‘thế lực thù địch’ – “hiểu” như thế nào mới đúng?

Thứ Ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014

.

TQ không phải “thế lực thù địch” thì là ai đây?

  •  .

    Như tin tức đã loan báo, từ ngày 16-18/10 Đại tướng Phùng Quang Thanh đã dẫn đầu đoàn quân sự cấp cao gồm 13 tướng lĩnh sang thăm chính thức TQ. Trả lời báo chí bên lề phiên khai mạc kỳ họp QH sáng nay Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết mục đích chuyến đi là nhằm “tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của hai nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước”. Giải đáp mối lo ngại của nhiều chuyên gia trước việc TQ xây dựng căn cứ quân sự và đe dọa an ninh hàng hải trong khu vực, Bộ trưởng cho rằng “đó là lo ngại của các nhà nghiên cứu”, nhưng theo ông “điều quan trọng nhất là hai bên đã thỏa thuận phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hòa bình và kiểm soát hoạt động của lực lượng vũ trang của hai nước trên biển, không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển”. Khi có người hỏi phía họ có hứa gì không, ông Thanh nói “Hứa thì không hứa, nhưng…”.

    Bất cứ ai theo dõi tình hình quan hệ Việt-Trung đều cảm nhận chuyến đi nặng về hình thức hơn là thực chất. Đã nhiều lần hai đảng, nhà nước, quân đội hai nước thỏa thuận như vậy rồi, nhưng đều bị phá vỡ do tham vọng độc chiếm Biển Đông của TQ.  Thôi thì, dù sao cũng có thể hiểu được chuyến đi theo tinh thần truyền thống mềm dẻo, khôn khéo của dân tộc Việt Nam ngàn đời nay vẫn thế. Tuy nhiên, về thực chất chuyến đi cho thấy bước thụt lùi cơ bản về thế và lực của VN trước đối phương.

    Một là, trong nội dung làm việc, phía VN đưa ra một số đề nghị không quan trọng mang tính chất đơn phương theo kiểu “xin cho” như mở lại cửa khẩu du lịch, thực hiện nhân đạo với ngư dân, v.v… nhưng không phản đối việc TQ mở rộng sân bay quân sự tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đồng thời ráo riết đẩy nhanh tiến độ nhằm biến các đảo và bãi ngầm họ vừa chiếm được tại quần đảo Trường Sa thành những căn cứ quân sự. Trong bối cảnh này thì lời đề nghị “giữ nguyên hiện trạng” trên biển đồng nghĩa với sự khuất phục của Hà Nội đối với Bắc Kinh.

    Hai là, việc người đứng đầu quân đội VN kêu gọi hai bên (VN và TQ) không để các thế lực thù địch lợi dụng tình hình Biển Đông… đã phát đi một thông điệp nhầm lẫn nguy hiểm. Cụm từ “thế lực thù địch” nếu nói trong nước hoặc tại một diễn đàn quốc tế ai muốn hiểu sao cũng được, nhưng với Bắc Kinh mà nói vậy thì chỉ có cách hiểu Mỹ hoặc nước a, b, c nào đó là thù địch, còn TQ không phải là thù địch. Nó cho thấy não trạng mơ hồ về địch/ta giống hệt câu chuyện truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy của ngàn năm trước. Điều nguy hiểm là, từ nay quân và dân ta không biết chĩa súng vào đâu để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

    Thật đáng buồn thay cho dân tộc vừa mất 1/2 thế  kỷ liên tục hy sinh phấn đấu vì độc lập và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mà nay vẫn chưa ra khỏi vòng u mê của thời truyền thuyết. Buồn cho đất nước mãi luẩn quẩn trong vòng kim cô “ý thức hệ”. Những tưởng bài học từ vụ Giàn khoan 981 đã là bài học cuối cùng để chú gà con tránh xa cái hang ổ của con cáo già  https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=5258310239826325913#editor/target=post;postID=2297847273523360389;onPublishedMenu=allposts;onClosedMenu=allposts;postNum=76;src=postname Nhưng rốt cuộc đó cũng chỉ là một bài học nữa trong chuỗi bài học mà Đặng Tiểu Bình muốn dạy Việt Nam mà thôi./.
    .

‘Bài tái đăng’ – Vạch rõ tệ trạng của CB “Hải Quan” tại VN!

From: fw.fw. B. Doan.
Subject: Tin mới nhất ở phi trường Tân Sơn Nhất
  • Đây là tệ trạng xẩy ra cho những chuyến bay về nước, đáp xuống các Phi trường tại VN. Email được viết lại, không tránh khỏi thái đô “bức xúc”, của một trong những nạn nhân bị mất cắp hành lý. [tunhan]

Hải quan Phi trường Tân Sơn Nhất 

“Cứ mỗi chuyến bay từ các nước về TSN đều có một số vali của hành khách chui thẳng vào kho đặc biệt, hành khách đợi quá lâu không thấy đành phải “đăng ký” hành lý thất lạc, bọn  Hài quan sẽ hẹn trở lai 2,3 ngày hôm sau nếu tìm thấy. Những người ở Tp khác phải trở lại lâu hơn. Trong thời gian này bọn HQ tha hồ lục lọi trong vali, mặt hàng nào ngon, có giá chúng sẽ lắy bớt, nhiều lọ thuốc tây chúng đổ ra để tìm hột xoàn hay đá quý ?

 “Bất ngờ người nhà quay lại lấy vali thấy chúng đang thu gom đống đồ từ các vali khác để trên bàn.
Hỏi chúng tại sao, chúng trả lờì: gởỉ nhiều quá tịch thu bớt …  Đây là một kế hoạch ăn cướp thật hơp pháp của bọn Hải Quan.

  “Có như vậy tụi Hải Quan mới kháo nhau là mỗi đứa có cả trăm triệu mỗi tháng.

  “Vali của gia đình tôi, chúng cắt mất ổ khóa lấy 1 số hàng rồi dán giấy niêm  phong.
“Theo luật của Hải Quan Việt Nam thì mỗi vali bị mất luôn, chúng chỉ đền 250-300 dola không phài 1200-1500 như các hãng hàng không  ngoài nước….”

 “Đây là sự thật vừa xảy ra trong tháng 7/12- khi về vn không nên đóng hàng mắc tiền trong vali.  Mong mọi người thông báo cho thân nhân trước khi qúa trễ”.

D.Doan

Nguyễn Mạnh Trinh ‘nhìn’ thấy gì trong Đèn Cù !

Ðèn Cù và Trần Ðĩnh, một vài câu hỏi…

20/10/2014 

Nguyễn Mạnh Trinh

tran_dinh
Nhà báo Trần Đĩnh

Ðèn Cù và Trần Ðĩnh. Một cuốn sách và một tác giả có lẽ khá lạ với độc giả hải ngoại. Với đề tài viết về một thời đã qua khi còn là một đảng viên Cộng sản thân cận với những nhân vật lãnh đạo đảng chắc có nhiều khám phá từ trong thực tế hỗn tạp của lịch sử Việt Nam, có lẽ đó là lý do chính để lôi kéo độc giả.

Và quả nhiên, tác phẩm vừa được xuất bản đã gây ra nhiều sôi nổi trong giới cầm bút với nhiều nhận định nhiều khi trái ngược nhau. Có nhiều bài viết khen tặng hết mực nhưng cũng có những bài viết phê phán nặng lời. Với tư cách là một người đọc yêu văn chương, mong mỏi được đọc những tác phẩm có tính tích cực vừa cả trên phương diện văn chương lẫn chính kiến, tôi đã đón nhận cuốn sách này một cách đặc biệt. Một tác giả còn sống ở trong nước, tuy tuổi đã già, nhưng vẫn dám viết về những chi tiết mà chế độ chuyên chính gọi là những điều nhạy cảm và có thể bị khép tội phản động chống đảng. Một người đã có quá khứ làm việc thân cận với các lãnh tụ Cộng sản suốt mấy chục năm nếu viết thành thực thì sẽ là những phản tỉnh cho những người vẫn còn bị ảnh hưởng của văn chương tuyên huấn tôn sùng lãnh tụ. Như vậy,chắc có nhiều khám phá kỳ thú và rút tỉa ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích.

Nhưng khi đọc xong tác phẩm, tự vấn lại suy tư của mình, tôi thấy nảy ra nhiều câu hỏi phát xuất từ những thắc mắc gây ra từ nội dung tác phẩm. Những câu hỏi ấy, có khi một mình tôi lý giải nhưng vẫn thấy có những điều chưa thấu đáo. Tôi đi hỏi những bạn bè tôi đã đọc cuốn sách may ra có thể rút tỉa ra những điều cần thiết không. Mỗi người trả lời một ý nhưng tựu chung cũng cùng có những thắc mắc như tôi.

Cảm giác của tôi khi bắt đầu giở những trang sách của Ðèn Cù và khi đọc xong, gấp lại những trang sách thật khác nhau. Lúc đầu, đầy thiện cảm và đến độ háo hức vì chắc rằng sẽ biết được thêm nhiều bí mật cung đình của một chế độ mà thực và giả không phân biệt được vì những hỏa mù, những gian dối trong sách lược cai trị của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng đọc xong, thấy có sự hụt hẫng. Và thấy được khoảng cách giữa văn chương thực sự và văn chương của tác phẩm Ðèn Cù.

Có người hỏi tôi, theo tác giả, Ðèn Cù là “truyện tôi” nhưng có lúc là “tự truyện”. Như vậy anh có thấy sự khác biệt giữa hai từ ngữ này không? Trang bìa của Ðèn Cù có hàng chữ:” Số phận Việt Nam dười chế độ Cộng sản. Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh”. Như vậy, thì có lẽ tự truyện là phần chính. Nhưng, còn “truyện tôi” thì sao. Có khác biệt gì không với tự truyện? Trong bài tựa cuốn sách thì được lý giải về “truyện tôi” như sau: “Ðèn Cù đầy rẫy những “đoạn phim” ngắn như vậy. Rất nhiều “clip” chợt hiện trên màn ảnh trong nửa phút, rồi chuyển ngay sang cảnh khác, liên tiếp chạy nhanh qua não bộ.. Ðoạn phim lưu đọng trong óc mình mãi mãi, trộn lẫn cùng những đoạn phim ngắn khác, không theo thứ tự thời gian cũng không theo một dòng lý luận nào. Tất cả cho người đọc một toàn cảnh sống động về xã hôi nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ trước và sau khi tác giả đặt bút viết cuốn sách để đời này. Tất cả là “truyện tôi”. Nếu không có cái tôi sống, tôi quan sát, tôi rung động, tôi ghi nhớ, tôi suy nghĩ thì không có “truyện tôi”. Trong trí não con người đời sống vốn không có trật tự, nó chợt hiện chợt tắt ngổn ngang chắp nối không sắp đặt theo không gian cũng không theo dòng thời gian đơn tuyến và trực tuyến. Ðời sống thực vẫn như vậy.”

“Tự truyện” hay “truyện tôi”, có giống như chuyện mèo trắng mèo đen của Ðặng Tiểu Bình? Chỉ là để bắt chuột mà thôi!

Lai có người thắc mắc hỏi tôi: Viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh, cho nhiều lãnh tụ Cộng sản khác, Trần Ðĩnh bảo không phải là tác phẩm của ông. Còn Ðèn Cù mới là tác phẩm đích thực. Anh nhận xét thế nào về sự kiện này? Tôi trả lời với cái chủ quan riêng của tôi, một người đọc với cảm quan trung thực. Tôi nghĩ, ông đã từ chối những gì mà ông “hãnh diện” nhắc đến trong “Ðèn Cù”. Không phải “của ông”, sao ông lại nhắc đến quá nhiều những cuốn sách ấy và với một cách tự hào. Ngay trong tựa đề “Tự truyện của người viết tiểu sử Hồ Chí Minh” cũng đã rõ ai là người viết. Chẳng lẽ là người khác? Tại sao ông lại nói một cách mâu thuẫn như vậy? Hay là ông muốn nhắc đến sự phản tỉnh của ông, trước khác sau khác. Nhưng khác biệt thế nào thì còn tùy “mức độ” …

Có người cật vấn tôi. Hỏi anh một câu: Tác giả Ðèn Cù, Trần Ðĩnh ông là ai? Và anh cắc cớ cho tôi một câu trắc nghiệm:

a- là một người yêu nước và tranh đấu cho dân chủ

b- là một người yêu chế độ xã hôi chủ nghĩa thân Liên Xô ghét Trung Cộng.

c- Là cả hai câu a và b

d- Không a và b. mà là người thuộc phe bị thất sủng, bị gạt ra ngoài hệ thống quyền lực, không cho hành nghề tuyên giáo nên bất mãn.

Tôi phân vân khi chọn a, b, c hay d. Mỗi câu đều có phần đúng. Cùng một nhân vật, nhưng có những chi tiết khác nhau như vậy.

Có thể tác giả Trần Ðĩnh là một trí thức Cộng sản phản tỉnh vì nhìn thấy được mặt trái của các lãnh tụ của chế độ Cộng sản. Nhưng khi viết cuốn Ðèn Cù ông có thay đổi cái tư tưởng đã thâm căn cố đế ăn nhập vào óc não ông không ? Ông muốn cải tiến chế độ hay muốn phá bỏ đi chế độ tay sai của Cộng sãn quốc tế? Tôi sẽ võ đoán nếu cố trả lời về một điều mà một người đọc như tôi chưa tỏ tường. Nếu có vị nào cao minh xin giúp đỡ tôi và cả người đã “cật vấn “tôi như vậy!

Tôi đọc bài phỏng vấn của nhà báo Ðinh QuangAnh Thái được in trong phần cuối của Ðèn Cù có đoạn :

“ÐQAT: Theo ông nhận định tình hình Việt Nam hiện nay đang diễn biếu theo chiều hướng nào?

Trần Ðĩnh: Việt Nam hiện đang có đổi mới tình hình đang có chiều hướng đi lên. Trước kia giới lãnh đạo đảng đóng cửa đất nước bây giờ thì họ phải mở cửa làm bạn với thế giới. Thế là bắt đầu thoáng rồi đấy. Trước kia không ai biết tình trạng đất nước như thế nào, bây giờ thì mọi người biết trẻ em suy dinh dưỡng ra làm sao, bệnh viêm gan như thế nào, đói thế nào. Ðó là bước đầu của tiến trình minh bạch hóa mọi việc. Những sự kiện đó cho thấy có tiến lên tất nhiên theo kiểu Việt Nam

ÐQAT: Xin ngắt lời ông, hướng thay đổi đó có tốt đẹp không?

Trần Ðĩnh: Tốt đẹp chứ. Thế giới ngày nay đang toàn cầu hóa. Mà khi đã toàn cầu hóa thì dân chủ phải toàn thế giới. Thế` giới mới sẽ có một nền dân chủ cho cả thế giới. Tức là cái tiêu chuẩn chung sẽ thành là của chung. Như tại Việt nam tự do kinh tế sẽ khiến dân chúng khá hơn và tự do kinh tế sẽ dẫn tới những tự do khác. Tất nhiên đảng Cộng sản vẫn còn những điều mà dân người ta không bằng lòng thì dân người ta sẽ có ý kiến. Mà tôi cho rằng từ nay trở đi dân chúng bắt đầu có ý kiến được rồi đấy mà tôi thấy giới lãnh đạo đảng cũng bắt đầu phải nghe dân rồi đấy. Còn tất nhiên nghe đến mức nào thì còn cần phải có thời gian. Còn nếu mình quan niệm phải có một cái gì long trời lở đất xẩy ra thì suy nghĩ đó cũng không phải. Vì đất nước mình khổ quá rồi dân mình chém giết nhau nhiều rồi, thành ra làm thế nào mình phải đưa đất nước lên tốt đẹp.”

Tác giả Trần Ðĩnh trả lời cuộc phỏng vấn từ tháng 7 năm 2001. Từ đó đến nay, tình hình đất nước có tốt đẹp hơn không? Tốt đẹp cái gì mà đang trong hiểm họa mất nước vì bọn đế quốc phương Bắc? Tốt đẹp gì mà nhân quyền bị chà đạp, kinh tế thì tệ hại nợ nần vì tham nhũng? Tốt đẹp gì mà quốc thể thì bị coi thường, người Việt đi đến đâu trên thế giới cũng bị khinh rẻ? Không hiều ông Trần Ðĩnh có biết như vậy không khi viết Ðèn Cù? Biến cố long trời lở đất để thay đổi một chế độ độc tài toàn trị khiếp nhược với ngoại bang nhưng tàn ác với dân chúng là chế độ Cộng sản thì chưa thấy nhưng chắc chắn sẽ xẩy ra. Và có thể sẽ không có sự chém giết. Bởi vì, biện pháp bạo lực chiến tranh ở thời đại bây giờ không phải là một biện pháp tốt. Chế độ Cộng sản sụp đổ ở Nga và các nước Ðông Âu có phải là một kinh nghiệm tốt cho người Việt Nam để phá bỏ đi một chế độ tay sai của Cộng sản quốc tế…

Trong phụ lục cuốn sách có đăng bức thư của nhà văn Nguyễn Khải gửi Trần Ðĩnh. Có người hỏi tôi anh biết Nguyễn Khải là ai không? Có phải là tác giả của hồi ký mà ông ta viết lúc cuối đời “Ði tìm cái tôi đánh mất” một phản tỉnh nửa vời mà Vương trí Nhàn gọi là đánh xóc dĩa cả hai mặt chẵn lẻ? Liệu Trần Ðĩnh có phải là tri kỷ với tác giả Gặp Gỡ Cuối Năm này không?

Nguyễn Khải (1930-2007) là một nhà văn mà con đường sáng tác đã đi theo thời sự một cách rõ nét. Khi miền Bắc đang có phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, ông có tiểu thuyết “Xung Ðột”, “Mùa Lạc “. Khi cuộc nội chiến Nam Bắc ở giai đoạn khốc liệt nhất thì ông có ký “Họ sống và chiến đấu”. Sau năm 1975 , khi miền Bắc chiến thắng ông có tiểu thuyết “Cha và con, và..”, “Gặp gỡ cuối năm “. Khi rộ lên phong trào đổi mới, lại có “Hà Nội trong mắt tôi”. Và khi gần lìa dời có tiểu thuyết mang vóc dáng tự truyện “Thượng đế thì cười” và tùy bút chính trị “Ði tìm cái tôi đã mất.”. Sự theo sát thời sự như thế nên con đường quan lộ cũng thênh thang và trong đời sống văn học cũng như thường ngày, ông là một người khôn khéo, biết tùy thời, tiến lui nhịp nhàng, Nhiều người đã có những nhận xét khá đặc biệt về ông. Như Xuân Sách, đã phác họa:

“Cha và con.. và họ hàng
hết bay mùa thóc lẫn Mùa lạc
cho nên Chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư còn đi xa hơn nữa
Ðường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm Cách mạng nhưng lại dát.”

Xuân Sách đã dùng tên các tác phẩm đề mô tả chân dung Nguyễn Khải: “Cha và con , và..”, “Mùa Lạc”, “Chiến sĩ” , “Họ sống và chiến đấu”, “Tháng ba ở Tây Nguyên”, “Xung Ðột”, “Cách mạng”.. Câu kết “muốn làm cách mạng nhưng lại dát” đúng nhưng chỉ biểu lộ một phần tâm tính Nguyễn Khải.

Dương Tường, một người biết rõ về Nguyễn Khải đã thổ lộ:

“Nguyễn Khải, như tôi đã cảm nhận, là một “ca” đặc biệt. và phức tạp nữa. Trong Khải luôn luôn có hai con người. Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn. Một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa hai con người ấy không bao giờ ngã ngũ. VÌ thế tôi đón nhận bài tùy bút “Ði tìm cái tôi đánh mất” với mối quan tâm đặc biệt, thầm mong đó có thể là một cái gì giống như “tiếng hót của con thiên nga”..”

Nhưng Vương Trí Nhàn thì nghĩ khác:

“Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết “Ði tìm cái tôi đã mất”? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết “Di Cảo Thơ” hay Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông “cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình” như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông không bao giờ từ. Còn nếu tình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới. (Bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã xử dụng.)

Rồi Vương Trí Nhàn đã kể những lời nói giả dối ra sao như Nguyễn Khải thường tỏ ra coi thường các giải thưởng văn học nhưng thực tế thì lại khác, ông rất bực mình khi có ai phụ họa theo bởi vì ông là người ham hố chức tước và giải thưởng nhất. Hay khi Nguyễn Khải tự đánh gía sự nghiệp văn học của mình như “Cái tài sản tinh thần thâu góp một đời ấy về già nhìn lại thì chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nhạp chẳng có giá trị gì” chỉ là một câu tự khiêm nhường mà nói ra nhưng ông lại nghĩ khác .

Và Vương Trí Nhàn cho rằng sự tranh chấp giữa hai con người Nguyễn Khải chỉ là một trò trình diễn trên sân khấu. Thực tế ông hòa hợp với cả hai, tùy theo trường hợp tiến hay lùi, ông đưa ra con người này hay con người khác để làm hàng. Và “lối nghĩ này đã giúp ông thành công chói lọi trong suốt đường đời, và cho đến chung cục của đời sống ông vẫn giữ, không tự khác mình đến một mili-mét”.

Nguyễn Khải đã viết thư cho Trần Ðĩnh như một cách chia sẻ tán đồng. Không hiểu câu nói dân gian “ngưu tìm ngưu mã tìm mã” có đúng không trong trường hợp này?

Trần Ðĩnh có nhắc đến nhân vật Kỳ Vân rất nhiều. Suốt từ đầu sách đến cuối sách, tính chất của nhân vật này được đề cập đến với nhiều tình cảm. Tôi thắc mắc không hiểu dụng ý nào của tác giả Trần Ðĩnh khi có lối viết như vậy. Nhưng khi đọc đến đoạn sau trong Ðèn Cù tôi đã hiểu tại sao:

“Nửa thế kỷ sau, năm 2000, trong dịp mừng Lưu Ðộng tám mươi tuổi, Hồng Sĩ, bạn Kỳ Vân, cũng tù xét lại đã bảo tôi: Kỳ Vân nó yêu mày. Mày viết Bất Khuất có chi tiết, Thuận đứng đèn mấy ngàn oát mà vẫn chịu đựng được, tớ bảo Kỳ Vân là thằng Ðĩnh nói phét. Bênh cậu, Kỳ Vân nói rằng Thuận, tức Tư Móm làm nghề thổi thông phong cho nên chịu nóng giỏi.”

Thì Kỳ Vân yêu Trần Ðĩnh thì cố nhiên phải có sự yêu lại. Dĩ nhiên như vậy. Nhưng quan trọng hơn vẫn là hình tượng của người Cộng sản Kỳ Vân mà Trần Ðĩnh muốn đề cập đến sự tương tự như ông ta và là môt mẫu đảng viên thuần thành lý tưởng:

“Nhưng hơn hết tôi muốn cho anh hiện lên như một tiêu biểu cho một lớp người không hiếm trong đảng Cộng sản. Ông nội tri phủ, ông ngoại tri huyện, bố mẹ chủ nhà đất và ruộng nhưng anh khao khát tự do. Ðọc thấy con đường mang biển dẫn tới tự do thế là hăm hở đi vào. Rồi nhận thấy cái tự do này là nhằm cho loài do đó nó phải giam tự do của cá nhân vào trong cái lồng tập thể đúc bằng kỷ luật thép mang tên chế độ tập trung dân chủ. Thế là cả cuộc đời liền bị giằng xé giữa hai thứ tự do đối chọi nhau vô cùng nước lửa… Ðể không chóng thì chầy tất nhiên đi tới chống đảng, cái tổ chức độc quyền tất cả, bao cấp toàn bộ tự do chính nghĩa đạo đức, nhân dân đất nước, chân lý, quy luât, rồi miếng ăn chỗ ở, hôn nhân ma chay, quyền sống, phân chết đã được đảng thiết kế cho mỗi hạng người, mỗi con người.”

Tôi đọc Ðèn Cù và thấy những đoạn như trên đã trích, rất nhiều của văn phong tuyên huấn. Cũng không thể khác được một người như Trần Ðĩnh làm sao gột rửa được suy tư của một anh làm báo đảng mấy chục năm và là một nồng cốt của báo chính thức của đảng là Sự Thật sau đổi thành Nhân Dân. Cũng có lúc ông cũng hiển lộng chữ nghĩa như một nhà văn nhưng vẫn là thứ yếu so với văn phong của một quan tuyên huấn, nói và lý luận rất hay…Có người nói Trần Ðĩnh viết văn xuôi tài hoa như đầy chất thơ ở trong ngôn ngữ. Và có người phát biểu Ðèn Cù là một trường thiên thi ca của thời đại nữa. Riêng, ở cảm nhận của tôi là một người đọc rất yêu thi ca, dù cố gắng kiếm tìm những tính chất ấy nhưng rất hiếm họa. Có lẽ vì cái tạng của loại văn viết kiểu này cần những khám phá những điều mà người đọc mong mỏi có được những chi tiết mới và lạ. Và riêng trường hợp tôi cũng khá xa lạ với cách dùng chữ và cách diễn tả của tác giả Trần Ðĩnh. Nên đọc Ðèn Cù khá vất vả chứ không thoải mái đi một lèo như khi đọc những quyển sách mà mình thích ý khác.

Có người hỏi tôi tác giả Trần Ðĩnh viết về sự thực có khác với “sự thật” mà đảng chủ trương không? Tôi nghĩ ông có lúc viết thật nhưng khi dùng phương pháp xử dụng những chuyện kể giống như sự phác họa của những “clip” liên tiếp nhau với sự lấp lửng thì sự thực ấy có thật nhưng chưa lột tả hết được tính chất của hiện tượng.

Viết về đời tư của Hồ Chí Minh, Trường Chinh, hay các lãnh đạo khác mà ông gần gũi hầu như suốt cuộc đời, Trần Ðĩnh đã cho độc giả thấy được nhiều chi tiết mới lạ. Dù rằng, trước Ðèn Cù đã có Mặt Thật của Bùi Tín, Ðêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Ba Người Khác của Tô Hoài, Ðỉnh Cao Chói Lọi của Dương Thu Hương,… cũng có những khám phá động trời về Cải cách ruộng đất, về đời tư tham lam dâm dục của các lãnh tụ Cộng Sản cũng như các thủ đoạn gian dối đã trở thành quen thuộc trong môi trường sống ấy. Cái môi trường mà nhà văn ở trong nước đã quá cố Hoàng Ngọc Hiến cám cảnh và than thở “ở nước ta nó thế” như một chuyện quen thuộc thường ngày.

Có người nhận xét tác giả Trần Ðĩnh khi kể chuyện về Hồ Chí Minh và Trường Chinh vẫn còn trọng vọng và không dám phê phán. Ðó có phải là rơi rớt của tâm tư đã có sẵn từ lúc ông mới đôi mươi và gia nhập đảng Cộng sản? Thậm chí có lúc ông có vẻ chống chế bào chữa cho những việc khuất lấp và có người đã cho rằng đó là một cách ngấm ngầm: baỏ vệ thần tượng” của chế đô. Nhưng nghĩ như thế nhiều khi có vẻ hơi cay nghiệt với tác giả.

Trần Ðĩnh cũng viết và nhận xét về các nhân vật cùng ngành tuyên huấn như Tố Hữu, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Thép Mới, Nguyễn Phú Trọng,… ? hình như thấp thoáng là một sự đố kỵ có khi là xem thường tư cách hoặc chức vụ của những người này. Tố Hữu quyền uy ghê gớm là thế mà trong khi diễn tả là một nhân dáng tầm thường bất tài và dùng sự nịnh bợ để làm nấc thang lập công danh.

Bài này chỉ là những sơ lược chưa đầy đủ quanh tác phẩm Ðèn Cù. Lẽ ra phải trích dẫn từng đoạn và phân tích từng câu để tìm cho ra được dụng ý của tác giả. Nếu nói đây là một tư liệu có nhiều điều khá mới lạ hoặc tuy cũ nhưng cũng có nhiều khám phá độc đáo thì còn chấp nhận được. Nhưng nếu bảo đây là một tuyệt tác của một người Cộng sản phản tỉnh thì điều ấy còn phải xét lại….//

NguyenManhTrinh

Nguyễn Mạnh Trinh

blog Bùi Văn Phú: Humanitas và nữ Ca sĩ Joan Baez !

Ca sĩ Joan Baez nói về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam

Bùi Văn Phú

Hội thảo về nhân quyền năm 1980. Từ trái qua: Khôi nguyên Nobel Hoà Bình Seán MacBride, ca sĩ Joan Baez, luật sư Luis Risque, bác sĩ Trần Xuân Ninh, giáo sư Karl Jackson

Humanitas International là một tổ chức nhân quyền được thành lập cách đây 2 năm với mục đích theo dõi, tố cáo sự vi phạm nhân quyền ở mọi nơi, yểm trợ các tổ chức khác đấu tranh cho những quyền căn bản của con người. Một trong những việc làm đầu tiên của Humanitas International là gửi một bức Thư Ngỏ đến nhà cầm quyền Hà Nội phản đối chính sách chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Bức thư đã làm Hà Nội kinh hoàng và dư luận quốc tế chấn động. Sáng lập viên và chủ tịch hiện nay của Humanitas International là nữ danh ca Joan Baez.

Nổi tiếng từ lâu qua những bài hát như Blowing in the Wind (Die Antwort weiBt nur der wind), Joan Baez là một trong những người lớn tiếng nhất của phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ những năm 60, đã từng xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Giáng Sinh 1972, Joan Baez còn ngồi trong một hầm trú bom ở Hà Nội.

Nhưng sau khi miền Nam Việt Nam bị chiếm, Joan Baez đã nhận chân được sự thật và không ngần ngại lên tiếng tố cáo chính sách vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam. Joan đã đi thăm các trại tị nạn ở Đông nam Á để hiểu rõ những thảm cảnh xảy ra cho dân tị nạn. Muà hè 79, cùng với dân chúng Mỹ và dân tị nạn, Joan Baez đã đốt nến xuống đường đi biểu tình tuần hành tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đến toà Bạch Ốc yêu cầu chính phủ Mỹ lưu tâm nhiều hơn tới nhân quyền tại Đông Dương. Và từ đó, Joan Baez vẫn hoạt động không ngừng.

Ca sĩ Joan Baez nói chuyện với sinh viên về vấn đề người tị nạn Đông Dương, Sproul Plaza 1979

Sau đây mời bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn Joan Baez do anh Bùi Văn Phú thực hiện tại California.

*

Bùi Văn Phú: Thưa chị, tổ chức Humanitas được thành lập khi nào?

Ca sĩ Joan Baez: Humanitas được thành lập vào tháng 3 năm 1979.

- Tháng 5 năm 1979, dưới danh xưng của Humanitas chị đã khởi xướng và cùng với một số nhân vật tên tuổi đồng ký tên vào một thư ngỏ gửi chính quyền Hà Nội để kêu gọi họ tôn trọng các nguyên tắc nhân quyền của dân tộc Việt Nam. Có phải đó là việc làm đầu tiên của Humanitas không?

Đó là việc làm đầu tiên với danh nghĩa Humanitas. Nhưng thật ra trong suốt 25 năm qua tôi đã và đang tranh đấu cho nhân quyền, vì thế đây không phải là hoạt động đầu tiên cho nhân quyền mà tôi chọn.

Thư ngỏ gửi nhà cầm quyền Hà Nội về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, 30.5.1979

- Có những lý do đặc biệt nào đã khiến chị chọn vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong giai đoạn hiện tại để hành động?

Lý do chính đáng nhất tôi có thể nói với anh là vì tôi nghĩ không một ai sẽ làm chuyện đó cả.

- Chị có thể cho biết tại sao chị lại nghĩ thế?

Trước khi để ý đến những vi phạm nhân quyền của Hà Nội, tôi có gặp một người Việt Nam. Anh ta hỏi tôi: “Chuyện gì đã xảy đến với những người đã từng lưu tâm đến dân tộc Việt Nam. Những người này đâu cả rồi?” Thực sự lúc đó tôi cũng muốn tránh né vấn đề, bởi vì tôi không muốn nghĩ đến vấn đề Việt Nam nữa, vì tôi tin tưởng những người Việt Nam tôi đã gặp tại Hà Nội trong thời kỳ còn chiến tranh. Họ nói với tôi là: “Chúng tôi chỉ muốn người Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam, vì như thế chúng tôi mới có quyền tự quyết, chúng tôi mới có tự do.” Tôi đã tin những điều họ nói. Nhưng bây giờ, tôi cũng tin rằng những người Việt nói với tôi những điều đó đã chết hoặc bị giam giữ, vì lý do Hà Nội dùng để bắt giam người là sự liên hệ với Hoa Kỳ. Những người đã đón tiếp tôi và những người Hoa Kỳ khác tại Hà Nội có lẽ không còn cơ hội được tự do.

- Sau khi bức thư ngỏ gửi Hà Nội được đăng tải trên các nhật báo lớn tại Hoa Kỳ, phản ứng của Hà Nội ra sao?

Chắc chắn là họ không ưa tôi. Ngạc nhiên hơn nữa, tôi bị coi là kẻ thù số một tại Hà Nội. Khi nói như thế, hiển nhiên không phải tôi bị coi là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, mà là kẻ thù của tập đoàn lãnh đạo tham nhũng tại Hà Nội.

- Tôi có theo dõi các phản ứng của Hà Nội về bức thư ngỏ của chị và ghi nhận được những việc sau đây qua báo chí xuất bản tại Hà Nội. Trong hai bài báo, bài “A Letter to Some American Friends” của Nguyễn Khắc Viện đăng trong Vietnam Courier số tháng 7-79 và bài “Ai Đạo Diễn Cho Nữ Nghệ Sĩ Gio-an Ba-ye?” của Lưu Quý Kỳ đăng trong tuần báo Đại Đoàn Kết số ngày 7-7-79. Cả hai đều viết rằng chị đã thay đổi lập trường và đang bị lợi dụng bởi CIA. Chị thấy những điều đó có đúng không?

Tôi không bị ai lợi dụng trong việc gửi bức thư ngỏ đó. Tôi làm những điều tôi muốn làm và lập trường của tôi lúc nào cũng đứng về phiá dân tộc Việt Nam.

- Trong một buổi hội thảo vừa qua, chị có đề cập đến hai người Việt Nam (Đoàn Văn Toại và Nguyễn Hữu Hiệu) đã cho chị biết những tin tức đầu tiên về các trại cải tạo. Tại sao chị lại tiếp xúc trước tiên với hai người này về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam?

Khi tôi bắt đầu chú ý đến những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam thì tôi cũng bắt đầu tìm xem ai là người có thể nói lên điều đó một cách trung thực nhất. Và tôi thấy Đoàn Văn Toại là nhân chứng tiêu biểu cho những vi phạm nhân quyền của Hà Nội. Trong quá khứ Đoàn Văn Toại đã bị giam giữ nhiều lần vì chống lại chế độ Thiệu. Nhưng anh ấy là người không thiên vị. Vì thế, khi chính quyền mới của Hà Nội giao cho anh ấy một việc và bắt làm theo ý họ, anh ấy từ chối và bị bắt giam. Sau khi rời Việt Nam ra ngoại quốc, Đoàn Văn Toại đã nói lên sự thực về các trại giam ở Việt Nam. Nhờ quá khứ của anh ta, anh được nhiều người tin. Chắc anh có theo dõi và đã biết, tiếng nói của Đoàn Văn Toại có ảnh hưởng nhiều và có hại cho Hà Nội, nên phe tả lại chụp mũ anh ta là CIA.

- Trong hơn một năm qua, chị và các cộng sự viên của chị đã phỏng vấn nhiều người tại nhiều nơi khác nhau, từ Hoa Kỳ, các trại tị nạn đến Pháp. Hiện nay, chị có con số chính xác nào về những người đang bị Hà Nội giam giữ không?

Tất cả những gì tôi biết từ những nguồn tài liệu khác nhau. Hà Nội đưa ra con số 50.000. Ân xá Quốc tế nói 200.000 và Đoàn Văn Toại 800.000. Anh có thể chọn một số trung bình từ những con số đó. Riêng tôi thì không có con số chính xác nào.

- Ngoài việc Hà Nội giam giữ người, chị có ghi nhận những vụ tra tấn nào tại Việt Nam không?

Có nhiều tù nhân từng bị Hà Nội bắt giam đã cho tôi biết tin tức về các vụ như nhận chìm vào trong phuy nước, giam trong “connex box” hoặc đổ nước xà bông vào mũi tù nhân, có lẽ đó chỉ là những trường hợp lẻ tẻ.

- Có sự việc tù nhân phải đi gỡ mìn bằng tay không chăng?

Tôi có nghe nói về những vụ này do một số tù nhân kể lại. Họ phải đi tìm và gỡ mìn với một vài khúc dây kẽm gai trong tay.

- Khi nói về nhân quyền tại Việt Nam, chị có đề cập đến hậu quả của sự vi phạm là những “thuyền nhân”. Chị có thể cho biết rõ hơn là chị nhắm vào những thay đổi gì tại Việt Nam? Và chị mong kết quả như thế nào?

Như những gì đã cảnh giác Hà Nội trong thư ngỏ. Tôi nghĩ đó là một việc làm đúng. Không một ai đã chất vấn 17 người lãnh đạo Hà Nội. Điều tôi làm khiến họ giật mình và tôi nghĩ rằng cần phải cảnh cáo những người lãnh đạo Hà Nội về những việc họ làm. Những việc tôi làm có thể không tạo được ảnh hưởng rộng lớn vì thế giới đang sống trong những sự thù nghịch ghê gớm. Nhưng trong phạm vi nhỏ hẹp tại Việt Nam, tôi đã được biết là có vài thay đổi của chính quyền, đã có người được thả ra khỏi trại giam. Lý do của sự thay đổi không gì khác hơn là do những chỉ trích đã có đối với những việc làm của Hà Nội. Anh cũng hiểu là Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào đều không muốn những chuyện không tốt của họ bị phổ biến rộng rãi.

- Như thế có nghĩa là làm áp lực có thể thay đổi được chính sách của Hà Nội?

Tôi nghĩ đó là cách duy nhất khiến họ phải thay đổi chính sách.

- Giáng Sinh năm 1972 chị đến Hà Nội và cũng đã phải xuống hầm tránh bom. Trong thời gian đó chị có tiếp xúc với người dân Việt Nam không?

Hồi đó, chuyện xảy ra như thế này: khi máy bay Hoa Kỳ oanh tạc, chúng tôi phải xuống hầm trú ẩn. Khi xuống hầm thì người Việt phải dồn về một phiá, tôi và những người Mỹ, Ấn Độ, Ba Lan, Nga, Pháp… về một phiá của hầm. Tuy vậy, tôi cũng có dịp nói chuyện với họ.

- Chị nghĩ gì về những người Việt chị đã gặp đó?

Tôi phỏng đoán họ là những tù nhân chính trị vì họ biết nhiều điều về người Mỹ, có lẽ họ đã làm việc với người Mỹ.

- Chị có biết tin tức gì về những người này sau đó không?

Những người Việt Nam đó biết nhiều về Hoa Kỳ thì tôi tin là tên của họ phải có trong danh sách những người bị Hà Nội giam giữ vì có liên hệ với người Mỹ.

- Câu hỏi cuối: chị có thể cho biết thêm là trong quá khứ, dù mới thành lập được hơn một năm, Humanitas đã có những hoạt động nào khác? Và trong tương lai?

Ngoài bức thư ngỏ gửi Hà Nội, Humanitas đã phát động một chương trình quyên góp tiền bạc, phẩm vật để cứu trợ những người tị nạn Cam Bốt. Chương trình này được sự yểm trợ của đài truyền hình số 4 (KRON) và nhật báo San Francisco Examiner, số tiền thu được lên đến trên một triệu mỹ kim. Buổi hội thảo tại Berkeley cũng là một hoạt động của Humanitas để cho mọi người thấy là Humanitas không thiên về bên tả hay bên hữu. Cuối tháng này tôi sẽ đi Madrid, thủ đô Tây Ban Nha, để dự những cuộc hội thảo trên căn bản thoả ước Helsinki về nhiều vấn đề mà nhân quyền là một đề tài của các buổi họp tại Madrid.

- Cám ơn chị đã dành thì giờ cho buổi nói chuyện hôm nay. Chúc chị đạt nhiều thành công tại Madrid.

(ảnh trong bài của tác giả)

© 1980 Buivanphu

___

[Bài đã đăng trên Nguyệt san Độc Lập (Stuggart - Cộng hoà Liên bang Đức), số 2-81 Xuân Tân Dậu, ngày 05.02.1981]

TC và Mỹ họp tại tư gia của Ngoại trưởng John Kerry!

 Chủ nhật, 19/10/2014

Tin tức / Hoa Kỳ

Mỹ, Trung Quốc mở cuộc họp không chính thức ‘chưa từng có’


 

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì bên ngoài tư gia của ông Kerry tại Beacon Hill, Boston, ngày 17/10/2014.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã tiến hành điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ gọi là “một cuộc đối thoại có thực chất và chưa từng có trước đây” với một giới chức cấp cao của Trung Quốc tại nhà riêng của ông Kerry ở Boston.

Ông Kerry đã tiếp Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì trong hai ngày thảo luận không chính thức nhưng rất thẳng thắn về nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm Ebola, Nhà nước Hồi giáo, và các chương trình hạt nhân của Iran và Bắc Triều Tiên.

Họ cũng bàn về những vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, cuộc phản kháng đòi dân chủ ở Hồng Kông, và những vụ truy tố của chính phủ Mỹ nhắm vào tin tặc Trung Quốc.

Một giới chức Bộ Ngoại giao cho biết trong bầu không khí không chính thức, trong đó có những bữa ăn tối và một buổi trình tấu của một nghệ sĩ đàn hạc người Mỹ gốc Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì đã lắng nghe những mối quan tâm của phía Mỹ.

Giới chức này nói rằng kết quả của các cuộc thảo luận trong hai ngày cuối tuần sẽ có tính chất tiệm tiến và sẽ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian.

Cuộc thảo luận ở Bosotn có mục đích hâm nóng mối quan hệ Mỹ-Trung trước hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo Á Châu Thái Bình Dương diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng tới. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ họp với nhau sau hội nghị.

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm _HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ 1990!

From: G. Tran chuyển tiếp.

VỀ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

.
Từ khi xẩy ra Hội nghị Thành Đô vào ngày 3 và 4/tháng 9/năm 1990 tới nay, cộng sản Việt Nam không ngừng dâng đất, nhượng biển và qụy lụy Trung cộng. Từ đó có người cho rằng đây là một hội nghị bán nước.
Có phải thế không ?
Chúng ta cùng nhau xem xét vấn đề.
I )  Tình hình thế giới cộng sản trước Hội nghị Thành đô
- Tình hình tại Liên sô
Tình hình Liên sô trước Hội nghi Thành đô 1990 là một tình hình: kinh tế thì đổ nát, chính trị thì không những dân, mà chính giới lãnh đạo, từ dưới lên trên, phần lớn hết tin tưởng vào chính quyền, vào đảng Cộng sản. Bắt đầu bằng Brejnev, Tổng bí thư, trước khi chết, đã phải than lên: « Xã hội chủ nghĩa gì mà 1/3 xe chạy ngoài đường là ăn cắp săng của công, 1/3 bằng cấp là bằng cấp giả, công chức đến sở làm việc là đến cho có mặt, sau đó thì đi coi hát hay làm việc riêng. » Thêm vào đó, khi Brejnev chết, hai ông già lên thay, vừa bệnh hoạn, vừa chết sớm, Andropov, cầm quyền từ 1983 tới 1984, Tchernenko, lên thay, nhưng chỉ mấy tháng sau thì bệnh nặng, không thể cầm quyền, thực quyền ở trong tay Gorbatchev, cho  tới khi Tchernenko chết, Gorbatchev lên ngôi chính thức vào năm 1985.
Gorbatchev nhận một gia tài cộng sản đổ nát, muốn cải tổ, tuy nhiên lúc đầu ông còn thận trọng, chỉ dùng những biện pháp nhỏ, như đưa ra những đạo luật xử phạt mạnh tham nhũng hối lộ, cấm dân nghiện rượu, cấm công chức bỏ giờ làm việc, và đồng thời cho xe đi hốt những người dân chán nản, thất vọng, uống rượu nằm đầy đường, bắt những công chức trong giờ làm việc mà lại có mặt ở những tiệm rượu hay những nhà hát. Nhưng những biện pháp này không đi đến đâu, tham nhũng hối lộ vẫn lan tràn, dân vẫn mất tin tưởng, vẫn uống rượu, không có rượu thì pha chế với alcool để uống, kinh tế vẫn đình trệ. Thêm vào đó, những quốc gia bị Nga hoàng và Lénine sát nhập vào Nga, bắt đầu nổi lên đòi tự trị. Đấy là chưa nói đến những vùng bị đe dọa bởi nạn đói. Đến nỗi Gorbatchev, sợ phải than lên:« Tiếng kêu của song chảo, nồi niêu còn ghê sợ hơn tiếng súng đại bác và xe tăng. »
Người xưa có nói: « Họa vô đơn chí. Phúc bất trùng lai « (Tai họa không đến một lần. Phúc không trở lại lần thứ hai). Tình trạng quốc gia xã hội thì đã như vậy, đùng một cái, ngày 25/4/1986, nhà máy nguyên tử Tcherbobyl bị nổ. Đây là nhà máy được Liên sô xây vào năm 1977, khánh thành năm 1983, tại phía bắc thủ đô Kiev của nước Ukraine ngày hôm nay. Nhà máy nguyên tử này nổ ra mới cho dân và thế giới thấy tình trạng tồi tệ của nước Liên sô về hạ tầng cơ sở. Để chữa cháy, ngăn cản phóng xạ thoát ra ngoài, người lính không có một bộ đồ mặc chống phóng xạ, họ phải dùng những chiếc áo mưa. Lúc đầu, cơ quan cấp dưới còn dấu diếm, nhưng sau không thể, phải báo cáo lên cấp trên, tới Gorbatchev.
Gor ba chopTừ lúc này Gorbatchev mới thấy không thể dùng những biện pháp cải tổ nhỏ, mà phải cải tổ sâu rộng, nên đã đưa ra :
-  Chính sách Trong sáng ( Glasnost ), cấm cơ quan cấp dưới che dấu sự thật, phải làm những bản tường trình trong sáng, nói lên sự thật.
-  Chính sách tái cấu trúc ( Pérestroika), để được như vậy, thì phải tái cấu trúc guồng máy quốc gia, cách chức những công chức tham nhũng hối lộ, bất tài, dựa vào con ông cháu cha mà được lên chức, từ từ thực hiện bầu cử tự do, cho phép đối lập hoạt động, báo chí được quyền nói lên sự thật.
Có người tố cáo Gorbatchev là người của CIA, Cơ quan tình báo Hoa kỳ, gài vào để làm sụp chế độ cộng sản. Thực ra không phải vậy. Không có một bằng cớ, một tài liệu nào chứng tỏ ông là người của CIA. Ông chỉ muốn cứu và cải tổ một chế độ không thể cải tổ được mà chỉ có thay thế; và con đường ông đi là con đường tất yếu của lịch sử, nếu muốn nghĩ đến dân, đến nước, nếu muốn theo kịp đà tiến bộ của nhân loại.
Thực vậy, căn nhà xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên một nền móng sai lầm là lý thuyết Mác Lê. Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, đấu tranh giai cấp. Bãi bỏ quyền tư hữu có nghĩa là bãi bỏ một nguyên động lực chính thúc đẩy con người làm việc, đưa xã hội cộng sản lâm vào cảnh « Cha chung không ai khóc. Nhà chung không người chăm sóc. Ruộng chung không ai cày. » Người dân đến hợp tác xã là để có mặt, làm việc cho lấy có, mang tâm trạng «  Ta làm việc nhiều cũng chỉ lãnh lương như người làm ít hay không làm. » Đã từ lâu, những máy cày, xe cộ của hợp tác xã, bị bỏ mục nát ở ngoài đồng. Số khoai lang đào được, 1/3 để hư thối ở ngoài đồng, 1/3 hư thối vì chuyên chở và bảo trì không cẩn thận ở trong kho.
Ông Jegor Gaida, người đã từng làm Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ kinh tế thời Tổng thống Boris Eltsine, thì cho rằng sở dĩ có sự sụp đổ của Liên sô là vì khí đốt và dầu hỏa, trong một quyển sách ông viết sau khi không còn tại chức. Theo ông, vào những năm 70, giá khí đốt và dầu hỏa tăng, Liên sô là quốc gia xuất cảng 2 thứ này, nên nguồn thâu nhập tăng. Chính vì vậy mà suốt thời Brejnev làm Tổng bí thư từ năm 1964 tới năm 1983, Liên sô không những chạy đua vũ khí với Hoa kỳ, làm ông chủ thầu, đặt vũ khí ở những nước đàn em, như Ba lan thì sản xuất tàu thủy, Đông Đức thì sản xuất xe tăng, Tiệp khắc thì sản xuất súng AK47 v.v… Nhưng đến những năm 80, thì giá khí đốt và dầu bắt đầu giảm, khiến phần thu nhập của Liên sô cũng giảm, lôi theo các nước đàn em.
Phần nhận xét này của ông Gaida không phải là không đúng, nhưng nó chỉ là một phần và có tính cách ngắn hạn. Một đế quốc, một triều đại sụp đổ tất nhiên là đến từ nhiều nguyên nhân: nguyên nhân gần, nguyên nhân xa, nguyên nhân trung hạn, nguyên nhân thật xa.
Nguyên nhân sụp đổ thật xa của của Liên sô bắt đầu từ nền tảng triết học của Marx, như trên đã nói là chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu.
Nguyên nhân trung hạn đó là tư tưởng của Lénine lập nên nhà nước độc đảng, độc tài, áp dụng lý thuyết không tưởng của Marx, trong những đợt đánh tư bản mại sản, giết chết hết giai tầng trung lưu.
Chính Boris Eltsine, đã từng là người cộng sản, Uỷ viên Bộ Chính trị, phải than lên khi ông làm Tổng thống xứ Nga: « Nước Nga đã không còn giai tầng trung lưu, giai tầng năng động và là xương sống của xã hội. Đâu còn những con người tháo vát, chỉ cần tay cầm một con dao lớn, đi vào rừng, rồi tạo nên tất cả, nhà để ở, ruộng để cấy lúa, đất để trồng trọt, không những nuôi sống thân mình, gia đình mình, mà còn những gia đình khác. »
Ngoài ra còn nhiều những nguyên nhân khác, như Chiến tranh lạnh, Hoa kỳ nhằm đánh cộng sản, dụ Liên sô vào một cuộc chạy đua vũ trang, lâm vào cảnh kẻ nghèo thi đua tiêu tiền với kẻ giàu.
Từ đó mang lại những nguyên nhân gần, tham nhũng, hối lộ, dân mất hết tin tưởng vào Đảng Cộng sản và chính quyền, trước cuộc sống khó khăn, càng ngày càng bế tắc, dân sinh ra nghiện rượu.
Thế giới trước năm 1990 còn bị đè nặng dưới áp lực của Chiến tranh lạnh, gồm 2 khối : Khối cộng sản lãnh đạo bởi Liên sô, mặc dầu có sự tranh quyền của Trung cộng, Khối tư bản dưới sự lãnh đạo của Hoa kỳ. Vì vậy tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Liên sô có ảnh hưởng trực tiếp không những đối với những nước cộng sản, mà còn đến cả thế giới.
Trong khuôn khổ bài này tôi chỉ xin nói về ảnh hưởng của Liên số đối với Việt Nam, Trung cộng và tất nhiên ảnh hưởng đến Hội Nghị Thành đô 1990.
I I )  Tình hình Việt nam sau khi Lê Duẫn chết vào tháng 7/1986, trước Hội nghị Thành đô
Có thể nói Lê Duẫn là người cuồng tín theo Liên sô, đúng hơn là theo Brejnev, tự biến Việt Nam thành một con chốt trong bàn cờ tranh hùng tư bản – cộng sản, theo kế hoặch của Brejnev.
Brejnev lên chức Tổng bí thư năm 1964, sau khi hạ bệ Khrouschev, ông này bị chỉ trích là đã mềm yếu trước tư bản vì cho rằng « Tư bản mạnh « chủ trương chính sách hòa hoãn với tư bản, quay về sửa sai chế độ cộng sản. Chính vì vậy mà khi lên ngôi Tổng bí thư năm 1953, chỉ ba năm sau, 1956, Khrouschev tố cáo chính sách  tôn thờ cá nhân của Staline, chủ trương bắt tay với Hoa kỳ, «  Chung sống hòa bình «, «  Nguyên tử phục vụ hòa bình «.
Brejnev hoàn toàn chủ trương ngược lại, cho rằng khối cộng sản không yếu như người ta tưởng, khối tư bản không mạnh như người ta nghĩ, mà ngược lại. Vì vậy ông chủ trương quên đi những khó khăn nội bộ, đẩy mạnh cuộc chiến chống tư bản, sau khi chiến thắng tư bản trên toàn thế giới, lúc đó trở về sửa sai cũng không muộn. Brejnev đã đưa ra một chiến lược gồm 2 kế sách: Thượng sách đẩy mạnh công cuộc chống tư bản ở mọi nơi trên thế giới, đưa đến chỗ tư bản phải sụp đổ tất yếu như lời dạy của Marx. Trung sách, nếu không thì chia đôi thế giới lấy trục Sài Gon, Phnom Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến, bên này phía đông thuộc về công sản, bên kia phía tây thuộc về tư bản.
Chính sách của Brejnev có vẻ hấp dẫn, được đa số trong Trung ương đảng nghe theo, nên có việc hạ bệ Khrouschev vào năm 1964.
Brejnev dùng ba con chốt chính để thực hiện chiến lược của mình : Bên châu Mỹ, Phi châu thì dùng Cuba với Phidel Castro; bên Âu châu thì dùng Đông Đức; bên Á châu thì dùng Việt Nam. Lê Duẫn là con chốt trung thành bậc nhất của Brejnev
Brejnev sửa sọan thượng sách trong vòng 4 năm và bắt đầu tấn công tư bản, như ở Việt Nam chúng ta thấy có Tết Mậu thân 1968, ở Âu châu và ngay ở Mỹ châu có « Phong trào Hòa bình «, những cuộc biểu tình phản chiến, sinh viên xuống đường, đứng đằng sau là những đảng cộng sản, những trí thức thân tả, bên Phi châu thì có những cuộc đảo chính thân cộng sản như ở Ethiopie v.v…
Quả thực lúc đầu có những kết quả ngoạn mục, thế giới tư bản, ngay cả tại Mỹ, có những cuộc biểu tình cả triệu người, thế giới tư bản quả thật bị rung rinh. Tuy nhiên đấy chỉ là kết quả có vẻ ngoạn mục lúc ban đầu, nhưng thế giới tư bản không sụp, mà ngược lại, ngân sách chi phí ra bên ngoài của Liên sô càng ngày càng tăng. Nói như một viên tướng Liên sô lúc bấy giờ:« Những thành quả gặt hái của Liên sô không làm tư bản lay chuyển, mà chỉ là những gánh nặng, những chương mục thêm để Liên sô gửi tiền giúp đỡ. »
Thêm vào đó tư bản, đứng đầu là Hoa kỳ, lại tìm cách khai thác tối đa sự bất đồng giữa Trung cộng và Liên sô. Nên có việc Nixon gặp Mao ở Bắc kinh, ra tuyên bố chung ở Thượng hải năm 1972.
Có người nói, thượng sách của Brejnev được thực hiện trong vòng 8 năm, từ năm 1964 tới 1972, thì chấm dứt, Brejnev phải quay ra thực hiện trung sách, chia đôi thế giới, giữ những gì mình đã gặt hái được.
Chính vì vậy mà có việc Liên sô gửi quân sang xâm chiếm A phú hãn, ký hiệp ước quân sự với Việt Nam và cộng sản Việt Nam gửi quân qua xâm chiếm Căm bốt năm 1978, để làm giới tuyến cộng sản tư bản Sài Gòn – Phnom Penh – Bangkok – Kaboul – Moscou như vừa nói ở trên.
Người khác lại cho rằng thượng sách được kết thúc vào năm 1975, thực ra là vào ngày 1/8/1975, ngày ký Hiệp ước Helsinski, chỉ sau khi quân đội cộng sản xua quân vào cưỡng chiếm miền Nam Việt nam khoảng 3 tháng.
Trong khi cộng sản Việt nam mù quáng vui mừng « chiến thắng » và còn có người u mê đến nỗi cho rằng trong tương lai sẽ « gửi quân sang giải phóng Hoa kỳ « , không biết gì đến tình hình thế giới và ngay cả tình hình khối cộng sản, thì Brejnev, một chỗ dựa « vững chắc «  của Lê Duẫn, đã phải lùi bước, đi từ thế công sang thế thủ ở Hội nghị Helsinki, Phần Lan, họp vào cuối tháng 7, gồm các nước Âu châu cộng thêm Hoa kỳ và Gia nã đại. Ở Hội nghị này, Brejnev yêu cầu các nước Âu châu cộng với Hoa kỳ và Gia nã đại công nhận : 1) Biên giới sẵn có của Âu châu, nhất là giữa Liên sô, Ba lan và Đức, lấy sông Oder làm ranh giới, vì vào thời Đệ Nhị Thế Chiến, Staline đã chiếm một phần lãnh thổ của Ba lan, và bù lại thì lại lấy một phần lãnh thổ của Đức sát nhập vào Ba lan ; 2) Yêu cầu thế giới chấp nhận học thuyết Brejnev, theo đó, những nước dưới sự ảnh hưởng của Liên sô chỉ có độc lập giới hạn và Liên sô có quyền gửi quân đến những nước này nếu cần.
Ngược lại thế giới tự do yêu cầu Liên sô phải mở cửa kinh tế để buôn bán với các nước tự do, không thể phá sóng những đài tự do chuyển vào thế giới cộng sản, phải thả một số tù nhân lương tâm.
Khi tham dự và ký những điều khoản của Hiệp ước Helsinski, có một người tướng của Cơ quan Quân báo Liên sô cho rằng « Liên sô ký Hiệp ước này là đã để cho tư bản chọc thủng phòng tuyến của mình «. Điều nhận xét của viên tướng này cho tới ngày Liên sô sụp đổ, quả không sai.
Trở về tình hình cộng sản Việt nam, vẫn u mê với « Chiến thắng «, vẫn nghĩ rằng «  Tư bản đang giãy chết «, «  Cộng sản sẽ toàn thắng trên toàn thế giới «, họ vẫn ở kế thượng sách của chiến lược Brejnev, trong khi ông này đã phải lùi về kế trung sách. Chính vì vậy mà cộng sản Việt nam xua quân sang xâm chiếm Căm bốt năm 1978 và còn hăm he tiến đánh Thái lan. Tuy nhiên cả Liên sô và cộng sản Việt nam, một bên thì bị sa lầy ở Căm bốt, bên kia thì bị sa lầy ở A phú hãn.
Đấy là chưa nói đến sự kiện Hoa kỳ và Trung cộng xích lại gần nhau hơn. Đặng tiểu Bình đã trở lại chính quyền năm 1976 và 2 năm sau 1978 nắm thực quyền, đã vội vã sang thăm Hoa kỳ năm 1979, đóng vai một người Hoa Kỳ, đội mũ cao bồi, đi xem đua ngựa. Cùng năm 1979, thì xua quân vượt biên giới « Dạy cho Việt nam một bài học ».
Từ ngày Hội nghị Helsinski tới ngày Brejnev chết, tình hình thế giới cộng sản càng ngày càng xấu đi, tại quốc nội cũng như quốc ngoại.
Quốc nội thì nói chung các nước cộng sản, kinh tế càng ngày càng tồi tệ, dân bất mãn, bỏ nước ra đi như ở Việt nam, tại Liên sô thì dân sinh ra nghiện rượu; quốc ngoại thì xẩy ra tranh chấp Việt – Căm bốt, Việt – Hoa, Nga – Hoa. Tranh chấp Nga – Hoa trở nên cao độ. Hoa kỳ lợi dụng tình thế này để chia rẽ thế giới cộng sản.
Brejnev chết là một mất mát lớn với cộng sản Việt nam, đặc biệt là với Lê Duẫn, người tuân thủ bất cứ một mệnh lệnh gì và sẵn sàng làm con chốt thí thân cho chiến lược của ông này. Brejnev chết đi, tình hình Liên sô cũng không có gì sáng sủa, hai ông già lên thay, Andropov và Tchernenko, trong vòng 2 năm, cho tới khi Gorbatchev kế vị, rồi thế giới cộng sản Liên sô và Đông Âu sụp đổ. Trong thời gian này thì Lê Duẫn của Việt Nam vẫn cầm quyền cho tới tháng 7/1986.
Khi Lê Duẫn chết, người lên kế vị với chức vụ quyền Tổng bí thư là Trường Chinh, vì lúc đó theo thứ tự trong đảng thì đứng đầu là Lê Duẫn, thứ nhì là Trường Chinh, thứ ba là Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ đứng mãi thứ 6. Trường Chinh sang Liên sô 2 lần vào tháng 7, tháng 8, mong được sự chấp nhận của Gorbatchev, vì lúc này Gorbatchev đã lên ngôi. Nhưng ông này không chịu, khuyên những người già nên về hưu, nhường chỗ cho những người trẻ. Lợi dùng tình thế này, Lê đức Thọ kéo theo Trường Chinh và Phạm văn Đồng, ba người đều từ chức, về hưu. Nhưng trên thực tế là khi Lê Duẫn chết, con người quyền lực nhất lúc bấy giờ là Lê đức Thọ, vì con người này mặc dầu đứng thứ sáu, thứ bảy, nhưng nắm giữ chức vụ tổ chức nhân sự trong đảng, có nhiều vây cánh, ác ôn côn đồ, gian manh, xảo quyệt, đầu óc bè phái, gia tộc rất mạnh.
Mặc dầu rút vào trong bóng tối, nhưng Lê đức Thọ đưa hết tay em của mình vào những chức vụ quan trọng trong đảng và chính quyền:
Nguyễn văn Linh, người từng là tay em của Thọ trong thời gian ở Trung ương Cục miền Nam, nay lên làm Tổng bí thư. Đây là một con người vô nhân cách, không có lập trường chính trị rõ ràng, gió chiều nào theo chiều ấy, hoàn toàn bị khống chế bởi họ Lê, mặc dầu đảng cộng sản đã đánh bóng con người này, cho rằng đây là  con người  «  Nói và Làm « , vì ông có viết báo, lấy bút hiệu là N.V.L., ở báo Nhân dân; hay đây là một con người sáng suốt, bằng cả trăm cả ngàn ngọn nến không kém gì Lê Duẫn. Chúng ta thấy lúc đầu thì Linh chủ trương « Đổi mới «, nhưng sau đó lại đàn áp những nhà đối lập không khác chi thời trước. Điều đáng buồn cho Việt Nam là trong thời gian Hội nghị Thành Đô, thì chính con người vô nhân cách, không có lập trường chính trị này làm Tổng bí thư.
Về đảng thì đã là vậy, về chính quyền thì cũng là toàn tay em của Thọ, từ Đỗ Mười làm Thủ tướng, nhưng trước đó, vào thời chiến tranh chống Pháp, là Ủy viên ám sát của đảng ở vùng tả ngạn sông Hồng, gồm một phần Hà Đông, Nam định, Thái bình và Ninh bình, cũng là tay em của Thọ. Thêm vào đó em ruột của Lê đức Thọ là Mai chí Thọ ( cộng sản thay tên đổi họ) làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, công an. Lê đức Anh, người dưới quyền của Thọ ở miền nam, được Thọ cất nhắc lên chức Đại tướng, Tư lệnh đoàn quân sang xâm chiến Căm Bốt, được làm Bộ trưởng Bộ quốc Phòng; ngay cả Nguyễn cơ Thạch, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, là người trong Phái đoàn thương thuyết về Hiệp định Paris 1973, mà Lê đức Thọ là cố vấn, nhưng là người nắm thực quyền.
Lê đức Anh là một anh cai phu đồn điền, mà người dân kêu là « Anh chột «, là một người ác ôn không kém Thọ, vì đánh phu đồn điền, nên bị nghỉ việc, sau đó theo cộng sản. Vì là đặc trách tổ chức nhân sự của đảng, nên Thọ nắm được hồ sơ này, nhưng giữ kín, để làm một con bài sau này để dễ bề khống chế. Việc này, những người am tường tình hình đảng cộng sản Việt nam đều biết.
Cũng về đảng, chính những người cộng sản cao cấp và gần Lê đức Thọ, ai cũng rõ ông này có ba biệt hiệu: « Anh Sáu búa «, « Anh Sáu Tú bà « và « Anh Sáu hèn. « Anh sáu búa vì Lê đức Thọ chủ trương dùng búa để đập đầu, giết người thay vì dùng súng đạn. Anh Sáu tú bà vì trong thời gian nắm Trung ương Cục miền Nam sau Lê Duẫn, thì nhiệm vụ chính của Thọ là kiếm gái miền Nam gửi ra miền Bắc để cống hiến cho Bác (tức Hồ chí Minh) và cho Đảng ( tức các ông lớn trong Bộ Chính trị và Trung ương đảng). Anh Sáu hèn vì khi «  Chiến thắng miền nam «  thì hãnh tiến, vác mặt lên trời, đã ra lệnh trục xuất Đại sứ Pháp, ông Mérillon lúc bấy giờ, ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiến đồng hồ. Sau đó, khi cần, thì sang qụy lụy Pháp, xin Pháp giúp đỡ, viện trợ, đi chữa bệnh, nằm ở nhà thương quân sự của Pháp Val de Grace lúc cuối đời.
Người xưa có câu: « Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã « ( Trâu thì đi với trâu, ngựa thì đi tìm ngựa), ngay cả Tây phương cũng có câu: « Dis – moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es « ( Hãy nói cho tôi người anh lui tới, tôi sẽ nói anh là người thế nào.)
Con người Lê đức Thọ là con người vừa hèn, vừa ác ôn côn đồ, thủ đoạn «  Mày theo tao thì mày có tất, nếu không thì tao sẽ giết mày «, vì vậy những tay em của hắn, từ Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Mai chí Thọ, và hôm nay còn một người cháu của ông ta là Lê hồng Anh, vừa mới sang Tàu qụy lụy Tập cận Bình, những con người này mang tất cả những tật xấu của Lê đức Thọ, cũng hèn nhát, ác ôn côn đồ, qụy lụy ngoại bang, tinh thần gia tộc, bè phái, không coi thể diện quốc gia, quyền lợi dân tộc ra gì.
Người ta có thể nói từ ngày Lê Duẫn chết tới nay, Việt Nam bị khống chế bởi gia tộc họ Lê, con cháu và tay em. Những vụ ám sát, thủ tiêu như vụ của tướng Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn, mà vợ con phải than lên: « Chồng và bố tôi bị người ta đầu độc chết v.v… « , tất cả xa gần đều liên quan đến gia tộc này và những tay chân, bộ hạ của nó.
Thực ra thi Lê đức Thọ họ Phan, tên thực là Phan đình Khải, người Nam định, có trình độ tiểu học, thời đó gọi là bằng Cao đẳng tiểu học, được Pháp lập ra, vào lúc đầu khi đã ổn định chế độ thuộc địa. Những người có cấp bằng này hoặc đi về làng dạy học, như Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam, mà người ta thường gọi là « Ông giáo Phú «, hay Nguyễn thị Minh Khai, cũng được gọi là « Cô giáo Khai «, và ngay cả Hồ chí Minh cũng đã từng làm ông giáo làng ở Phan Thiết; những người khác thì đi làm hỏa xa, tức sóat vé trên tàu xe lửa, trường hợp của Lê đức Thọ.
Lê đức Thọ còn 2 người em, làm tướng, trước và ngay cả sau năm 1975, nhất là từ khi Lê đức Thọ nắm thực quyền sau khi Lê Duẫn chết. Đó là Mai chí Thọ, tên thật là Phan đình Đống, làm đến chức vụ Bộ trưởng Bộ công an. Một người khác tên Đinh đức Thiện, tên thật là Phan đình Dinh, đặc trách về việc tiếp vận hậu cần, tương đương với Bộ trưởng Bộ Tiếp tế Lương thực. Có nguồn tin cho rằng Lê hồng Anh, đương kim Bộ Trưởng bộ Công An, đặc trách về Ban bí thư đảng ngày hôm nay, là con của Đinh đức Thiện. Nguồn tin này không phải không có lý. Một nguồn tin khác cho rằng ngay cả Nguyễn tấn Dũng, đương kim Thủ tướng hiện nay là con rơi của Mai chí Thọ, trong thời gian hoạt động ở miền Nam, sau đó đã ra ngoài Bắc, để lại cho Võ văn Kiệt làm con nuôi. Chính vì vậy, trong thời gian Võ văn Kiệt làm Thủ tướng, Mai chí Thọ làm Bộ trưởng Nội vụ, Nguyễn tấn Dũng đã lên như diều.
Tất cả những người con cháu, tay em của Thọ đều là những người giống Thọ, đầu óc gia tộc, bè phái rất lớn, sẵn sàng làm bất cứ giá nào để bảo vệ quyền lợi gia tộc và bè phái, dầu hèn hạ, qụy lụy ngoại bang hay ác ôn côn đồ.
Ngày hôm nay, cộng sản vẫn còn nắm quyền, gia đình họ Lê vẫn khống chế, sự thật vẫn bị che dấu, nhưng rồi trong tương lai sự thật sẽ được phơi bày. Như trường hợp Staline ra lệnh giết 20 000 sĩ quan Ba Lan là do Gorbatchev tiết lộ bí mật; gia đình Nga hoàng Nicolas 2 bị giết hại bởi Lénine là do Boris Eltsine không những cho mọi người biết mà còn tổ chức an táng trọng thể.
Thực ra trước khi Lê Duẫn chết, cộng sản Việt Nam cũng biết rõ Liên sô không còn là chỗ tựa vững chắc nữa, không còn là thanh trì cách mạng, «  là ngày mai tươi sáng của Việt nam «, nhất là khi Tchernenko chết, tất cả những Tổng bí thư của những đảng cộng sản đều phải sang để dự tang, Gorbatchev nói thẳng với mọi người có mặt rằng: «  Liên sô không thể giúp đỡ được nữa. Hiện nay muốn có hàng hóa của Liên sô thì phải mua và trả bằng ngoại tệ hay trao đổi hàng hóa. »
Chính vì vậy mà cộng sản Việt Nam đã chạy đôn chạy đáo, không còn sĩ diện quốc gia, dân tộc, đi van lạy các cường quốc.
Lúc đầu là với Mỹ. Ngoại trưởng Việt Nam nhiều lần sang Hoa kỳ, ban đầu thì còn lên giá, làm cao, tuyên bố: « Hoa kỳ muốn tái lập bang giao với Việt nam thì phải bồi thường chiến tranh. », sau đó xuống nước, không nói gì đến bồi thường chiến tranh, và tuyên bố: « Nếu Hoa kỳ muốn tái lập bang giao với Việt Nam, thì Việt nam sẵn sàng giành mọi ưu tiên cho Hoa kỳ, ngay cả việc Hoa kỳ muốn đặt tòa Đại sứ hay Tổng lãnh sự, ở đâu, Việt nam cũng đều đồng ý. »
Tuy nhiên giữa cán cân Trung cộng và Việt Nam, Hoa kỳ chọn Trung cộng chứ không chọn Việt Nam. Chúng ta phải nhớ là vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, tình hình giữa Việt Nam và Trung cộng rất căng thẳng. Hoa kỳ muốn đi với Trung cộng để chỉa mũi dùi vào Liên sô, đánh sập Liên sô. Và cộng sản Việt nam lại là tay em trung thành của nước này.
Muốn đi theo Hoa kỳ không xong, cộng sản Việt nam quay sang tìm sự giúp đỡ của Pháp vào những năm 1988-1989, lúc này là lúc Tổng thống Pháp F. Mittérand vừa mới tái đắc cử. Tuy nhiên khả năng tài chính của Pháp hạn hẹp, thêm vào đó Pháp đòi hỏi phải dân chủ hóa chế độ, vì lúc này là lúc những phong trào dân chủ và những cuộc cách mạng dân chủ đã xẩy ra ở Đông Âu, nên việc không thành.
Việc Lê đức Thọ sang chữa bệnh ở Pháp năm 1988, vừa mang ý nghĩa chữa bệnh, vừa mang ý nghĩa chính trị.
Cộng sản Việt nam không còn con đường nào là hèn hạ, muối mặt, sang qụy lụy Trung cộng, mặc dầu trước đó đã lên tiếng chửi rủa Trung cộng không còn tiếng xấu nào mà không dùng, nào là «  Chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh », «  Kẻ thù liền đất, liền trời » v.v…
Ai cũng biết người đứng sau nền chính trị Việt Nam và tất nhiên sau Hội nghị Thành đô là Lê đức Thọ, Phái đoàn Việt Nam gồm có Nguyễn văn Linh, đương kim Tổng bí thư, Đỗ Mười, đương kim Thủ tướng, Phạm văn Đồng, cựu Thủ tướng, cố vấn Phái đoàn. Phía bên Trung cộng, người đứng ngầm đằng sau là Đặng tiểu Bình, Phái đoàn gồm có Giang trặch Dân, đương kim Tổng bí thư, Lý Bằng, đương kim Thủ tướng.
Phía Việt Nam thì Lê đức Thọ bệnh nặng, chúng ta nên nhớ là Hội nghị Thành đô họp 2 ngày 3 và 4 tháng 9/1990, tất nhiên có những trao đổi trước đó cả tháng nếu không cả năm, thì chỉ hơn một tháng sau Lê đức Thọ chết vào ngày 13/10/1990.
Phía Việt nam nghĩ rằng có Phạm văn Đồng để cân xứng với Đặng tiểu Bình, nhưng đã lầm. Họ Phạm chỉ là một con người thừa hành, không có nhìn xa trông rộng, bằng chứng là đã ký công hàm bán nước năm 1958, thêm vào đó, đây là một con người cũng vô cùng hèn hạ, nhưng lại đạo đức giả và giỏi đóng kịch, giống như Hồ chí Minh, nên đã được người cộng sản khen ngợi rằng Phạm văn Đồng là học trò trung thành của Bác. Con người đạo đức giả này, sau khi họp Thành Đô về còn tỏ ra hối hận.
Dang Tieu BinhVề phía Trung cộng, chúng ta thấy Đặng tiểu Bình, một người lên voi xuống chó, ở chính trường quốc nội cũng như hải ngoại,  là một con chó sói già trước một đàn cừu non Việt Nam. Con người này chỉ dùng lý thuyết cộng sản như một phương tiện để phục vụ cứu cánh của mình là chủ nghĩa bành trướng đại Hán, «  Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là nó bắt được chuột. » Trong khi đó thì cộng sản Việt nam vẫn « Đánh Mỹ để xây dựng xã hội chủ nghĩa «. Chính vì vậy mà ông Nixon đã nói: « Trung cộng chống Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. »  

Đó là sơ qua diễn tiến tình hình chính trị, trước khi đi đến hội nghị Thành đô 1990, về phía Việt Nam. Nhưng về phía Trung cộng thì như thế nào ?

I I I )  Tình hình Trung cộng trước Hội nghị Thành đô
Tình hình Trung cộng gần kề nhất ngày Hội nghị Thành đô là biến cố Thiên An môn 1989. Đây là một biến cố lớn trong lịch sử cận đại của Trung cộng và của đảng Cộng sản Tàu.
Những cuộc biểu tình ở nhiều thành phố và nhất là ở Bắc kinh, tại quảng trường Thiên an môn, từ ngày 15/4 tới ngày 4/6/1989, đã huy động cả triệu người đủ mọi tầng lớp, từ nông dân, công nhân đến sinh viên học sinh, công chức và có cả quân đội, đòi tự do hóa chế độ, chống tham nhũng, cửa quyền, con ông cháu cha của đảng Cộng sản. Phe cải cách lúc đó tiêu biểu là Tổng bí thư Triệu tử Dương, phe bảo thủ tiêu biểu là Thủ tướng lý Bằng. Lập trường của Đặng tiểu Bình vào lúc đầu có vẻ ngả về phe cải cách, sau đó lừng khừng đứng giữa, cuối cùng đã ngả về phe bảo thủ, khi cuộc biểu tình đã không tự kiểm soát nổi, có những phần tử đã lợi dụng căng những biểu ngữ chống họ Đặng. Đấy là chưa nói hình ảnh sinh viên học sinh đã làm quá đà trong thời kỳ Cách mạng Hồng vệ Binh (1964 -1974), đưa bố mẹ, thầy cô ra đấu tố, đưa đến cảnh một người con trai của Đặng tiểu Bình, khi vệ binh đỏ đến phòng cư xá sinh viên, đã sợ quá, nhảy từ lầu cao xuống đất, gãy xương sống, suốt đời phải đi xe lăn; một biến cố nữa, đó là vợ chồng ông Chu ân Lai, đương kim Thủ tướng và vợ ông ta, bà Đặng vĩnh Siêu, một cán bộ lâu năm và rất ảnh hưởng trong Đảng cộng sản lúc bấy giờ, có một người con gái nuôi, dạy nhảy múa ở nhà hát Bắc kinh, bị đưa đi trại học tập, do chính sắc lệnh của Chu ân Lai, sau đó những người Vệ binh thân Mao, đã lấy một cái đinh dài đóng vào đầu cô ta, làm cho cô ta chết. Hình ảnh và hành động này ám ảnh không những bà Đặng vĩnh Siêu, Đặng tiểu Bình, mà phần lớn giới lãnh đạo Trung cộng lúc bấy giờ.
Vì vậy nên khi quyết định « Dẹp hay không dẹp biểu tình «, thì phe bảo thủ đã thắng. Đưa đến hậu quả làm cả ngàn người chết và cả chục ngàn người bị thương. Quyết định đàn áp biểu tình có nhiều người chống đối, trong đó có Tổng bí Thư Triệu tử Dương, Bộ trưởng quốc phòng, Tư lệnh quân đội Bắc kinh. Vì vậy nên phe bảo thủ phải gọi những đoàn quân ở phía tây bắc, từ những vùng Tây tạng, Tân cương v.v… về để dẹp biểu tình.
Biến cố Thiên an Môn suýt nữa làm cho nước Tàu nổ tung, ít ra làm 2. Trước đó thì cách mạng Hồng vệ binh đã đưa nước tàu vào cảnh nội chiến, có cơ bị chia  ra làm nhiều mảnh.
Từ xưa tới nay, giới báo chí, trí thức và ngay cả giới lãnh đạo tây phương có cái nhìn sai lạc về Tàu.
Đầu thế kỷ thứ 19, thì Napoléon ví nước Tàu như một con hổ đang ngủ, nếu nó thức dậy sẽ làm rung chuyển thế giới. Vào những năm 70, một nhà chính trị, kiêm văn sĩ Pháp, ông Alain Peyrefitte, có viết quyển sách « Quand la Chine s’éveillera… » (1973),  ( Khi nước Tàu sẽ tỉnh dậy… ). Không nói đâu xa, ngay ngày hôm nay, thế giới Tây phương vẫn còn có những cái nhìn sai lầm về Tàu.
Trong khi đó, chính những người Tàu, ngay cả một số giới lãnh đạo, thì ngược lại. Ông Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng Tàu, có nói: « Nước Tàu là một anh khổng lồ, chân bằng đất xét. » Cũng một cựu Thủ tướng khác, ông Ôn gia Bảo, vào cuối năm 2012, giai đoạn chuyển quyền giữa Hồ cẩm Đào và Tập cận Bình, thì tuyên bố: « Nước tàu đang đi vào nguy hiểm của thời kỳ Cách mạng Hồng vệ binh. » Sự đấm đá trong đảng, tranh quyền đoạt lợi hiện nay vẫn tiếp diễn.(1)
Tháng 7/2014, một cuộc nghiên cứu, được công bố bởi Hurun Report, về việc tìm hiểu hành vi và thái độ của những người giàu nhất Trung cộng, mà trong đó phần lớn là những gia đình thuộc con ông cháu cha của những người lãnh đạo cao nhất, cho ta thấy: hơn 60% những người được khảo sát thì đã ra nước ngoài hay đã nộp hồ sơ để ra nước ngoài; 85% thì nói họ đã gửi con, người thân thích đến những trường đại học ở ngoại quốc. ( Ian Bremmer, « China superpower or superbust, The National Interest Magazine, tháng 11 và 12/ 2013).
Một chính quyền, một quốc gia có thể ví như một cái cây, những người của chính quyền là những người ở dưới gốc cây, hưởng bóng mát của nó, nay tìm cách gửi tiền hay gửi con ra nước ngoài chẳng khác nào đào đất ở gốc cây đổ đi chỗ khác, thì cái cây sớm muộn cũng sẽ bị trốc gốc.
Trong chính trị, sự lầm lẫn về địch thủ, đối phương, ngay cả với bạn, rất nguy hiểm, dẫn đến những hậu quả to lớn khó lường. Tuy nhiên đối với giới lãnh đạo Tây phương, nó có quan trọng, nhưng không có tính cách sống còn, nguy hiểm chết người, hại cả một dân tộc như đối với giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.
Có thể nói giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ Hồ chí Minh cho tới ngày nay, có một cái nhìn sai lầm về thế giới cộng sản, nhất là về Trung cộng.
Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên do:
Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn ngay từ cuộc đời cá nhân của Hồ chí Minh. Sau khi rời Việt nam, đi làm bồi cho một chiếc tàu Pháp, sống lang bạt kỳ hồ, khổ sở ở New York, Luân đôn, rồi Paris, thiếu thốn khó khăn, được Đệ Tam quốc tế lượm về nuôi nấng, huấn luyện, được sung sướng. Tất nhiên họ Hồ về cá nhân thì coi tổ chức Đệ tam, nhưng thực tế là Liên sô, như « Cha mẹ ». Chúng ta thấy, trong thời gian họ Hồ bị tổ chức này thất sủng, vào những năm cuối thập niên 20, đầu 30, vì lúc đó có sự tranh quyền gay gắt giữa Staline và Trotski, mà trước đó họ Hồ làm việc cho Borodine, người thân Trotski, họ Hồ đã bị thất sủng, đã viết thư không biết bao nhiêu lần  cho Đệ Tam, xin từng miếng cơm đến tiền trả tiền hotel. Chúng ta có thể thấy những bức thư này dễ dàng trong Tuyển tập Hồ chí Minh, do chính đảng Cộng sản Việt nam xuất bản.
Rồi tình hình thế giới thay đổi, Phát xít  Moussolini xuất hiện ở Ý năm 1923, ở Đức năm 1933 với Hitler, Đệ tam quốc tế họp kỳ cuối cùng năm 1936, trước khi bị Staline giải tán, đã quyết định thay đổi chiến lược, từ « Đấu tranh giai cấp »  sang « Hợp tác giai cấp để chống Phát xít » , họ Hồ được dùng lại, và đã cùng phái đoàn cộng sản Tàu, trở về Tàu vào khoảng năm 1938 nhằm sửa sọan cướp chính quyền.
Sau khi cướp được chính quyền thì nay chạy sang Tàu lạy lục xin viện trợ, mai chạy sang Liên sô để xin giúp đỡ.
Ngày hôm nay Cộng sản Việt Nam tâng bốc họ Hồ, đưa ra « Tư tưởng Hồ chí Minh » , nhưng chính ông đã tuyên bố: « Tôi không có tư tưởng gì cả. Tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ. Những con người này không bao giờ sai lầm. »
Một con người không có tư tưởng, mà vì hoàn cảnh cứ phải đi xin cầu viện, lúc trẻ thì cho bản thân, lúc lớn thì cho tổ chức, con người này bản chất đã trở thành qụy lụy ngoại bang. Bản chất này đã ăn sâu vào xương tủy của con cháu Hồ tức những lãnh đạo cộng sản Việt nam sau này. Lê Duẫn, người kế vị trực tiếp Hồ, thì thản nhiên tuyên bố :
«Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên sô và Trung cộng.» không ngần ngại hy sinh từ thế hệ này đến thế  hệ  khác để phục vụ lý tưởng cộng sản, nhưng thực tế là phục vụ Nga, Tàu.
Con cháu của Hồ chí Minh và Lê Duẫn ngày hôm nay, sau Hội nghị Thành đô năm 1990, đã sẵn sàng chấp ngận khẩu hiệu « Bốn Tốt và Mười sáu Chữ vàng «, đưa ra bởi Giang trạch Dân, nhưng thực tế là dâng đất, nhượng biển, thần phục ngoại bang như cha anh cộng sản Hồ Lê trước đây.
Nguyên nhân gần, đó là thế giới cộng sản Đông Âu, trong đó có Liên sô, « thành trì cách mạng, chỗ tựa vững chắc » của cộng sản Việt Nam từ từ sụp đổ từng mảng một, mà người chứng kiến tận mắt đó là Nguyễn văn Linh, lúc đó là đương kim Tổng bí thư, Trưởng Phái đoàn của Việt nam tại Hội nghị Thành đô.
Từ tháng 9/1989, cả ngàn người Đức, bỏ Đông Đức sang xin tỵ nạn ở Tây Đức.Tháng 10/1989, Honnecker từ chức Chủ tịch đảng Cộng sản Đông Đức. Tháng 11/1989, bức tường Bá Linh, ngăn cách hai nước Đông và Tây Đức, hai thế giới cộng sản và tư bản, sụp đổ. Tiếp theo đó là Tổng bí thư Todor Zhivkov của đảng cộng sản Bulgarie, rồi Tổng bí thư Milos Jakes của đảng cộng sản Tiệp khắc cũng từ chức.
Tháng 12/1989, cuộc cách mạng dân chủ ở Roumanie bùng nổ, vợ chồng nhà độc tài cộng sản Ceausescu, bị hạ bệ, rồi bị tử hình.
Những tình hình đó đã ảnh hưởng và ám ảnh sâu đậm đến giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Đấy là chưa nói đến sự kiện là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đến Hội nghị Thành đô còn mang đầy « mặc cảm tội lỗi » với đàn anh Trung cộng, vì sau khi Trung cộng « dạy cho cộng sản Việt nam một bài học », như lời tuyên bố của Đặng tiểu Bình, sau khi viếng thăm Hoa kỳ vào năm 1979, chiến tranh Việt Trung vẫn tiếp diễn ở biên giới và ở ngoài khơi. Năm 1988, Trung cộng đánh Trường sa của Việt Nam, chiếm đảo Gạc ma, mà hiện nay Trung cộng đang thành lập một căn cứ quân sự với những phi đạo cho máy bay, và những cứ điểm để khai thác dầu hỏa, mà cộng sản Việt Nam cứ im thin thít.
Chiến tranh tại biên giới Việt Hoa kéo dài đến tận 1987, 3 năm trước Hội nghị Thành đô. Theo một số quan sát viên, ngoài những sự đụng độ nhỏ, có 6 trận đánh lớn, vào tháng 7/1980; tháng 5/81; 4/83; 6/85; 12/86; 1/87.
Từ bản chất lệ thuộc ngoại bang, đến mặc cảm « tội lỗi « , cộng thêm với những cái nhìn « ếch ngồi đáy giếng « chỉ biết có Liên sô, nay thế giới Liên sô từ từ sụp đổ, Phái đoàn cộng sản Việt Nam dự hội nghị Thành đô với một tư thế kém cỏi, như những « con cừu non « , trước một phái đoàn, mà đứng đằng sau là Đặng tiểu Bình, một con cáo già, gian manh, xảo quyệt ở mức độ quốc tế, với một tham vọng và ý chí mãnh liệt bành trướng chủ nghĩa « Đại Hán ». Tất nhiên những con cừu non đó bị con cáo già ăn thịt là lẽ thường tình.
IV )  Diễn tiến của Hội nghị Thành đô ( Hình thức và nội dung)
Thực ra, về nội dung của văn bản Hiệp ước Hội nghị Thành đô, cho tới ngày hôm nay, một cách chính thức, chưa có ai rõ. Người ta chỉ phỏng đoán qua những việc làm của Cộng sản Tàu và Việt nam, từ ngày có Hội nghị này cho tới nay.
Chính thức và để có giá trị trên mặt công pháp quốc tế, thì bất cứ hiệp ước quốc tế nào, nhất là liên quan đến biên giới trên đất liền hay trên biển, giữa hai hay nhiều quốc gia, thì phải có sự trong sáng: có nghĩa là phải được công bố, phải có sự phê chuẩn của quốc hội hay sự chấp nhận của dân qua trưng cầu dân ý và bản hiệp ước đó phải gửi tới cơ quan lưu trữ hồ sơ của Liên hiệp quốc. Về Hiệp ước Thành đô cả Trung cộng và Cộng sản Việt nam không hành xử theo kiểu này, mà hành xử lén la, lén lút, có tính cách mờ ám  chứ không minh bạch, theo cách hành xử của những nước tự do, dân chủ.
Kinh nghiệm cho chúng ta thấy là Công Hàm của Phạm văn Đồng năm 1958. Về phía cộng sản Việt Nam thì dấu diếm dân, về phía Trung cộng thì lập lờ đánh lận con đen qua việc yêu cầu Việt nam tôn trọng quyền lãnh hải 12 hải lý, rồi công bố bản đồ của Trung cộng, trong đó có Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam.
Thực ra thì không riêng gì Trung cộng và Cộng sản Việt Nam hành động lén lút, dấu dân, mà có thể nói tất cả những chế độ cộng sản, từ chế độ đầu tiên do Lénine thành lập năm 1917.
Lénine, để có được chính quyền, không ngần ngại tuyên bố là sẵn sàng nhượng đất cho Đức, sau đó có cử Trotski đi ký Hiệp ước nhượng đất ở Brest – Listovk, năm 1918, với Đức. Hiệp ước này ít người được biết, trong khi đó dân thì mù tịt. Ngay cả việc Lénine giết toàn gia đình Hoàng gia Nga Nicolas 2, ngày hôm nay người ta cũng không tìm ra một sắc lệnh nào của Lénine, ngoài việc Lénine cử một tay em thân cận, ngày xưa là một chủ ngục và được Lénine thường nói với mọi người rằng đây« là người giỏi nhất trong những người chúng ta «, có nghĩa là dám giết người, dám thủ tiêu, xuống chỗ ở của gia đình hoàng gia, rồi một đêm nọ, cùng với mười mấy người có súng, kêu gia đình xuống một cái hầm, đọc một bản án và giết cả gia đình.
Hành động hận thù, lén lút giết người không gớm tay, đó là hành động của giới lãnh đạo cộng sản.
Lê đức Thọ của Việt Nam, thì tuyên bố: « Mài hận thù để làm bén nhọn đấu tranh. » Em của hắn, Mai chí Thọ, vào năm 1981, lúc này là thế giới cộng sản đã bắt đầu xuống dốc, thì trân tráo, vô liêm sỉ, tuyên bố trước một số trí thức miềm Nam phải « đi học tập cải tạo « :
«  Hồ chí Minh có thể là một kẻ độc ác; Nixon có thể là một người vĩ đại, người Mỹ có thể đã có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại, bởi vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ chí Minh là một người vĩ đại và Nixon là một kẻ giết người, người Mỹ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt đó là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx – Lénine là làm được điều đó. Không ai trong các anh (chỉ những người trí thức miền nam bị đi học tập cải tạo) thấy sự kháng cự đối với chế độ của những người cộng sản, vì vậy đừng suy nghĩ về chuyện đó. Quên chuyện đó đi. » ( Mai chí Thọ – theo lời của Đoàn văn Toại, trong A Lament for Việt Nam – New York Times Magazine – 29/03/1981).
Chế độ Marx-Lénine mà Mai chí Thọ nói tới không gì hơn là cai trị dân bằng cái loa, cái còng và cái súng. Cái loa là bưng bít thông tin, che dấu sự thật, rồi dùng cái loa để nói dối dân. Cái còng và cái súng là dọa dân, nếu ai không theo tao thì bỏ tù, hay thủ tiêu.
Tuy nhiên cách cai trị đó đã quá lỗi thời. Thế giới cộng sản Đông Âu sụp đổ, một phần cũng vì lý do đó. Ngày hôm nay những chế độ cộng sản còn lại, với nền văn minh trí thức điện toán, thông tin dễ dàng với những internet, điện thoại cầm tay, đang trên đà sụp đỗ cũng là vì vậy.
Trở về Hội nghị Thành đô, vì không có bản Hiệp ước ký kết giữa 2 bên được công bố chính thức, nên người ta chỉ phỏng đoán dựa vào quyển Nhật ký của Trần quang Cơ, Thứ trưởng Bộ ngoại giao, lời tuyên bố của Nguyễn cơ Thạch, lúc đầu; sau đó là tài liệu của Weakileaks,  Hoàn cầu thời báo cùng một số báo chí khác.
Về Nhật ký của Trần quang Cơ, phần rõ ràng là phần nói về vụ giải quyết tình hình Cam bốt: Cộng sản Việt Nam rút quân khỏi nước này, thành lập Hội đồng Hòa giải dân tộc dưới sự lãnh đạo của ông cựu hoàng Sihanouk. Chính ở điểm này, Trung cộng có nhượng bộ. Đó là Trung cộng đòi phải sự có mặt của phe Polpot, nhưng kết cục thì không có. Trần quang Cơ có nói đến những buổi thương thuyết trước Hội nghị, có nói đến phía Việt Nam đề nghị phía Trung cộng đứng ra lãnh đạo khối cộng sản còn lại, nhưng không nói rõ đề nghị này là thế nào. Có phải để Trung cộng lãnh đạo rồi Việt Nam nhận làm một tỉnh của Trung cộng không ? Điều này không thấy trong nhật ký. Người ta chỉ thấy trong một vài tờ báo nói rằng đó là tiết lộ trong 3 100 bức điện thư lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Hoa kỳ. Vấn đề kiểm chứng thật khó khăn, ngay với cả một số người thông thạo tin tức.
Trong khi đó thì Nguyễn cơ Thạch, cấp trên, là Bộ trưởng Ngoại giao, không viết nhật ký, không được dự Hội nghị Thành đô, vì Trung cộng không muốn, lại tuyên bố: « Hội nghị Thành đô bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc nguy hiểm và lâu dài. »
Có người cho rằng để biết nội dung của bản Hiệp ước Thành đô thì chúng ta chỉ cần xét đến hình thức và hậu quả của nó.
Thực vậy, nếu nói về hình thức thì đây là một hội nghị quốc tế vô cùng nhục nhã đối với Cộng sản Việt nam. Theo thông lệ, một hội nghị ở mức độ cao như vậy thì phải họp ở thủ đô, nay lại họp ở một thủ phủ một tỉnh bậc trung là Tứ xuyên. Họp 2 ngày mồng 3 và mồng 4 tháng 9, Phái đoàn Việt Nam phải có mặt trước ngày mồng 2 tại Thành đô, đúng vào ngày Quốc khánh cộng sản Việt nam. Ép cộng sản Việt nam làm điều này, Trung cộng muốn nói là Trung cộng không coi Việt nam là một nước độc lập. Thêm vào đó, phái đoàn Việt Nam phải đi đường bộ để sang họp. Đặng tiểu Bình dụ để phía Việt Nam chấp nhận họp, đã hứa xuống gặp phái đoàn, nhưng sau đó không xuống gặp và còn tuyên bố khinh bỉ Cộng sản Việt nam: «  Tôi không thèm gặp những phường ăn cháo, đái bát. »
Ngày xưa Mặc đăng Dung, Lê chiêu Thống qụy lụy Tàu để giữ ngôi báu, nhưng cũng không đến nỗi hèn mạt như vậy.
Những hành động của cộng sản Việt Nam sau Hội nghị Thành đô :
Mặc dầu người ta không biết chính thức nội dung của Hiệp ước Thành Đô, vì cả 2 bên Trung cộng và Cộng sản Việt nam không công bố chính thức nội dung của hiệp ước này. Nhưng những hành động của Cộng sản Việt nam từ ngày có Hội nghị tới nay quả là hành động bán nước. Bởi lẽ đó có người cho rằng nội dung của Hiệp ước là bán nước cũng không phải là không có lý.
Thật vậy, từ ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tới nay, những hành động của Cộng sản Việt nam chứng tỏ càng ngày càng đưa Việt nam vào vòng kiềm tỏa, lệ thuộc Trung cộng về kinh tế, chính trị quốc nội và hải ngoại. Người ta còn nhớ, sau Hội nghị không lâu, Giang trạch Dân đến viếng thăm Việt nam, không đến Hà nội, thủ đô, mà tới Đà nẵng tắm biển, rồi gọi giới lãnh đạo Cộng sản Việt nam tới « chầủ «,  kiểu như ngày xưa chầu Thiên hoàng.
Năm 1997, Cộng sản Việt nam muốn gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế, nhưng Trung cộng không muốn, nên phải từ chối.
Hai Hiệp định năm 1999, về vấn đề biên giới và năm 2 000 về lãnh hải, mà cộng sản đã ký với Trung cộng, dâng cho Trung cộng cả ngàn cây số vuông về lãnh thổ trong đó có thác Bản dốc và Ải Nam quan, cùng cả 20 000 cây số vuông về lãnh hải.
Tiếp theo đó là những hiệp ước nhượng cho Trung cộng khai thác bô xít ở vùng cao nguyên Trung phần, xương sống chiến lược của Việt nam, rồi nhượng những vùng rừng ở biên giới cùng cho phép Trung cộng lập những khu tự trị ở Việt Nam.
Gần đây Trung cộng đặt giàn khoan dầu HD 981 ở trong thềm lục địa Việt nam, cả thế giới trông đợi phản ứng mạnh mẽ của giới lãnh đạo cộng sản Việt nam, nhưng ngoài một vài lời tuyên bố cứng rắn, sau đó đâu lại hoàn đấy, đó là Cộng sản Hà nội vẫn tiếp tục quỵ lụy Trung cộng, làm cho cả thế giới thất vọng.
Đó là về chính trị, còn về kinh tế thì ngay dù người dân bình thường cũng nhìn thấy rõ là nền kinh tế Việt nam hiện nay hoàn toàn lệ thuộc Trung cộng. Việt nam chỉ là một cửa tiệm để Trung cộng thuồn những hàng ô nhiễm, mang độc hại, những hàng giả, bị tẩy chay, sang mang nhãn hiệu Việt Nam để bán trên thế giới.   
Nhìn lại quá khứ, suy xét hiện tại, để chẩn đoán tương lai :
Trong những chế độ cộng sản, những giới lãnh đạo cộng sản, không có một chế độ nào, giới lãnh đạo nào mà lại ngây thơ, ngu muội, nhưng lại nghĩ mình là « Đỉnh cao trí tuệ của loài người tiến bộ « như cộng sản Việt nam. Ngày xưa thì Hồ chí Minh tuyên bố: « Tôi không có tư tưởng gì cả, tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ. »
Lê Duẫn thì nói: « Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên sô và Trung cộng.» Ngày nay, sự ngây thơ và ngu muội đó được biểu hiện qua Hội nghị Thành đô.
Thực ra sự ngây thơ và ngu muội không phải chỉ ở giới lãnh đạo mà ngay ở một số trí thức cộng sản. Đã từ lâu cộng sản Liên sô và Trung cộng đã dùng chủ nghĩa cộng sản như một phương tiện cho mộng xâm chiếm, bành trướng của mình, trong khi đó, giới trí thức cộng sản Việt nam vẫn nghĩ:« Bên ni biên giới là mình Bên kia biên giới cũng tình quê hương …»
Ngày hôm nay, có người cho rằng một số trẻ Việt Nam mất định hướng, vọng ngoại, đến nỗi “ Lên sân khấu để hôn cái ghế ngồi của một tài tử Nam Hàn.” Nhưng họ quên ngày xưa có một số trí thức cộng sản làm những bài thơ ca tụng Lénine, Staline: “ Hôn cho anh nền tảng đá công trường, nơi vĩ đại Lénine thường dạo bước “, hay: “Ôi ông Staline, ông mất, đất trời biết không. Thương cha thương mẹ thương chồng, thương mình thương một, thương ông, thương mười.”
Ngày xưa “ hôn chân Lénine, Staline”, ngày hôm nay một số giới trè “ hôn đít “ một tài tử ngoại quốc, ngẫm đi ngẫm lại, mặc dầu là 2 hành động khác nhau, nhưng mang cùng một bản chất.
Hiện nay, nhiều người bàn tán về đề tài “ Thoát Trung “, nhưng họ quên rằng điều kiện đầu tiên, ắt có và đủ, để “Thoát Trung”, đó là “ Thoát cộng”.
Ngày nào còn chế độ cộng sản, miệng thì hô hào yêu nước, nhưng trên thực tế thì bán nước. Ngày đó không thể thoát Trung, mà trên thực tế là càng ngày càng bị lún xâu vào vòng kiềm tỏa của Trung cộng.
Ngày nào còn đảng cộng sản độc quyền “ yêu nước “, độc quyền cai trị dân, không cho dân cất tiếng nói, miệng thì hô hào xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội, nhưng trên thực tế là cướp nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của dân, để trao vào tay một thiểu số đảng đoàn cán bộ, làm cho xã hội trở nên vô cùng bất công, ngày đó những hành động như Hội nghị Thành đô còn tái diễn, không những không thể thoát Trung, mà dân Việt còn không thể ngóc đầu lên được, để phát triển, để theo kịp đà tiến bộ của nhân loại.//
[posted by tunhan]

[posted by tunhan]

Lão Móc – tiếng chuông ‘báo tử’ !

VIỆT NAM: BAO GIỜ HỒI CHUÔNG BÁO TỬ SẼ VANG LÊN? (Lão Móc)

“… Năm 61, 62 chi đó, tôi có gặp 4 nhân sĩ trí thức ở miền Nam ra miền Bắc. Trong các vị, có một tên là Tôn Thất Dương Kỵ thì phải. “Họ không chịu nổi chế độ độc tài” Ngô Đình Diệm, nên xin ra sống ở xứ Bắc Kỳ Xã Hội chủ nghĩa thiên đàng. Và đã được chính phủ Sàigòn cho phép.

Gặp các cụ đi lóm thóm ở phố Tràng Tiền, nom nom ngó ngó và ở các tủ kiếng mậu dịch Bách Hóa Tổng Hợp chưng toàn là “hàng mẫu, không bán” gồm có rượu Tây, vải ta, nồi soong chảo bằng gang của Hợp Tác Xã sản xuất) những tám váng sặc sỡ của người Thượng (tất cả đều là hàng để xem chơi chớ không bán!). Không hiểu các vị có định mua món gì không? Nếu muốn mua chắc không dễ như ở Sàigòn. Tôi tự nhủ thầm: Tôi muốn trốn về Sàigòn mà không trốn được, các cụ ở trong đó lại chui ra đây! Rõ thật tréo cẳng ngỗng quá trời! Sau này không rõ các cụ được ưu đãi đến mức nào mà không thấy nói tới nữa.

Ai cũng biết ở miền Bắc có 2 nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn đã được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu – vận động trí thức Pháp và trí thức ta chăng?) Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao? Cụ bảo: Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hegel (không phải Angels) làm ra duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời có sai cũng không hại ai, còn duy vật đem ra áp dụng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít.) Chỉ vài hôm sau cụ qua đời.

Ai cũng biết Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm gồm toàn những văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộc đi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức trả lời vậy.

Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi không còn sợ nữa. Tôi cứ nói… “Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác gì được!” Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về Âm Nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của Đảng Cộng Sản, chớ không thay đổi thái độ với nó kể từ họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với Cộng Sản bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc cái bài tường thuật của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính trên quê hương mình. Phải biết rằng chính cụ cũng đã mê Mác Xít khi còn ở Paris cho nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài Chủ Nghĩa Xã Hội cứ tưởng nó là thiên đàng. Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang miệng dọc ra sao. Chừng đó muốn thối lui cũng không được. Phải ghê gớm lắm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác Xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra Đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra bộ mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xơ bị bịp trên 70 năm!

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy Chủ Nghĩa Mác kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như tác giả Hoa Địa Ngục đã viết:

“So với Đảng thì móng vuốt thực dân êm dịu gấp 10 lần”.

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình…

… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh… đều tuyệt vời. Nay thì dân chúng đã thấy ở giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).

Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là một sự ngu xuẩn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì.

“Tiếng chuông báo chết cho ai” đã đổ ở Liên Xô, ở Đông Âu bằng những triệu chứng xáo trộn và bằng sự nổi dậy của dân chúng bị bịp. Nó cũng đã báo chết cho Trung Cộng bằng Thiên An Môn. Việt Cộng đang lo sợ tiếng chuông ấy vang lên ở Ba Đình nơi tên bịp lớn nhất lịch sử đang nằm rã rục.” (*)

*

Xin thưa đây là Vài cảm nghĩ về quyển tiểu luận ‘Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ’ của bà Nguyễn Việt Nữ của (cố) nhà văn Xuân Vũ vào năm 1995.

Phần trình bày rất thấu lý, đạt tình của cố nhà văn Xuân Vũ, tác giả những truyện ngắn, truyện dài “Chuyện Bò Đái”, “Đường Đi Không Đến”, “Xương Trắng Trường Sơn”, “Đồng Bằng Gai Góc”… là đưa ra mặt thật và móc moi ra cả tim, gan, phèo, phổi của cái gọi là “thiên đàng” Chủ Nghĩa Xã Hội miền Bắc với hình ảnh mở đầu là “4 vị nhân sĩ trí thức miền Nam đi lóm thóm ở phố Tràng Tiền” trong đó có một vị “đi chàng hảng” được nêu danh là Tôn Thất Dương Kỵ. Xuân Vũ tên thật là Bùi Quang Triết, là một nhà văn tập kết ngay sau khi hiệp định đình chiến 1954 được ký kết.

“Tôi tự nhủ thầm: Tôi muốn trốn về Sàigòn mà không trốn được, các cụ trong đó lại chui ra đây! Rõ thật là tréo cảng ngỗng quá trời!”

Cái giọng văn chơn chất của người miền Nam đã cực tả cái cảnh:

“Thiên đường xã nghĩa cong cong
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào!”

Sau hiệp định Paris năm 1972, nghe nói cũng có những kẻ “Đông gia thực phạn, Tây gia miên” (tạm dịch “Ăn cơm ở nhà bên Đông mà lại ngủ ở nhà bên Tây”) như luật sư Nguyễn Long, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm… cũng được trao trả về “thiên đường xã hội chủ nghĩa” của họ.

Chuyện các ông “người đuôi chó” như Lê Xuân Khoa, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm v.v… theo tôi, không có gì đáng trách; bởi vì họ “chưa biết… mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa” cũng như họ chưa phải gánh chịu những đau thương, nhục nhã trong những trại tù của VC. Chuyện lạ là chuyện của những kẻ đã từng phải ở lại trong nước sau ngày 30-4-1975, đã phải hèn nhát nói lời nịnh bợ Đảng và Nhà Nước để được yên thân như các ông nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, cựu Thẩm phán Nguyễn Cần tức Lữ Giang, Tú Gàn, bác sĩ Bùi Duy Tâm v.v… ; sau đó, đã phải liều chết tìm đường vượt biên hoặc được đi Hoa Kỳ theo diện HO. để lo cho bản thân mình và tương lai của gia đình; nay, lại quay lại nói lời bợ đỡ, kiss ass nhà cầm quyền Việt Cộng. Nói theo cách nói hơi tục một chút nhưng rất cực tả là những kẻ này nhớ cái cũi (mà bọn VC đã rọ mõm họ).

Bài viết này không nói về “những người đuôi chó” này. Mục đích của bài viết này muốn nói đến hồi chuông báo tử đã và đang vang lên tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản và độc tài.

-Năm 1986, hồi chuông báo tử vang lên tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, sau đó vang sang cái nôi của chủ nghĩa cộng sản là Liên Xô. Người cắt “cái cây cộng sản đại thụ” Liên Xô của “đồng chí” Tố Hữu – người thương các ông Lénin, Xít Tả Lìn còn hơn thương cha mẹ, ông cố nội, ông cố ngoại của mình) là Tổng Thống M. Gorbachev và ông ta đã bị đối thủ chính trị của ông ta là Boris Yeltsin gạt ra khỏi chiếc ghế quyền lực. Nước Nga bây giờ đã là một nước tự do, dân chủ.

-Năm 1992, “tiếng chuông báo chết” cho Trung Cộng cũng đã vang lên tại Thiên An Môn; nhưng, nhà cầm quyền sắt máu Trung Cộng đã dùng quân đội ngoại biên kéo về nả súng bắn vào đoàn sinh viên biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Tuy cuộc biểu tình bị thất bại nhưng bức ảnh một thanh niên Trung Hoa tay không cản bước bánh xích xe tăng rầm rập xốc tới đã là ngọn đuốc tranh đấu đã bừng lên tại đất nước có dân số đông nhất thế giới này. Và năm ngoái, đất nước này đã bị mất mặt vì đã hèn nhát không dám để người nhà của nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba (đang bị nhà cầm quyền Trung Cộng nhốt tù) đến Olso lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình.

-Năm 2011, cuộc xuống đường biểu tình của người dân Tunisia khiến Tổng Thống Ben Ali của xứ sở độc tài này phải cuốn gói trốn ra nước ngoài tỵ nạn.

Nguyên nhân cuộc xống đường là từ cái chết của anh sinh viên nghèo 26 tuổi Mahamed Bouazizi bán hàng rong trên đường phố bị cảnh sát tịch thu cả gánh hàng rong. Anh sinh viên nghèo đã tỏ thái độ phản kháng bằng cách biến thân mình thành ngọn đuốc sống. Ngọn lửa đấu tranh để thiêu rụi chế độ bạo tàn đã bùng lên khi hàng ngàn người tham dự tang lễ của anh. Hàng ngàn người tham dự tang lễ của người sinh viên Tunisia can đảm đã biến thành cuộc biểu tình tuần hành – như trước đây, hàng ngàn người dân Ấn Độ đã nghe theo lời kêu gọi của “Thánh” Mahatma Gandhi, cha đẻ của chủ thuyết bất bạo động đi làm muối để tranh đấu cho độc lập, tự do, dân chủ cho Ấn Độ thoát khỏi ách thực dân của đế quốc Anh.

Hương thơm của cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” đã lan sang các nước láng giềng như Ai Cập, Lybia.

Trong một cuộc biểu tình tại Ai Cập, một thanh niên đã hô to khẩu hiệu: “Hãy treo cổ nó lên!”.

Nhà độc tài Mubarak đã phải bước xuống ngai vàng.

Đại Tá Kadahfy, “con chó điên Trung Đông” đã bị bắn chết khi ló đầu ra khỏi ống cống và xác đã bị kéo lê trên đường phố.

-Năm 2012, mùa Xuân đã thực sự trở về với đất nước Myanmar với hai nhân vật vĩ đại của đất nước này là Tướng Thein Seinnhà tranh đấu dân chủ Aung Sun Suu Kyi.

-Đầu tháng 10 năm 2014, “Cách Mạng Dù” nổ ra tại HongKong đã làm chấn động thế giới với người thanh niên 17 tuổi Joshua Wong gợi nhắc lại biến cố đẫm máu Thiên An Môn tại Bắc Kinh cách đây 18 năm.

Nhiều nhà bình luận đã tiên đoán “hồi chuông báo tử” của các cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” ở Tunisia, Ai Cập. Lybia sẽ lan qua Miến Điện.

Và cuộc “Cách Mạng Dù” tại HongKong sẽ lan đến Việt Nam trong một ngày không xa!

o O o

“Đọc tin Tunisia mà nhớ tới đất nước Việt Nam cũng trong tình trạng khốn khó tương tự: đại đa số người dân thất nghiệp bị bóc lột, và giá thực phẩm cao, trong khi một thiểu số người thì sống sung túc, xa hoa trong sự hối lộ, tham nhũng. Bao nhiêu công nhân Việt Nam nghèo khổ bị tư bản ngoại quốc bóc lột ngay chính trên đất nước mình với sự thông đồng của chính quyền bản xứ. Bao nhiêu nông dân Việt Nam phải mất nhà cửa, ruộng vườn, gia đình tan nát. Những người Cộng Sản vô cảm chỉ biết có mình và đảng của mình mà không đoái hoài đến quyền lợi của dân tộc. Người dân Việt Nam xét ra cũng không đến nỗi nào hèn kém lắm so với Tunisia và các nước Bắc Phi khác. Cho nên chế độ này không thể tồn tại, mà sớm muộn gì cũng phải chấm dứt, để người dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhau xây dựng đất nước”.

Xin mượn ý kiến này của tác giả Tuệ Vân viết về cuộc cách mạng Tunisia để kết thúc bài viết này.

Và rất hy vọng hồi chuông báo tử sẽ sớm vang lên trên đất nướcViệt Nam để toàn dân có cuộc sống đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền!

LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com