Ngày 30-4-1975 [II], Phản chiến Việt gian CS đã viết những gì (?)

III. Phản chiến Việt Nam chống Nguyễn Văn Thiệu nhưng vinh danh tự do thời TT Thiệutố cáo tội ác Cộng Sản.

(tiếp theo)

Nguyễn Việt Nữ

Đoàn Văn Toại nguyên Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon từng biểu tình đòi hủy bỏ bầu cử Tổng Thống Thiệu và đốt xe Mỹ. Nên bị tù thời Thiệu, nhưng rồi cũng bị tù thời “giải phóng”. Đoàn Văn Toại viết sách so sánh hai chế độ lao tù trong quyển “Quần đảo ngục tù của người Việt Nam” (The Vietnamese Gulag)

  • Đoàn Văn Toại viết: (Trích)

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ…(…)

Ngày 22 tháng 6 năm 1975 tức là chưa đầy hai tháng sau ngày 30 tháng 4, Đoàn Văn Toại đang thích thú nghe 100 nhạc sĩ của đoàn Nghệ thuật hòa tấu Quốc Gia từ Hà Nội trình diễn tại Nhà Hát Lớn (Grand Theater) TP HCM. Khi màn hòa tấu nhạc Beethoven vừa chấm dứt, sắp tiếp qua mục kế, thì có 4 người đồng phục bộ đội trẻ, cở 18 tuổi là nhiều nhất, ra hiệu dẫn Toại rời hàng ghế ngồi, đi ra hành lang, một người hỏi, giọng miền Bắc: “Anh có phải là Toại?’; Đáp: “Phải. Nhưng tại sao? Có chuyện gì vậy?” Tức thì một người lùi lại để lấy trớn mà nhào tới tán vào má anh thật mạnh, xong họ lôi anh nhanh lên tầng hai mà chưa đầy 5 năm trước Chủ Tịch Sinh Viên Đoàn Văn Toại đã từng gắp gáp lên đây y như vậy để đòi trả tự do cho các bạn sinh viên đang bị bắt, đòi Quốc Hội bãi bỏ bầu cử Tổng Thống năm 1971, và viết telegram cho Richard Nixon! Phải nhờ tác giả Đoàn Văn Toại ghi rõ “trước đây Nhà Hát Lớn là tòa nhà Quốc Hội của miền Nam” chúng tôi mới biết vũ trụ thênh thang nhưng chật hẹp nầy!

Tọai tưởng họ lầm với Ngô Vương Tọai, một sinh viên mà chế độ biết là tay chân của Thiệu, tức “tay sai” Mỹ, đến độ bị Mặt trận lên án tử hình, năm 1966 còn tìm cách ám sát Ngô Vương Tọai, nhưng vết thương đâm vào bao tử, suýt tưởng chết. Sau nầy Vương Tọai làm việc cho bộ Thông Tin chính phủ.

Vậy là chắn chắn mấy anh bộ đội con nầy lầm, vì ở miền Bắc vô, khi giải lên trên thì ai không biết Đoàn Văn Toại Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sàigon trước sau đều chống Nguyễn Văn Thiệu, và còn một lô bạn bè như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy v.v… nữa chi?

Chỉ “lầm” thôi mà công thần Đoàn Văn Toại bị bắt oan từ ngày 22- 6-1975, chờ gặp cấp trên để giải oan nhưng bị đày đọa qua nhiều nhà tù, không hề gặp một bóng nào để giải quyết, trừ chủ ngục chỉ biết đánh chết người! Khi được cho ra là ngày 2-11-1977, hai năm rưỡi không hề được xét xữ. Còn Hùynh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy thì yên ổn làm quan lớn với XHCN.

Toại viết rằng mất 863 ngày tù, chỉ mặc một cái quần từ khi vô cho đến lúc ra, ống quần rách từ dưới lên đến đầu gối, còn đáy quần vì phải ngồi nên lũng nhiều lỗ, chỉ vá chùm vá đụp vậy thôi. Toại kể cơm tù TP HCM chỉ toàn là cát, phải bỏ tất cả chén cơm vào ly nước để cát lóng xuống, vớt những hột cơm ít ỏi nổi lên mà nhai từ từ cho thấm mùi gạo mà no bụng chứ không dám nuốt, vì nó tuột xuống lẹ quá, mau đói!

Khi đó Toại mới nhớ những ngày tù thời Thiệu. Chao ôi, hoàn toàn trái ngược, thức ăn không hết, còn làm khó chính phủ, là cơm tù không đủ “tiêu chuẩn” nên trả lại! Quần áo thì thay đổi liền liền; sự rộng rải của phòng giam Sàigon bằng 40 lần nhà tù mang tên HCM. Toại vẽ tên mình lên tường nên biết rõ. (Đoàn Văn Toại ghi sanh năm là 1946, không biết tử vi có cung gì mà cũng vào phòng số 5 một mình, thì ai biểu 5 năm sau trở lại còn thấy tên mình, thấy tù Thiệu rộng quá, còn tù Tp Hồ Chí Minh nghẹt thở! Nhà tù Cảnh Sát quận Nhất cũng vậy; không hiểu Đoàn Văn Toại có đẻ ra óc tưởng tượng không vậy? Sao có sự trùng hợp ly kỳ vậy?

Đoàn Văn Toại viết: Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.(….)

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi. (Hết trích)

  • Đoàn Văn Toại và Ngô Vương Toại:

Ngô Vương Toại sanh 1947 ở Thanh Hóa, nên kinh nghiệm nhiều về Cộng Sản. Nhà báo Ngô Vương Toại vừa từ trần ở Mỹ ngày 3 tháng 4 năm 2014.

Số sau xin tiếp chi tiết thành tích dựng cờ Vàng tại Hoa Thịnh Đốn năm 1976 trong đó có Nhà báo Ngô Vương Toại.

Còn Đoàn Văn Toại sanh 1946 ở miền Nam nên như ông ta tự thú, là rất ngây thơ về Cộng Sản; bây giờ dù hối hận muộn màng, nhưng đây là lịch sử cho thế hệ trẻ thấy sự thật của hai chế độ, mà sự tàn ác của CS bắt người không xét xử hay xử nhưng bản án hay quan tài đã định trước như Joan Baez có bằng chứng trong tay từ năm 1979 đến nay vẫn chưa thay đổi!

Phản chiến Mỹ cả Việt đều là đồng chí của CS nhưng đều sớm “tuyên án” Cộng Sản dã man như nhau, bằng văn bảng sách báo như nhau.

Hôm nay mùa Quốc Hận thứ 39, xin thành kính tưởng niệm những linh hồn Việt lẫn Mỹ đã hi sinh vì lý tưởng tự do. Thành kính cầu siêu cho những linh hồn đã chìm sâu dưới đáy biển như một tai nạn khủng khiếp xảy ra trên đảo Air Raya, như một đảo nhỏ cấp xả.

Lên đảo được chừng ba tháng, một hôm các tàu chở người đi đảo Quận mới có chợ để mua sắm tùy nhu cầu. Khi tàu qua một eo biển bị gió quật, vài tàu chìm, cả trăm người bị chết trôi mất xác. Có một anh đi với vợ con, khi bị nạn, anh nhảy xuống biển cứu được cả vợ lẫn con, còn anh chồng vì mệt quá nên hết lội nổi, kiệt sức phải chết chìm trước khi có tàu đến cứu!

Sau nầy mới biết anh là vô địch bơi lội của VNCH, nguyên là Đốc Sự Quốc Gia Hành Chánh Sàigon nên bị đi tù cải tạo, rồi đi vượt biên, lên bờ rồi, chỉ chờ đi định cư thì lại chết; và vợ con không biết lội thì lại sống, vô địch bơi lội mà chết!

Người vắn số đó tên Chiêm Thành Kỷ, khi nghe bài của nhạc sĩ Trường Hải, MƯA TRÊN ĐẢO AIR RAYA nhớ chú ý mộ bia có tên ấy để thấy con đường vượt biên vô cùng nguy nan và cảm thương nỗi lòng người xa xứ.

15/4/2014

Nguyễn Việt Nữ
danlambaovn.blogspot.com

 

CHONGTAUDIETCONG

Ngày 30-4-1975 [I], Phản chiến Mỹ Joan Baez phản đối CS Bắc việt!

Phản chiến Mỹ Joan Baez viết về ngày 30 tháng 4 năm 1975

JoanBaez

Nguyễn Việt Nữ – Cộng Sản không thể thắng chiến tranh Việt Nam dễ dàng nếu không có phong trào phản chiến Mỹ ồ ạt biểu tình kêu gọi chính phủ Mỹ Lyndon B. Johnson và Richard Nixon rút quân về nước.

Phong trào phản chiến Mỹ thời ấy có hai nữ ca-nghệ-sĩ gạo cội nổi tiếng là Joan Baez và Jane Fonda. Nhưng bà Baez sau nầy hối hận, trực tiếp có hành động chuộc lỗi, còn Jane Fonda thì không bao giờ.

Chúng tôi còn ở lại 4 năm trên “Thiên đường Cộng Sản”, đến năm 1979 mới tuông ra biển thành thuyền nhân trôi đến đảo Air Raya, một hoang đảo trong số từ 17.508 đến 18.306 hòn đảo lớn, nhỏ thuộc quốc gia Nam Dương (Indonesia) nằm dài ở miền Nam Thái Bình Dương. Nhưng dần dần có sự hiện diện của trên 14, 000 người vượt biển tị nạn Cộng sản tới hoang đảo nầy.

Nơi đây chúng tôi được gặp ca sĩ phản chiến hồi tâm Joan Baez, bà dấn thân tìm tới nơi xa xôi bởi ngạc nhiên vì sao “hòa bình” rồi mà hàng hàng lớp lớp người vạch đường máu để ra đi? Nên bà đích thân đi “điều tra” tìm sự thật từ các trại tị nạn Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia v.v.

Năm 2013, nhân ngày lễ Memorial Day (Chiến Sĩ Trận Vong 27/5/2013) của Mỹ, chúng tôi có viết bài nhắc chuyện tị nạn Cộng Sản năm 1979: “Nhớ Air Raya, Hoang đảo cứu người và Joan Baez”.

(Trích)

Nữ ca sĩ phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam Joan Baez đã tới Air Raya, và tôi đã gặp nàng ở đảo nầy.

Joan Baez họp các người tị nạn lại, phần đông là các quân nhân tham dự. Họ viết đơn nói rõ lý do. Chúng tôi nhận chồng đơn và lo dịch cho nữ “Điều tra viên” phản chiến hiểu. Một đơn trong đó kể rằng: Cấp bực của họ bị kêu đi trình diện “học tập cải tạo chỉ 10 ngày, chuẩn bị lương thực đủ cho thời gian đó.”

Vậy mà 1 tháng, 1 năm, rồi 3 năm vẫn không thả ra, nên một nhóm nóng lòng lo cho vợ con ở nhà, nên trốn trại, nhưng bị bắt lại rồi đưa ra “Tòa án nhân dân” – tức những bạn cùng tù – xét xử. Đơn anh A kể: “Tôi ở trong đám “nhân dân” nhưng vì còn đấu tố, chưa biểu quyết, mà tôi mắc tiểu nên ra khỏi phòng “tòa”, đi vòng sau hè, thấy một quan tài gổ đóng sơ sài để sẳn. Đấy, “Tòa án nhân dân” của XHCNVN trong hòa bình: kết án tử hình trước khi xử! v.v. nên tôi phải bỏ trốn khỏi thiên đường Cộng sản.”

Ở các trại tị nạn khác hẳn bà cũng nhận được những sự thật tàn bạo khác như trong thư tố cáo dưới đây.

  • Trở lại Hoa Thịnh Đốn, Joan Baez làm hai việc thiết thực:

I. Kêu gọi những “đồng chí” phản chiến cũ cùng ký tên trên một thư gởi cho nhà nước XHCNVN, bài còn đăng trên tờ Nữu ước Thời báo (The New York Times) số ra ngày 1/5/1079 (Có được 78 chữ ký của những nhân vật phản chiến nổi danh, tên để bên tay mặt văn thư gởi nhà cầm quyền CSVN.)

Phản Chiến Mỹ viết về ngày 30 tháng 4, 1975:

Open letter to the Socialist Republic of Vietnam

Joan Baez

Four years ago, the United States ended its 20-year presence in Vietnam. An anniversary that should be cause for celebration is, instead, a time for grieving. With tragic irony, the cruelty, violence and oppression practiced by foreign powers in your country for more than a century continue today under the present regime.

Thousands of innocent Vietnamese, many whose only “crimes” are those of conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education camps. Instead of bringing hope and reconciliation to war-torn Vietnam, your government has created a painful nightmare that overshadows significant progress achieved in many areas of Vietnamese society.

Your government slated in February 1977 that some 50,000 people were then incarcerated. Journalists, independent observers and refugees estimate the current number of political prisoners between 150,000 and 200,000. Whatever the exact figure, the facts form a grim mosaic. Verified reports have appeared in the press around the globe, from Le Monde and The Observer to the Washington Post and Newsweek

We have heard the horror stories from the people of Vietnam from workers and peasants, Catholic nuns and Buddhist priests, from the boat people, the artists and professionals and those who fought alongside the NLF. The jails are overflowing with thousands upon thousands of “detainees.” People disappear and never return. People are shipped to re-education centers, fed a starvation diet of stale rice, forced to squat bound wrist to ankle, suffocated in “connex” boxes. People are used as human mine detectors, clearing live mine fields with their hands and feet. For many, life is hell and death is prayed for.

Many victims are men, women and children who supported and fought for the causes of reunification and selfdetermination; those who as pacifists, members of religious groups, or on moral and philosophic grounds opposed the authoritarian policies of Thieu and Ky; artists and intellectuals whose commitment to creative expression is anathema to the totalitarian policies of your government.

Requests by Amnesty International and others for impartial investigations of prison conditions remain unanswered. Families who inquire about husbands, wives, daughters or sons are ignored. It was an abiding commitment to fundamental principles of human dignity, freedom and selfdetermination that motivated so many Americans to oppose the government of South Vietnam and our country’s participation in the war.

It is that same commitment that compels us to speak out against your brutal disregard of human rights. As in the 60s, we raise our voices now so that your people may live. raise our voices now so that your people may live. We appeal to you to end the imprisonment and torture-to allow an international team of neutral observers to inspect your prisons and re-education centers. We urge you to follow the tenets of the Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant for Civil and Political Rights which, as a member of the United Nations, your country is pledged to uphold. We urge you to reaffirm your stated commitment to the basic principles of freedom and human dignity… to establish real peace in Vietnam.

Joan Baez President,

Humanitas/International Human Rights Committee

CO-SIGNERS:
Ansel Adams
Edward Asner
Albert V. Baez
Joan c. Baez
Peter S. Beagle
Hugo Adam Bedau
Barton J. Bernstein
Daniel Berrigan
Robert Bly
Ken Botto
Kay Boyle
John Brodie
Edmund G. “Pat” Brown
Yvonne Braithwaite Burke
Henry B. Burnette, Jr.
Herb Caen
David Carliner
Cesar Chavez
Richard Pierre Claude
Bert Coffey
Norman Cousins
E. L. Doctorow
Benjamin Dreyfus
Ecumenical Peace Institute Staff
MiIni Farina
Lawrence Ferlinghetti
Douglas A. Fraser
Dr. Lawrence Zelic Freedman
Joe Fury
Allen Ginsberg
Herbert Gold
David B. Goodstein
Sanford Gottlieb
Richard J. Guggenhime
Denis Goulet, Sr.
Bill Graham
Lee Grant
Peter Grosslight
Thomas J. Gumbleton
Terence Hallinan
Francis Heisler
Nat Hentoff
Rev. T. M. Hesburgh, C.J.C.
John T. Hitchcock
Art Hoppe
Dr. Irving L. Horowitz
Henry S. Kaplan, M.D.
R. Scott Kennedy
Roy C. Kepler
Seymour S. Kety
Peter Klotz-Chamberlin
Jeri Laber
Norman Lear
Philip R. Lee, M.D.
Alice Lynd
Staughton Lynd
Bradford Lyttle
Frank Mankiewicz
Bob T. Martin
James A. Michener
Marc Miller
Edward A. Morris
Mike Nichols
Peter Orlovsky
Michael R. Peevey
Michael R. Peevey
Geoffrey Cobb Ryan
Ginetta Sagan
Leonard Sagan, M.D.
Charles M. Schultz
Ernest L. Scott
Jack Sheinkman
Jerome J. Shestack
Gary Snyder
I. F. Stone
Rose Styron
William Styron
Lily Tomlin
Peter H. Voulkos
Grace Kennan Warnecke
Lina Wertmuller
Morris L. West
Dr. Jerome P. Wiesner
Jamie Wyeth
Peter Yarrow
Charles W. Yost

  • Dịch nguyên văn như sau:

“Cách đây 4 năm, Hoa Kỳ đã chấm dứt 20 năm hiện diện ở Việt Nam. Một dịp kỷ niệm đúng ra là nguyên nhân để đón mừng, nhưng thay vào đó, lại là lúc để đau buồn.

Với một thảm họa thật mỉa mai, sự tàn ác, bạo lực và đàn áp do các thế lực nước ngoài áp đặt lên đất nước quý vị trong hơn một thế kỷ qua, đang tiếp tục ngày hôm nay dưới chế độ hiện thời.

Hàng ngàn người Việt Nam vô tội, nhiều người mà “tội” của họ chỉ là các vấn đề thuộc lương tâm, hiện đang bị bắt giữ, tạm giam và tra tấn trong tù hoặc các trại cải tạo. Thay vì mang lại hy vọng và hoà giải cho đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, thì nhà nước của quý vị lại tạo ra một cơn ác mộng đau đớn và che khuất đi những tiến bộ quan trọng đã đạt được trong nhiều phạm vi của xã hội Viêt Nam.

Nhà nước quý vị đã tuyên bố vào tháng 2/1977 rằng có khoảng 50 ngàn người đang bị giam giữ lúc đó. Nhiều ký giả, các nhà quan sát độc lập và người tỵ nạn ước lượng rằng con số tù nhân chính trị hiện thời khoảng giữa 150 ngàn và 200 ngàn người.

Con số chính xác có là gì đi nữa, thì sự thật đang tạo thành một bức tranh tăm tối. Nhiều tin tức được xác nhận đang xuất hiện trên báo chí thế giới, từ báo Le Monde và The Observer đến Washington Post và Newsweek. Chúng tôi đã nghe nhiều câu chuyện của những người đến từ Việt Nam -công nhân và nông dân, các nữ tu Công giáo và tu sĩ Phật giáo, các thuyền nhân, văn nghệ sĩ và các nhà chuyên môn cũng như những người đã từng chiến đấu bên cạnh Mặt trân giải phóng.

- Các nhà tù đang tràn ngập với hàng ngàn đến hàng ngàn “tù nhân”.

- Nhiều người bị mất tích và không tìm được tông tích.

- Nhiều người bị đưa đến các trại cải tạo, cho ăn bằng những khẩu phần gạo chết đói, buộc phải ngồi với cổ tay và cổ chân bị trói chặt, đến ngạt thở trong các thùng connex

- Nhiều người bị dùng như những vật dò tìm bom mìn, dọn các bãi mìn bằng tay chân trần trụi.

Ðối với nhiều người, sống là địa ngục và cái chết là điều mong ước. Nhiều nạn nhân là đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã từng ủng hộ và chiến đấu cho mục tiêu thống nhất đất nước và quyền dân tộc tự quyết, họ là những người vì hoà bình, thành viên của các tổ chức tôn giáo hoặc vì các nền tảng đạo đức triết lý đã chống đối lại các chính sách độc đoán của chế độ Thiệu Kỳ; họ là các văn nghệ sĩ và trí thức quyết tâm được tự do sáng tạo bị hất hủi bởi các chính sách độc tài của nhà nước quý vị.

Yêu cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhiều tổ chức khác để được tự tìm hiểu tình trạng lao tù vẫn chưa được đáp ứng. Các gia đình muốn biết tin tức về vợ chồng con cái họ đều bị thờ ơ..

Chính một quyết tâm bền bỉ về các nguyên tắc cơ bản của nhân cách, tự do và quyền tự quyết đã là động cơ thúc đẩy rất nhiều người Mỹ phản đối chính quyền miền Nam và sự tham dự của đất nước chúng tôi vào cuộc chiến. Cũng chính vì một quyết tâm tương tự bắt buộc chúng tôi phải lên tiếng phản đối sự bất chấp đến tàn bạo về nhân quyền của quý vị.

Chúng tôi kêu gọi quý vị hãy chấm dứt ngay việc bỏ tù và tra tấn –cho phép một nhóm quốc tế gồm các nhà quan sát trung lập được đến để thanh tra các nhà tù và trung tâm cải tạo của quý vị.

Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên tuân theo các nguyên tắc của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà đất nước quý vị là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, đã cam kết phải thi hành.

Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên xác định lại cam kết mà quý vị đã tuyên bố về các nguyên tắc về tự do và phẩm cách con người… để thiết lập một nền hoà bình thật sự tại Việt Nam

Ký tên: Joan Baez”

Thư được 78 nhân vật nổi tiếng ký tên, trong đó có I. F. Stone, Barton Bernstein, Daniel Berrigan, Jerome Weisner, Bert Coffey, Benjamin Dreyfus, Sanford Gottlieb, Terence Hallinan, Staughton Lynd, Allen Ginsberg, Edmund Pat Brown, Ginetta Sagan, Cesar Chavez, và Nat Hentof.v.v.. (Bài khác chúng tôi sẽ nói đến vài tên Mỹ Cộng nổi bậc).

II. Chuyện thứ hai: kêu gọi chính phủ Mỹ nhận người tị nạn nhập cư.

Ca sĩ Joan Baez ôm hết chồng thơ từ các trại tị nạn về Hoa Thịnh Đốn, khiếu nại với Tổng thống Mỹ lúc ấy là Jimmy Carter, rồi kéo đệ nhất phu nhân đi Thái Lan thăm người vượt biển. Bà cùng nhiều đoàn thể khác nữa như Đại Đức Thích Giác Đức cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại –nguyên là sinh viên rất chống Cộng thời VNCH – kêu gọi Jimmy Carter phải nhận cho người tị nạn Đông Dương vào Mỹ.

Kéo dài tới thời Tổng Thống Ronald Reagan là chương trình ODP, cho đở vượt biên chết người, vì theo Cao Ủy Tị Nạn LHQ, số chết do vượt biển lên đến gần nủa triệu người! Bao nhiêu đó đủ nói lên tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam trong “hòa bình”; chưa kể tội lừa người đi tù cải tạo mà Mỹ phải có chương trình H.O cho chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Vì vậy mà chúng tôi nhớ Air Raya, một hoang đảo cứu người và ca sĩ Joan Baez bởi nhờ bà mà thêm chính sách cứu người hẳn hòi từ tòa Bạch Ốc!

Ngày Lễ Memorial Day (Chiến Sĩ Trận Vong 27/5/2013) của Mỹ, những cựu quân nhân Hoa Kỳ đã kết tội bà đào Jane Fonda-Jane Hanoi là Phản Quốc (Traitor) lâu rồi.” (Hết trích)

Coi tiếp phần III:

Phản chiến Việt Nam chống Nguyễn Văn Thiệu nhưng vinh danh tự do thời TT Thiệu và tố cáo tội ác CộngSản: http://tunhan.wordpress.com/2014/04/16/ngay-30-4-1975-ii-phan-chien-viet-gian-cs-da-viet-nhung-gi/

bugle2

VC Hà Nội bị thất bại trong kế hoạch “kết nghĩa” TP Nha Trang với Irvine (Cali.)

KINH NGHIỆM QUÝ GIÁ TỪ THÀNH CÔNG NGOẠN MỤC TẠI IRVINE CITY HALL

 
A. -Sự thành công vang dội mà nhiều người gọi là chiến thắng ngoạn mục của cộng đồng người Việt tại Nam California tại Irvine City Hall đã đánh bại đề nghị (proposal) kết nghĩa (sister friendship) của nghị viên Larry Agran giữa hai thành phố Irvine và Nha Trang vào chiều tối ngày Thứ Ba April 08th, 2013.
.
Sau khi hàng ngàn đồng hương tụ tập trong khuôn viên Tòa Đô Chính của Irvine đã tuần hành biểu dương lực lượng suốt buổi chiều, thì trong buổi tối cùng ngày ở bên trong Tòa Đô Chính hằng trăm người đã lên bục để nói lên cảm tưởng và sự chống đối mạnh mẽ của mình về đề nghị kết nghĩa này.
.
  • Với số phiếu chống/thuận 3/2; đề mục 5.1 đã bị hủy bỏ, và kết quả như sau:
Thànhphố Irvine không kết nghĩa với Nha Trang mà cũng không với cả hai thành phố Baoji của Trung Cộng và Karachi của Pakistan nữa.
Việc này sẽ không bao giờ xẩy ra cho đến khi nào VN trở thành một nước có tự do, dân chủ và nhân quyền.
+ Thành phố Irvine sẽ đặt ra nguyên tắc loại các nước vi phạm nhân quyềnđàn áp tự do tôn giáo ra khỏi bảng kết nghĩa,
+ Hàng trăm cư dân các nơi lên bục đều đồng tâm tố cáo các vi phạm nhân quyền và mất tự do tại Nha Trang và tại VN dưới chế độ cộng sản.
+ Nhiều cư dân Mỹ tại Irvine cũng lên bục chống lại đề nghị kết nghĩa này. Được hỏi tại sao họ biết tin tức này, những cư dân Mỹ cho biết hàng xóm của họ là người Việt đã thông báo cho họ biết.
.
B. -Từ đó chúng ta rút ra được những kinh nghiệm quý giá củng cố cho công cuộc đấu tranh chống Cộng lâu dài.
.
Sau đây là một vài yếu tố chính đưa đến sự thành công ngoạn mục đó:
1. Biết Địch Biết Ta: Cần thiết lập sợi giây liên lạc với các vị dân cử, viên chức tại các thành phố trong Quận Cam (kể cả ngoài khu vực Little Saigon) để nắm tin tức kịp thời. (Công đầu lần này phải dành cho ông Phó Thị Trưởng (Mayor Pro Tem) Jeff Lalloway là người biết yêu cái Thiện và chống cái Ác. Chính ông đã gọi ngay cho GSV Janet Nguyễn trước, và bà Janet đã nhanh chóng thông báo cho cộng đồng để chuẩn bị kịp.) (xin xem youtube phỏng vấn ông Jeff Lalloway và bà Janet Nguyễn của Little Saigon TV vừa FW).
2. Đoàn Kết: Các cư dân trong các thành phố khác của Quân Cam và từ xa nữa như Riverside, San Diego đều sát cánh với cư dân Việt tại Irvine trong trận chiến này. Các vị dân cử Việt Mỹ, các đoàn thể, các cộng đồng đều đứng cạnh nhau và đồng tâm nhất trí với nhau,  tạo nên một sức mạnh to lớn như sóng triều dâng.
3. Chặn Địch từ Xa: Chủ trương của VC là từ xa đánh lại gần (đánh chiếm nông thôn để bao vây thành thị) vì họ biết không thể thực hiện ý đồ đó ngay tại vùng Thủ Đô Tỵ Nạn được. Bởi thế chúng ta không thể thờ ơ khi nghe địch xâm nhập vào các thành phố khác ở xa chúng ta.
4. Loan Truyền Tin Tức: Về vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo của CSVN đối với người dân trong nước đến cư dân Việt và các sắc dân khác càng nhiều càng tốt. Như vết dầu loang, để khi hữu sự sẽ có đông người tham gia tích cực.
 .

Phạm Gia Đại  <nguoitucuoicung17@gmail.com>

VC Bán nước

Đọc Báo Vẹm! – Số lần: 368

Đọc Báo Vẹm 368

Xin mời quý vị cùng theo dõi tại đây: Đọc báo Vẹm ‘online’ : http://docbaovem.net/

Nguyễn Hưng Quốc – về việc Cù Huy Hà Vũ ‘quy mã’!

Chuyện Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ

Posted: 15/04/2014 in Bình Luận, Nguyễn Hưng Quốc

duong_ha_va_hinh_cu_huy_ha_vu
Hình chụp Bà CH Hà Vũ cầm bức chân dung của chồng (tự họa) -tunhan ghi chú-  
.
Chuyện Cù Huy Hà Vũ được trả tự do và được sang Mỹ với vợ đang làm xôn xao dư luận, đặc biệt trên mạng, trong hơn một tuần vừa qua. Người thì mừng, người thì thất vọng và lo, thậm chí, thất vọng và lo quá thành trách móc, cho là ông chọn một con đường dễ dãi và chỉ có lợi cho bản thân và gia đình.
.
Thật ra, cần nói ngay, sự trách móc, lo lắng hay thất vọng đều là những phản ứng rất cảm tính, hơn nữa, có cái gì như vô lý. Không ai có thể đòi hỏi người khác phải làm anh hùng. Người ta không có bổn phận làm anh hùng. Anh hùng là một sự lựa chọn và chấp nhận hy sinh. Không phải lúc nào người ta cũng có thể lựa chọn được như vậy. Bình thường, người ta ưu tiên chọn lựa sự an toàn cho bản thân và gia đình trước. Không có người nào có thể bị trách móc vì các chọn lựa đầy nhân tính và nhân tình ấy.
.
Vấn đề đáng bàn hơn ở đây là: Liệu người ta có thể tiếp tục tranh đấu một cách có hiệu quả khi sống ngoài đất nước?
.
Câu hỏi trên bao gồm hai khía cạnh: tranh đấu và tranh đấu một cách có hiệu quả.
Với khía cạnh thứ nhất, câu trả lời tương đối dễ dàng: Dĩ nhiên là được. Ở hải ngoại có hai điều kiện thuận lợi hơn trong nước: Một là an toàn và hai là tự do. Người ta có thể phát biểu hoặc tập hợp lực lượng một cách thoải mái mà không phải sợ hãi bất cứ điều gì. Chế độ độc tài ở xa, nếu muốn, chỉ có thể đánh lén bằng cách gieo rắc những tin đồn làm giảm uy tín hoặc làm hoang mang dư luận. Hết.
.
Nhưng chính sự an toàn và tự do ấy lại trở thành một nguy cơ cho mọi nhà đối kháng hay tranh đấu chống lại độc tài. Một là người ta đánh mất cơ hội làm anh hùng, và từ đó, cơ hội để trở thành thần tượng, qua đó, tập hợp quần chúng. Xin lưu ý: anh hùng không phải là tính cách có sẵn và bất biến. Không ai là anh hùng cả. Người ta chỉ trở thành anh hùng. Và người ta chỉ có thể trở thành anh hùng chỉ bằng một cách duy nhất: chấp nhận đương đầu với nguy hiểm, thậm chí, sẵn sàng chấp nhận cả sự hy sinh. Sự an toàn và tự do ở hải ngoại tước mất tất cả những cơ hội ấy: Người ta trở thành một người bình thường như mọi người.
.
Là một người bình thường, người ta cũng đánh mất cơ hội được chú ý và được lắng nghe. Không phải chỉ trong nội bộ cộng đồng người Việt với nhau mà cả với quốc tế cũng vậy. Trên thế giới, người ta chỉ thích tập trung sự chú ý vào các chứng nhân và các nạn nhân, nghĩa là những người đang sống trong nước, hằng ngày đương đầu với bạo quyền. Tất cả những người lưu vong, may lắm, chỉ được xem là một học giả. Mà với tư cách một học giả, người ta lại chịu một sự thiệt thòi khác: thành kiến cho là họ thiếu khách quan và công bằng khi phê phán nhà cầm quyền ở quê nhà. Đó là điều dường như tất cả các trí thức Việt Nam sống ở hải ngoại đều có kinh nghiệm và đều phải chịu đựng.
.
Một trong những bằng chứng cụ thể nhất là Dương Thu Hương. Lúc còn sống trong nước, các tác phẩm cũng như các bài viết của bà được đón nhận một cách nồng nhiệt. Từ năm 2006, bà sang sống hẳn ở Pháp. Sống ở đâu thì Dương Thu Hương vẫn là Dương Thu Dương thôi. Vẫn thông minh, sắc sảo, thẳng thắn và tài hoa. Không có gì thay đổi. Nhưng rõ ràng là sự tiếp nhận của những người chung quanh, từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng quốc tế, đã thay đổi: Bà chỉ còn là một nhà văn chứ không phải nhà văn đối kháng nữa. Với bà, người ta hờ hững dần. Và bà cũng im lặng dần.
.
Mà không phải chỉ có Dương Thu Hương. Lớn hơn Dương Thu Hương rất nhiều, nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn chương năm 1970, bị trục xuất khỏi Nga vào năm 1974; và sau một thời gian ngắn sống ở Tây Đức và Thụy Sĩ, ông được mời sang Mỹ. Ông định cư ở Mỹ cho đến năm 1994, khi chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Nga, ông mới về nước. Trong gần 20 năm ở Mỹ, Solzhenitsyn chỉ sống một cách lặng lẽ ở một địa phương khuất lánh heo hút. Trừ sự ồn ã ở vài năm đầu, sau đó, dường như người ta quên mất ông, hơn nữa, có khi còn bực bội vì ông. Một số quan điểm của ông, lúc còn nằm trong nhà tù Xô Viết, được xem là dũng cảm; lúc đã sống ở Mỹ, ngược lại, lại bị xem là cực đoan.
.
Cả Solzhenitsyn lẫn Dương Thu Hương đều không phải là những người làm chính trị. Họ chỉ là những nhà văn, khi còn trong nước, được xem là đối kháng. Nhưng ngay cả khi là một nhà văn, người ta còn không được nghe, huống gì chỉ là một người hoạt động chính trị? Cơ hội để được nghe chắc chắn sẽ hiếm hoi hơn nhiều.
.
Là một người bình thường, người ta phải đối diện và giải quyết những nhu cầu rất ư là đời thường: học ngoại ngữ, kiếm việc làm, mua xe và mua nhà, lo cho đời sống của cá nhân và gia đình. Tất cả những công việc ấy nuốt gần hết thời gian và sức lực của một người bình thường. Nếu từ chối những công việc bình thường ấy, chịu sống một cách thanh bạch và kham khổ để tiếp tục đấu tranh, người ta lại bị cộng đồng chung quanh nhìn như một kẻ thất bại, và cuối cùng, xa lánh dần với một lý lẽ rất đơn giản: đời sống riêng của anh/chị còn lo chưa xong, nói gì đến những chuyện đại sự?
.
Nếu sự an toàn và tự do, một mặt, tước mất cơ hội làm anh hùng của các nhà đối kháng; mặt khác, nó lại tạo cơ hội cho sự hẹp hòi và ganh tị nảy nở xum xuê. Ai cũng có quyền lên tiếng chụp mũ và dèm pha người khác. Khi Nguyễn Chí Thiện còn ở trong tù, đọc thơ ông, hầu như ai cũng thương và khen ngợi nức nở. Đến lúc ông được sang Mỹ, người ta lại tung tin đồn: đó là Nguyễn Chí Thiện giả, do công an Cộng sản cho ra hải ngoại để phá hoại cộng đồng!
.
Bởi vậy, rất khó để người ta có thể tranh đấu một cách có hiệu quả sau khi đã rời bỏ quê hương. Có thể có. Nhưng hiếm. Cực hiếm.
.
Thay cho lời kết luận, có một điều tôi xin được nhấn mạnh: Nhân dịp Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ, tôi muốn phân tích một số thuận lợi và khó khăn của những người đối kháng ở hai môi trường khác nhau. Tôi không hề có ý chê trách Cù Huy Hà Vũ. Mà cũng không có ai có quyền chê trách ông được. Không có lý do gì để chê trách ông cả. Hơn nữa, thành thực mà nói, tôi cũng chưa bao giờ đặt bất cứ một kỳ vọng gì ở ông. Dù tôi rất kính phục sự can đảm của ông.
.
Trong chuyện tranh đấu, can đảm không chưa đủ.
.
Hưng Quốc Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc
NH Quoc

Bác Hồ, tức HC Minh, tác giả những món nợ máu trước “nhân dân” từ thời ‘kách mệnh’!

Món nợ 62 năm

HC Minh đóng kịch, giả vờ khóc - những giọt "nước mắt cá Sấu" không thể che lấp cái dã tâm độc ác bên trong một con người Cộng sản!!!

HC Minh đóng kịch! giả vờ khóc! [v/v CCRĐ] - Những giọt “nước mắt cá Sấu” không thể che lấp cái dã tâm độc ác, vô nhân ở bên trong một con người Cộng sản!!! [ghi chú thêm của tunhan]

Bùi TínÔng Hồ Chí Minh được bộ máy tuyên truyền đảng CS ca tụng là nhà chính trị tài ba nhất, nhà ngoại giao xuất chúng nhất, nhà thơ sâu sắc nhất, cũng là nhà báo kiệt xuất nhất trong lịch sử nước ta, mặt hoạt động nào cũng là số một, không có số hai, là mẫu mực. Nhưng với thời gian mọi sự chỉ là thêu dệt. Trong bài báo, C.B. kể tội khơi khơi là bà Năm “giết ngót 260 người”, nhưng không một dẫn chứng, một tên tuổi, một hình hài, một chứng minh. Một bài báo bất minh.
 
Hơn nửa thế kỷ nay, nói đến số người chết và lâm nạn do liên quan trong Cải cách ruộng đất, bộ máy tuyên truyền của đảng CS leo lẻo rằng ngay sau đó đã sửa sai nghiêm chỉnh, phục hồi danh dự, đền bù cho những nạn nhân, nợ đã trả xong. Lại là lời nói dối khổng lồ sau những tội ác khủng khiếp nhân danh đảng CS…
*
Cám ơn nhà báo Xuân Ba đã viết một bài báo tâm huyết truyền cảm. Tít bài báo là: Chuyện về người phụ nữ đầu tiên bị bắn oan trong Cải cách ruộng đất.
Xuân Ba gửi bài báo này cho báo An ninh thế giới, báo này đăng ngày 15/3/2014, nhưng đã tự xóa bỏ một số đoạn. Do vậy anh gửi cho mạng Tễu của nhà hán nôm Nguyễn Xuân Diện để đăng nguyên văn toàn bộ bài báo từ ngày 24/3, chia thành 3 đoạn với các tít:
.
1-/ Dấu chấm hết thành dấu chấm lửng;
2-/ Tan tác một mái ấm;
3-/ Tìm mộ bà Năm.
.
Mở đầu, Xuân Ba giới thiệu bài viết ngắn của C.B. đăng trên báo Nhân Dân ngày 21-7-1953, có tít là “Địa chủ ác ghê”, trong đó kể tội ác của địa chủ gian ác Nguyễn Thị Năm: giết chết 14 người ; tra tấn đánh đập hàng chục người nay còn tàn tật; làm chết 200 người thuộc 32 gia đình nghèo đói; hãm chết 30 người trong Chùa Hang. Tổng cộng là ngót 260 người bị giết chết, với “thủ đoạn tra tấn không kém thời thực dân Pháp, dội nước lạnh, treo người trên xà nhà, đóng gióng trâu vào mồm nông dân…”.
C.B. là một bí danh khi viết báo của ông Hồ Chí Minh, lúc ấy là chủ tịch nước, đứng đầu đảng cộng sản Đông dương; khi lần đầu gửi bài cho báo Nhân Dân, ông viết thư giải thích C.B. là “Của Bác“. Bức thư này còn lưu giữ ở phòng kỷ niệm báo Nhân Dân. Các bài báo lập tức được đăng trên cao, trang nhất, không sửa một chữ, một dấu chấm, dấu phẩy nào.
Ông Hồ Chí Minh được bộ máy tuyên truyền đảng CS ca tụng là nhà chính trị tài ba nhất, nhà ngoại giao xuất chúng nhất, nhà thơ sâu sắc nhất, cũng là nhà báo kiệt xuất nhất trong lịch sử nước ta, mặt hoạt động nào cũng là số một, không có số hai, là mẫu mực. Nhưng với thời gian mọi sự chỉ là thêu dệt.
Trong bài báo, C.B. kể tội khơi khơi là bà Năm “giết ngót 260 người”, nhưng không một dẫn chứng, một tên tuổi, một hình hài, một chứng minh. Một bài báo bất minh.
Hơn nửa thế kỷ nay, nói đến số người chết và lâm nạn do liên quan trong Cải cách ruộng đất, bộ máy tuyên truyền của đảng CS leo lẻo rằng ngay sau đó đã sửa sai nghiêm chỉnh, phục hồi danh dự, đền bù cho những nạn nhân, nợ đã trả xong.
Lại là lời nói dối khổng lồ sau những tội ác khủng khiếp nhân danh đảng CS.
Chỉ một trường hợp bà Nguyễn Thị Năm, theo bài viết của Xuân Ba, sẽ thấy họ sửa sai, trả nợ ra sao.
Trong phần 1 nhan đề “Dấu chấm hết thành dấu chấm lửng”, bài báo cho biết đến tận ngày 28 tháng 1 năm 1987, ông Lê Đức Thọ – Sáu Búa – ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương mới cử ông Lưu Văn Lợi thư ký riêng của mình, tìm ghé đến nhà ông Nguyễn Hanh, con cả của bà Nguyễn Thị Năm để thăm hỏi. Cái kiểu cách nhận sai lầm, xin lỗi và an ủi của ông Sáu Búa cũng không giống ai. Đó là lấy cuốn sách in thơ của mình không có tít, chỉ có chữ Thơ, và tên: Lê Đức Thọ, rồi ghi hàng chữ ngoài bìa: “Thân mến tặng Công và Hanh, đánh dấu chấm dứt sự đau buồn kéo giài lâu năm của gia đình cũng là của chung. Thọ”. Một kiểu xí xóa tội ác của đảng ông ta đối với gia đình nạn nhân một cách chủ quan, vô duyên, trịch thượng. Sách mỏng in thơ ông ế ẩm, in ra từ 7 năm trước, nay tặng gia đình bà Năm sao lại có thể chấm dứt được đau buồn thê thảm của bao nhiêu người? Sao lại để đến 34 năm sau, bỗng nhớ ra tội của đảng, mới lên tiếng muộn màng, vuốt đuôi đến vậy. Chưa nói phạm lỗi chính tả, dài thành “giài’’.
Nhà báo Xuân Ba dùng đầu đề “Dấu chấm lửng” để phủ định cái “dấu chấm dứt” của ông Thọ, kể ra một loạt điều còn lơ lửng, những đau buồn còn dai dẳng. Ông Nguyễn Hanh kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước. Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác. Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này. Cuộc sửa sai kéo dài, đến năm 1957 ông mới được về nhận công tác ở Ty kiến trúc Thái Nguyên, rồi sau đó về một công ty dược ở Hà Nội, để về hưu sớm. Con gái đầu của ông là Phương sau khi đỗ trường Đại học Bách Khoa, may lắm mới được nhận vào làm việc ở Tổng cục Thống kê rồi ở Bộ Vật tư. Con trai ông là Nguyễn Tấn cuộc sống cũng không có lối thoát để vươn lên vì là cháu nội địa chủ. Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 ông chết thảm trong một tai nạn xe máy. Vợ ông, bà Đỗ Kim Chi và con gái – cô Ngọc Diệp sống cùng gia đình ông Hanh. Ông Hanh năm nay đã 90, vợ ông, bà Phạm Thị Cúc cũng đã 86 tuổi, lại thiếu niềm vui khi về già, vì 2 con, Phương và em trai cuộc sống đều tẻ nhạt không có tương lai.
Bà Nguyễn Thị Năm
Trong phần 2 “Tan tác một mái ấm”, bài báo tả lại cảnh gia đình bà Năm tan vỡ ra sao, sau một thời gian là một gia đình đầm ấm, kinh doanh phát đạt lại cực kỳ nhân hậu, được đồng bào cả một vùng rộng lớn ở Thái Nguyên một thời quý mến. Khi cách mạng tháng 8 nổ ra chính chiếc xe ô tô con của cửa hàng Cát Hanh Long đã từ Hải Phòng lên Thái Nguyên rồi lên tận vùng Vũ Nhai báo tin mừng cho 2 anh em Hoàng Công và Nguyễn Hanh và đồng đội. Bà Năm đã giao cho Hoàng Công 20 ngàn đồng bạc Đông Dương (giá trị bằng 700 lạng vàng) để góp vào quỹ cách mạng ở căn cứ địa. Sau đó trong tuần lễ Vàng ở Hải Phòng nhà kinh doanh Cát Hanh Long lại đứng đầu bảng đóng góp hơn 100 lạng vàng nữa. Cát là tên người con thứ, Hanh là tên con cả, Long là tên người bố, một nhà kinh doanh tài ba lanh lợi, cùng chung với vợ bản chất nhân hậu. Không may ông Long mất sớm vì bạo bệnh ngay trước Cách mạng tháng Tám.
Ông Hanh kể rằng suốt những năm 1945 đến 1951, vùng Đồng Bẩm tấp nập các đơn vị vệ quốc đoàn qua lại, đóng quân, tập luyện chuẩn bị cho chiến dịch biên giới. Các ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương đều qua đây. Tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh cũng từng ở đây, hội họp, nghỉ ngơi. Trụ sở và nhà ở của hãng buôn Cát Hanh Long chuyên kinh doanh tơ lụa rồi cả sắt thép ở Hải Phòng và Hà Nội đều mở rộng cửa cho cán bộ cộng sản ra vào, nghỉ ngơi như bà con thân thiết nhất.
Vợ chồng ông Nguyễn Hanh
Hồi 1987, nhà báo Xuân Ba gặp 2 gia đình ông Hanh và ông Công chung sống trong một phòng nhỏ trong ngôi nhà 117 hàng Bạc cuối khu phố cổ Hà Nội, chỉ rộng 20 mét vuông, ngột ngạt, ẩm thấp, bên nhà vệ sinh chung hôi hám, với chiếc bàn thờ nhỏ nhoi. Hai vợ chồng cụ già tiếp nhà báo Xuân Ba trong cảnh chật hẹp, buồn thảm, trái ngược với các ngôi nhà xưa, luôn nhộn nhịp ấm cúng tình người. Ông Hanh kể rằng ngôi nhà gạch bề thế ở Đồng Bẩm chính bà Năm mẹ anh đã đưa những chiếc búa lớn cho anh em bộ đội phá tan, thực hiện “vườn không nhà trống” theo lời kêu gọi của ông Hồ, khi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đọc đến đoạn này, mọi người không khỏi trách ông Sáu Búa và cả ông Lưu Văn Lợi sao tệ đến vậy, không chút động tâm để hồi ấy phân phối một nơi ở tươm tất hơn cho 2 gia đình con cháu Cụ Năm, khi Hà Nội đang xây dựng lại, có bao nhiêu nhà mới xây. Tệ bạc đến vậy đối với 1 gia đình từng đóng góp cả 2 con trai và biết bao tài sản cho đất nước.
“Chấm dứt đau buồn” sao được khi ông cụ già Nguyễn Hanh, người đảng viên CS khi mới 21 tuổi, người sỹ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay cay đắng thổ lộ rằng ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các ông lãnh đạo xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là một Liệt Sỹ, nhưng không có một hồi âm nào. Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”. Trong nước mắt ông than thở: “Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”. Cả 2 tiêu chuẩn trên đều ghi rõ trong NQ 28 CP ngày 29-4-1995.
Trong phần cuối “Tìm mộ bà Năm” Xuân Ba kể lại việc tìm ra thi hài bà Năm cuối cùng đã được thực hiện vào năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì của gia đình, nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Bên cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ đã tìm ra di hài Cụ Năm nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn. Mọi người có mặt đều tin rằng Cụ rất thiêng cứ như hướng dẫn cụ thể từng bước cho việc tìm ra mộ mình.
Nhiều bạn đọc viết comment ngay dưới bài viết của nhà báo Xuân Ba trên mạng Tễu và mạng Huỳnh Ngọc Chênh nói lên sự phẫn uất cao độ của mình đối với lãnh đạo đảng CS tàn ác, bất nhân, vô ân bạc nghĩa với những ân nhân của mình. Nhiều bạn trào nước mắt thương cảm với thân phận của bà Năm và gia đình và chân thành an ủi ông bà và các cháu.
Trong bộ chính trị hiện nay tôi nghĩ 3 ông trong bộ chính trị là tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa và trưởng ban tuyên huấn – nguyên tổng biên tập báo Nhân dân, cần sớm ghé qua thăm hỏi gia đình ông Nguyễn Hanh, thắp một nén hương trên bàn thờ Cụ Nguyễn Thị Năm và trả lời cho gia đình Cụ Năm về 2 yêu cầu thiêng liêng nói trên của gia đình. Không thể lờ mãi.
Riêng tôi, tôi xin mạn phép có ý kiến riêng với ông Nguyễn Hanh, bà Phạm Thị Cúc và bà Đỗ Kim Chi là xin chớ quá bận tâm về việc xin tấm Huân Chương Kháng chiến cho Cụ Nguyễn Thị Năm. Được thì càng tốt, không được cũng không sao. Vì trong cuộc kháng chiến ấy đảng CS đã thực hiện việc tiêu diệt các đảng viên các đảng chính trị khác cũng là những người yêu nước chân chính, làm vấy bẩn cuộc kháng chiến. Năm 1995, nhân ngày kỷ niệm 30/4/1975, tôi đã tuyên bố từ bỏ tất cả các huân chương Kháng chiến, Chiến công, huy hiệu các Chiến dịch, bằng khen… vì nhận ra rằng về bản chất đây là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một sai lầm lịch sử, trong hơn 30 năm chiến trận ấy, người Việt Nam ta giết nhau lâu năm nhất, đẫm máu nhất, hăng hái, say sưa và mù quáng nhất, cho nên không có một điều gì là vinh hạnh, là vẻ vang để khen thưởng cả. Đảng CS dẫn ép dân ta làm quân cờ cho 2 phe, để đất nước tan hoang. Món nợ này không thể trả. Món nợ 62 năm của đảng CS với đại gia đình Cụ Năm cũng là vậy.
Xin gia đình anh Nguyễn Hanh – chị Phạm Thị Cúc, gia đình anh Nguyễn Cát /Hoàng Công – chị Đỗ Kim Chi cùng các cháu hãy yên tâm nghĩ rằng Cụ Nguyễn Thị Năm vẫn sống mãi trong lòng mọi người dân yêu nước lương thiện, trong tình nghĩa và lòng nhân ái của toàn dân. Chắc chắn sau bài báo của anh Xuân Ba trên các mạng Tễu, Huỳnh Ngọc Liêng, Dân Làm Báo, Chuyển Hóa… gia đình sẽ nhận được nhiều chia sẻ chân thành, cảm động của mọi tầng lớp nhân dân, ở trong cũng như ngoài nước.
Không có gì quý hơn sự ấm áp, sâu đậm, vĩnh cửu của lòng dân, quý hơn mọi huân chương hay danh hiệu gì khác.
Xin chúc mừng gia đình ta đã có nơi ở mới ấm cúng, gọn ghẽ, thoáng mát ở đường Láng – Hà Nội do các cháu tự lực dựng lên. Xin kính nhờ anh Hanh thắp giúp một nén hương trên bàn thờ Cụ cũng như trên nấm mộ Cụ ở cánh đồng làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội, như một tưởng nhớ quý trọng và tin yêu của một người con dân đất Việt luôn nhớ nước ta thương dân ta từ phương trời xa.
* gửi Danlambao

Hình chụp gia đình – Bà Nguyễn thị Năm và 4 người con.

Chép Sử Việt – “ơn ai ? ơn bác Ô-ba-má” !!

Thả thêm nữa! Ơn Đảng… Dân chủ, ơn Chính phủ Mỹ, ơn bác Obama… Ha ha!

Obama

Chép Sử Việt – Vậy là sau Cù Huy Hà Vũ, giờ thả thêm Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến Trung. Mừng! Nhưng cảm ơn thì rõ là trước tiên phải như nội dung cái tựa rồi, chứ đâu phải bỗng dưng mà Đảng CSVN, Chính phủ VN, hương hồn Bác Hồ lại rộng lòng cho “các thế lực thù địch” như vậy.

Còn đương nhiên là có công lao của phong trào tranh đấu của mọi tầng lớp nhân dân, của nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế, mới liên tiếp có những đợt “phóng thích”, cho tới hôm nay đã là 5 nhân vật “cộm cán” rồi.

Thế nhưng… Nhân dân hãy cảnh giác! Có thể người ta đang chuẩn bị để sau khi vào TPP, thậm chí chỉ sau khi “ăn chắc” vào, hoặc bác Obama kết thúc chuyến thăm, là lại có đợt xử lý mới.

Kinh nghiệm vào WTO rất rõ. Trước đó cũng thả một số tù nhân chính trị, cho mở tu viện Bát Nhã, mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh về, vào xong (2007) là xảy ra vụ Bát Nhã tai tiếng khắp thế giới (2008).

Thế nhưng, nói đi thì cũng phải nói lại, là biết đâu thực tế không phải như thế, mà đây đích thực là phải “Ơn Đảng, ơn Chính phủ” CSVN?

Nếu đúng vậy thì xin nhắc ngay Ban Tuyên giáo, cần có chỉ đạo gấp các báo là phải đưa tin đậm nét vào, và có bình luận sắc sảo về các trường hợp được trả tự do này. Tại sao lại cứ kiểu “áo gấm đi đêm” như vậy, không thấy báo đài nào hé răng thế? Trong khi “đây là nhờ chính sách nhân đạo và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước”, như cán bộ trại giam nói với ông Vi Đức Hồi, thì phải tận dụng cơ hội mà tuyên truyền mạnh lên chứ. Thêm nữa là phải phỏng vấn những nhân vật được thả này, rồi cả gia đình họ nữa, để họ ca ngợi chế độ. Các “dư luận viên”, “nhóm chuyên gia bút chiến” của Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội (của bác Hồ Quang Lợi) chui rúc đâu cả rồi mà không tranh thủ ra tác nghiệp?

Kể cả nếu do sức ép của Mỹ, phương Tây mà ta phải thả nhiều như vậy thì vẫn nên “phản tuyên truyền” để đánh bạt luận điệu của “các thế lực thù địch”, cho dân hiểu… lầm đây hoàn toàn là do chính sách nhân đạo của Đảng ta. Nói đâu xa, ngay sau hôm thả ông Vũ, chẳng có báo đài nào của nhà nước đưa tin, nhưng những trang web “giả mạo”, trong đó có trang nguyentandung.org lại dấm dúi đăng bài, làm như thể Thủ tướng cũng không dám công khai trang web của mình, tin cũng phải lấy từ tin phương Tây BBC, AP, thật chả ra làm sao.

Không có công tác “phản tuyên truyền” như nói trên, là dân lại mang ơn đúng như trên cái tựa của bài viết, thì rất gay. Cốc mò cò xơi!