bố Việt Cộng
LDS
*  *  *

From: thuhanguyen
Date: 2014-08-21 6:30 GMT+10:00
Subject: Kỷ niệm với “bên thắng cuộc” nhân đọc bài Re: Quyên Di: Trí Thức Thân Cộng.

Xin cám ơn những vị đã đọc và đã viết cho th đôi dòng cảm nghĩ sau khi đọc về nhân vật Quyên Di này
[http://tunhan.wordpress.com/2014/08/22/o-quyen-di-tri-thuc-hay-ngu-than-cong/]
 
Tiện đây, cũng nhân đọc bài viết này của ông Lê Duy San, th nhớ đến 2 chuyện có liên quan tới người “bên thắng cuộc” và chương trình trao đổi ??? với một trường đại học trong tỉnh bang th đang sống.
 
1. Cách đây vài năm, có một phái đoàn y tế 5-6 người từ VN qua thành phố này. Tuy chỉ là một nhân viên thường trong sở y tế, nhưng là người Việt đang làm việc liên quan đến những con số về sức khoẻ của tỉnh bang nên th được ông CEO của một trường đại học mời tham dự buổi hội thảo (seminar) của phái đoàn (giữ chức vụ cao) nói về y tế VN, 
 
Trước buổi seminar, th cũng được ông CEO của ĐH mời ăn trưa chung với phái đoàn và một vài GS của trường ĐH. Vì nhà hàng không xa trường ĐH nên tất cả cùng đi bộ tới. Trên đường đi, 3 phụ nữ của phái đoàn VN nhờ th tìm hộ họ một khách sạn nào rẻ hơn vì v/đ tài chánh eo hẹp. Cảm nghĩ của th lần đầu tiên khi tiếp xúc với người “bên thắng cuộc” từ ngày rời bỏ Quê Mẹ là th thấy “tội quá!” nên hứa sẽ giúp.
 
Sau bữa ăn trưa, trên đường trở lại trường ĐH, th nói với ông CEO về v/đ phái đoàn VN nhờ và xin ông cho thư ký tìm hộ thì tốt hơn. Ông CEO đứng lại, nhìn vào mặt th nói: “Cô có biết là tất cả chi phí của họ trong thời gian ở đây là do trường ĐH đài thọ và bài nói chuyện của họ cũng được trả tiền nữa. Tôi không hiểu tại sao họ lại nói với cô như vậy“. Th xin lỗi vì không biết điều đó nên khi họ nhờ, th nóng lòng nói với ông ngay để giảm bớt chi phí với túi tiền eo hẹp của người từ VN qua.
 
Sau bữa ăn trưa, buổi hội thảo bắt đầu. Có khoảng 40 người tham dự. Phái đoàn y tế VN thay phiên nhau trình bày về tổ chức, sự phát triên, và thành quả của nền tế VN sau chiến tranh. Trong suốt thời gian họ nói thì các vị trong phòng cứ quay qua quay lại nhìn th. 
Tiếp theo phần thuyết trình là mục nêu thắc mắc. Một người đưa tay đề nghị th phát biểu trước vì th là người VN nên chắc biết nhiều về VN hơn họ. Th đã nói rất thật là đã vượt biên tìm tự do, đã xa quê hương 30 năm rồi và không thích theo dõi tin tức từ VN vì biết rằng không là sự thật. Nhưng qua những bài thuyết trình của phái đoàn mà có cả thứ trưởng y tế và các tiến sĩ thống kê từ ĐH VN qua đây thì th tin rằng tỉnh bang này cần phải gửi người qua VN để học hỏi cách làm việc của bộ y tế VN chăm sóc sức khoẻ cho dân VN như thế nào mà số trẻ em chết ở VN còn kém xa con số mà th làm mỗi năm trong tỉnh bang này. Thêm vào đó, th cũng rất ngạc nhiên là VN tiến bộ quá sức tưởng tượng vì VN, một nước rất nghèo, nhưng lại có nhiều máy NMR, đặt ở nhiều trạm y tế suốt từ Bắc vô Nam còn hơn cả tỉnh bang này. Th cười và kết luận: Nói tóm lại, chúng ta (Canada) cần phải học hỏi thêm từ VN trong v/đ y tế phòng bệnh và chữa bệnh.”
 
Cả phòng họp cười ồ lên và nhiều người tham dự lên tiếng hỏi phái đoàn VN đến tối tăm mặt mũi. Không khí thật ngột ngạt. Riêng th cảm thất xấu hổ vô cùng vì cuối cùng ông CEO của trường ĐH đưa ra một loạt những con số về y tế VN mà ông biết chắc khi còn làm việc với một cơ quan y tế quốc tế khác. 
 
Khi buổi hội thảo gần chấm dứt thì có một sv của VN đang làm nghiên cứu (postdoc) ở đại học này bước vào phòng. Anh ta kéo thêm cái ghế vào ngồi cạnh, nhìn th và khinh khỉnh nói: “Tưởng là chị quên tiếng Viêt rồi chứ” - Th đáp lễ: “Anh có thể nhuộm tóc đủ màu nhưng anh không thể đổi được máu của anh đâu”.
 
Khi ông CEO lên cám ơn phái đoàn y tế VN và tiễn họ ra cửa, vị thứ trưởng y tế VN nhìn th như muốn nuốt trọng th vào trong bụng ông ta. Th đã nhẹ nhàng nói với ông: “Tỉnh bang này rất giàu. Nếu VN muốn họ giúp đỡ thì hãy nói thật, đứng nói dối như hôm nay. Ông CEO là người có rất nhiều kinh nghiệm về nền y tế của các nước Á Châu. Trường ĐH này không tiếc giúp các nước chậm tiến trong chương trình trao đổi vì họ có thể kêu gọi các dược phòng ủng hộ các chương trình y tế của họ. Nhưng nếu y tế VN còn hay hơn cả tỉnh bang này, thì chắc là họ không cần phải giúp đâu.” Cả phải đoàn VN nhìn th như muốn bóp cổ th ngay tại chỗ. Th chào họ và ra về. Một người của trường ĐH, gốc Trung Quốc dè dặt nói với th: “Cẩn thận, cô không nên về VN, họ sẽ trả thù đó.” 
 
2. Một tuần sau, ông CEO vì bận (?) có gọi điện thoại nhờ th đưa một Bs dạy ở trường Y Khoa VN đi ăn cơm chiều vì ông có việc bất ngờ không thể tiếp bà ấy được. Th không có cách nào từ chối nên phải nhận lời giúp. Tuy nhiên, để tránh những bất trắc, th kéo một người Canada từng làm việc ở ĐH đi theo. Xe đến trước khách sạn, vì là ngay ở phố chính nên không thể đậu xe lâu. Th chạy vào lobby khi thấy bà c tiếp tục nói chuyện điện thoại dù đã thấy xe của th ngừng trước cửa đã lâu. Bà nói xin chờ bà một lát. Th quay ra xe, phải đến 15 phút sau bà ấy mới ra. Bà nói muốn đi ăn tiệm Tàu. Th đưa bà đến tiệm Tàu và để bà chọn món ăn theo sở thích. Bà chọn đủ thứ và bảo đó là những món Bà thích. 
 
Chừng thức ăn đem ra, món nào bà cũng chê không bằng tiệm này hay tiệm kia ở Mỹ, Th buột miệng hỏi:
 – Vậy chắc chị đi Mỹ nhiều lắm phải không?
 – Ồ, cũng không nhiều lắm đâu. Từ đầu năm tới giờ (tháng 10), mình đi Mỹ 10 lần – Bà hân hoan trả lời.
 – Thế chị dạy ở ĐH mà đi nhiều như thế thì ai ở nhà ldạy học thay cho chị ?  th hỏi
 – Vâng, mình dạy ở Y khoa về kinh tế, nhưng nếu mình muốn đi nước ngoài thì cứ đóng cho ĐH 10% lương tháng của mình là có thể đi được.
 – Thế lương tháng của chị là bao nhiêu mà phải đóng đến 10%?
 – Lương tháng của mình là 200 đô.
 
Điện thoại của bà lại reo. Bà trả lời và quên cả 2 người ngôì cạnh. Chưa xong cuộc nói chuyện ấy thì chuông điện thoại thứ 2 reo. Bà lại bốc đt lên và trả lời với giọng ngọt ngào và nũng nịu. Th và người bạn Canada mỉm cười với vẻ ngạc nhiên vì sao bà có thể nói chuyện với giọng điệu ấy trước mặt hai người lạ, lần đầu gặp. Chờ mãi vì bà cứ nói điện thoại mãi. Sau cùng, th phải nhắc khéo bà là thức ăn nguội hết rồi. Bà tỏ vẻ không vui nên cứ khều qua khều lại đĩa cá hấp như người ta tìm xem có giòi bọ gì trong đó không. Th cảm thấy bực mình với cái kiểu “trưởng giả học làm sang” này nhưng cố dằn xuống. Th chuyển đề tài, để phá tan cái không khí khó chịu ấy bằng cách ân cần hỏi hỏi:
 – Thế hôm nào chị về? Thứ tư hay thứ năm tuần sau?
 – Không, thứ sáu này mình rời Canada đi Bangkok rồi.
 – Ủa, sao vậy? chị mới đến hôm qua, thứ tưđể tu nghiệp một tuần mà thứ sáu đã phi đi Bangkok rồi?
 – À, tại vì ông CEO ấy có việc phải đi Bangkok nên mình phải qua đó để bàn công việc ấy mà?
 – Xin lỗi chị trước nghe, có việc gì quan trọng đến không thể nói trên điện thoại vậy? Chị đi từ VN qua đây tu nghiệp mà phải chạy qua tới Thái Lan để họp với ông CEO ở trường ĐH này thì thật là mệt lắm đấy. mà như vậy tiền máy bay ai lo?
 – Trường ĐH này lo. Mình đi tu nghiệp thì họ cũng lo hết. Mà nếu họ muốn mời mình nói chuyện nửa tiếng thì họ phải trả cho mình 1000 đô.
 – Thật vậy sao? Vậy là chuyên môn của chị về kinh tế y khoa chắc là phải hiếm hoi lắm, ở đây không có ai nên ĐH này mới phải mời chị từ VN qua để chia kinh nghiệm?
 
Bà cười và lại xin lỗi, cầm điện thoại tay lên bấm số để nói chuyện với một người khác. Th và người bạn Canada thấy mỏi mệt quá rồi nên gác đũa ngồi chờ. Bữa ăn bị bỏ lại đến 80%. Biên nhận này sẽ giao lại cho ĐH thanh toán. Xong xuôi, th đưa bà về lại khách sạn, không một chút mảy may lưu luyến gì khi gặp người đồng hương cả!
 
Người bạn Canada cứ thắc mắc về bà là tại sao trong bữa ăn mà phải nói chuyện điện thoại đến 7 lần như thế. Ông ấy không hiểu th và bà nói chuyện gì khi nói bằng tiếng Việt. Th nói ông đừng thắc mắc, th mời ông đi theo để lỡ có bất trắc gì thì ông đứng ra làm chứng thôi nên không cần biết bà ấy nói gì với th.
 
Và từ đó, chuyện ông CEO mời th theo phái đoàn của trường ĐH này về VN để trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về hệ thống y tế… xem như chưa từng đề cập đến… Tuy không hỏi trực tiếp nhưng th cũng biết là ông CEO đó và vài Gs của ĐH này cũng có sang VN trong chương trình trao đổi vào mùa Xuân sau đó. Còn tên sv cộng sản con làm postdoc ở trường ĐH ấy thỉnh thoảng th cũng có gặp khi qua ĐH họp.  Trong một dự án nghiên cứu, th được trường ĐH gợi ý mời qua làm việc chung với nhóm có tên cs con này, th từ chối ngay và nói đùa với Gs đứng đầu dự án của trường ĐH ấy là: “Bộ GS muốn th chết sớm vì không vui khi phải tiếp tục nghe người ta nói láo hay vì bị đầu độc bởi mùi cộng sản VN đây!”. Và từ đó vị Gs này cũng không nhắc đến tên của anh chàng sv cộng sản làm postdoc với th nữa. 
 
Cho đến hôm nay, khi đọc bài viết về QD, th lại nhớ đến chuyện cũ và không biết người đàn bà hơn 40 tuổi từ trường Y Khoa VN qua đây là Gs thật hay giả? là Bs thật hay giả? Bà đi tu nghiệp thật hay giả? Bà đi bán chữ thật hay giả? Hay là bà được đảng, hay nhà nước, hay bộ y tế, hay trường đại học gửi đi mỗi tháng để trao đổi và buôn bán thứ khác… ?!
 
Có lẽ mãi mãi chỉ có thắc mắc từ phía th chứ sẽ chẳng bao giờ có câu trả lời…! 
Tuy chỉ là hai chuyện vặt vãnh qua 2 lần tiếp xúc với “bên thắng cuộc” nhưng cũng đủ làm đau lòng một người VN lưu vong…!
 
th
*
TT Thiệu

Phạm Tín An Ninh nhớ về ‘Phố núi’!

Một thoáng Pleiku

Phạm Tín An Ninh

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ,  trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy,  giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và  đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.  Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”.  Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?)  như ai.

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới.  Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh.  Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

….

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó

….

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như  cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời.  Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê … những tiểu đoàn trưởng nổi danh,  những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku.  Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi-  chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuôc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng 3. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó″:

Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền

Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng

phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”

Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó,  nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku. •

Phạm Tín An Ninh

PhamTin An Ninh

(viết cho Đại Hội Phố Núi Pleiku tại Cali/USA tháng3/2013)

RFA phỏng vấn Lê Diễn Đức!

Lòng dũng cảm đã cạn kiệt?

DCVOnline – RFA phỏng vấn Lưu Vũ

RFA: Mỗi năm vào những ngày cuối tháng Tư, người Việt khắp nơi thường kể cho nhau nghe câu chuyện của riêng tư của mình vào ngày mà nhiều nhà viết sử xem là một trong những ngày trọng đại nhất trong lịch sử của Việt Nam.     Cũng trong tinh thần đó, hôm nay Ban Việt Ngữ chúng tôi xin được gửi đến quý thính giả câu chuyện của một sinh viên Việt Nam, từng đi du học ở Ba Lan, bị bắt đưa về nước, và bây giờ đang sinh sống và hoạt động tại Ba Lan. Người chúng tôi muốn giới thiệu đến quý thính giả hôm nay là Ông Lê Diễn Ðức, Executive Editor của Nhật báo Online Ðàn Chim Việt (www.danchimviet.com). Ông Lê Diễn Đức còn được nhiều người biết đến qua bút danh Lưu Vũ.  Như thường lệ, cuộc nói chuyện do phóng viên RFA Nguyễn Khanh thực hiện (ngày 28/04/2007), và chúng tôi xin gửi đến quý thính giả trong khuôn khổ Tạp Chí Câu Chuyện Thời Sự Hàng Tuần. Cũng xin thưa rằng những phát biểu của ông Lê Diễn Ðức không nhất thiết phản ánh quan điểm của Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do.

Nguyễn KhanhNgày 30 tháng Tư, 32 năm trước đây, lúc đó ông ở đâu và ông đang làm gì?

Nhà tù Hoả Lò (ảnh chụp từ trên cao)  Nguồn: medalofhonor.com

Lê Diễn Đức: Thưa quý anh, ngày này 32 năm trước đây, tôi đang ngồi ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.

Nguyễn KhanhAnh có thể giải thích lý do tại sao lúc đó anh đang ngồi tù, trong lúc cả nước đang đang xôn xao, một bên thì lo âu sắp thua trận, một bên đang vui mừng chờ chiến thắng?

Lê Diễn Đức: Thưa anh, trước đó mười mấy tháng, tôi đã ngồi tù ở trại giam ngoại thành Hà Nội, mà sau này tôi được biết hình như là nơi đã giam giữ các nhân vật bất đồng chính kiến như Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, được gọi là trại giam B15 gì đó. Sau đó một thời gian, tòa án Hà Nội đưa tôi ra xét xử với tội danh “trốn ở lại nước ngoài” và tôi thụ án tại nhà giam Hoả Lò.

Ðể giải nghĩa cho anh và thính giả biết thì, trong thời gian tôi đi du học tại Ba Lan thời đó, phía Việt Nam có luật lệ rất nghiêm ngặt, cấm đủ thứ… Nói chung du học sinh chúng tôi bị quản lý rất chặt chẽ, dưới con mắt giám sát của một cán bộ do Sứ Quán cử gọi là Trưởng Ðoàn, thí dụ như cấm chúng tôi không được để tóc dài, không được mặc quần jeans ra đường, cấm không được xem phim tư bản, cấm không được đến thăm gia đình người Ba Lan, cũng như cấm không được có tình yêu mà chỉ học, học vì tổ quốc…

Khi sang Ba Lan, chúng tôi còn trẻ lắm, chỉ độ 17, 18 tuổi. Anh bảo có cái chế độ nào, có cái luật lệ nào trên thế giới cấm người thanh niên chưa vợ, gái chưa chồng yêu nhau không? Thật là một luật lệ bất nhân. Cá nhân tôi, tôi không thể vượt qua đời sống bình thường của một con người, tôi đã có mối tình với một cô sinh viên Ba Lan học chung ở Ðại Học Tổng Hợp thành phố Wroclaw, tôi tìm cách ở lại Ba Lan, bảo vệ tình yêu chân chính của mình và vì thế mà tôi bị tòa án kết tội trốn ở lại nước ngoài. Lúc ấy bất kỳ một ai vi phạm những điều mà tôi vừa nói đều bị Sứ Quán trục xuất đưa về nước.

Nguyễn KhanhKhi ở trong tù, khi nào thì anh nghe được tin cuộc chiến kết thúc và cảm nghĩ của anh khi nghe tin đó như ra sao?

Lê Diễn Đức: Thưa anh trong mấy ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975, chúng tôi đã xôn xao trong tù, bởi “Nhân Dân” là tờ báo Giám thị thỉnh thoảng vẫn cho trưởng phòng hay phó phòng giam (là những người tù được giao trách nhiệm tự quản) mượn đọc nên tù nhân chúng tôi có thể đọc ké hoặc nghe nói lại. Chúng tôi biết Sài Gòn sắp được giải phóng. Nói chung không khí rất rạo rực. Ngày 30 tháng Tư khi được nghe tin đó thì chúng tôi rất phấn khởi. Riêng bản thân tôi thì vừa vui, vừa buồn.

Nguyễn KhanhRất phấn khởi, nhưng lại vừa vui, vừa buồn. Ý anh muốn nói là như thế nào?

Lê Diễn Đức: Tình cảm con người mà anh, khó nói lắm!!! Tôi sinh ra trong một “gia đình cách mạng”, lớn lên được đi du học tại Ba Lan. Tôi đã là nhân chứng của chiến tranh. Thời kỳ máy bay Mỹ ném bom miền Bắc, tôi đã từng tham gia đội cứu thương của thanh niên đi nhặt những xác chết bị bom xé tung ra từng mảnh; rồi làng thôn bị cháy, v.v… Dân tộc Việt Nam bất hạnh quá, bao nhiêu năm triền miên trong chiến tranh tàn khốc. Bản thân tôi, gia đình, cả dân tộc đã thoát khỏi vòng binh đao, chấm dứt cuộc chiến đầy tang thương, chết chóc, đất nước liền một cõi, thì làm sao mình không vui mừng được. Thấm chí rất hạnh phúc, rất sung sướng! Bây giờ đất nước đã có thể hồi sinh, đã có thể bắt đầu bắt tay vào công việc xây dựng. Cái vui của bản thân tôi cũng là cái vui chung của mọi người, mặc dù lúc đó tôi vẫn biết mình đang mang thân tù tội.

Nhưng mà có nỗi buồn ở trong tôi không dám nói ra, đó là với tấm lý lịch đã từng bị ở tù, tôi nghĩ rằng khi ra khỏi nhà giam Hỏa Lò, cuộc đời của tôi khó có thể tồn tại bình thường, khó có được sống cuộc sống đàng hoàng, tử tế trong chế độ cộng sản. Tôi biết như thế vì rất nhiều nạn nhân, thí dụ như của vụ Nhân Văn Giai Phẩm, họ có chính kiến bất đồng nên bị liệt vào danh sách lý lịch đen, đã phải sống một cuộc đời khổ nhục ra sao. Tôi cũng được nghe người thân trong gia đình kể lại thời Cải Cách Ruộng Ðất… Tôi thấy trước mắt mình một tương lai mờ mịt. Lúc đó tôi nghĩ rằng chắc rồi kiếp này tôi sẽ bị đưa về quê, đi cày ruộng… Cho nên trong thời gian ở tù tôi có hy vọng le lói rằng, ra khỏi tù, tôi sẽ vượt biên, bằng mọi cách phải ra đi, mình còn trẻ nên phải can đảm vươn lên, nếu không sẽ bị bị đầy đọa, chết chìm ở cái chế độ này. Tôi nghĩ như vậy, và con đường ngắn nhất như anh em trong tù nói chuyện bí mật với nhau là nên vào Nam rồi tính sau, bởi vì từ Bắc vào Nam chỉ qua con sông Hiền Lương rồi sau đó tìm cách tiếp cận vào trong, từ từ toan tính tiếp… Ðất nước thống nhất, giải phóng xong, thì như tôi vừa nói với anh, vui thật nhưng mà làm tắt lịm đi hy vọng le lói mà tôi dự tính trong đầu.

Nguyễn KhanhThế rồi khi nào anh đã vào Nam, và cảm nghĩ của anh khi đặt chân đến miền Nam như thế nào?

Lê Diễn Đức: Cũng có lẽ nhờ ngày 30 tháng Tư đất nước thống nhất, mà ngày mùng 2 tháng Chín năm 75 tôi được ân xá, ra tù trước thời hạn 5 tháng anh ạ. Tôi có một bà cô ruột sống ở Sài Gòn. Cô tôi vào Sài Gòn trước năm 1930. Hồi đó, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tất cả mọi người đi Sài Gòn đều phải có giấy công lệnh – nếu là cán bộ – hoặc phải có giấy phép của chính quyền địa phương. Tôi vất vả lắm mới xoay được tờ giấy phép này để vào thăm bà cô.

Góc Nguyễn Huệ–Lê Lợi ở Sài Gòn.   Nguồn: medalofhonor.com

Mặc dù đã sống ở Châu Âu, nhưng khi vào Sài Gòn tôi vẫn bị choáng ngợp, vì tối thấy khác hẳn với miền Bắc quá. Những điều tôi được nghe rằng cuộc sống ở chế độ miền Nam thế này thế kia, nhưng ngay trên chiếc xe ca chạy suốt Bắc – Nam, tôi thấy cách sinh hoạt, ăn uống của lái xe, lơ xe và người miền Nam trên đường đi có cái phong thái thoải mái, tự nhiên rất Châu Âu. Cảm giác đầu tiên của tôi khi vào đến Sài Gòn là sự ngạc nhiên khi thấy khá nhiều nhà cao tầng, xe đi lại trên đường phố như mắc cửi, nhất là xe gắn máy, một điều rất hiếm hoi đối với miền Bắc. Lúc bấy giờ ở ngoài Bắc phương tiện đi lại chính của chúng tôi là xe đạp. Nhìn thấy xe gắn máy chạy rất nhiều như thế, tôi nghĩ rằng, chắc chắn cuộc sống của người miền Nam sung sướng hơn, phong phú và thịnh vượng hơn ở miền Bắc.

Sáng hôm sau, tôi mượn chiếc xe đạp mini của con cháu nhà bà cô, đi lên trung tâm và ghé vào tiệm cà phê (không biết bây giờ có còn không) MiniRex nằm giữa trung tâm thành phố Sài Gòn. Khi tôi ngồi xuống bàn thì thấy người phục vụ mặc áo trắng, thắt nơ, nói câu: “Thưa ông, ông dùng chi ạ!”… Tự nhiên tôi cảm thấy bàng hoàng và lúng túng! Trời ơi! Lâu lắm rồi tôi mới được một người gọi mình bằng “Ông”, giống như hồi mình vẫn được gọi thường ngày ở Ba Lan. Sau giây phút đó và những ngày tiếp theo đi thăm quan ở thành phố, vào thương xá Tam Ða, vào thương xá Tax, tôi cảm thấy ngay rằng, mình phải vào Nam sống, nó hợp với con người của mình, không thể sống ở Bắc được. Người miền Nam có cuộc sống khá sung túc, tính tình rất chân thật, ít để ý đến nhau. Với một tấm lý lịch đen như của tôi thì tốt nhất, kiểu nào thì kiểu, phải tìm cho mình nơi nào khả dĩ hơn, dễ thở hơn. Cái hy vọng le lói của tôi trong nhà tù đã bị dập tắt thì được khơi lại và ngay sau đó, tôi tìm mọi cách để vào Nam.

Nguyễn KhanhDường như anh muốn nói với chúng tôi là anh nhìn thấy danh từ “thống nhất” đất nước chỉ là thống nhất trên danh nghĩa chứ không phải trên thực tế. Có phải anh muốn trình bầy như vậy hay không?

Lê Diễn Đức: Tôi muốn nói về sự thống nhất địa lý hơn anh ạ. Cho đến bây giờ, cả tôi và anh, chúng ta đều làm trong ngành truyền thông, có nhiều mối quan hệ với anh em bạn bè tứ xứ, từ Bắc sang Nam, đủ mọi thành phần xã hội, thì chắc anh cũng chia sẻ với tôi là lòng người hai miền Nam Bắc vẫn còn đầy những dị nghị, đầy những mối hận thù chưa được giải quyết, thiếu lòng bao dung, thiếu sự độ lượng… Chính vì cái thể chế hiện nay không có được điều cơ bản nhất cho phép con người được nói, được trình bày, được giải tỏa, thì tôi nghĩ, cái bế tắc này nó vẫn triền miên.

Ðúng, thống nhất đất nước rồi nhưng lòng người chưa thống nhất anh ạ. Cho đến giờ phút này, anh cứ xem tất cả những diễn đàn ở hải ngoại, hoặc những cuộc biểu tình, tranh đấu của những người Việt chống đối những đoàn của chính phủ Việt Nam đi sang Mỹ hoặc sang các nước tư bản, thì chúng ta thấy rõ, không cần nói chiều.

Nguyễn KhanhKhi cuộc chiến kết thúc hồi 1975 chính phủ miền Bắc có nói là từ bây giờ chúng ta có tự do, dân chủ và độc lập ở trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo anh những điều đó bây giờ đã có hay chưa?

Lê Diễn Đức: Nếu chúng ta mà nghe báo chí hay các tuyên bố của chính quyền Việt Nam thì có ngay cảm nghĩ có lẽ Việt Nam đang là thiên đường anh ạ!!! Chúng ta không nên tự lừa dối nhau làm gì. Tất cả những điều họ nói đều là sáo rỗng. Việt Nam chỉ có chủ quyền về mặt lãnh thổ, mà chưa chắc đã hoàn toàn có chủ quyền một cách độc lập. Chúng ta biết ảnh hưởng của Trung Quốc như thế nào khi Việt Nam ký hiệp định nhượng đất, nhượng biển… Rõ ràng, tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản ở Hà Nội vẫn chịu sức ép rất lớn của thế lực lãnh đạo từ Bắc Kinh. Ðó là tôi nói về chủ quyền lãnh thổ.

Còn dân chủ, tự do? Làm gì có hả anh! Chúng ta biết rằng, để định nghĩa một nước có tự do, dân chủ hay không, trước hết chúng ta phải biết các quyền cơ bản nhất của con người có được tôn trọng hay không. Mà điều quan trọng nhất là quyền được nói, tức là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ở Việt Nam chúng ta không có một tờ báo tư nhân, không có một đài truyền hình, đài phát thanh tư nhân nào cả. Tôi chưa nói là những người có ý kiến bất đồng với quan điểm của nhà nước, chỉ gửi vài ba e-mail trên mạng cũng đã bị bắt, bị đọa đầy, giống như trường hợp của Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, hay là anh Nguyễn Vũ Bình còn ngồi tù… Không thể kể xiết được.

Nguyễn KhanhNhưng thưa với anh là nếu có dịp nói chuyện với những người trong nước, anh thấy rõ ràng người dân Việt Nam, dường như, hài lòng với cuộc sống của họ hiện tại. Ðó cũng là điều chính phủ Việt Nam thường hay trình bày cho thế giới biết. Anh nghĩ gì về điều này?

Lê Diễn Đức: Tôi quay lại Ba Lan từ năm 1989, và gia đình tôi định cư ở đây luôn. Trước khi tham gia báo Ðàn Chim Việt, tôi cũng sinh hoạt bình thường với cộng đồng, anh em đồng hương. Từ năm 1994, tình hình “đổi mới” đã cho phép tôi về Việt Nam nhiều lần không bị phiền toái gì. Cho đến khi tôi ra công khai là Tổng biên tập báo Đàn Chim Việt thì không còn đường về nữa. Thời gian ở Việt Nam, tôi có dịp tiếp xúc với bạn bè, anh em, người trong gia đình, cũng như quan chức cộng sản, kể cả những người bạn cũ của tôi hiện đang có những chức vụ lớn ở trong nước…

Thực ra mà nói, không thể nào giấu được, trong lòng bản thân họ, họ cũng rất chán chế độ Việt Nam hiện nay, một chế độ tham nhũng tràn làn, giá trị đạo đức của xã hội bị suy đồi, nền giáo dục xuống cấp thảm hại… Họ biết những điều đó. Có lần một người bạn học của tôi là người có quyền có chức nói: “Ðức à, cả nước đang bị lũ, chúng tao không sống với lũ thì chỉ có chết. Do vậy, đành chấp nhận phải sống với lũ!”.

Thành ra tôi rất tâm đắc với nhà văn Dương Thu Hương, bà đã viết trong một bài rằng, hình như lòng dũng cảm của người Việt Nam chúng ta giống như số tiền để trong bóp, đã ăn xài xả láng qua chiến tranh rồi, nên bây giờ cạn kiệt không còn nữa…    nhờ công cuộc “đổi mới” trong 20 năm qua, mà từ cái cảnh ăn cơm độn bo bo giờ được ăn gạo trắng; đi bộ, đi xe đạp được thay bằng xe gắn máy, ở nhà tranh vách đất bây giờ được ở nhà gạch v.v…, nên nhiều người Việt trong nước bây giờ cảm thấy hài lòng (?). Rất nhiều người, ngay cả trong cộng đồng ở Ba Lan này, họ vẫn cứ tưởng đó là công lao của Ðảng, của Bác!

Nhưng sự thật là họ thiếu thông tin, nên rất ngô nghê. Lẽ ra, nếu không có Ðảng, không có Bác, cuộc sống của nhân dân Việt Nam có khi còn thịnh vượng hơn. Ðảng mới chỉ đổi mới 20 năm nay thôi, hòa bình thì đã 32 năm rồi, tại sao Ðảng không đổi mới trước đi để cho đất nước bây giờ ít nhất phải bằng các nước láng giềng như Thái Lan, Philippines, hay là Malaysia? Chính Ðảng đã phạm quá nhiều sai lầm. Những sai lầm đó đã đưa kinh tế đất nước đến bờ vực thẳm. Lúc ấy Ðảng mới hốt hoảng để làm chuyện “đổi mới”, rồi mức sống mới được nâng lên. Con người khi có miếng ăn ấm bụng thì thường tự mãn, tự bằng lòng với mình…     Họ sợ tuột mất cái đang có vì sau bao nhiêu năm chiến tranh thiếu ăn, thiếu mặc, họ không muốn cơm trong nồi bị mất tiếp nếu làm điều gì đó phật ý chính quyền. Ðây là cái điểm yếu chung của đại đa số người Việt Nam.    Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã tận dụng được sự tự mãn, tự bằng lòng ấy. Hơn nữa theo tôi nghĩ, người dân trong nước không có ý chí hãnh tiến, đòi thay đổi để vươn lên hơn nữa, chính vì họ thiếu thông tin, thiếu các thực tế từ các nước cộng sản cũ như là Cộng Hòa Czech, Slovakia hay Ba Lan, là những nước đã từ bỏ chế độ cộng sản và phát triển như thế nào. Nhân dân các nước này được nhiều hơn cái mức từ bo bo lên cơm trắng, từ xe đạp lên xe máy, anh ạ…

Nguyễn KhanhXin cám ơn anh về cuộc nói chuyện thú vị hôm nay.//

đập Sao và Búa liềm

ô. Quyên Di – Trí ‘thức’ (hay ‘ngủ ‘) thân cộng?

QUYÊN DI: TRÍ THỨC THÂN CỘNG ?

Lê Duy San
            Trong những ngày vừa qua, một nhân vật bình thường bỗng dưng trở nên nổi tiếng trên các diễn đàn internets, cả về xấu lẫn tốt. Đó là ông Quyên Di, một nhân vật mà chúng ta thường thấy trên vô tuyến truyền hình (TV) qua mục: “Văn Hoá Việt Nam”. Nhiều người thắc mắc:  
1/ Ông Quyên Di là ai ?
2/ Ông Quyên Di đã làm gì ?
3/ Taị sao ông Quyên Di bị nhiều người chống đối và đả kích nặng nề ?
I/ Ông Quyên Di là ai ?
Ông Quyên Di là người Công Giáo, họ Bùi, tên Chúc, bút hiệu là Quyên Di. Trước năm 1975, ông là giáo sư trường Nguyễn Bá Tòng Saigon, nhưng không biết ông có tốt nghiệp trường đại học nào không. Tiểu sử của ông do chính ông viết như sau:
Nhà văn của tuổi thơ. Sinh năm 1947 tại Bạch Mai Hà Nội. Nguyên quán Ngọc Lũ, Bình Lục, Hà Nam, di cư năm 1954 vượt biển tháng 12 năm 1977, hiện định cư tại Hoa Kỳ từ tháng 4-1978 đã: dạy học, thư ký nguyệt san Tuổi Hoa Sàigòn, chủ biên nguyệt san Ngàn Thông, tạp chí Phương Ðông (cùng Ðông Duy) hiện chủ nhiệm: Nguyệt san Tuổi Hoa, nguyện san thần học-tu đức Thời Ðiểm Công Giáo. Tác phẩm: Tuổi Trăng Tròn 1 và 2 – Vết Chân Chim – Tuổi Ướm Mơ – Cánh Phưọng Rơi – Thu – Chuông Ðêm – Thoáng Mây Bay – Hành Trang Lên Ðường -Tương Lai Giới Trẻ – Việt Nam Hải Ngoại – Hoa Hồng Nhà Kín – Nhìn Xuống Cuộc Ðời.
Sang Mỹ, theo như ông cho biết thì ông cũng rất may mắn vì được trở về nghề cũ. Ông không những lại được dậy học mà còn được dậy tại trường đại học chứ không phải là trường trung học như ngày ông còn ở Việt Nam. Cũng theo ông, ông hiện là giáo sư (professor substitute) dậy về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam của trường Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles) và CSULB (California State University Long Beach). Với chức vụ là giáo sư đại học, ông đã làm nhiều người thắc mắc: Không biết ông Quyên Di đã tốt nghiệp bắng cấp gì mà dám nhận là giáo sư đại học (professor), một tước vị (title) mà chỉ những người có cấp bằng tiến sĩ (Ph.D), được nhận dậy tại đại học và do đại học cấp?Những người bênh vực cho ông, phần lớn là học trò của ông thì khen ông là người dễ thương, dễ mến, khen ông dậy hay, dậy giỏi. Nhưng đây cũng không phải là vấn đề chúng ta muốn bàn. Vấn đề quan trọng mà chúng ta cần bàn ở đây cũng không phải là cái tước vị của ông mà là việc làm của ông.
.
II/ Ông Quyên Di đã làm gì ?
Với chức vụ giáo sư dậy về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam của trường Đại Học UCLA và CSULB, ông đã từng tham dự và thuyết trình về ngôn ngữ, văn hoá tại nhiều nơi. Ông cũng có dịp hướng dẫn sinh viên Việt Nam tại hai trường Đại Học này về Việt Nam để tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam từ mấy năm trước. Theo bản tin của Sông Hồng thì ông Quyên Di đã về Việt Nam năm 2012.  Theo ông Hùng Thế cho biết thì “xem các videos được thấy ghi chú do các em…thực hiện muà hè 7/2008 có hình anh̉ Gs QuyênDi cùng các em về VN…và các em tham dự các buổi học tập hè do các Gs Ts, phó Ts Khoa trưởng Khoa ViệtNamHọc ĐạiHọc KhoaHọc XãHội và NhânVăn viện đại học QuốcGia Hànội và SaìGòn giảng dậy …cùng các buổi đi “tham quan thắng cảnh cỗi rễ…”.  Nhưng chuyện này chỉ mới bùng nổ trong mấy tuần gần đây khi một bản tin do ông Nguyễn Kinh Doanh gửi đi với tựa đề là “Nhà văn Quyên Di công khai hợp tác với Cộng Sản”. Vì thế ông Quyên Di đã phải viết một lá thư dài vừa để minh xác vừa để chia sẻ và gửi lên các diễn đàn. Tôi xin được tóm tắt 4 điểm chính như sau:
1/ Ông xác nhận “Bản tin này trích lại một bản tin khác của khoa “Việt Nam Học và Tiếng Việt” thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội, tường thuật buổi nói chuyện của tôi ở khoa này”
2/ Năm 2012, tôi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” được tổ chức ở Hà NộiTôi không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA.
3/Lo lắng cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hoá cộng sản xâm nhập là chuyện rất đúng. Nhưng theo tôi, trực diện với họ khi có cơ hội và có tư thế là chuyện rất cần. Những sự thật chúng ta nói lên một cách xác quyết, người nghe không thể nào không có suy nghĩ và bị thuyết phục
4/ Đại học không đặt vấn đề chính trị. Đại học chỉ đặt vấn đề phát triển chương trình giảng dạy. Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là “không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.”
Ông Quyên Di nói ông “Lo lắng cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hoá cộng sản xâm nhập là chuyện rất đúng” nhưng ông lại chủ trương Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học làkhông gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.”
            Ông Quyên Di không những là người Bắc di cư vào Nam năm 1954 và vượt biện năm 1977 để trốn chạy Cộng Sản, ông lại là người Công Giáo, ông thừa hiểu Cộng Sản đặt vấn đề văn hoá rất nặng. Không những trong thời chiến mà cả trong thời bình, lúc nào chúng cũng kiểm soát rất chặt chẽ. Chẳng thế mà sau khi thôn tính được miền Nam, mặc dầu chúng đã bắt tất cả các quân nhân VNCH từ cấp Thiếu Úy trở lên và các công chức VNCH từ cấp Chánh Sở trở lên đi tù mà chúng còn muốn bắt giam tất cả các văn nghệ sĩ. Chúng đã coi tất cả các người làm văn hoá tức các nhà văn, nhà báo là bọn Biệt Kích Văn Hoá nên chúng đã tạo nên vụ nổ tại hồ Con Rùa còn gọi là vụ án hồ Con Rùa vào đêm 1/4/1976. Sau đó một chiến dịch quy mô được Việt Cộng  tung ra để lùng bắt tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng “phong thần”  trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh là CIA và đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”.
            Vậy mà nay ông lại chủ trương Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học làkhông gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.” thật không khác gì “giao trứng cho ác”.
            Ông Quyên Di nói rằng ông chỉ là người làm văn hoá, ông không bao giờ để cho chính trị len vào lỏi vào văn hoá. Nhưng ông lại cho rằng “trực diện với họ khi có cơ hội và có tư thế là chuyện rất cần. Những sự thật chúng ta nói lên một cách xác quyết, người nghe không thể nào không có suy nghĩ và bị thuyết phục.  Ông thật ngây thơ, bọn Cộng Sản, nhất là bọn Việt Cộng là một bọn người rất ngoan cố. Một tên Việt Cộng chưa chắc ông đã thuyết phục nổi chứ đừng nói là cả một tập đoàn.
            Ngay cả việc ông đưa các em học sinh đi “tham quan” (thăm) các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, ông có được tự do không hay đi đâu cũng phải do bọn Việt Cộng tổ chức và đi theo? Khi thăm Hồ Hoàn Kiếm, ông đã nói gì về Hồ Hoàn Kiếm với các em? Ông đã nói gì về Vua Lê Lợi với 10 năm kháng chiến chống quân Tầu (giặc Minh), Ông có đưa các em đi tham gò Đống Đa không ? Ông đã nói gì với các em về Vua Quang Trung đại phá quân Tầu (giặc Thanh). Ông có đưa các am đi thăm đền Hai Bà Trưng không? Ông đã nói gì với các em về Hai Bà diệt quân Tầu (giặc Ân)? Ông có đưa các em đi thăm đền Đức Trần Hưng Đạo không ? Ông nói gì về Đức Trần Hưng Đạo đã phá tan quân Tầu (giặc Mông Cổ) trên sông Bạch Đắng ?  Hay là ông để cho bọn Việt Cộng đưa các em đi thăm lăng “Bác”? đi thăm viện bảo tang “Mỹ Ngụy”?
            Chắc ông Quyên Di cũng đưa các em sinh viên đi thăm Huế ? Ông có nói cho các em sinh viên biết chính nơi đây vào Tết Mậu Thân 1968, bọn Việt Cộng đã không tôn trọng lệnh hưu chiến trong nhũng ngày Tết. Chúng đã ra lệnh tổng công kích và chiếm được Huế gần một tháng trời. Trước khi chúng bị quân đội VNCH đánh bật ra khỏi Huế, chúng đã giết và chôn sống trên 6 ngàn người dân vô tội?
            Chắc ông Quyên Di cũng đã đưa các em sinh viên của ông đi thăm Saigon ?  Ông có nói cho  các em biết Saigon trước kia là thủ đô của nước VNCH, một nước có một chế độ tương đối dân chủ và tự do chứ không chuyên chế và độc tài như chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay ?
v.v…
3/ Taị sao ông Quyên Di bị nhiều người chống đối và đả kích nặng nề ?
Ông Quyên Di không phải là người duy nhất về Việt Nam hợp tác với Việt Cộng. Trước ông cũng đã có nhiều giáo sư đại học người Việt tại Hoa Kỳ về VN dậy học cho Việt Cộng như giáo sư Tạ Văn Tài, nguyên là Giảng sư Đại học Luật khoa Havard, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư Đại Học George Mason, đã về VN nhiều lần để làm việc với nhà nước Việt Nam tại Hà nội, Sài gòn, và nhất là giáo sư Phó Bá Long (Giảng sư trường Đại Học AMERICAN và GEORGETOWN) năm 1992 đã về VN dậy tại trường đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là đại học Quốc gia) đào tạo giáo viên Maketing, Đại Học Kinh Tế Thành phố HCM và Đại Học Cần Thơ v.v. Nhưng những người này hầu hết đều dậy những ngành chuyên môn và dậy cho chính sinh viên tại Việt Nam nên không có ảnh hưởng tai hại gì mấy ngoài việc Việt Cộng lợi dụng để tuyên truyền.
Trái lại, trường hợp của ông Quyên Di lại khác, ông dậy cho các sinh viên VN tại Hoa Kỳ tức con em của chúng ta. Ông lại dậy về môn Ngôn Ngữ Việt Nam và Văn Hoá Việt Nam. Do đó tầm ảnh hưởng rất quan trọng tới tâm trí của con em chúng ta một khi ông là người đã hợp tác với Việt Cộng. Đó chính là lý do tại sao ông Quyên Di bị nhiều người chống đối và đả kích nặng nề.    
Tóm lại, trong lá thư minh xác của ông Quyên Di ông đã xác nhận là: “Năm 2012, tôi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” được tổ chức ở Hà NộiTôi không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA. Và theo ôngVề khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.” Có nghĩa là ông chủ trương nhà trường cần phải mời những giáo sư Việt Cộng sang giảng dậy về những môn Ngôn Ngữ Việt, Văn Hoá Việt mới có hiệu qủa tốt.
Những môn như Ngôn Ngữ Việt hay Văn Hoá Việt là những môn có liên quan tới lịch sử, mà bọn Việt Cộng là vua bóp méo lịch sử. Liệu ông Quyên Di có dám đề nghị tống cổ bọn giáo sư Việt Cộng về nước không nếu thấy chúng đã giảng dậy sai sự thật?  
             Nói ông Quyên Di là một trí thức thân Cộng có lẽ còn quá nhẹ. Phải nói ông là một trí thức đã hợp tác với Việt Cộng đúng như bản tin mà ông Nguyễn Kinh Doanh đã gửi đi.//
Lê Duy San